1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ hợp tác giữa trường đại học hòa bình vói tập đoàn sovico để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các đơn vị thành viên trong bối cảnh khoa học công nghệ 4 0

79 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ hợp tác giữa trường đại học hòa bình với tập đoàn sovico để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các đơn vị thành viên trong bối cảnh khoa học công nghệ 4.0
Trường học Trường Đại học Hòa Bình
Chuyên ngành Đào tạo nguồn nhân lực
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2019
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 805,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những đòi hỏi nêu trên nên đề tài: “Quan hệ hợp tác giữa Trường Đại học Hòa Bình với Tập đoàn SOVICO để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của cá

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài:

Nguồn nhân lực trình độ cao (lao động tốt nghiệp từ đại học trở lên) luôn

là một nguồn lực quan trọng bậc nhất, đóng vai trò quyết định trong phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Đặc biệt, nó lại càng quan trọng và cấp thiết hơn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay

Ở Việt Nam, vấn đề lao động luôn được quan tâm chú ý không chỉ riêng doanh nghiệp mà còn của toàn xã hội Một trong những khó khăn hiện nay mà nhiều doanh nghiệp đang gặp phải là thiếu lao động có trình độ đáp ứng được các yêu cầu của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Nhiều doanh nghiệp trong nước không thể tìm đủ lao động có trình độ tay nghề cao Ngoài ra, mỗi năm có thêm hơn một triệu người bước vào độ tuổi lao động, cùng với số lượng lao động thất nghiệp đã tạo sức ép rất lớn về nhu cầu việc làm Hoạt động trong cơ chế thị trường buộc các cơ sở đào tạo phải tuân thủ nguyên tắc chung là chất lượng sinh viên tốt nghiệp phải đáp ứng được yêu cầu

đa dạng của thị trường lao động Đa số sinh viên tốt nghiệp ra trường tìm ngay được việc làm là rất khó khăn Nguyên nhân ở đây không phải là thiếu việc làm

mà là do thiếu người làm được việc, đáp ứng được yêu cầu công việc Do “sản phẩm” đào tạo ra chưa đáp ứng được các yêu cầu của nhà tuyển dụng

Việc phát triển quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp hiên đang được các chủ thể quan tâm đầu tư, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm phục vụ tốt nhất các đối tượng khách hàng Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt Môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường lao động đã buộc các tổ chức phải tìm kiếm những cách thức mới để nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình Các tổ chức đã

có những cải tiến đáng kể trong việc áp dụng các công nghệ thông tin mới và phát triển các định dạng thương mại mới Chiến lược cốt lõi mà các tổ chức

đã, đang và sẽ quan tâm trước tiên để tăng khả năng cạnh tranh của mình là tăng cường quan hệ hợp tác đào tạo giữa cơ sở đào tạo nhân lực trình độ cao

Trang 2

với doanh nghiệp để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu lao động trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Số lượng nhân lực trong tập đoàn SOVICO hiện nay tương đối lớn Đội ngũ nguồn nhân lực của Tập đoàn phần lớn là lao động trẻ, có trình độ chuyên môn và năng động Tuy vậy, nguồn nhân lực trình độ cao nhìn chung vẫn còn thiếu và vẫn còn một số ít cán bộ quản lý lớn tuổi, trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin chưa thông thạo khó khăn trong việc đáp ứng và thích nghi trong bối cảnh mới – cách mạng công nghiệp 4.0 Vì vậy, để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các đơn vị thành viên trong tập đoàn vừa phải có các giải pháp phát triển nguồn nhân lực hiện có vừa phải có giải pháp tuyển dụng nguồn nhân lực mới phù hợp Một trong các giải pháp đó

là quan hệ hợp tác đào tạo có hiệu quả giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh với Trường Đại học Hòa Bình đơn vị thành viên trong Tập đoàn

Xuất phát từ những đòi hỏi nêu trên nên đề tài: “Quan hệ hợp tác giữa Trường Đại học Hòa Bình với Tập đoàn SOVICO để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các đơn vị thành viên trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0” được chọn làm đề tài nghiên cứu khoa học

Trang 3

- Phân tích thực trạng và nhu cầu đối với từng loại lao động trình độ cao tại các doanh nghiệp trong tập đoàn SOVICO

- Phân tích về khả năng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao của Trường Đại học Hòa Bình Đánh giá thực trạng mối quan hệ hợp tác giữa Trường Đại học Hòa Bình với các doanh nghiệp trong tập đoàn SOVICO trong việc đào tạo nguồn nhân lực trong thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Trường Đại học Hòa Bình với các doanh nghiệp trong tập đoàn SOVICO để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của tập đoàn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo nhân lực trình độ cao với doanh nghiệp/người sử dụng lao động trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thu thập dữ liệu từ các đơn vị thành viên trong tập đoàn SOVICO, Trường đại học Hòa Bình có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu

Thời gian: + Thu thập dữ liệu thứ cấp: Từ năm 2015 đến nay

+ Thu thập dữ liệu sơ cấp: Năm 2019

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp

Thu thập số liệu và thông tin từ các thành viên của Tập đoàn SOVICO, các phòng, khoa của Trường Đại học Hòa Bình có liên quan đến nguồn nhân lực trình độ cao, nhu cầu nhân lực cần đào tạo, chất lượng đào tạo và mối quan hệ trong đào tạo Bên cạnh đó, một số thông tin được lấy từ các báo cáo tổng kết hàng năm, văn bản của Tập đoàn Sovico và nhà trường đã công bố trên website hoặc qua đường văn bản gửi về các đơn vị, các văn bản báo cáo gửi Bộ GD&ĐT, các cơ quan quản lý cấp trên tính đến thời điểm hết tháng 09/2019; các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thông tư của Bộ chủ quản có liên quan đến công tác đào tạo

Trang 4

4.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp

Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn như sau:

- Sử dụng 02 bộ câu hỏi điều tra: bộ câu hỏi dành cho cán bộ, giảng viên nhà trường; bộ câu hỏi dành cho sinh viên đang học tại Trường Đại học Hòa Bình Thời gian tiến hành điều tra trong năm 2019

