Mục đích nghiên cứu Mục đích của chúng tôi khi thực hiện đề tài này như sau: Thứ nhất, khảo sát truyện ngụ ngôn người Việt để phân tích đặc điểm, tính cách của các nhân vật và phân loạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đặng Thị Thu Trang
ẨN DỤ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGỤ NGÔN NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đặng Thị Thu Trang
ẨN DỤ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGỤ NGÔN NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HỮU NGHĨA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì một công trình nào khác
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này
Tác giả luận văn
Đặng Thị Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Học viên Đặng Thị Thu Trang xin kính lời tri ân sâu sắc đến TS Nguyễn Hữu
Nghĩa – người đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài
Người viết cũng xin gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô trong Khoa Ngữ văn, đặc
biệt là PGS.TSKH Bùi Mạnh Nhị đã tận tụy giảng dạy, định hướng và truyền đạt
những kinh nghiệm quý báu Xin cảm ơn Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh, nhân viên thủ thư Trường Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh và Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh đã tận tâm hỗ trợ, tạo điều kiện để học viên hoàn thành công trình khoa học
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn bên cạnh động
viên, chia sẻ, tiếp thêm động lực cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tác giả
Đặng Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỆN NGỤ NGÔN, TRUYỆN NGỤ NGÔN NGƯỜI VIỆT VÀ THỦ PHÁP ẨN DỤ 13
1.1 Truyện ngụ ngôn 13
1.1.1 Những vấn đề chung về thể loại 13
1.1.2 Đặc điểm thi pháp của truyện ngụ ngôn 21
1.1.3 Đặc điểm nội dung của truyện ngụ ngôn 25
1.2 Truyện ngụ ngôn người Việt 29
1.2.1 Nội dung ý nghĩa phong phú 29
1.2.2 Nghệ thuật đặc sắc 30
1.3 Ẩn dụ 31
1.3.1 Khái niệm ẩn dụ 31
1.3.2 Những cơ sở tương đồng của ẩn dụ 37
1.3.3 Ẩn dụ nhân vật và ẩn dụ nhân vật trong truyện ngụ ngôn 40
Tiểu kết chương 1 48
Chương 2 PHÂN LOẠI ẨN DỤ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGỤ NGÔN NGƯỜI VIỆT 49
2.1 Loại ẩn dụ trong đó nhân vật là con vật 50
2.1.1 Nhóm nhân vật là con vật có đặc điểm tích cực 52
2.1.2 Nhóm nhân vật là con vật có đặc điểm tiêu cực 66
2.2 Loại ẩn dụ trong đó nhân vật là con người 78
2.2.1 Kiểu người có đặc điểm tích cực 79
Trang 62.2.2 Kiểu người có đặc điểm tiêu cực 86
2.3 Loại ẩn dụ trong đó nhân vật là đấng bậc siêu nhiên 93
Tiểu kết chương 2 96
Chương 3 CƠ CHẾ TẠO NGHĨA ẨN DỤ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGỤ NGÔN NGƯỜI VIỆT 97
3.1 Cơ sở tạo nghĩa dựa vào đặc điểm của đối tượng được miêu tả 98
3.1.1 Cơ sở tạo nghĩa dựa vào đặc điểm tự nhiên của đối tượng 98
3.1.2 Cơ sở tạo nghĩa dựa vào đặc điểm của đối tượng do con người quan niệm 114
3.2 Cơ sở tạo nghĩa dựa trên kĩ thuật kiến tạo tình huống để thiết lập ẩn dụ nhân vật 119
3.2.1 Kĩ thuật kiến tạo tình huống thông qua cách lựa chọn, sắp đặt nhân vật 119
3.2.2 Kĩ thuật kiến tạo tình huống thông qua việc tổ chức sự kiện 128
Tiểu kết chương 3 135
KẾT LUẬN 136
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm hình vóc của con vật đồ chiếu lên đặc điểm của con người 99 Bảng 3.2 Đặc điểm, tập tính của con vật đồ chiếu lên đặc điểm, phẩm chất của
con người 101
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Cơ sở tạo nghĩa dựa vào đặc điểm tự nhiên của đối tượng 99
Sơ đồ 3.2 Cơ sở tạo nghĩa dựa vào đặc điểm của đối tượng do con người quan
niệm 115
Sơ đồ 3.3 Tiêu chí sắp đặt nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt 120
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học dân gian Việt Nam rất đa dạng về mặt thể loại Mỗi thể loại lại có những nét đặc sắc riêng thể hiện ở đề tài, nội dung, cách thức phản ánh và đặc điểm diễn xướng Chính điều này tạo nên sự thú vị, hấp dẫn ở các tác phẩm, đồng thời thấy được cái hay, tinh tế trong tư duy, cảm nhận của người sáng tác Trong các thể loại văn học dân gian, truyện ngụ ngôn là thể loại độc đáo, có ý nghĩa trong cuộc sống Tuy nhiên, nếu xét về chức năng khuyến giáo thì truyện ngụ ngôn không phải
là thể loại giữ vai trò “độc tôn” Có thể bắt gặp điều này trong các thể loại khác như truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, tục ngữ Nhưng có lẽ, chỉ trong truyện ngụ ngôn thì chức năng giáo huấn mới được thể hiện rõ nhất Để thực hiện được chức năng này, tác giả ngụ ngôn đã có những “chiến lược” trong việc lựa chọn, xây dựng nhân vật, đặc biệt là xây dựng nhân vật theo lối ẩn dụ Vì vậy, để lĩnh hội được những lời ngụ sâu sắc, ý nghĩa rất cần thiết phải đi sâu phân tích nhân vật mang ý nghĩa ẩn dụ Theo chúng tôi, đây là vấn đề cốt lõi khi tìm hiểu và nghiên cứu về truyện ngụ ngôn Việt Nam nói chung và truyện ngụ ngôn người Việt nói riêng
Bên cạnh đó, đây cũng là thể loại thu hút sự quan tâm của nhiều học giả Tuy nhiên, khi bàn về ẩn dụ nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình khai thác sâu về vấn đề này Các bài viết có đề cập và đưa
ra những phân tích về ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn nhưng cũng chỉ “xới” lên những vấn đề cơ bản chứ chưa “đào sâu” khai thác về ẩn dụ nhân vật Hơn nữa, trong truyện ngụ ngôn người Việt, nhân vật thống nhất với cốt truyện và cốt truyện trong truyện ngụ ngôn thường rất đơn giản, chỉ xoay quanh một tình huống nhất định, nên chúng tôi chọn nghiên cứu ẩn dụ ở góc độ nhân vật, vì loại ẩn dụ này mang tính chất bao quát, gắn liền với cốt truyện, tình huống và trực tiếp kiến tạo lời ngụ cho truyện ngụ ngôn
Chính vì những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Ẩn dụ nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt để nghiên cứu với mong muốn đem lại cái nhìn
sâu sắc hơn và khám phá những giá trị của truyện ngụ ngôn thông qua việc xác định
Trang 10và phân loại nhân vật mang ý nghĩa ẩn dụ từ đó tìm ra cơ chế tạo nghĩa ẩn dụ nhân vật
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi thực hiện đề tài này như sau:
Thứ nhất, khảo sát truyện ngụ ngôn người Việt để phân tích đặc điểm, tính
cách của các nhân vật và phân loại nhân vật mang ý nghĩa ẩn dụ từ đó tìm ra cơ chế tạo nghĩa ẩn dụ nhân vật
Thứ hai, từ việc xác định được ý nghĩa của câu chuyện gắn liền với những
nhân vật mang tính biểu tượng, người đọc sẽ tự tích lũy cho mình những kinh nghiệm về nhận thức, ứng xử và vận dụng vào trong cuộc sống để trao đổi, chia sẻ, uốn nắn những lệch lạc trong suy nghĩ của đối tượng giao tiếp một cách khéo léo và hiệu quả nhất Thay vì dùng những lời lẽ chỉ trích, những câu mệnh lệnh khô cằn,
có thể kể một câu chuyện ngụ ngôn hoặc đưa ra những thành ngữ có nguồn gốc từ truyện ngụ ngôn như là một phương tiện để chỉnh huấn Đây cũng chính là cơ sở làm cho truyện ngụ ngôn có một vị trí quan trọng trong xã hội hiện tại Khi hiểu được ý nghĩa ẩn dụ và vận dụng trong những bối cảnh giao tiếp cụ thể sẽ góp phần tạo nên sức sống và sự hấp dẫn rất riêng của thể loại này
Thứ ba, qua đề tài này, chúng tôi mong muốn hiểu thêm về văn học dân gian
người Việt và văn hóa Việt Nam Vì cơ bản, văn học dân gian không tách khỏi văn hóa dân gian của người Việt
3 Lịch sử vấn đề
Truyện ngụ ngôn từ lâu đã được giới học thuật quan tâm chú ý đến Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thể loại này đã được Nguyễn Trọng Thuật, Hoa Bằng, Nguyễn Văn Ngọc, Nam Hương Bùi Huy Cường đặt ra những vấn đề nghiên cứu Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với sự phát triển của công việc sưu tầm, biên soạn thì vấn đề nghiên cứu truyện ngụ ngôn đã được khai thác sâu rộng ở nhiều phương diện về mặt nội dung, chức năng và đặc điểm thi pháp của thể loại
Chúng tôi xin điểm tên những công trình sau: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam – Tập I phần Văn học dân gian do Vũ Ngọc Phan, Tạ Phong Châu, Phạm Ngọc Hy biên soạn; Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam của Đỗ Bình Trị;
Trang 11Bình giảng ngụ ngôn Việt Nam của Trương Chính; Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn; Thi pháp văn học dân gian của
Lê Trường Phát; Ngụ ngôn cổ điển phương Đông của Hữu Tuấn; Góc nhìn cấu trúc
về truyện ngụ ngôn dân gian Việt Nam, Tìm hiểu sự vận động của một số thể loại văn học dân gian người Việt, Truyện ngụ ngôn Việt Nam – chọn lọc và bình giảng của Triều Nguyên; Giáo trình Văn học dân gian do Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân Hương biên soạn; Giáo tình Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu; Lịch sử văn học dân gian Việt Nam của Nguyễn Xuân Kính, Bùi Thiên Thai; Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (thể loại và triển vọng) của Minh Hạnh và hàng loạt các bài nghiên cứu của Minh Hạnh, Triều Nguyên, Lê Huy Bắc, Nguyễn Xuân Kính, Lê Đức Luận trên Tạp chí Văn hóa dân gian đã góp phần định hình cụ thể và khẳng định vị trí của thể loại này trong
kho tàng tự sự dân gian Việt Nam