- Phỏng vấn một số cán bộ quản lý, lãnh đạo các Công ty thành viên của Tập đoàn Sovico có tâm huyết, có kinh nghiệm để tìm hiểu tình hình thực tại về nguồn nhân lực và nhu cầu nhân lực trình độ cao của Tập đoàn trong thời gian tới nhằm làm sáng tỏ hơn nội dung nghiên cứu

- Khảo sát tình hình giảng dạy của đội ngũ giảng viên Quan sát tình hình học tập của sinh viên để nắm tình hình thực tế đang diễn ra ở nhà trường

- Tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn của Trường Đại học Hòa Bình

về công tác quản lý đào tạo và phối hợp đào tạo với Tập đoàn

Nội dung cụ thể mẫu điều tra gồm:

- Đánh giá từ phía người sử dụng lao động về chất lượng đào tạo đối với nguồn nhân lực, nhu cầu nhân lực trình độ cao của các đơn vị Thành viên của Tập đoàn SOVICO

- Đánh giá từ phía người học nghề về tính phù hợp, hữu ích, những vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo…

- Đánh giá của các nhà tổ chức đào tạo về các giải pháp hợp tác đào tạo và chất lượng đào tạo, các điều kiện cần thiết đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo đối với người lao động

- Điều tra thực tế tại một số thành viên của Tập đoàn, đề tài đưa ra một số giải pháp giải quyết vấn đề hợp tác đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao sao cho phù hợp với nhu cầu của Tập đoàn

Trang 5

cứ kết quả xử lý tiến hành tổng hợp kết quả điều tra theo các chỉ tiêu phân tích,

so sánh và rút ra những kết luận từ thực tiễn

4.4 Phương pháp phân tích

Phân tích dữ liệu: sử dụng phương pháp hệ thống hóa, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh; kết hợp giữa phân tích định tính và định lượng

- Phương pháp thống kê mô tả: Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề

ra, kết quả điều tra sẽ được đánh giá, phân tích thực trạng các giải pháp hợp tác đào tạo, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đối với người lao động thông qua việc sử dụng phương pháp thống kê mô tả

- Phương pháp thống kê so sánh: Phân tích nhu cầu nguồn nhân lực trình độ

cao cần đào tạo của người sử dụng lao động với thực tế chất lượng đào tạo lao động hiện nay; phân tích thực trạng chất lượng đào tạo với các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao công tác phối hợp đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp…

- Phương pháp mô hình hóa: Trong quá trình phân tích, để mô tả các mối

quan hệ tương quan giữa sự vật, hiện tượng…đề tài sử dụng phương pháp mô hình hóa để thể hiện khái quát một số nội dung nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Chúng tôi sẽ tra cứu kết quả

nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố, tổng hợp và kế thừa các nội dung phù hợp với đề tài Thu thập có chọn lọc ý kiến đánh giá của những người đại diện trong từng lĩnh vực đào tạo, người sử dụng và người được đào tạo, xin

ý kiến đánh giá của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý về đánh giá nhu cầu, khả năng đáp ứng nhu cầu, về tổ chức, cơ chế quản lý, về chính sách và về hoạt động đào tạo tại trường Từ đó rút ra những nhận xét đánh giá

về thực trạng hoạt động hợp tác đào tạo và xác định nhu cầu cũng như chất lượng đào tạo và khả năng đáp ứng của công tác đào tạo được chính xác và khách quan hơn

- Phương pháp dự tính, dự báo: Ngoài việc sử dụng các phương pháp nêu

trên, để đề xuất những giải pháp cần thiết cho việc nâng cao chất lượng hợp tác đào tạo nghề cho người lao động giữa các thành viên Tập đoàn Sovico và trường Đại học Hòa Bình, đề tài sử dụng phương pháp dự báo nhằm tăng tính

Trang 6

tin cậy đối với những giải pháp được xây dựng từ kết quả nghiên cứu

5 Tổng quan tình hình nghiên cứu

5.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu về quản lý đào tạo của doanh nghiệp dịch vụ đã có nhiều công trình nghiên cứu có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu điển hình như sau

Nghiên cứu của R Foucar - Szocki (1988) Đại học Syracuse, USA đã đưa ra các kết luận nghiên cứu mối quan hệ giữa nhu cầu đào tạo và các hình thức đào tạo trong doanh nghiệp dịch vụ Công trình nghiên cứu này cho thấy hiệu quả của các hình thức đào tạo khác nhau trong ngành dịch vụ du lịch khách sạn cả khu vực quản lý lẫn khu vực phi quản lý là “đào tạo qua kinh nghiệm được cá nhân hóa” trong đó đào tạo quản lý là tự học, phi quản lý đọc văn bản hướng dẫn chuyên môn và thực hành

Boella, M và Calabrese, M (1994) “quản lý nhân viên có hiệu quả” Kết

quả nghiên cứu, đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý nhân

viên Gross-Turner, S (2002), “Quản lý con người trong ngành du lịch” Đây là

nghiên cứu các mặt của quản trị nguồn nhân lực trong ngành du lịch và khách

sạn McGunnigle, P và Jameson ,S (2004) “Quan hệ giữa các nhân viên”

Công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ các mối quan hệ nhân viên trong khách sạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó nhấn mạnh vào yếu tố năng lực của nhân viên và văn hóa kinh doanh của khách sạn

Robert, Craven (1998), khẳng định “hai hoạt động phát triển quản lý hiệu quả nhất là thông qua kế hoạch hóa và quản lý nguồn nhân lực”

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp dịch vụ trong trong đó có lưu ý tới yếu tố tố đào tạo nguồn nhân lực Tuy nhiên trong các công trình nghiên cứu được liệt kê này chưa làm rõ mối quan hệ giữa hình thức đào tạo với việc nâng cao năng lực nhân viên của một doanh nghiệp dịch

vụ cụ thể Chưa chỉ ra các giải pháp về tăng cường mối quan hệ hợp tác giũa cơ

sở đào tạo với các doanh nghiệp có mối quan hệ là thành viên

Trang 7

5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến vấn đề này đã được một số nhà nghiên cứu thực hiện Trước hết là các tác giả thuộc Bộ môn Quản trị nguồn nhân lực, Khoa Quản trị nguồn nhân lực trường ĐHKTQD như Nguyễn Ngọc