Gần với hướng nghiên cứu của đề tài là một số công trình có đề cập đến ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn người Việt Chúng tôi xin lược thuật những công trình sau:
Năm 1974, trong cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, dày 308 trang, Cao Huy Đỉnh có đề cập đến thủ pháp ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn: “Cái lối
ẩn dụ việc đời phần nhiều bằng hình tượng súc vật là đặc điểm của truyện ngụ ngôn Mỗi con vật biết nói, biết nghĩ, biết hành động là một biểu tượng của một loại người nhất định Quan hệ xung đột hoặc đồng tình giữa chúng nói lên những vấn đề đạo đức thật sự” (Cao Huy Đỉnh, 1974)
Năm 1979, Tiếng cười dân gian Việt Nam do Trương Chính và Phong Châu
biên soạn, tuy người viết không gọi tên trực tiếp nhưng qua cách giải thích của tác giả có thể hiểu đó chính là lối nói ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn:
Trong những truyện này, tiếng cười được khai thác từ những khía cạnh giống nhau giữa những cái vốn khác nhau Tiếng cười càng ý nhị khi con vật được chọn có một số đặc điểm giống con người mà nó tượng trưng, đồng thời vẫn giữ y nguyên diện mạo, tập quán của nó […] Truyện ngụ ngôn loài vật
Trang 12của ta cũng lợi dụng một số đặc điểm của loài vật để hư cấu những chuyện tương đối hợp lý (Trương Chính & Phong Châu, 1979)
Các học giả đã lấy truyện Con vờ và con Đom Đóm, Chèo Bẻo và Ác Là để
chứng minh cho ý kiến trên, từ đó thấy được cách lựa chọn nhân vật của tác giả dân gian vô cùng tinh tế và sắc sảo
Năm 1985, Minh Hạnh trong bài viết “Bước đầu tìm hiểu về vấn đề kế thừa và nâng cao truyền thống qua truyện ngụ ngôn Việt Nam” đăng trên Tạp chí Văn hóa
dân gian có đề cập đến việc sử dụng ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn như sau:
Dưới hình thức một truyện kể (có thể ngắn hay dài, văn vần hoặc văn xuôi) bằng lối ẩn dụ thông qua các loài vật, hay bất cứ hình thức tồn tại nào trong đời sống (núi, sông, mây, gió, trời, cây cỏ…) truyện ngụ ngôn đề cập đến các vấn đề của xã hội loài người, xây dựng một thái độ ứng xử trong cuộc sống […] Ngụ ngôn dân gian, một thể loại văn học trong quá trình nhận thức khám phá thực tại đã sử dụng thủ pháp ẩn dụ một cách tài tình (Minh Hạnh, 1985)
Năm 1986, trong bài viết “Một vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa truyện cổ tích
về loài vật và truyện ngụ ngôn”, Minh Hạnh đưa ra những tiêu chí để phân biệt giữa
truyện cổ tích về loài vật và truyện ngụ ngôn Một trong những phương diện quan trọng mà người viết dùng để so sánh chính là nghệ thuật của mỗi truyện Minh
Hạnh nhấn mạnh rằng: “Truyện ngụ ngôn còn khác với truyện cổ tích ở chỗ bao giờ
nó cũng hình thành thông qua lối nói bằng hình tượng và sử dụng ẩn dụ” (Minh Hạnh, 1986) Cuối bài viết, tác giả khẳng định lần nữa “truyện dân gian chỉ được coi là truyện ngụ ngôn khi nó dùng phương pháp nghệ thuật tưởng tượng với lối nói
ẩn dụ để thực hiện câu chuyện thông qua cách diễn đạt ngắn gọn, hàm súc” (Minh
Hạnh, 1986)
Năm 1987, Minh Hạnh tiếp tục nghiên cứu về truyện ngụ ngôn qua bài viết
“Thử bàn về đặc trưng của truyện ngụ ngôn” Trong bài viết này, nhà nghiên cứu đã
đưa ra những kết luận quan trọng về đặc trưng của truyện ngụ ngôn Trong đó, tác
giả có nhắc đến việc sử dụng ẩn dụ khi nói đến hình thức kết cấu của truyện “truyện
Trang 13phải sử dụng ngôn ngữ hàm súc, các ẩn dụ, tỉ dụ dễ hiểu và nêu được nét đặc trưng
cơ bản của vấn đề định gửi gắm” (Minh Hạnh, 1987)
Năm 1987, Minh Hạnh một lần nữa nhắc đến vai trò của ẩn dụ trong truyện
ngụ ngôn qua bài viết “Xem xét giá trị của thơ ngụ ngôn Nam Hương trong dòng văn học yêu nước đầu thế kỷ XX” đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian Theo người
viết, Nam Hương, Nguyễn Văn Ngọc và Nguyễn Trọng Thuật tuy có những hướng tiếp cận truyện ngụ ngôn khác nhau nhưng vẫn chung mục đích là dùng thể loại này
để “nói lên những suy nghĩ của mình trước các vấn đề của cuộc sống Dựa vào đặc điểm của truyện ngụ ngôn là dùng lối ẩn dụ để nêu lên những vấn đề triết lý, những quy luật của đời sống, những quan niệm đạo đức, kinh nghiệm sống…” (Minh Hạnh, 1987) Bên cạnh đó, tác giả cho rằng “Nam Hương đã biết tận dụng lối ẩn dụ của thể ngụ ngôn một cách khéo léo để đưa nội dung triết lý vào, nhằm trước hết biểu lộ lòng yêu nước của một cây bút có ít nhiều tinh thần dân tộc…” (Minh Hạnh, 1987)
Năm 1991, ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn tiếp tục được đề cập trong bài viết
“Thử bàn về thi pháp của truyện ngụ ngôn” của tác giả Minh Hạnh, trên Tạp chí
Văn hóa dân gian Trong bài viết này, tác giả nghiên cứu truyện ngụ ngôn qua bốn phương diện: cốt truyện, kết cấu; nhân vật; kết thúc truyện và cách dùng ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn Ở khía cạnh ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn, người viết có nhấn
mạnh: “Đặc điểm nổi bật nhất của truyện ngụ ngôn có thể nói là phương pháp dùng
ẩn dụ, thông qua một ngôn ngữ hàm súc” (Minh Hạnh, 1991) Người nghiên cứu
đã cắt nghĩa vấn đề trên như sau:
Thường thì truyện ngụ ngôn là một câu chuyện có mục đích đã được định sẵn theo một chủ ý nào đó Để cho câu chuyện hấp dẫn, dễ hiểu, người ta hay dùng ẩn dụ, thông qua phương pháp chọn lọc những nét đặc trưng nhất, tiêu biểu nhất của người, súc vật hay đồ vật,…được chọn làm nhân vật để đưa vào truyện Thí dụ: loài cáo được mọi người quen cho là giống vật ranh ma, xảo quyệt, loài Hổ, Báo thì độc ác, tham lam, Thỏ thông minh, nhanh trí…Vì thế muốn nêu bật tính ranh mãnh, người ta chọn Cáo làm nhân vật Muốn nói về sự
Trang 14thông minh, nhanh trí người ta dùng Thỏ…Chẳng ai làm ngược lại, vì làm như vậy chắc chắn sẽ thất bại Lời lẽ thì phải rất hàm súc, chứa đựng chân lí và khá
chuẩn xác, không rườm rà, kể lể Truyện Con Giơi, kể về con Giơi lúc thì nhận
mình là loài thú, lúc thì nhận là loài chim mỗi khi phần thắng nghiêng về một loài nào đó Cuối cùng Giơi bị cả hai loài khinh bỉ, xua đuổi khi nhận rõ bộ mặt
cơ hội của nó Người ta đã chọn đặc điểm thân thể của Giơi vừa có lông mao lại vừa có lông vũ (nửa chim nửa thú) để dựng thành câu chuyện trên, chế giễu những kẻ cơ hội “gió chiều nào che chiều ấy” (Minh Hạnh, 1991)
Năm 1997, trong cuốn Bình giảng ngụ ngôn Việt Nam, Trương Chính cho rằng
người sáng tác truyện ngụ ngôn định ra ngụ ý trước rồi mới xây dựng câu chuyện Theo người viết, có nhiều cách đặt chuyện khác nhau Và Trương Chính đã triển khai cách đặt truyện theo lối ẩn dụ như sau:
Cách đặt truyện mà các nhà ngụ ngôn Đông Tây hay dùng nhất là ẩn dụ
Ẩn dụ là so sánh vật này với vật kia, nhưng vật thứ nhất thì ẩn đi, chỉ để hiểu ngầm mà thôi
Truyện thường mượn loài vật mà chỉ loài người, vì loài vật cũng có những đặc tính, diện mạo, tập tục giống loài người Qua con vật được miêu tả, chúng ta thấy hình bóng của con người Con vật đóng vai trò chính, nhưng hành vi, cử chi và cả tư tưởng đều là của con người Có thể nói đó là những con người đội lốt cầm thú
Dùng loài vật để ám chỉ loài người tất nhiên phải dựa vào những đặc điểm phổ biến của con vật mà miêu tả, và những đặc điểm ấy phải được mọi người thừa nhận Ví dụ: mèo thì giả dối, cáo thì xảo quyệt, lừa thì ngu ngốc, thỏ thì hiền lành, khỉ thì hay bắt chước, rùa thì khôn ngoan, hổ và sư tử thì hung dữ, v.v…Ẩn dụ phải dễ hiểu, ngụ ý mới rõ và mới có tác dụng Nói tóm
Trang 15lại là phải có sự tương quan hợp lí giữa con vật được miêu tả và người mình
ám chỉ (Trương Chính, 1998)
Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh truyện truyện ngụ ngôn hay cốt ngụ ý Người viết chia thành ba trường hợp để bình giảng Trường hợp thứ nhất: truyện là một ẩn dụ Trường hợp thứ hai: truyện có ngụ ý Trường hợp còn lại là loại truyện gần với truyện cười Đáng lưu ý, trong trường hợp thứ nhất, Trương Chính cho rằng
mỗi truyện ngụ ngôn chính là một ẩn dụ Theo tác giả, “khi đã biết đó là “một tấm màn che” thì lật lên là thấy ngụ ý” (Trương Chính, 1997)
Năm 1998, công trình Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên có bàn đến nghệ thuật xây dựng truyện ngụ ngôn Theo tác giả, “truyện ngụ ngôn là một cách biểu hiện tư tưởng bằng tỉ dụ” (Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên
& Võ Quang Nhơn, 1998) Tuy nhiên, theo chúng tôi, tỉ dụ mà tác giả đề cập đến thực chất là ẩn dụ (một kiểu so sánh ngầm) Trong truyện ngụ ngôn, tác giả dân gian
đã mượn câu chuyện về những con vật để ẩn ý về thế giới của con người Nếu xét
mô hình của một phép so sánh thông thường (vế A phương diện so sánh từ so sánh vế B) thì ở truyện ngụ ngôn đã ẩn đi vế A Đây chính là lối nói ẩn dụ, chỉ khác nhau về tên gọi mà thôi Đồng thời, người viết cũng nhấn mạnh rằng muốn cho truyện ngụ ngôn đi sâu được vào đông đảo đời sống nhân dân thì những ẩn dụ phải phổ biến Tính phổ biến mà tác giả đề cập đó chính là khi sử dụng những nhân vật là con vật hay sự vật để thể hiện ý niệm trừu tượng, đưa ra bài học kinh nghiệm
phải được mọi người cùng nhận thức và công nhận: “Nói bằng tỉ dụ (so sánh) thì phải dễ hiểu, làm cho người đọc dễ hình dung hơn những ý niệm trừu tượng và khó nói kia Nói cách khác sử dụng tỉ dụ phải dựa trên cơ sở nhận thức chung của cộng đồng thì mới đạt được hiệu quả Đó mới chính là ý nghĩa của việc sử dụng tỉ dụ trong việc thể hiện những bài học kinh nghiệm” (Đinh Gia Khánh nnk., 1998) Năm 2002, Lê Huy Bắc trong bài viết “Dấu vết ngụ ngôn trong Lănđơn” đăng
trên Tạp chí Văn hóa dân gian có đề cập đến đặc trưng của truyện ngụ ngôn là phản
ánh hiện thực một cách gián tiếp thông qua “các hình tượng ẩn dụ” (Lê Huy Bắc,
2002)
Trang 16Năm 2004, Lê Huy Bắc tiếp tục nghiên cứu về truyện ngụ ngôn qua bài viết
“Giảng văn Đeo nhạc cho mèo” Trong bài viết này, tác giả phân tích truyện ngụ ngôn Đeo nhạc cho mèo theo các luận điểm chính: xã hội Chuột ẩn dụ cho xã hội
người và ai đeo nhạc cho mèo để rút ra ý nghĩa và bài học của truyện Ở khía cạnh thứ nhất của bài viết, tác giả đã phân tích những điểm tương đồng trong xã hội loài chuột với xã hội loài người để làm rõ ẩn dụ trong truyện
Năm 2012, Phân tích tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường, Bùi Mạnh Nhị đã đưa ra định nghĩa về truyện ngụ ngôn đồng thời khẳng định rằng “có thể nói, mỗi truyện ngụ ngôn là một (hoặc một số) ẩn dụ” (Bùi Mạnh Nhị, 2012)
Năm 2012, công trình Văn học dân gian Phú Yên do Nguyễn Định chủ biên,
khi bàn đến nghệ thuật trong truyên ngụ ngôn, người biên soạn có đề cập đến thủ
pháp ẩn dụ Theo người viết, “có thể coi phúng dụ là ẩn dụ có quy mô lớn hơn (không chỉ ở cấp độ câu, đoạn mà còn bao quát toàn tác phẩm)” Ngoài ra Nguyễn
Định cũng nhấn mạnh, phúng dụ dựa trên cơ sở lối nói ngụ, bóng gió, biểu đạt một
ý tưởng trừu tượng, khái quát bằng hình ảnh trực quan Tác giả có chứng minh ý
kiến trên qua hai truyện Chia mồi và Chuyện của Ngựa và Bò
Năm 2012, Giáo trình Văn học dân gian do Vũ Anh Tuấn chủ biên, trong đó
phần truyện ngụ ngôn do Phạm Đặng Xuân Hương biên soạn đã nhấn mạnh đến vai trò của ẩn dụ trong việc xác lập đặc trưng của thể loại này:
Tính ẩn dụ (một tiêu chí vừa thuộc nội dung, vừa thuộc nghệ thuật) là một căn cứ rất quan trọng để nhận biết truyện ngụ ngôn Mỗi một truyện ngụ ngôn là một câu chuyện hoàn toàn tưởng tượng, trong đó nhân vật có thể là con vật, đồ vật hay con người, với những hành động có thể không có thật và tưởng như vô lí – gọi chung là nhân vật khác thường – nhưng không vấn đề gì, bởi tất
cả điều đó lại có thể tạo ra một không gian ẩn dụ để truyện ngụ ngôn che giấu một ngụ ý mà người đọc phải có nhiệm vụ tìm ra […] Truyện ngụ ngôn luôn
có một “không khí” ẩn dụ Một câu chuyện không có khả năng đồ chiếu, ngụ ý,
Trang 17ẩn giấu một lời quy châm thì đó không phải là truyện ngụ ngôn (Vũ Anh Tuấn nnk., 2012)
Năm 2020, Luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Thế với đề tài Thế giới nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt, tác giả có đề cập đến nghệ thuật ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn người Việt như sau: “Thông qua biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, thế giới nhân vật trong truyện ngụ ngôn văn xuôi người Việt khiến người đọc liên tưởng đến thế giới, cuộc sống của con người Xã hội loài người với đủ hạng người, số phận, cuộc đời khác nhau và cả những nét tính cách, phẩm chất khác nhau được dựng lên sinh động, lí thú” (Hồ Thị Thế, 2020) Trong công trình này, tác giả còn nhấn mạnh đến hiệu quả của việc sử dụng nghệ thuật ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn người Việt “hình tượng các nhân vật vật được hiện lên toàn diện, sắc nét, độc đáo và ấn tượng Điều quan trọng hơn, là thế giới nhân vật đã thực sự được sống, sức sống không chỉ nằm trên trang giấy mà nó đã bước ra ngoài đời thực và sống trong lòng người đọc” (Hồ Thị Thế, 2020)
Như vậy, từ việc “kiểm kê” các công trình trên, có thể thấy, thủ pháp ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn nói chung và truyện ngụ ngôn người Việt nói riêng đã được quan tâm, đề cập đến Phần lớn các công trình đều nhắc đến việc lấy nhân vật là con vật để ẩn dụ cho con người dựa trên sự tương đồng giữa vật và người Đáng lưu ý, trong nhận định của Phạm Đặng Xuân Hương đã có cái nhìn bao quát về việc không chỉ có các con vật mà còn là con người, đồ vật với những hành động khác thường,
vô lí đã tạo nên tính ẩn dụ cho câu chuyện Các nhận định trên là những gợi dẫn rất quan trọng cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này Tuy nhiên, vấn đề ẩn dụ nhân vật trong truyện ngụ ngôn vẫn chỉ mới khơi dậy những ý cơ bản mang tính tiền đề chứ chưa được khai thác, nghiên cứu sâu rộng Đây là một thử thách đồng thời cũng là một cơ hội cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu với mong muốn đóng góp những góc nhìn thú vị và ý nghĩa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là là ẩn dụ nhân vật
trong truyện ngụ ngôn người Việt
Trang 18Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi sử dụng 177 truyện ngụ ngôn bằng văn xuôi
trong cuốn Tổng tập Văn học dân gian người Việt, tập 10, Truyện ngụ ngôn do
Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) Chúng tôi không sử dụng 32 truyện ngụ ngôn bằng
văn vần và nguồn tư liệu từ phần Phụ lục của công trình (một số truyện trong Thánh Tông di thảo, một số tác phẩm trong Đông Tây ngụ ngôn, một số tác phẩm trong Thơ ngụ ngôn và một số tác phẩm trong Gương thế sự) Lí do chúng tôi lựa chọn
nguồn truyện ngụ ngôn trong Tổng tập trên vì đây là công trình sưu tầm, biên soạn một cách có hệ thống và tương đối đầy đủ về truyện ngụ ngôn người Việt, từ đây có thể khảo sát, tìm hiểu được những vấn đề cốt yếu của truyện ngụ ngôn người Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
5.1 Phương pháp thống kê – phân loại
Với phương pháp này, chúng tôi thống kê những truyện được tri nhận dựa vào đặc điểm của đối tượng để làm rõ cơ sở tạo nghĩa ẩn dụ nhân vật; các truyện được sắp xếp theo mối quan hệ tương phản, tương đồng để cụ thể hóa kĩ thuật kiến tạo tình huống thông qua cách sắp đặt nhân vật Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành thống kê và phân loại ẩn dụ nhân vật như: ẩn dụ trong đó nhân vật là con người, ẩn
dụ trong đó nhân vật là con vật và ẩn dụ trong đó nhân vật là đấng bậc siêu nhiên Với từng kiểu loại ẩn dụ nhân vật, chúng tôi tiếp tục chia nhỏ theo từng nhóm đặc điểm, và trong từng nhóm đó, chúng tôi tiếp tục sử dụng thao tác này để đưa ra những số liệu cụ thể về đặc điểm, tính cách của các nhân vật Ngoài ra, chúng tôi sử dụng phương pháp này để thống kê số lần xuất hiện của các nhân vật là con vật mang ý nghĩa ẩn dụ để thấy được dụng ý xây dựng nhân vật của tác giả ngụ ngôn và trực tiếp làm rõ cho cơ sở tạo nghĩa ẩn dụ nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt
5.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích phân tích những đặc điểm, tính cách của các nhân vật trong truyện để phân loại và khái quát đặc điểm của kiểu người tương ứng trong xã hội dựa trên sự tương đồng, một trong những điểm mấu chốt của thủ pháp ẩn dụ Vận dụng phương pháp này giúp chúng tôi có
Trang 19những kiến giải cụ thể và chi tiết hơn về cơ sơ để thiết lập nên cơ chế tạo nghĩa ẩn
dụ nhân vật Bên cạnh đó, với phương pháp phân tích, tổng hợp còn giúp công trình làm rõ những trường hợp sắp đặt nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt, một cách thức để làm nên cơ chế tạo nghĩa ẩn dụ nhân vật Cuối cùng, chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích những đặc điểm, tính cách của nhân vật được thể hiện thông qua tình huống trong truyện làm cơ sở phân loại nhân vật mang ý nghĩa
ẩn dụ cho từng kiểu người cụ thể
5.3 Phương pháp so sánh
Phương pháp này nhằm đối chiếu sự tương đồng và dị biệt giữa cách thức xây dựng nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt và một số truyện ngụ ngôn trên thế giới, tiêu biểu là ngụ ngôn Aesop Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp này nhằm mục đích so sánh một số loại nhân vật mang ý nghĩa ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn người Việt so với truyện cổ tích và giữa các kiểu ẩn dụ nhân vật như ẩn
dụ trong đó nhân vật là con vật, ẩn dụ trong đó nhân vật là con người và ẩn dụ trong
đó nhân vật là đấng bậc siêu nhiên Đồng thời, chúng tôi sử dụng phương pháp này
để so sánh số lần xuất hiện của các nhân vật là con vật, từ đó làm rõ dụng ý, nghệ thuật lựa chọn nhân vật của tác giả ngụ ngôn
5.4 Phương pháp liên ngành
Công trình này sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành nhằm mục đích kiến giải những trường hợp nhân vật mang ý nghĩa ẩn dụ dựa trên quan niệm dân gian Hơn thế nữa, chúng tôi kết hợp lý thuyết ẩn dụ (ẩn dụ nghệ thuật) thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học để tìm hiểu và phân tích Như vậy, với đề tài này, chúng tôi kết hợp cả lĩnh vực văn học, văn hóa và ngôn ngữ để đi sâu tìm hiểu
6 Đóng góp mới của luận văn
Bên cạnh tiếp thu những nghiên cứu về truyện ngụ ngôn của các công trình trước, ở đề tài này chúng tôi trình bày, phân tích tính cách, phẩm chất của các loại nhân vật và phân loại ẩn dụ nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt Ngoài ra, công trình bước đầu còn làm rõ cơ chế tạo nghĩa ẩn dụ nhân vật thông qua việc phân tích cơ sở tạo nghĩa dựa trên đặc điểm của đối tượng bao gồm đặc điểm tự nhiên và đặc điểm do con người quan niệm; cơ sở tạo nghĩa dựa vào kĩ thuật kiến