Quân, Nguyễn Vân Điềm (2010), “Đào tạo và triển nguồn nhân lực” cập nhật

những nội dung lý thuyết cơ bản về đào tạo tại các doanh nghiệp nói chung

[14] Đề tài cấp Nhà nước KHXH 05-03 “Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”

do GS.TS Nguyễn Phú Trọng làm chủ nhiệm đề tài đã đúc kết và đưa ra những quan điểm, sự định hướng trong việc sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội Nhưng như vậy, trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế không chỉ có đội ngũ cán bộ, mà tham gia vào lực lượng lao động một quốc gia, một ngành còn có đội ngũ công nhân có thể qua đào tạo hoặc không qua đào tạo là lao động phổ thông Do đó, đề tài là một tài liệu được tham khảo hữu ích nhất trong trường hợp liên quan đến cán bộ là công chức trong các đơn vị hành chính sự nghiệp

“Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế”, tác giả Lê Thị Mỹ Linh, Luận án tiến sĩ

kinh tế Trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2009 Tác giả đã nêu ra những đặc điểm nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, phân tích và đánh giá những mặt được và chưa được về phát triển NNL trong

các doanh nghiệp này [9] “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế”, TS Phạm Công Nhất, Tạp chí Cộng sản số

786, tháng 4/2008 Tác giả đã chỉ rõ thực trạng NNL nước ta, cả về số lượng

và chất lượng Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế yếu kém về chất lượng nhân lực, nguyên nhân của những hạn chế đó và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

“Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, tác giả Phan Văn Kha, NXB Giáo dục, năm 2007 Tác giả đã đưa ra các

Trang 8

khái niệm, nội dung cơ bản về đào tạo và sử dụng NNL, từ đó, đưa ra các chiến lược nhằm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng phù hợp với

yêu cầu của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam [8].“Bảy giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực Việt Nam”, PGS.TS Phạm Văn Sơn, Báo Giáo dục

Thời đại, năm 2015 Trong bài phỏng vấn, tác giả đã chỉ đưa ra 7 nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gồm: “Nâng cao trình

độ học vấn và kĩ năng lao động, khuyến khích lao động tự học, gắn chiến lược phát triển nhân lực với chiến lược phát triển kinh tế xã hội, trọng nhân tài và xây dựng xã hội học tập, cải thiện thông tin về thị trường lao động, mở rộng hợp tác quốc tế”

Nguyễn Văn Lưu (2008) “Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch Việt Nam” Tác giả đã tập trung phân tích về thực trạng đào tạo nguồn nhân lực

du lịch ở các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp với các bậc đào tạo Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu bậc thạc sỹ về quản trị nhân lực của doanh nghiệp Đổi mới giáo dục bậc cao để đáp ứng yêu cầu cách mạng 4.0 và hội nhập CPTPP (Nguồn nhân lực 2018) Nguyễn Phan Anh (2018) Cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu đối với hệ thống giáo dục Việt Nam Hầu hết các công trình nghiên cứu này ở tầm vĩ mô về quản lý nhân lực từ góc độ quản lý nhà nước hoặc là nghiên cứu tất cả các nội dung hoạt động quản trị nguồn nhân lực

ở doanh nghiệp bởi ảnh hưởng của cánh mạng công nghiệp 4.0

TS Nguyễn Hữu Dũng, “Mô hình gắn kết giữa trường Đại học với doanh

nghiệp trong đào tạo đại học ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản10/10/2018 Tác giả

phân tích vai trò và ý nghĩa của việc liên kết đào tạo, đã đưa ra một số mô hình liên kết đào tạo giữa các trường đại học và doanh nghiệp Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng: Việc trường đại học và doanh nghiệp gắn kết với nhau trong đào tạo theo một mô hình thích hợp là nhu cầu tất yếu và cấp thiết hiện nay cũng như trong tương lai [5]

Nguồn nhân lực đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức, doanh nghiệp Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc làm cấp bách giúp

Trang 9

doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Kết quả tổng quan tài liệu cho thấy hiện chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về mối Quan hệ hợp tác giữa Trường Đại học Hòa Bình với Tập đoàn SOVICO để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 Qua tổng quan về các

công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu thấy rằng khoảng trống nghiên

cứu trong quan hệ hợp tác đào tạo của nhà trường với doanh nghiệp chưa làm

rõ được hình thức, cơ chế hợp tác nào mà các bên lựa chọn phù hợp nhằm nâng cao từng thành phần kiến thức kỹ năng và thái độ của đội ngũ nhân lực trình độ cao Đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần làm rõ hình thức, cơ chế chính sách trong quan hệ hợp tác đào tạo giữa nhà trường với tập đoàn nói chung và mỗi đơn vị trong tập đoàn nói riêng góp phần đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao

đáp ứng nhu cầu tuyển dụng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

6 Kết cấu của đề tài

Nội dung chính của đề tài được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ hợp tác đào tạo giữa

trường đại học và doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng tình hình hợp tác đào tạo giữa trường Đại học Hòa

Bình và Tập đoàn SOVICO

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường mối quan hệ hợp tác

đào tạo giữa trường Đại học Hòa Bình với các đơn vị thành viên Tập đoàn SOVICO

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ HƠP TÁC ĐÀO TẠO

GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận và các mô hình hợp tác đào tạo giữa trường đại học và

doanh nghiệp

1.1.1 Nhận dạng nguồn nhân lực trình độ cao trong giai đoạn cách mạng 4.0

Nguồn nhân lực trong thời đại 4.0 phải được thể hiện rõ trên cả 4 phương diện: Tâm lực, trí lực, năng lực và thể lực Cả 4 khía cạnh này cần phải được phát triển phù hợp với khát vọng cá nhân, dựa trên tương quan yêu cầu của tổ chức, doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới [14], [21]

1 Về tâm lực: Trong thời đại công nghiệp 4.0, "tâm lực" của tổ chức hay

đạo đức kinh doanh sẽ là yếu tố nền tảng, mà dựa trên đó, ngôi nhà thương hiệu

sẽ được xây dựng với trụ cột là hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao

Tâm, hiểu đơn giản là những giá trị, nguyên tắc, niềm tin của mỗi người vào những điều tốt đẹp, tích cực Người có tâm lực mạnh mẽ đồng thời có nhân cách đáng trọng, tinh thần lành mạnh, khí chất thanh sáng, yêu điều hay lẽ phải, thích làm điều thiện lành, có ích, đối đãi tử tế, công bằng và rộng lượng với người khác Tâm lực vững vàng thúc đẩy tâm thế hay thái độ sẵn sàng đón nhận

sự khác biệt, chung sống hòa bình và hợp tác với thế giới đa dạng, cạnh tranh cùng thắng, chấp nhận học hỏi từ sự khác biệt, khích lệ người yếu đuối, ủng hộ

sự thay đổi, cải tiến, sáng tạo

Tâm lực cá thể hòa nhịp cùng năng lượng tập thể chính là động lực đối với sự phát triển của tổ chức theo hướng bền vững Cá nhân thiếu thái độ tích cực, cộng với nhân cách có vấn đề, kém phát triển sẽ khó hòa nhập với tổ chức trong kỷ nguyên 4.0, vì không tạo được sự tín nhiệm cần thiết với cả khách hàng bên trong lẫn bên ngoài

Niềm tin là nền tảng cho bất kỳ định hướng phát triển kinh tế ở mọi cấp

độ từ doanh nghiệp đến quốc gia trong thế giới công nghiệp 4.0 Kết nối và chia

Trang 11

được vận hành bởi nguồn nhân lực trình độ cao, thạo nghề chỉ là phần xác Linh hồn của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là niềm tin, sự tín nhiệm lẫn nhau

Nhân cách cá nhân chính là đại sứ thương hiệu của tổ chức Đạo đức và nhân tài sẽ chắp cánh cho tổ chức phát triển bền vững, nhưng đạo đức sẽ luôn giữ vị trí quan trọng nhất và sẽ không thể bị thay thế hay loại bỏ khỏi văn hóa tổ chức

Nhân tài thiếu nền tảng đạo đức không thể tồn tại lâu trong tổ chức hay doanh nghiệp vì không đóng góp được nhiều giá trị cho tổ chức, doanh nghiệp

Về lâu dài, sức khỏe tổ chức sẽ xuống cấp trầm trọng nếu thiếu người tốt Khách hàng sẽ không cần những mối quan hệ hay giao dịch với người đại diện thiếu đạo đức, mất uy tín, không thỏa hiệp với nguyên tắc, nói trắng làm đen, nói nhiều làm ít

Khối lượng tri thức khoa học chuẩn mực, có tính ứng dụng cao ngày càng được chia sẻ cho nhiều đối tượng hơn Đây là một tín hiệu vui cho những cá nhân hay tổ chức quy mô nhỏ khi có được lợi thế to lớn trong quá trình hoạch định chiến lược và đề ra các quyết sách mang lại lợi thế cạnh tranh trước những

gã khổng lồ cùng nhóm ngành hay hoạt động đa ngành nghề

Nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ 4.0 còn nhấn mạnh đến tiêu chí đạo đức mới

Nói đến đạo đức mới là nói đến hệ thống các quy tắc, chuẩn mực quan hệ đạo đức, tương ứng với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế Đạo đức mới bao hàm những nội dung rộng lớn từ lý tưởng phấn đấu cho độc lập dân tộc, đất nước phồn vinh, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh đến hành vi tiết kiệm, nếp sống văn minh, lòng trung thực, nhân nghĩa, lối sống lành mạnh…

Điểm quan trọng và thiết yếu trong nội dung đạo đức mới của con người Việt Nam hiện nay là chống chủ nghĩa cá nhân [21]

Trang 12

Xây dựng phong cách sống khiêm tốn, giản dị, điều độ, chừng mực, ngăn nắp, quý trọng thời gian, ít ham muốn bất hợp lý về vật chất, chức quyền, danh lợi, khoan dung, độ lượng, xây dựng tác phong quần chúng, tác phong dân chủ, tác phong khoa học là rất cần thiết Xây dựng thuần phong mỹ tục để có lối sống đẹp cho cả cộng đồng, xóa bỏ những phong tục tập quán không còn phù hợp, tạo dựng một nếp sống văn hóa và có văn hóa ngày càng cao

2 Về trí lực, Nhân lực Việt Nam phải có trình độ chuyên môn cao, khả

năng thích nghi nhanh và kỹ năng lao động giỏi

Trình độ chuyên môn cao được thể hiện ở khả năng nắm bắt, tiếp cận nhanh nhạy, kịp thời và đúng xu thế phát triển của những vấn đề thuộc lĩnh vực lao động của mình, để có thể lao động một cách sáng tạo, độc lập, có năng suất

và hiệu quả tốt Trong thời đại ngày nay, trình độ chuyên môn cao trong lao động còn thể hiện ở khả năng vận dụng tốt, kịp thời các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, có khả năng cải tiến, hoàn thiện và hiện đại hóa các công cụ

và phương thức lao động ở phạm vi và lĩnh vực chuyên môn của chính mình trên cơ sở của khoa học và công nghệ hiện đại

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ đòi hỏi khá cao về phẩm chất trí tuệ ở người lao động - một phẩm chất được coi là quan trọng nhất hiện nay Đó là người lao động phải có năng lực sáng tạo, năng lực hoạt động thực tiễn tốt; có khả năng áp dụng những thành tựu của khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; có năng lực thu thập và xử lý thông tin trong điều kiện bùng nổ thông tin; có sự nhạy bén, thích nghi nhanh và thực sự làm chủ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại Đồng thời, người lao động phải có khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là phải có kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta được tiến hành trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới với tư cách là xu thế phát triển khách quan, do đó

Trang 13

tri thức, kinh nghiệm, sức mạnh của thế giới bên ngoài để phát huy, tăng cường sức mạnh của đất nước mình Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài trong điều kiện Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, đặt ra những yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực phải giỏi cả về chuyên môn nghiệp vụ, giỏi cả về ngoại ngữ và tạo dựng mối quan hệ hội nhập

Như vậy, trình độ chuyên môn cao và tính chuyên nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành và quyết định chất lượng nguồn nhân lực hiện đại Để hội nhập quốc tế một cách vững chắc, đòi hỏi Việt Nam buộc phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực theo hướng tạo dựng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có tính chuyên nghiệp trong lao động và thích ứng nhanh với tiến bộ của nền khoa học - công nghệ nhân loại, nhất là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ 4.0 hiện nay