Trang 20tạo tình huống để thiết lập ẩn dụ nhân vật Hơn thế nữa, qua công trình này, chúng
tôi còn có những điểm so sánh ở một số nhân vật ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn
người Việt so với truyện ngụ ngôn của nước ngoài, tiêu biểu là ngụ ngôn Aesop
Cuối cùng, chúng tôi giới thiệu các phụ lục như: phụ lục 1: tóm tắt 177 truyện
ngụ ngôn người Việt, phụ lục 2: bảng khảo sát nhân vật trong truyện ngụ ngôn
người Việt, phụ lục 3: bảng thống kê nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt,
phụ lục 4: bảng thống kê nhân vật là con vật trong truyện ngụ ngôn người Việt và
bảng thống kê các loại nhân vật theo từng đặc điểm, tính cách từ phụ lục 5 đến phụ
lục 23
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có
3 chương:
Chương 1 Giới thuyết chung về truyện ngụ ngôn, truyện ngụ ngôn người Việt
và thủ pháp ẩn dụ Trong chương này chúng tôi trình bày những vấn đề lí thuyết về
truyện ngụ ngôn như khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm nội dung, thi pháp, đối sánh
truyện ngụ ngôn với các thể loại khác Bên cạnh đó, luận văn tiếp tục đi sâu làm rõ
những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật trong truyện ngụ ngôn người Việt và vấn
đề ẩn dụ, ẩn dụ nhân vật và ẩn dụ nhân vật trong truyện ngụ ngôn
Chương 2 Phân loại ẩn dụ nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt Ở phần
này chúng tôi chia ẩn dụ nhân vật thành ẩn dụ trong đó nhân vật là con vật, ẩn dụ
trong đó nhân vật là con người và ẩn dụ trong đó nhân vật là đấng bậc siêu nhiên
Để có cái nhìn cụ thể và rõ ràng hơn, ở mỗi loại ẩn dụ là con vật và ẩn dụ là con
người, chúng tôi gom thành từng nhóm và tiếp tục chia nhỏ theo từng đặc điểm, tính
cách
Chương 3 Cơ chế tạo nghĩa ẩn dụ nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt
Trong chương này, chúng tôi trình bày hai phương diện làm nên cơ chế tạo nghĩa ẩn
dụ nhân vật đó là cơ sở tạo nghĩa dựa vào đặc điểm của đối tượng (đặc điểm tự
nhiên và đặc điểm do con người quan niệm) và cơ sở tạo nghĩa dựa trên kĩ thuật
kiến tạo tình huống để thiết lập ẩn dụ nhân vật (kĩ thuật kiến tạo tình huống thông
qua cách sắp đặt nhân vật và kĩ thuật tổ chức các sự kiện tự sự)
Trang 21Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỆN NGỤ NGÔN,
TRUYỆN NGỤ NGÔN NGƯỜI VIỆT VÀ THỦ PHÁP ẨN DỤ
1.1 Truyện ngụ ngôn
1.1.1 Những vấn đề chung về thể loại
1.1.1.1 Khái niệm truyện ngụ ngôn
Truyện ngụ ngôn là một khái niệm được nhiều học giả đề cập đến trong các công trình nghiên cứu, từ điển, giáo trình văn học dân gian
Ở góc độ từ nguyên, trong cuốn Hán – Việt tự điển, Thiều Chửu đã chiết tự từ
“ngụ ngôn” từ đó đưa ra định nghĩa: “寓 (ngụ) : nói bóng, để vào đấy, gửi tới; 言
(ngôn): nói 寓 言 (ngụ ngôn): nói truyện này mà ngụ ý ở truyện kia” (Thiều Chửu, 2014) Trong Từ điển văn học (bộ mới) do Đỗ Đức Hiểu, Phùng Văn Tửu, Nguyễn
Huệ Chi, Trần Hữu Tá biên soạn đã nhấn mạnh đến phương diện chức năng và nghệ
thuật của thể loại khi định nghĩa truyện ngụ ngôn: “một thể loại văn học giáo huấn, thường sử dụng phúng dụ như một nguyên tắc tổ chức tác phẩm”(Đỗ Đức Hiểu,
Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu & Trần Hữu Tá, 2004) Còn Hoàng Phê trong
công trình Từ điển tiếng Việt đã đề cập đến những đặc điểm về hình thức (bài thơ hoặc truyện) và cách thức xây dựng những bài học (mượn chuyện loài vật): “bài thơ hoặc truyện ngắn mượn chuyện loài vật để nói về việc đời, nhằm dẫn đến kết luận
về đạo lí, về kinh nghiệm sống” (Hoàng Phê, 1992) Cùng với hướng tiếp cận trên, Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên cũng cho rằng truyện ngụ ngôn là:
“lối văn, thơ mượn loài vật để nói việc đời, nhằm giáo dục đạo lí, nhân cách làm người”(Nguyễn Như Ý, 1999) Nhìn chung, các định nghĩa trên đã chỉ ra những đặc
trưng cơ bản về hình thức, chức năng, đặc điểm nghệ thuật của thể loại trên
Ở góc độ thuật ngữ văn học, Từ điển thuật ngữ Văn học do Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi biên soạn đã trình bày rất chi tiết về khái niệm ngụ ngôn
Theo các tác giả, ngụ ngôn là “lời nói, mẩu chuyện có ngụ ý (ngụ là “gửi”) xa xôi bóng gió được sử dụng rộng rãi trong nhiều thể loại văn học dân gian và văn học thành văn (như thơ ngụ ngôn, truyện ngụ ngôn, ca dao, tục ngữ)” (Lê Bá Hán, Trần
Trang 22Đình Sử & Nguyễn Khắc Phi, 2013)
Song song với quá trình khảo sát khái niệm truyện ngụ ngôn ở một số từ điển, chúng tôi cũng tìm thấy khái niệm này trong khá nhiều công trình nghiên cứu Xin dẫn ra những công trình sau đây để góp phần xác lập đầy đủ hơn về diện mạo của thể loại
Trong cuốn Đông Tây ngụ ngôn, Nguyễn Văn Ngọc cũng đi từ việc chiết tự từ
“ngụ ngôn” để đưa ra những nhận định cơ bản về thể loại và nhấn mạnh đặc trưng quan trọng của truyện ngụ ngôn là lời quy châm ở mỗi truyện nhằm khu biệt với các thể loại khác:
Chữ Ngụ 寓 nghĩa là gá gửi; chữ 言 nghĩa là nhời nói Ta dùng hai chữ
“Ngụ ngôn” để chỉ cái lối văn, hoặc văn xuôi, hoặc văn vần, thường đặt thành câu truyện đem kể, rồi nhân câu truyện mà dẫn những nhời quy trâm về luân thường đạo lý, để cảm hóa lòng người
Vậy trong ngụ ngôn câu truyện kể chỉ là khách, nhời quy trâm mới thực
là chủ Tức như chính một nhà ngụ ngôn xưa đã nói: Câu truyện kể chỉ là cái phần “hình hài” bề ngoài, nhời trâm quy mới thực là cái phần “linh hồn” bên trong (Nguyễn Văn Ngọc, 1927)
Cũng theo hướng tiếp cận từ nguyên để định nghĩa, trong cuốn Giáo trình Văn học dân gian, Phạm Đặng Xuân Hương giải thích khá cặn kẽ về từ nguyên “ngụ ngôn” : “Từ nguyên đã nói lên ý nghĩa của tên gọi: Bha từ nguồn gốc Ấn Độ có nghĩa là nói, tiếng Hi Lạp có nghĩa là lời kể; Fari hay Fabula tiếng Latinh có nghĩa
là lời kể ngắn, Fable tiếng Pháp là truyện kể có bài học luân lí; ngụ ngôn theo tiếng Trung Quốc và Việt Nam là lời kể có ngụ ý bên trong” từ đó xác lập khái niệm của thể loại “truyện ngụ ngôn là loại truyện kể, có thể bằng văn xuôi hoặc văn vần, ở đó người ta mượn một câu chuyện nhỏ mà nhân vật hoặc là loài vật, đồ vật hay là chính con người,… để gửi gắm những bài học kinh nghiệm sống, răn dạy người ta
về luân lí, đạo đức, cách đối nhân xử thế” (Vũ Anh Tuấn nnk., 2012) Công trình Phân tích tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường, Bùi Mạnh Nhị cũng đã cắt
Trang 23nghĩa từ “ngụ ngôn” : “nguyên nghĩa là lời nói có ngụ ý, tức là lời nói kín đáo để người đọc tự suy ra mà hiểu (ngụ = hàm chứa ý kín đáo, ngôn = lời nói)” đồng thời, đưa ra định nghĩa về thể loại này như sau: “loại truyện kể bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn truyện nhỏ về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống” (Bùi Mạnh Nhị, 2012)
Khi đề cập đến biện pháp gây cười trong các thể loại, cuốn Tiếng cười dân gian Việt Nam do Trương Chính và Phong Châu biên soạn đã giới thuyết định nghĩa truyện ngụ ngôn “là truyện kể nhằm nêu lên một nhận xét về thực tế cuộc sống, một kinh nghiệm xử thế, một bài học luân lý, đạo đức, một quan niệm về triết lý, về nhân sinh” (Trương Chính & Phong Châu, 1979)
Trong lời đầu cuốn Bình giảng ngụ ngôn Việt Nam, Trương Chính tiếp tục nhấn mạnh về truyện ngụ ngôn: “là truyện ngắn hoặc dài, văn xuôi hoặc văn vần,
có ngụ ý, có hàm chứa một bài học đạo lí, một nhận xét về thực tế xã hội, một quan niệm triết lí hay nhân sinh mà vì nhiều lí do khác nhau, người ta không nói thẳng, phải dùng cách ám chỉ, nói bóng nói gió, kiểu “chém bụi tre nhè bụi chuối”
(Trương Chính, 1997)
Cuốn Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên cho rằng:
“truyện ngụ ngôn là một loại truyện chứa đựng trong một sự tích hoàn toàn tưởng tượng một quan niệm triết lí hay đạo đức, một kinh nghiệm sống đã được tổng kết
Và như vậy truyện ngụ ngôn có hai phần: phần cụ thể là truyện kể, phần trừu tượng
là ý niệm rút ra từ truyện đó có thể gọi là lời quy châm” (Đinh Gia Khánh nnk.,
1998) Khái niệm khá chi tiết và cụ thể trên đã khái quát lên được những đặc trưng
về tính chất, nội dung ý nghĩa cũng như kết cấu của truyện ngụ ngôn
Giáo trình Văn học dân gian do Hoàng Tiến Tựu biên soạn đã trình bày tương
đối cụ thể về khái niệm này:
Truyện ngụ ngôn (hay ngụ ý) là một loại truyện dân gian mang tính chất ngụ ý, nói bóng hay ám chỉ (phúng dụ) nhằm nêu lên những bài học luân lí, triết lí, hay một kinh nghiệm sống dưới một hình thức kín đáo Nhân vật trong
Trang 24truyện ngụ ngôn phần lớn là loài vật (như truyện Bồ Câu và Sáo, Chèo bẻo và
Ác Là, Phù du và Đom đóm…); Nhưng cũng có khi nhân vật là cây cỏ, hoa lá,
trăng sao, có khi là người hay bộ phận của cơ thể con người (như truyện Xẩm
xem voi…)
Công trình Thi pháp văn học dân gian do Lê Trường Phát biên soạn cũng đã
kế thừa những ý kiến của các nhà nghiên cứu trước và trình bày những điểm đáng lưu ý trong việc xác định khái niệm Tác giả cho rằng giữa truyện ngụ ngôn và lời nói ngụ ý có mối quan hệ với nhau Khi lời nói có ngụ ý được thay thế bằng một câu chuyện thì sẽ có một câu chuyện ngụ ngôn
Các bài viết “Thử bàn về đặc trưng của truyện ngụ ngôn” của Minh Hạnh,
“Dấu vết ngụ ngôn trong Lănđơn” của Lê Huy Bắc trên Tạp chí văn hóa dân gian cũng đã đề cập đến các đặc điểm về hình thức và chức năng của thể loại Minh Hạnh cho rằng: “ngụ ngôn là một trong những thể loại văn học dân gian lâu đời, nó
ở trong dòng tự sự xã hội để biểu đạt những tâm tư, tình cảm của nhân dân lao động thông qua lời nói có ngụ ý” (Minh Hạnh, 1987) Lê Huy Bắc nhấn mạnh “ngụ ngôn, với tư cách là một thể loại văn học là hình thức tự sự ngắn (bằng thơ hoặc văn xuôi), mượn loài vật, thực vật và cả đồ vật để giáo huấn con người” (Lê Huy Bắc, 2002)
Từ việc khảo sát khái niệm truyện ngụ ngôn trong các từ điển cũng như các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy không có nhiều ý kiến trái chiều mang tính nhận thức lại về đặc điểm thể loại truyện ngụ ngôn mà trên tinh thần bổ sung và hoàn thiện hơn Dựa trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra cách hiểu về truyện ngụ ngôn
như sau: truyện ngụ ngôn là một hình thức tự sự dân gian bằng văn xuôi hoặc văn vần mượn truyện về con vật, đồ vật, sự vật vô tri vô giác và cả con người để phản ánh những vấn đề trong cuộc sống của con người từ đó gửi gắm những bài học về đạo đức hay khuyên nhủ con người về cách xử thế trong xã hội
1.1.1.2 Nguồn gốc truyện ngụ ngôn
Nhiều học giả đã cố gắng kiếm tìm về gốc tích ban đầu của truyện ngụ ngôn
để hiểu thêm về đặc điểm của thể loại này
Trang 25Nguyễn Văn Ngọc cho rằng: “Gốc tích của ngụ ngôn bắt đầu khi cái trí của con người biết mượn nhời nói bóng bẩy để diễn tả tư tưởng của mình” (Nguyễn
Văn Ngọc, 1927)
Tiếp theo là ý kiến của Đỗ Bình Trị trong công trình Nghiên cứu tiến trình lịch
sử của văn học dân gian Việt Nam “Có lẽ sự phát triển mạnh mẽ của bộ phận tục ngữ về xã hội và con người, cũng như sự nở rộ của truyện ngụ ngôn dân gian và truyện cười phải diễn ra hầu như cùng một thời, đại khái vào giai đoạn khủng hoảng của chế độ chuyên chế phong kiến” (Đỗ Bình Trị, 1978)
Minh Hạnh trong công trình Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (thể loại
và triển vọng) cũng đã khẳng định :
Chúng tôi chỉ đồng tình khi một số nhà lý luận cho truyện ngụ ngôn có tiền thân từ truyện về loài vật, khi họ cắt nghĩa rằng truyện ngụ ngôn xuất hiện khá sớm, khi con người “chưa tách rời thế giới tự nhiên” Họ phải vận dụng toàn bộ sức lực và trí tuệ để thích nghi với môi sinh cho nên đòi hỏi phải tìm hiểu và nắm vững mọi sự vật, hiện tượng xã hội Do chưa xác định được ranh giới giữa bản thân và thế giới xung quanh nên con người đã gán cho sinh vật mọi tập quán, sinh hoạt, suy nghĩ của bản thân mình Và người ta đã tưởng tượng ra những truyện về động vật cũng như sáng tác ra truyện ngụ ngôn để ngụ truyện con người, và nó mang một yếu tố quan trọng là: Thông qua sự miêu tả các đặc điểm của con vật để nói về con người (Minh Hạnh, 1993)
Trương Chính trong Bình giảng ngụ ngôn Việt Nam đã nhận xét: “Truyện ngụ ngôn dân gian Việt Nam nói riêng cũng như văn hoc dân gian Việt Nam nói chung, chủ yếu là truyền miệng, không được ghi chép, không biết xuất hiện từ lúc nào”
(Trương Chính, 1997)
Trong cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Cao Huy Đỉnh cho rằng “ truyện ngụ ngôn phải ra đời với trình độ lý trí và triết học cao” (Cao Huy Đỉnh, 1974) Người viết tiếp tục cắt nghĩa cụ thể hơn “ ở thời kì phong kiến phồn
Trang 26thịnh, lúc mâu thuẫn giai cấp trở nên quyết liệt, bọn thống trị tìm mọi cách khống chế, đàn áp lực lượng chống đối thì nhân dân lại tìm nhiều hình thức đấu tranh ngôn luận khéo léo và tế nhị hơn Đó là thời kì phồn thịnh của truyện ngụ ngôn”
(Cao Huy Đỉnh, 1974)
Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh (chủ biên) cũng đã xác quyết
truyện ngụ ngôn chỉ có thể hình thành với một trình độ phát triển tương đối cao của
tư duy loài người Tác giả nhấn mạnh thêm : “truyện ngụ ngôn xuất hiện từ lâu, và
có lẽ lúc đầu nó chỉ có ý nghĩa giáo dục là chủ yếu Đến khi xã hội có giai cấp, có
kẻ thống trị và có kẻ bị trị thì ngụ ngôn bèn được sử dụng như một vũ khí đấu tranh giai cấp […].Truyện ngụ ngôn chắc đã xuất hiện từ lâu ở nước ta và phát triển mạnh mẽ trong thời phong kiến” (Đinh Gia Khánh nnk., 1998)
Từ việc đặt truyện ngụ ngôn vào bối cảnh văn hóa và mối liên hệ với các thể
loại văn học dân gian, Hữu Tuấn trong công trình Ngụ ngôn cổ điển phương Đông
đã đưa ra nhận định : đất nước ta có truyền thống văn hiến lâu đời nên ngụ ngôn đã
xuất hiện trên cơ sở đó Yếu tố ngụ ngôn đã có trong tục ngữ, thành ngữ, ca dao và được thể hiện khá ý vị trên tranh dân gian làng Hồ Theo Hữu Tuấn, đây cũng là những tiền đề cơ bản để sau này ngụ ngôn được sáng tác một cách hoàn chỉnh
Xuất phát từ cách thức xây dựng lời quy châm và nội dung phản ánh của truyện ngụ ngôn, Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng
Xuân Hương trong giáo trình Văn học dân gian cho rằng: “sự xuất hiện của truyện ngụ ngôn đánh dấu một thời điểm mà ý thức xã hội và trình độ tư duy trừu tượng, tư duy nghệ thuật của nhân dân đã phát triển cao Một trong những tiền thân của truyện ngụ ngôn là các truyện cổ tích về động vật” (Vũ Anh Tuấn nnk., 2012) Trong công trình Phân tích tác phẩm văn học dân gian theo đặc trưng thể loại, Phạm Thu Yến nhận định rằng: “truyện ngụ ngôn là thể loại truyện kể có nguồn gốc
từ thời cổ đại, không ngừng được phát triển trong các thời đại tiếp sau” (Phạm Thu
Yến, 2014)
Từ các nhận định trên, có thể thấy các nhà nghiên cứu đã dựa vào đặc điểm nội dung để phỏng đoán về sự ra đời của truyện ngụ ngôn chứ chưa có một ý kiến nào mang tính khẳng định chắc chắn về nguồn gốc của thể loại Chúng tôi cũng
Trang 27không tham vọng sẽ truy tìm đích xác về vấn đề này Ở đây, chúng tôi cố gắng tìm kiếm các tài liệu nghiên cứu, sau đó xâu chuỗi lại và kết hợp với việc khảo sát
truyện ngụ ngôn trong Tổng tập và đưa ra kết luận sau: truyện ngụ ngôn được hình thành với một trình độ tương đối cao của tư duy loài người vì mục đích chính của truyện ngụ ngôn là giáo huấn, răn dạy Để dạy đời, không phải là chuyện dễ dàng Phải có một trình độ tư duy cao thì mới có thể truyền đạt được những bài học triết
lí về nhân sinh, xã hội một cách hợp tình, hợp lí để thuyết phục người nghe Ngoài
ra, truyện ngụ ngôn còn phát triển trong xã hội có đấu tranh giai cấp Lúc này, truyện ngụ ngôn không chỉ dừng lại ở mục đích giáo dục mà còn là một vũ khí đấu tranh xã hội Những người nông dân thấp cổ bé họng chưa đủ thế và lực để có thể đấu tranh một cách trực diện với những hoàn cảnh bất công, ngang trái nên họ mượn truyện ngụ ngôn với cách nói bóng gió, kín đáo để đả kích, châm biếm, lột trần bộ mặt tàn độc của giai cấp thống trị lúc bấy giờ
1.1.1.3 Truyện ngụ ngôn với một số thể loại liên quan
Vì đặc trưng, chức năng của truyện ngụ ngôn có những điểm gặp gỡ với các thể loại khác như truyện cổ tích loài vật, truyện cười nên để xác định được diện mạo riêng của thể loại này cần có sự khu biệt nhất định
Trước hết là sự phân biệt giữa truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích loài vật Sở
dĩ cần có sự phân biệt này vì có những truyện ngụ ngôn có yếu tố lí giải nguồn gốc của loài vật và có những truyện cổ tích loài vật mang yếu tố của ngụ ngôn Cũng như việc xác lập ranh giới giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười, thì việc phân định này cũng xuất phát từ hướng tiếp cận, thưởng thức, lĩnh hội của nhà nghiên cứu
Công trình Văn học dân gian Việt Nam, Hồ Quốc Hùng đã xếp truyện Kiến với Cá, Chó phải đòn oan, Mưu con Thỏ nằm trong phần sưu tuyển truyện cổ tích nhưng
với cách tiếp cận khác, Nguyễn Xuân Kính xếp những truyện này vào trong mục
truyện ngụ ngôn (Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 10, truyện ngụ ngôn)
Vấn đề ranh giới giữa truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích về loài vật được bàn luận
trong một số công trình như Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, Nhận diện thể loại truyện ngụ ngôn của Nguyễn Xuân Kính và bài viết “Một vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa truyện cổ tích về loài vật và
Trang 28truyện ngụ ngôn” của Minh Hạnh trên Tạp chí văn hóa dân gian Chúng tôi tán đồng
với ý kiến trên của các học giả Nhìn chung các công trình đều cho rằng hai loại truyện này có mối quan hệ mật thiết với nhau và gắn với thần thoại suy nguyên về nguồn gốc của loài vật nhưng điểm khác biệt cơ bản giữa hai thể loại trên là truyện
cổ tích loài vật thường hướng về sự lí giải nguồn gốc các loài vật và đây cũng chính đối tượng chủ yếu và trực tiếp trong việc nhận thức Còn truyện ngụ ngôn có những truyện có nhân vật là loài vật nhưng đó chỉ là phương tiện mà tác giả dân gian vay mượn để nhận thức về xã hội loài người
Tiếp đến là sự khu biệt giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười Có thể nhận thấy, trong một vài trường hợp rất khó minh định truyện ngụ ngôn hay truyện cười Điều này dẫn đến nhiều cách phân chia chưa thực sự nhất quán trong một số tuyển tập