3 Về năng lực

Bản chất của cuộc cạnh tranh giữa người lao động trong tương lai không phải là cuộc so kè về vị trí quản lý và lãnh đạo theo cấp bậc, mà là về trình độ, năng lực để giải quyết các vấn đề thực tế, hiện trạng và giả định

Năng lực làm việc được đo lường qua những giá trị chúng ta đóng góp trong thực tế tại một thời điểm nhất định Năng lực vượt ra khỏi những đánh giá phiến diện dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm, hiểu biết, tố chất trí tuệ, trí tưởng tượng, sự thông minh Năng lực trong làn sóng công nghiệp 4.0 được nhìn nhận

và đánh giá với các định chuẩn và tiêu chí khác biệt

Cá nhân cần chuẩn bị như thế nào để đón lấy những cơ hội mới ngay trong giai đoạn phát triển năng lực?

Cá nhân trước hết cần hiểu rõ bản thân trong tương quan với môi trường làm việc theo xu hướng của nền công nghiệp 4.0

Làm việc là một lựa chọn cá nhân và mỗi người lựa chọn công việc khác nhau Việc phát triển năng lực theo hướng nào là quyền của cá nhân, nhưng định hướng và quyết định phát triển năng lực tương thích với làn sóng cách mạng công nghiệp mới cần sự thức thời

Trang 14

Tương lai cá nhân phụ thuộc phần lớn vào năng lực làm việc Thất nghiệp

là nhãn tiền khi năng lực hiện có không đáp ứng với yêu cầu công việc của tổ chức 4.0

Cơ chế tương tác đã thay đổi trong môi trường làm việc mới Trình độ sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đã thay đổi theo hướng sâu và hẹp, gắn kiến thức

hệ thống với quy trình xử lý công việc thực tế Làm việc độc lập không còn là đặc quyền của người hướng nội, làm việc nhóm không còn là đặc quyền của người hướng ngoại Công việc quản lý và lãnh đạo đan xen trong hệ thống quản trị giải quyết vấn đề ngày càng phức tạp

Các công cụ đánh giá hiệu suất làm việc sẽ thay đổi Cá nhân sẽ cần năng lực đa chuyên môn và khả năng học sẽ được xem trọng hơn trình độ học vấn Trí tuệ và cảm hứng sáng tạo sẽ đóng góp đáng kể vào thu nhập và thành công của cá nhân

4 Về thể lực

Thể lực, sức khỏe tốt có ý nghĩa quan trọng, quyết định năng lực hoạt động của con người Phải có thể lực, con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội Ở những môi trường làm việc tốc độ cao, công nghệ cao, quy trình quản lý trình độ cao, áp lực công việc là thách đố đối với mọi người lao động, đặc biệt với những người có sức khỏe kém và không ổn định

Sức khỏe của con người phải là sự thống nhất giữa hai yếu tố tinh thần và thể chất Thể lực của con người được xác định bởi kết cấu cơ thể sinh học của con người (chiều cao, cân nặng, sự cân đối của cơ thể, sự nhạy cảm và sức chịu đựng…) hoạt động theo những chức năng tự nhiên do cơ thể sinh học điều tiết

và điều khiển Với sự phát triển của nền kinh tế, nền văn minh xã hội, cơ thể con người cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện theo quy luật tiến hóa

Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa, hàm lượng trí tuệ, chất xám trong mỗi sản phẩm lao động

Trang 15

phải có sức khỏe tốt, thể lực không khỏe mạnh thì sẽ hạn chế đáng kể sự phát triển trí lực - yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người Mặt khác, họ phải được giáo dục và đào tạo kỹ lưỡng, thể hiện qua trình độ học vấn

và vốn văn hóa, nhất là phải được sống và làm việc trong một môi trường xã hội thuận lợi, có văn hóa đạo đức, thực sự dân chủ, bình đẳng, được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời

Ngoài 4 tiêu chí trên, đối với con người Việt Nam cần phải có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có

ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Trong điều kiện hiện nay, tạo dựng, khơi dậy và phát huy tinh thần dân tộc là một đòi hỏi tất yếu để hội nhập và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là mục tiêu nhưng đó cũng là thước đo, tiêu chí để đánh giá một con người, một doanh nghiệp, một đoàn thể xã hội hội nhập và phát triển [14], [21]

Với thực tiễn nước ta và bối cảnh quốc tế hiện nay, chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến phát triển con người, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Nguồn nhân lực trình độ cao (lao động tốt nghiệp từ đại học trở lên) luôn

là một nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước

ta, nhất là trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay Để có đầy đủ nguồn lực đó thì vai trò của các trường đại học và mối quan hệ hợp tác đào tạo giữa trường đại học với các doanh nghiệp là hết sức cần thiết và cấp bách

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc hợp tác đào tạo

Sự hợp tác diễn ra khi các chủ thể điều chỉnh hành vi của họ trước các mong muốn thực tế hoặc dự đoán về mong muốn của những người khác Sự hợp tác diễn ra trong bối cảnh chứa đựng nhiều mâu thuẫn đối ngược và bổ sung cho nhau Mong muốn của mỗi chủ thể dựa trên những nhận định của họ

Trang 16

về lợi ích Việc lợi ích tương đồng nhiều hay ít tác động đến việc các chủ thể có hợp tác với nhau hay không

Với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và trong bối cảnh thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, yếu tố cốt lõi của việc xây dựng hệ thống giáo dục đại học đó là đào tạo gắn liền với yêu cầu thực tiễn, đào tạo đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội Phát triển mô hình đào tạo gắn kết giữa cơ sở giáo dục (nhà trường) với doanh nghiệp được xem là yêu cầu quan trọng được đặt ra đối với ngành giáo dục của Việt Nam

Thực tế đã cho thấy tình trạng sinh viên các trường đại học sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm hoặc việc làm không phù hợp với chuyên môn

có xu hướng ngày càng tăng lên Số sinh viên có việc làm về chất lượng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp vẫn thiếu lao động cả về số lượng và chất lượng Thực trạng trên phản ánh sự bất cập, không ăn khớp giữa đào tạo và sử dụng, giữa nhà trường với doanh nghiệp, từ