Chẳng hạn như ở công trình Văn học dân gian (Những tác phẩm chọn) do Bùi Mạnh Nhị chủ biên, truyện Hai kiểu áo, Đặt lờ trên ngọn cây được xếp vào phần sưu tuyển truyện cười, nhưng trong Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 10, Truyện ngụ ngôn do Nguyễn Xuân Kính chủ biên thì lại xếp hai truyện trên vào truyện ngụ ngôn Hay đối với trường hợp truyện Treo biển, Nguyễn Xuân Kính xếp truyện này thuộc truyện ngụ ngôn nhưng trong Sách giáo khoa Ngữ văn 6, Tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục lại xếp truyện này thuộc thể loại truyện cười Theo chúng
tôi, sự không thống nhất này xuất phát từ góc nhìn, hướng tiếp cận của các nhà nghiên cứu khi tiến hành phân chia Bởi lẽ, ở mỗi truyện đều có yếu tố gây cười qua việc tổ chức các mâu thuẫn, đồng thời đều có yếu tố phê phán, hàm chứa bài học trong cuộc sống Vấn đề xác lập ranh giới giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười đã
đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu Có thể kể tên những công trình
như: Tiếng cười dân gian Việt Nam của Trương Chính và Phong Châu, Bình giảng ngụ ngôn Việt Nam của Trương Chính, Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu, bài viết Nhận diện thể loại truyện ngụ ngôn của Nguyễn Xuân Kính trên tạp chí văn hóa dân gian, Lịch sử văn học dân gian Việt Nam của Nguyễn Xuân Kính, Bùi Thiên Thai và Luận án Phó Tiến sĩ Ngữ văn của Minh Hạnh với đề tài Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (thể loại và triển vọng) Kế thừa những thành tựu
nghiên cứu trước cùng với việc khảo sát, phân tích truyện ngụ ngôn, chúng tôi nhận
Trang 29thấy sự khác nhau căn bản giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười thể hiện ở phương tiện và mục đích của mỗi thể loại Nếu truyện cười dùng tiếng cười được tạo ra từ những mâu thuẫn làm phương tiện chủ yếu để phê phán thói hư tật xấu còn truyện ngụ ngôn lại mượn hình tượng của sự vật và về chính con người để khám phá và khẳng định những bài học Vì vậy, yếu tố gây cười trong truyện ngụ ngôn không nhiều như ở truyện cười Truyện ngụ ngôn có yếu tố gây cười nhưng đây không phải là mục đích chính của thể loại này Mục đích chính của thể loại này là hướng đến những bài học nhận thức, ứng xử, kinh nghiệm sống Trái lại, truyện cười bao giờ cũng chú trọng đến mục đích gây cười, đằng sau mục đích gây cười có thể bao gồm nhiều mục đích khác như phê phán, đả kích hiện tượng tiêu cực trong xã hội hay hướng đến bài học nhận thức, ứng xử nhưng cơ bản phải đạt được mục đích trước mắt là tạo nên tiếng cười từ những mâu thuẫn trong truyện
Ngoài ra, trong một số công trình còn có sự đối sánh giữa truyện ngụ ngôn với
tục ngữ như công trình Thi pháp văn học dân gian của Lê Trường Phát, Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (thể loại và triển vọng) của Minh Hạnh Trong công trình
này, Minh Hạnh còn đưa ra những tiêu chí cơ bản nhằm so sánh truyện ngụ ngôn và đồng thoại, đồng dao
Phải nói rằng, việc đối sánh giữa truyện ngụ ngôn với các thể loại như trên vừa
đề cập, đặc biệt là sự đối sánh giữa truyện cổ tích loài vật, truyện cười là những đóng góp rất đáng trân trọng nhằm xác lập đặc trưng của thể loại Nếu giai đoạn trước Cách mạng, truyện ngụ ngôn là một thể loại rất mờ nhạt và có những lằn ranh chưa phân định thì việc phân biệt, đối sánh này đã góp phần khẳng định diện mạo của thể loại trong dòng tự sự dân gian Việt Nam
1.1.2 Đặc điểm thi pháp của truyện ngụ ngôn
1.1.2.1 Kết cấu hai phần (hai lớp)
Kết cấu là cấu trúc, sự tổ chức của văn bản Trong truyện ngụ ngôn, kiểu kết cấu tiêu biểu nhất là kiểu kết cấu hai phần (hai lớp): phần hồn và phần xác Trong
đó phần xác là câu chuyện được kể, là lớp nổi của câu chuyện, còn phần hồn là điều răn dạy – lớp chìm của truyện, thường người đọc, người nghe phải suy ngẫm mới rút ra được
Trang 30Có hai kiểu thể hiện hay còn gọi là hai kiểu kết cấu hình thức của hai phần đó Kiểu kết cấu thứ nhất là cả hai phần hòa làm một, phần hồn được thể hiện ngay trong phần xác Tác giả ngụ ngôn chỉ dựng lên câu chuyện, người nghe chuyện
sẽ rút ra ý nghĩa truyện từ nội dung của câu chuyện Đây là kiểu kết cấu phổ biến trong truyện ngụ ngôn thể hiện được trình độ tương đối cao trong tư duy con người qua việc lựa chọn nhân vật, đặc biệt là những nhân vật là con vật với những tập tính khác nhau để ẩn dụ cho những đặc điểm con người Bên cạnh đó là những cách thức kiến tạo tình huống bất ngờ, đầy kịch tính làm tăng sức hấp dẫn của câu chuyện
Lấy ví dụ truyện Thầy bói xem voi, nội dung câu chuyện chỉ kể lại việc năm ông
thầy bói mù xem voi Nhưng mỗi thầy chỉ xem một bộ phận của voi mà đã phán voi
“sun sun như con đỉa”, “chần chẫn như cái đòn càn”, “bè bè như cái quạt thóc”,
“sừng sững như cái cột nhà” , “tua tủa như cái chổi sể cùn” Ai cũng cho mình là
đúng nên đánh nhau toác đầu, chảy máu Nội dung câu chuyện chỉ có thế nhưng qua tất cả những gì được nêu trong truyện, bài học kinh nghiệm được thể hiện rất rõ Đó chính là vấn đề nhận thức chỉnh thể và bộ phận của sự vật, khuyên con người phải
có cái nhìn toàn diện khi đánh giá sự vật
Kiểu kết cấu thứ hai là phần hồn được diễn tả trực tiếp bằng lời của người kể chuyện Những truyện được thiết lập theo kiểu này thường có bố cục hai phần Phần đầu là kể sự việc, phần thứ hai là lời quy châm trực tiếp lồng ghép vào trong lời
thoại của nhân vật mang ý nghĩa tổng kết vấn đề Lấy ví dụ truyện Chuyện bó đũa,
lời dặn dò của người cha cũng chính là bài học đạo đức mà truyện ngụ ngôn muốn
gửi gắm đến người nghe chuyện: “Đúng! Như thế là các con đều thấy rằng chia lẻ
ra thì yếu, hợp lại thì mạnh Vậy các con phải biết hợp quần và đùm bọc lấy nhau thì mới có sức mạnh” Như vậy, bài học đạo đức được thể hiện trực tiếp thông qua
câu thoại của người cha ở cuối truyện Đây là một phương thức tư duy theo lối quy nạp Kiểu kết cấu này không phổ biến trong truyện ngụ ngôn, có thể bắt gặp trong
một vài truyện khác như: Thầy giáo Thỏ, Người học trò và con Hổ, Nhơn vật đạo đồng, Chôn vàng Mặc dù, lời quy châm được thể hiện trực tiếp nhưng không làm
cho người đọc, người nghe cảm thấy bị áp đặt, khiên cưỡng, bởi lẽ, nó được lồng ghép một cách khéo léo vào trong lời thoại của nhân vật, người nghe cảm giác như
Trang 31mình vừa đọc xong câu chuyện, và tự mình rút ra được chân lí chứ không nhất thiết vin vào lời giáo huấn, đúc kết của nhân vật trong truyện mới có thể hiểu được bài học
Ngoài kiểu kết cấu nội dung theo hai phần, hai lớp ở trên, truyện ngụ ngôn còn được kết cấu theo kiểu một màn kịch nhỏ Tính kịch được thể hiện thông qua những mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi, nhận thức giữa các nhân vật Chính vì vậy, các truyện thường kết thúc bất ngờ, hấp dẫn, thu hút người đọc, người nghe Tuy nhiên, trong một truyện ngụ ngôn không phải lúc nào cũng có đầy đủ yếu tố thi pháp của một vở kịch, nhưng tính kịch được xem là một đặc điểm thi pháp quan trọng góp phần thể hiện chủ đề của truyện Để minh họa cho đặc điểm thi pháp này của truyện
ngụ ngôn, xin dẫn ra trường hợp Hai con Rái Cá Mâu thuẫn được thể hiện qua việc
hai chú Rái Cá tranh nhau con Cá mà chúng vừa bắt được Cả hai con đều tranh công, tranh phần và không biết phân xử ra sao Tính kịch được đẩy lên khi chúng nhờ Sói chia phần, mà Sói vốn dĩ là có tính tham lam nên dùng cách chiếm khúc giữa con cá Còn đầu và đuôi cá thì phân chia cho hai con Rái Cá Mâu thuẫn lại tiếp tục nảy sinh vì lúc này hai con Rái Cá không thỏa mãn với cách chia của Sói nên chúng quyết định tìm đến Cọp Cọp càng gian xảo hơn, tìm cách chiếm luôn cả phần đầu, phần đuôi cá và chỉ để lại mỗi bộ xương Cách giải quyết của Sói, Cọp về mặt hình thức thì có vẻ rất hợp lí, vẫn tuân thủ theo thao tác chia phần công bằng nhưng đây chỉ là kế đánh tráo giữa nội dung và hình thức Hình thức thì có vẻ phân chia, nhưng thực chất bên trong đã là một sự bất công, vô lí Người nghe chuyện đến đây có thể tự rút ra cho mình bài học: phải biết đoàn kết, chớ nên tranh chấp nếu không sẽ bị kẻ khác lợi dụng để thu lợi Về nội dung tranh chấp hai bên, kẻ thứ
ba được lợi có điểm gặp gỡ với truyện Hai đứa bé và quả bứa
1.1.2.2 Nhân vật có khả năng đồ chiếu
Như trên đã trình bày, nhân vật trong truyện ngụ ngôn vô cùng đa dạng nhưng nhân vật chiếm số lượng lớn hơn cả trong truyện ngụ ngôn vẫn là các con vật Các nhân vật này xuất hiện trong một tình huống được định trước chủ kiến hay còn gọi
là tình huống giả định để hướng đến con người và xã hội loài người, từ đó rút ra bài học nhận thức Phạm Đặng Xuân Hương gọi đây khả năng đồ chiếu của nhân vật là
Trang 32con vật trong truyện ngụ ngôn theo phương thức tỉ dụ Phương thức tỉ dụ có nghĩa là những nhân vật là con vật, đồ vật,…luôn xuất hiện với những công lệ, những quy ước ngầm có tính phổ biến toàn nhân loại Đinh Gia Khánh cũng đã nhận định:
“Muốn cho truyện đi sâu được vào đông đảo công chúng thì tỉ dụ phải có ý nghĩa phổ biến” (Đinh Gia Khánh, 1998) Nói bằng tỉ dụ thì những tỉ dụ đó phải dễ hiểu
để giúp cho người nghe lĩnh hội được dụng ý của người sáng tác Nếu tỉ dụ khó hiểu thì cũng không đạt được mục đích trong việc đặt truyện Cho nên việc mượn nhân vật để thể hiện tính cách con người cần phải cân nhắc, lựa chọn cho thực sự phù hợp