đó đặt ra vấn đề các trường đại học cần phải quan tâm hơn nữa đến sự liên kết, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp [5]

Có thể định nghĩa quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là tất

cả mọi hình thức tương tác trực tiếp hay gián tiếp, có tính chất cá nhân hay tổ chức giữa trường đại học và các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ lẫn nhau vì lợi ích của cả hai: Hợp tác trong nghiên cứu và phát triển, kích thích sự vận động năng động qua lại của giảng viên, sinh viên và các nhà chuyên môn đang làm việc tại các doanh nghiệp; thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; xây dựng chương trình đào tạo; tổ chức học tập suốt đời; hỗ trợ các nỗ lực sáng nghiệp và quản trị

tổ chức

Liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp là sự hợp tác giữa một bên là nhà trường và một bên là doanh nghiệp để thực hiện các mục đích, chương trình đào tạo cũng như chiến lược phát triển đã được hai bên xác lập

Liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp là yêu cầu khách quan

Trang 17

với lao động sản xuất”, “Giáo dục của nhà trường gắn liền với giáo dục của gia đình và xã hội”, “Nhà trường đào tạo cái xã hội cần chứ không phải đào tạo cái nhà trường có” Trong liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, nhà trường đóng vai trò là đơn vị chủ trì, chịu trách nhiệm chính trong đào tạo như thực hiện nội dung, chương trình, chất lượng đào tạo, cấp bằng cho người được đào tạo Doanh nghiệp đóng vai trò là đơn vị phối hợp, hỗ trợ chịu trách nhiệm

về tổ chức, quản lý, phục vụ cho quá trình đào tạo, sử dụng sản phẩm đào tạo

Quan hệ hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp là quan hệ biện chứng tương hỗ vì lợi ích của cả hai phía cũng như lợi ích chung của toàn xã hội Từ mối liên kết này, các trường đại học ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra những “sản phẩm” được trải nghiệm hoạt động thực tiễn Về phía doanh nghiệp, lâu dài sẽ tận dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao, ổn định, vững vàng trong cạnh tranh và vươn lên trong hội nhập Như vậy, về tổng thể, hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp đã, đang và sẽ hướng các trường đại học đào tạo ra những “sản phẩm” gắn liền với yêu cầu thực tiễn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong xã hội, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, giúp các doanh nghiệp xây dựng được lợi thế cạnh tranh trên thị trường, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của quốc gia

Xét về chức năng và nhiệm vụ, một trong những sứ mệnh cốt lõi của trường đại học là “trồng người” và phải gắn chất lượng đầu ra của sinh viên với yêu cầu và nhu cầu của xã hội nói chung và doanh nghiệp nói riêng Vì vậy, nhà trường phải là đối tác khởi xướng của việc hợp tác Thực tế hiện nay, hầu hết các trường đại học ở nước ta chưa thể hiện được vai trò này, việc hợp tác đang dừng ở cấp độ tình huống, ngắn hạn và manh mún, đơn lẻ, tự phát

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp được xem là một điều kiện bảo đảm cho sự tồn tại

và phát triển của cả hai phía Nếu doanh nghiệp đóng vai trò đòn bẩy, kích thích sáng tạo và chuyển giao công nghệ, tiếp nhận sản phẩm đào tạo, đồng thời là nơi cung cấp thêm nguồn lực vật chất cũng như tài chính cho nhà trường; thì

Trang 18

ngược lại, các trường đại học là nơi sáng tạo ra tri thức mới và tìm tòi các giải pháp giải quyết các vấn đề mà thực tế đang đặt ra cho các doanh nghiệp, bên cạnh đó vai trò truyền thống là nguồn cung ứng cho nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao [5]

Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp là mối liên kết bình đẳng hai bên cùng có lợi chứ không phải là mối liên kết chỉ có sự hỗ trợ một chiều Tại các quốc gia phát triển, các trường đại học uy tín và có thương hiệu thường được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ cộng đồng doanh nghiệp cũng như xã hội, đồng thời

là trung tâm nghiên cứu, sáng tạo ra những thành tựu công nghệ theo nhu cầu của xã hội và doanh nghiệp

Bất cứ chương trình đào tạo nào, trong cấu trúc của nó, đều có sự cân đối theo tỷ lệ nhất định giữa lý thuyết và thực hành Tùy theo cấp độ, trình độ đào tạo và lĩnh vực ngành nghề đào tạo mà sự cân đối giữa lý thuyết và thực hành có

sự khác nhau về tỷ lệ Tuy vậy, không phải trường đại học nào cũng có đầy đủ

cơ sở thực hành, thực nghiệm, thí nghiệm cho sinh viên Đây là một trong những nguyên nhân nảy sinh nhu cầu xã hội hóa công tác đào tạo, đưa quy trình đào tạo dựa vào các cơ quan, doanh nghiệp có cùng lĩnh vực hoạt động chính phù hợp với nội dung đào tạo để tận dụng ưu thế của các bên

Những lợi ích cơ bản trong quá trình liên kết hợp tác đào tạo

Thứ nhất, đối với nhà trường (NT): Nhà trường được tổ chức tuyển dụng

tư vấn về việc sửa đổi và xây dựng nội dung chương trình đào tạo Góp phần nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn cho người học Tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học và tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo chung Trao đổi các thông tin về khoa học, công nghệ tiên tiến và nhu cầu về nguồn nhân lực trong thời điểm hiện tại và tương lai NT nâng cao được chất lượng đào tạo cũng như tìm được đầu ra phong phú cho người học, từ đó nâng cao uy tín của NT trước những yêu cầu của thị trường lao động đa dạng và luôn biến động NT tạo được tiếng vang trong giáo dục và đào tạo, gây uy tín cũng như duy trì mối liên kết

Trang 19

bền vững giữa NT và DN NT có thể tăng cường tính tự chủ về nguồn tài chính cũng như cơ sở vật chất ở hiện tại và tương lai