Ví dụ như con hổ thì hung dữ, mèo thì tinh ranh, sói tham lam, cáo thì mưu mô, xảo quyệt,… nếu “phá khung” thì người nghe chuyện khó có thể lĩnh hội được lời quy châm Tuy nhiên những công lệ trên cũng có sư thay đổi với từng dân tộc Chúng
tôi xin dẫn ra một vài trường hợp để minh chứng Bài viết Nhân vật truyện ngụ ngôn, Triều Nguyên đã đối sánh hình tượng con Thỏ trong sự nhìn nhận của người
Khơ Me và người Êđê Với người Khơ Me thì Thỏ thường khôn ngoan hay giúp đỡ người đơn cô thế cô, còn với người Êđê, Thỏ là tên ma mãnh hay lừa người Trong tri nhận người Việt, Quạ thường ám gợi đến những điều xui xẻo, tang tóc, bi thương Tuy nhiên, đối với người Trung Quốc và Nhật Bản, Quạ lại được miêu tả với những phẩm chất tích cực như lòng hiếu thảo, sự tận tâm Trong một số truyền thuyết của Trung Quốc, Quạ xuất hiện như một biểu tượng của mặt trời, đại diện cho nguyên lí sáng tạo, hình tượng Quạ ba chân (tam túc ô) đối với các dân tộc du mục, suy nghĩ tích cực về con Quạ, họ coi trọng tầm nhìn của con Quạ trên bầu trời, chúng luôn tìm kiếm sự thịnh vượng của động vật và Quạ đã là một dấu hiệu của sự thịnh vượng và thức ăn Con Rắn trong quan niệm của người Việt thường tượng trưng cho cái ác, cái xấu nhưng với người Trung Quốc thì lại mang những nét tốt đẹp, tượng trưng cho sự giàu có Người Thái Lan thì xem rắn là biểu tượng của vẻ đẹp
nữ tính, quyến rũ, no ấm Để có cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn về phương thức tỉ dụ khi xây dựng nhân vật trong truyện ngụ ngôn, chúng tôi dẫn ra cách phân chia của
Phạm Đặng Xuân Hương trong giáo trình Văn học dân gian Tác giả đã chia
phương thức tỉ dụ trong truyện ngụ ngôn thành ba tiểu loại Đó là tỉ dụ tính cách, tỉ
dụ cho một phương thức hành động, hành vi sinh tồn và tỉ dụ cảm xúc Về tỉ dụ tính
Trang 33cách, như trên đã đề cập, mỗi con vật có tính cách rõ ràng và ổn định, chỉ cần nêu tên con vật này hay con vật khác là người ta hình dung ra sự ám gợi đến đặc điểm của con người Ví dụ con Ong chăm chỉ, Sư Tử độc ác, Thỏ thông minh Thứ hai là
tỉ dụ cho phương thức hành động, hành vi sinh tồn Ở đặc điểm này, có thể hiểu, tác giả ngụ ngôn đã dựa vào tập tính về lối sống, cách thức sinh tồn của mỗi con vật để
ám chỉ cho một hoặc một số đặc điểm tính cách của con người Lấy ví dụ truyện
Ếch ngồi đáy giếng, người đặt truyện đã dựa vào môi trường sống hạn hẹp của Ếch
là ở “đáy giếng” và xung quanh Ếch chỉ toàn những con vật bé nhỏ như cua, nhái,
ốc,… nhưng một trận mưa to đã làm nước trong giếng dềnh lên và đưa Ếch ra ngoài Ếch vẫn giữ thói thường, ngang nhiên đi lại và cuối cùng bị một con Trâu giẫm bẹp Như vậy, từ môi trường sống, phương thức sinh tồn của Ếch, đã ám gợi đến điều kiện sống hạn hẹp, khiến cho con người không có khả năng nhận thức đầy đủ về thế giới, cuối cùng phải trả giá đắt vì vốn nhận thức nghèo nàn của mình Về tỉ dụ cảm xúc, Phạm Đặng Xuân Hương có dẫn ý kiến của Vygovsky về nhân vật là con vật trong truyện ngụ ngôn có khả năng tỉ dụ cảm xúc khi nó có khả năng tác động vào tình cảm của độc giả (bên cạnh khả năng tác động mạnh mẽ vào lí trí) Ở khía cạnh này có thể hiểu việc lựa chọn súc vật là do sắc thái tình cảm mỗi con vật gợi nên, quyết định chứ không phải do tính cách của chúng Như vậy, với cách xây dựng nhân vật bằng phương thức tỉ dụ, dựa trên sự đối sánh, liên tưởng những đặc điểm của con vật và con người đã cho thấy trình độ tư duy cao, nhận thức sắc bén của tác giả dân gian Đồng thời, theo quan điểm của chúng tôi, phương thức tỉ dụ này thực chất là ẩn dụ, vì bản chất của tỉ dụ hay ẩn dụ cũng đều là so sánh, nhưng nếu so sánh là đối chiếu trực tiếp giữa hai vật thể A và B, còn ẩn dụ thì sự vật được so sánh
bị ẩn đi chỉ còn lại sự vật, sự việc dùng để so sánh Với đặc trưng của truyện ngụ ngôn thì không thể có kiểu so sánh trực tiếp mà đó là so sánh ngầm, tức là ẩn dụ Đây chính là vấn đề cốt lõi trong thi pháp xây dựng nhân vật
1.1.3 Đặc điểm nội dung của truyện ngụ ngôn
Đặc điểm nội dung của truyện ngụ ngôn được nhắc đến trong các công trình
như Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do Hoàng Tiến Tựu biên soạn, Góc nhìn cấu trúc về truyện ngụ
Trang 34ngôn dân gian Việt Nam của Triều Nguyên, giáo trình Văn học dân gian do Vũ Anh
Tuấn (chủ biên), một số bài viết của Minh Hạnh trên Tạp chí Văn hóa dân gian và trong các Tuyển tập sưu tầm đều ít nhiều đề cập đến nội dung của truyện ngụ ngôn Việt Nam Chúng tôi tán đồng với quan điểm của các nhà nghiên cứu trước khi cho rằng hai nội dung tiêu biểu của truyện ngụ ngôn Việt Nam là nêu lên những bài học
về kinh nghiệm sống, ứng xử và bài học về đấu tranh xã hội
1.1.3.1 Bài học về kinh nghiệm sống, ứng xử
Ở nội dung này, truyện ngụ ngôn thường hướng con người đến nội dung nhận thức đúng đắn thông qua cách phản ánh những hậu quả do hành động sai lầm Đây
có thể xem là một kĩ thuật kiến tạo lời quy châm trong truyện ngụ ngôn, cái chân lí
được rút ra từ cái ngụy lí Chẳng hạn như hành động Vích trong truyện Người bắt ngao và con Vích là một hành động dại dột, là một ngụy lí trong câu chuyện để từ
đó rút ra chân lí, bài học là phải biết linh hoạt ứng phó với sự thay đổi của hoàn cảnh, tránh hành động cứng nhắc theo lối mòn thì sẽ dẫn đến thất bại Đó cũng là
sai lầm của Ếch trong truyện Ếch muốn to bằng Bò Vì sống lâu năm trong một cái
ao nên thế giới của Ếch chỉ gói gọn trong không gian chật hẹp đó, khi thấy Bò to lớn nên ngạc nhiên liền muốn bắt chước để được to lớn như Bò, cuối cùng phình bụng ra chết, hành động của Ếch là một ngụy lí để từ đó đi đến chân lí phải mở rộng tầm hiểu biết để để có cái nhìn đúng đắn về bản chất của sự vật, hiện tượng Như vậy, truyện ngụ ngôn thường được xây dựng và khai thác từ những mâu thuẫn giữa cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai, cái khách quan và cái chủ quan, cái dại và cái khôn Chính những mâu thuẫn này đã làm nổi bật lời quy châm của câu chuyện Như vậy, mỗi bài học nhận thức được trình bày dưới những truyện kể giản dị nhưng
vô cùng sinh động đã tạo nên sức hấp dẫn rất riêng của truyện ngụ ngôn Đồng thời thông qua lối kể chuyện vô cùng thu hút đã làm cho những triết lí, kinh nghiệm ứng
xử cũng dễ dàng đi vào lòng người chứ không khô khan, cứng nhắc Trong cuốn
Đông Tây ngụ ngôn, Nguyễn Văn Ngọc cũng đã khẳng định: “Nói ngay hay trái tai, cái trò đời xưa nay vẫn thế Cứ đem một sự thật chần chần ra mà dạy người có phần như hơi ép uổng, không được dễ dàng” (Nguyễn Văn Ngọc, 1970) Giáo trình Văn học dân gian, Hoàng Tiến Tựu có dẫn lại ý kiến của nhà ngụ ngôn Pháp La
Trang 35Phôngten để khẳng định nét độc đáo trong cách đưa ra bài học giáo huấn như sau:
“Một bài học luân lí khô khan khiến người ta dễ chán Nhưng nếu kể một câu chuyện có ý nghĩa luân lí thì sẽ làm cho người nghe thấm thía hơn” (Hoàng Tiến
Tựu, 1998)
1.1.3.2 Bài học về đấu tranh xã hội
Ở phương diện này, truyện ngụ ngôn phản ánh cuộc đấu tranh xã hội từ đó đúc kết những bài học quý báu Như trên đã trình bày về nguồn gốc của truyện ngụ ngôn,
đã xuất hiện từ lâu và phát triển mạnh mẽ trong xã hội có giai cấp Vì vậy một trong những nội dung quan trọng của truyện ngụ ngôn là phản ánh cuộc đấu tranh xã hội Xung đột giữa các nhân vật trong truyện cũng chính là hình ảnh khúc xạ cho xung đột giữa kẻ áp bức và người bị áp bức Bằng cách nói ẩn dụ, ví von kín đáo truyện ngụ ngôn đã giúp nhân dân vạch trần bộ mặt của giai cấp thống trị Nội dung này
được phản ánh đặc sắc qua các truyện: Bò và Ếch; Chèo Bẻo và Ác Là; Chồn hơn Cọp; Châu Chấu đá Voi; Châu Chấu kiện Voi; Đàn Trâu và con Cọp; Mèo ăn chay; Đeo nhạc cho Mèo; Qụa và Chuột; Kiến, Ong chọi với Cóc; Khi chúa sơn lâm ngọa bệnh; Ki cóp cho Cọp nó ăn; Lí trưởng Diều Hâu; Trắm khao Môi, Mại; Hai thứ mọt khác nhau; Hai kiểu áo,… Đây cũng là cách thức lựa chọn nhân vật trong
truyện ngụ ngôn để phản ánh cuộc đấu tranh trong nội bộ nhân dân Những con vật
to lớn, hung hãn, chuyên ăn thịt các động vật khác và cả con người tượng trưng cho
kẻ mạnh, quyền thế hay hà hiếp, bắt nạt, chiếm đoạt quyền lợi của kẻ khác Còn những con vật nhỏ bé, hiền lành nhưng khôn ngoan, biết đoàn kết đấu tranh đại diên
cho đông đảo quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột Lấy ví dụ truyện Kiến, Ong chọi với Cóc, ngay nhan đề đã cho thấy được xung đột của truyện Kiến, Ong là
những con vật nhỏ bé, dân gian thường ví những kiếp người thấp cổ bé họng trong
xã hội là “phận con ong cái kiến” Trong truyện này, mối quan hệ đối đầu không
phải chỉ là một con Ong hay một con Kiến với Cóc mà là cả họ nhà Ong, họ nhà
Kiến Sự đông đảo này được miêu tả: “Riêng một phòng bên đông, thì có những tổ bao nhiêu thứ Kiến Riêng một phòng bên tây thì có một tổ Ong, quan quân rất đông” Phải chẳng đây cũng chính là hình ảnh đại diện cho đại đa số tầng lớp lao
động, người nghèo khổ trong xã hội cũ Cóc làm bá chủ ở trung tâm, đại diện cho
Trang 36giai cấp thống trị Qua lời mở đầu, có thể thấy rằng sự chênh lệch về lực lượng rất lớn giữa hai phe Tiếp đến là sự việc đánh dấu xung đột giữa Kiến, Ong và Cóc:
“Lúc trời gần mưa, hễ Kiến các tổ bò ra đi kiếm mồi, bò ra từng nào là Cóc nuốt hết từng ấy” Trước mối đe dọa, nhà Kiến bàn tính kế sách để tiêu diệt con Cóc “đại nanh đại ác” nhưng vì sức yếu đành phải chấp nhận cảnh bi thương, bị Cóc “đớp luôn một lúc hết tới hai muôn” Còn đám tàn quân thì lê lết phía sau Nhà Kiến có
cầu cứu sự tương trợ và được hậu thuẫn từ phía nhà Ong để chống lại Cóc nhưng vẫn không thể nào hạ gục được Cóc đành chấp nhận rút quân về với thiệt hại về
quân số lên đến “ba bốn nghìn quân” Từ câu chuyện trên đã phản ánh rất chân thực
mâu thuẫn xã hội lúc bấy giờ qua hình tượng của Ong, Kiến và Cóc Họ nhà Kiến
và nhà Ong nhận lấy thất bại thảm hại vì mưu kế chưa sâu, sức lực chưa tới nhưng đằng sau câu chuyện này, tác giả ngụ ngôn cũng gửi gắm về bài học đấu tranh giai
cấp: “Biết điều khôn ngoan lắm! Không đủ sức chống được với người, thì phải tính
kế mà phòng giữ thân” Bài học này còn được thể hiện rõ trong truyện Chèo Bẻo và
Ác Là, Ác Là là bậc hương hào ở trên đã lợi dụng chức quyền mà chiếm đoạt tài sản
của Chèo Bẻo là hạng cùng đinh bậc dưới Dù biết rõ mặt kẻ thù nhưng Chèo Bẻo lại chọn cách ra khỏi làng, đi nơi khác để kiếm ăn vì biết mình sức mình hèn mọn không thể đánh lại quân nanh ác, chỉ rước họa vào mình Như trên đã trình bày, đằng sau những câu chuyện phản ánh cuộc đấu tranh xã hội đều chứa đựng những bài học quý báu Từ những câu chuyện trên có thể rút ra bài học là phải biết cân nhắc sự tương quan lực lượng giữa ta và địch để có mưu kế hành động phù hợp, tránh tổn hao, thiệt hại nhân mạng Không phải lúc nào có tinh thần đoàn kết cũng
có thể giành được chiến thắng Trong trường hợp đó, cần phải nương cầu ở một thế
lực mạnh hơn để giúp đòi lại lẽ công bằng như trong truyện Châu Chấu kiện Voi
Dòng họ Châu Châu đã nhờ đến uy thế dũng mãnh của Sư Tử nhằm tiêu diệt Voi to lớn nhưng hống hách tranh giành nguồn thức ăn của bầy Châu Chấu Tóm lại, từ những câu chuyện miêu tả sự xung đột của các nhân vật là con vật đã phản ánh sinh động mâu thuẫn giai cấp trong xã hội lúc bấy giờ
Trang 371.2 Truyện ngụ ngôn người Việt
1.2.1 Nội dung ý nghĩa phong phú
Chúng tôi nhận thấy truyện ngụ ngôn người Việt phản ánh nhiều vấn đề trong cuộc sống Thông qua những vấn đề được phản ánh, bức tranh xã hội hiện lên muôn màu muôn vẻ
1.2.1.1 Những phẩm chất tốt đẹp của người Việt
Trong truyện ngụ ngôn người Việt, những phẩm chất tốt đẹp của người Việt
được thể hiện một cách cụ thể, sinh động Đó là sự chăm chỉ (Tấc đất, tấc vàng), hiếu học (Chẫu Chàng có chí học hành), thủy chung (Chuột Bạch và hai vợ chồng Chuột Chù), ơn nghĩa (Cọp và Chó Rừng, Thanh yên so với phật thủ, Con chim Khướu, Con chó có nghĩa, Loài vật trả ơn, ), đoàn kết, giúp đỡ (Châu Chấu đá Voi, Chuyện bó đũa,…); hào hiệp, nghĩa khí (Bà mụ Cóc, Cóc cứu nạn,…)
1.2.1.2 Những đặc điểm tiêu cực của con người trong xã hội
Truyện ngụ ngôn người Việt phản ánh và phê phán những thói hư, tật xấu của
con người trong xã hội Chẳng hạn như sự ngu dốt (Kéo cây lúa lên, Bò và Ếch, Chó rừng và Cọp, Con Vờ và con Đom Đóm,…); tính tham lam (Thả mồi bắt bóng, Hai đứa bé và quả bứa, Con Quạ tham lam, …) ; ích kỉ (Trắm khao Môi, Mại; Cháy nhà, ); huênh hoang (Ếch ngồi đáy giếng, Bò và Ếch); vô trách nhiệm (Lí trưởng Diều Hâu, Đeo nhạc cho Mèo, Làng chim bầu lí trưởng, Con Dơi); xảo trá (Mèo ăn chay, Chèo Bẻo và Ác Là, Con Chó Vàng và con Chó Đen, ); ba phải, xu nịnh (Tay không nói nỏ nên điều, Khi Chúa sơn lâm ngọa bệnh, Dê đi kiếm ăn cho Cọp, ); vong ơn, bội nghĩa (Nhơn vật đạo đồng, Người học trò và con Hổ, Con Rắn và người nuôi Rắn); đố kị (Trâu cày Trâu cột; Cuốc, Cày, Bừa tranh công; Gà, Vịt và chim Khách, Con Gián và con Nhện, Con Le và con Vịt Con Ruồi và con Rệp,Con Trâu ghen với con Chó …); học đòi (Cá Rô đi thi, Chim Khách và Quạ,…)
1.2.1.3 Tinh thần đấu tranh của người dân lao động với tầng lớp thống trị
Truyện ngụ ngôn người Việt phản ánh tinh thần đấu tranh của người dân lao
động với tầng lớp thống trị, bóc lột qua việc mượn hình tượng các con vật và mâu
thuẫn giữa chúng để tái hiện Có thể thấy rõ điều này qua các truyện sau: Chàng Sếu,
Trang 38Châu Chấu đá Voi, Chèo Bẻo và Ác Là, Con Cua và con Cáy, Hai con Dê, Kiến, Ong chọi với Cóc
và phần ý nghĩa hay lời quy châm Phần truyện kể thì nổi lên, phần ý nghĩa thì chìm xuống Thường thì các truyện ngụ ngôn có độ dài khá khiêm tốn Có những truyện
chưa đến 200 chữ như Cáo và Cò, Con Chó và Mặt trăng, Con Chó với con Gà, Con Rắn với con Hổ, Diều Hâu và con Chó, Ếch ngồi đáy giếng, Thầy giáo Thỏ, Chú ngựa non và con ngựa già, Chuột ông đi trước v.v… Truyện ngụ ngôn không
chuộng những cách kể lể dài dòng, miêu tả vòng vo hay giải thích quá tỉ mỉ, cặn kẽ
Số lượng nhân vật, chi tiết trong truyện ngụ ngôn rất ít Nhưng những sự việc, chi tiết trong truyện đều có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ, thống nhất với cốt truyện Đồng thời, trong mỗi truyện ngụ ngôn có những mâu thuẫn giữa hoàn cảnh, sự vật hay tính cách nhân vật, đặc biệt kết cục của những câu chuyện thường có những yếu
tố bất ngờ Có thể dẫn ra những truyện tiêu biểu như: Thanh yên so với phật thủ, Vị thuốc quý hóa, Mèo lại hoàn mèo, Điều không tính đến, Người bắt ngao và con Vích, …Chúng tôi thấy rằng, chính cách kết thúc bất ngờ đã tạo nên tiếng cười cho
truyện ngụ ngôn người Việt Đằng sau tiếng cười là những bài học triết lí, đạo đức
mà tác giả dân gian gửi gắm trong mỗi câu chuyện (Diều Hâu và con Chó; Ếch muốn to bằng Bò; Ếch ngồi đáy giếng; Kéo cây lúa lên; Gan Cóc tía; Hai con Cò và con Rùa; Hai con Rái Cá; Hai chú bé và quả bứa; Kiến, Ong chọi với Cóc; Qụa và Chuột)
1.2.2.2 Nhân vật được xây dựng bằng nhiều thủ pháp
Truyện ngụ ngôn người Việt thường sử dụng những ẩn dụ, nhân hóa để xây dựng nhân vật Thế giới nhân vật trong truyện ngụ ngôn rất đa dạng Như Nguyễn
Trang 39Văn Ngọc có nhận định: “truyên ngụ ngôn mượn các loài vật, cây cối, hoa quả, vật
vô cơ, vô giác, mượn những điều vô hình vô trạng, mượn chính con người, thân thể người, mượn cả đến thần Phật, ma quỷ, mượn cả tạo hóa để đưa vào truyện”
(Nguyễn Văn Ngọc, 1970) Nhưng chung quy lại, dù có mượn bất cứ điều gì thì mục đích cuối cùng của truyện ngụ ngôn là đều hướng đến con người Để hướng đến thế giới của loài người, tác giả dân gian đã sử dụng lối nhân hóa, ẩn dụ để xây dựng nhân vật trong truyện ngụ ngôn Những con vật, đồ vật, sự vật, bộ phận cơ thể người cũng biết suy nghĩ, hành động, thể hiện những cảm xúc như con người Theo Nguyễn Xuân Kính, cái khó của việc xây dựng nhân vật trong truyện ngụ ngôn là phải làm từng sự vật mang những nét biểu cho từng hạng người trong xã hội những vẫn phải giữ được những nét đặc trưng vốn có của sự vật đó
Bên cạnh đó, truyện ngụ ngôn người Việt thường sử dụng thủ pháp đối lập, so
sánh, phủ định để làm nổi bật tính cách nhân vật và nội dung, ý nghĩa của truyện Trong mỗi truyện ngụ ngôn, tác giả dân gian đã cố ý sắp đặt các nhân vật trong thế đối lập nhằm nổi bật những vấn đề mà tác giả muốn gửi gắm Cạnh những con vật nhỏ bé là con vật to lớn; cạnh con vật thông minh là con vật ngu dốt; cạnh con vật xảo trá là con vật trung thành, thẳng thắn; cạnh người tham lam, dối trá thì sẽ là người ngay thẳng, trung thực; cạnh người hiểu biết hạn hẹp là người hiểu rõ mọi
việc, nắm vững các quy luật, Có thể kể tên một số truyện tiêu biểu như: Hai vợ chồng người thầy bói, Người rộng rãi và người chật hẹp, Tay không nói nỏ nên đều, Hai thứ mọt khác nhau, Bò và Ếch, Mèo lại hoàn mèo, Kéo cây lúa lên,…Đồng thời
để làm sáng rõ những bài học trong truyện ngụ ngôn, tác giả dân gian thường dùng thể phủ định Phủ định cách sống gian xảo, dối trá, độc ác để khẳng định cách sống hiền lành, trung thực, ân nghĩa; phủ định cách sống không chủ kiến, kiên định để khẳng định cách sống có chủ kiến, lập trường vững vàng; nêu những điều vô lý để khẳng định một chân lý trong cuộc sống,…
1.3 Ẩn dụ
1.3.1 Khái niệm ẩn dụ
Trong ngôn ngữ học, ẩn dụ xuất hiện khá nhiều trong các công trình nghiên cứu:
Trần Văn Cơ trong giáo trình Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ) có
Trang 40dẫn lại ý kiến của nhà nghiên cứu Reformatxky về nghĩa của từ ẩn dụ: “Ẩn dụ
tiếng Hi Lạp metaphora nghĩa là sự chuyển – trường hợp điển hình nhất của nghĩa bóng Với ẩn dụ, sự chuyển tên gọi dựa trên cơ sở sự giống nhau của sự vật
về màu sắc, hình dạng, tính chất vận động v.v…(Trần Văn Cơ, 2007)
Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên đã giới thuyết ẩn dụ như sau:
“Ẩn dụ chính là phương thức chuyển nghĩa của từ dựa trên sự giống nhau hoặc tương đồng về một mặt nào đó của hai sự vật, tính chất, hành động” (Nguyễn Như
(Đinh Trọng Lạc & Nguyễn Thái Hòa, 1993)
Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu đã cắt nghĩa khá chi tiết về
ẩn dụ: “Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x (tức là x có ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y) nếu như x và y có nét nào giống nhau Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tương đồng giữa x và y”
( Đỗ Hữu Châu, 2004)