Thứ hai, đối với doanh nghiệp (DN): DN luôn yên tâm có một đội ngũ

nhân lực vững chắc hỗ trợ khi mình có nhu cầu Đồng thời DN ít tốn chi phí tuyển dụng, thử việc, vì qua thời gian thực tập chính là thời gian sinh viên thể hiện năng lực, DN đánh giá khả năng, năng lực, phẩm chất của sinh viên Nói cách khác là DN có thêm quyền và cơ hội lựa chọn và sử dụng nguồn lao động chất lượng, có trình độ, từ đó giải quyết được bài toán nan giải về nhân lực Được phép đánh giá chất lượng đào tạo (phát huy mặt mạnh khắc phục những mặt yếu kém) và đóng góp ý kiến vào việc xây dựng chương trình đào tạo của

NT Hỗ trợ tài chính, cơ sở vật chất cho NT và tham gia giảng dạy vào quá trình đào tạo như một hình thức đầu tư, phát triển bước đầu DN sẽ được hưởng lợi khi chất lượng sản phẩm đào tạo của NT được đảm bảo bởi đầu ra quá trình đào tạo của NT là đầu vào của quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động của DN Từ

đó DN có thêm cơ hội quảng bá thương hiệu, hình ảnh của DN DN sớm tiếp nhận những thông tin về khoa học, công nghệ DN có thể đặt hàng các đề tài nghiên cứu khoa học có chất lượng và thiết thực từ NT nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của DN

Thứ ba, đối với người học (sinh viên) Sinh viên có cơ hội lựa chọn địa

điểm thực tập phù hợp sẽ tạo cho sinh viên nắm bắt được môi trường thực tế, phát triển được kỹ năng giải quyết những vấn đề phát sinh Chính bản thân của sinh viên sẽ có được yếu tố linh động, mềm mại, uyển chuyển hơn trong xã hội Thực tập, kiến tập tại DN giúp sinh viên mở rộng mối quan hệ của mình Các đợt thực tập thực tế giúp họ hiểu rõ hơn những bài học lý thuyết Với kinh nghiệm thực tập họ sẽ tự tin, sẵn sàng nhận công việc được giao sau khi ra trường Đợt thực tập cũng là cuộc khảo sát, thử thách họ trong quá trình lập nghiệp Cho dù đạt được kết quả nhiều hay ít, các đợt thực tập cũng mang lại cho sinh viên nhiều cơ hội khác nhau Giúp cho sinh viên có cơ hội tìm kiếm

Trang 20

học bổng và tiếp cận sớm với các tổ chức tuyển dụng tạo cơ hội có việc làm sau khi tốt nghiệp

Những năm qua, giáo dục đại học của Việt Nam đã phát triển nhanh về quy mô, đa dạng về loại hình đào tạo, ngành đào tạo Để sinh viên sau khi được đào tạo đáp ứng được yêu cầu của tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt là để tránh hiện tượng mất cân đối về cung - cầu nhân lực chất lượng cao, Nhà nước đã có chủ trương khuyến khích các trường đại học liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ

Tuy vậy cho đến nay, vấn đề liên kết đào tạo ở nước ta vẫn chưa được các chủ thể nhìn nhận một cách thấu đáo, sự liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp diễn ra khá hời hợt, manh mún, hiệu quả chưa cao, hệ quả là tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng về cung- cầu nhân lực chất lượng cao

Chất lượng đào tạo đại học của nhiều ngành nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng Phần lớn doanh nghiệp sau khi tuyển dụng vẫn phải đào tạo lại Một bộ phận không nhỏ người lao động đã được đào tạo nhưng doanh nghiệp từ chối tuyển dụng sau khi phỏng vấn, kiểm tra tay nghề thực tế Một thực tế nữa là, doanh nghiệp chưa thực sự tin là mối quan hệ với trường đại học sẽ mang lại lợi ích cho họ

Mặt khác, hầu hết các trường đại học không có đủ thông tin về nhu cầu sử dụng lao động; trong khi sự chuyển đổi công nghệ của doanh nghiệp diễn ra liên tục, nên việc gắn đào tạo với sử dụng cũng phải thay đổi theo Trong các trường đại học hiện nay, quan niệm “giỏi” mới dừng ở mức học giỏi, thi giỏi, chứ chưa phải là làm giỏi Tinh thần thực học, thực nghiệp vẫn chưa có được chỗ đứng vững chắc trong nhà trường, nên việc đào tạo còn xa rời yêu cầu của thực tiễn

Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta vẫn đầu tư theo kiểu “ăn xổi”, ít chú trọng đến phát triển bền vững lâu dài, nên ít đầu tư xây dựng nguồn nhân lực Các tổng công ty lớn hay các doanh nghiệp nhà nước thì vẫn được Nhà nước bao cấp, ưu ái, còn trường đại học thì thường đào tạo theo chương

Trang 21

trình đã lên khung cứng nhắc từ trước mà không thay đổi vì chưa có đủ động lực để thay đổi

Như vậy, mối quan hệ giữa trường đại học và doanh nghiệp ở nước ta đang tồn tại ở dạng tiềm năng vì trong ngắn hạn, cả hai chủ thể chưa thực sự cảm thấy bức thiết, chưa hiểu được những ảnh hưởng tới lợi ích sống còn của cả hai phía

1.1.3 Các mô hình liên kết đào tạo

Mô hình gắn kết giữa trường đại học với doanh nghiệp là sự kết nối quan

hệ cung - cầu lao động đang diễn ra trên thị trường lao động để khắc phục một nghịch lý đang tồn tại giữa giáo dục đại học và nhu cầu thực tế tại doanh nghiệp, đó là sinh viên ra trường không tìm được việc làm, trong khi đó các doanh nghiệp lại không tuyển được lao động sau khi đã được đào tạo đại học, nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất Việc trường đại học và doanh nghiệp gắn kết với nhau trong đào tạo theo một mô hình thích hợp là nhu cầu tất yếu và cấp thiết hiện nay cũng như trong tương lai

Liên kết đào tạo giữa trường đại học (ĐH) với doanh nghiệp (DN) là xu hướng chung của thế giới trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.Việt Nam là nước đang phát triển có thu nhập trung bình thì giáo dục nói chung

và giáo dục ĐH nói riêng có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao Đây là một trong những khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, nhất là vấn đề việc làm bền vững cho người lao động

Trên thế giới, việc gắn kết giữa trường ĐH với DN trong đào tạo ĐH đã trở thành khuôn mẫu và phương thức hoạt động theo những mô hình khác nhau tùy thuộc vào sự lựa chọn tối ưu của mỗi trường ĐH cho phù hợp với điều kiện

cụ thể của trường mình Do đó mỗi mô hình thường có khái niệm cụ thể của nó, khó có thể đưa ra một khái niệm chung về mô hình gắn kết này Tuy nhiên, xu hướng chung của mô hình là xóa bỏ dần khoảng cách giữa trường ĐH và việc

Trang 22

đáp ứng nhu cầu thực tế của DN về nguồn nhân lực trình độ và chất lượng cao

Và do đó, khái niệm về gắn kết giữa trường ĐH với DN trong đào tạo ĐH được

mở rộng về nội hàm Sự gắn kết đó không chỉ là lấy DN làm nơi cho sinh viên đến thực tập để nâng cao kỹ năng thực hành hoặc trường ĐH là nơi các DN tìm đến để lựa chọn những nhân tài dưới hình thức “săn đầu người”, hay cấp học bổng

Vấn đề đặt ra về mặt lý luận mô hình gắn kết này cần phải được định hình trở thành khuôn mẫu, phương thức chung với nhiều hình thức gắn kết đa dạng Trên cơ sở nhận thức chung về mô hình gắn kết, mỗi trường ĐH xây dựng cho mình mô hình thích hợp, cụ thể trong đào tạo nguồn nhân lực dựa trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu của DN (bên cầu lao động) và đánh giá năng lực thực tế của trường ĐH (bên cung lao động trình độ ĐH) có khả năng đào tạo để đáp ứng yêu cầu của DN

Mô hình gắn kết giữa trường ĐH với DN trong đào tạo ĐH được hiểu là khuôn mẫu được định hình về hoạt động tương tác chặt chẽ giữa quá trình đào tạo nguồn nhân lực của trường ĐH và nhu cầu sử dụng của DN Mô hình này đòi hỏi việc đào tạo (yếu tố cung) phải có sự thay đổi mục tiêu, chương trình, cơ cấu và chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của DN (yếu tố cầu) trên thị trường lao động Có 2 loại mô hình sau:

Mô hình tổng thể: Mô hình này được hình thành trên cơ sở thiết lập một

khuôn mẫu gắn kết chung với nhiều hình thức gắn kết trong một hệ thống chặt chẽ, có thể tương tác và hỗ trợ nhau Đây là loại mô hình gắn kết tương đối toàn diện và mức độ gắn kết chặt chẽ, lâu dài hơn Xu hướng của mô hình này ở mức thấp có thể chỉ gắn kết trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ ĐH đáp ứng nhu cầu của DN, nhưng có thể phát triển lên ở trình độ gắn kết cao hơn thành mô hình gắn kết vừa đào tạo, vừa chuyển giao công nghệ hoặc cao hơn nữa là mô hình gắn kết của trường ĐH với DN trong việc vừa đào tạo, vừa nghiên cứu và triển khai

Trang 23

Mô hình cụ thể, độc lập: Đó là mô hình được thiết lập với một hình thức

gắn kết cụ thể, riêng rẽ Ví dụ như mô hình gắn kết theo hình thức đào tạo ĐH vừa học, vừa làm; mô hình gắn kết với hình thức đào tạo lý thuyết ở trường ĐH, thực tập kỹ năng tại DN; mô hình gắn kết với hình thức đào tạo theo đơn đặt hàng của DN (tiêu chuẩn đầu ra do DN quy định); mô hình gắn kết với hình thức mở rộng giảng đường đào tạo từ ĐH đến DN

Cấu trúc của mô hình gắn kết này gồm các nhóm yếu tố cơ bản hợp thành

và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như sau:

Nhóm yếu tố lợi ích: Nhóm yếu tố này của mô hình được xác định trên

cơ sở chia sẻ, gắn kết và hài hòa lợi ích giữa bên đào tạo nguồn nhân lực trình

độ cao (trường ĐH) và bên sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao (DN) đáp ứng nhu cầu của sản xuất Đồng thời, góp phần tích cực vào lợi ích chung của quốc gia hướng vào tạo việc làm bền vững cho người lao động, giảm thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước Theo đó, nội dung

cơ bản của nhóm yếu tố lợi ích là xác định mục đích gắn kết nhằm đạt được lợi ích tối đa của nhà trường ĐH và lợi ích DN một cách hài hòa, tác động của mô hình gắn kết đến lợi ích xã hội (của sinh viên và lợi ích chung của quốc gia)

Nhóm yếu tố quá trình: Đó là các yếu tố liên quan đến những hoạt động

gắn kết cụ thể giữa trường ĐH và DN Theo đó, nội dung cơ bản của nhóm yếu

tố quá trình là: Xây dựng chiến lược gắn kết đào tạo giữa trường ĐH với DN trong ngắn hạn và dài hạn; Xác định mô hình gắn kết tổng thể hoặc với các hình thức gắn kết cụ thể, riêng lẻ giữa trường ĐH với DN trong đào tạo ĐH phù hợp với khả năng của trường và hướng tới đáp ứng nhu cầu của DN về nguồn nhân lực trình độ cao; Xây dựng chính sách và cơ chế gắn kết giữa trường ĐH với

DN trong đào tạo ĐH; Thiết lập thể chế quản trị mô hình gắn kết giữa trường

ĐH với DN trong đào tạo ĐH (quản trị quá trình tổ chức gắn kết; đánh giá kết quả đầu ra; sự phản hồi từ DN )

Nhóm yếu tố bảo đảm (điều kiện): Đó là các yếu tố tạo môi trường đào

tạo gần với môi trường làm việc của DN, chủ yếu liên quan đến các yếu tố bảo

Trang 24

đảm chất lượng đầu ra đáp ứng yêu cầu sử dụng nguồn nhân lực (NNL) của xã hội, của DN Theo đó, nội dung cơ bản của nhóm yếu tố bảo đảm (điều kiện) là: chất lượng đội ngũ giảng viên; thiết kế nội dung, chương trình, xây dựng giáo trình đào tạo bảo đảm chất lượng đầu ra của đào tạo ĐH phù hợp với yêu cầu của DN Cần đặc biệt chú ý thiết kế các khóa đào tạo chuyên biệt theo yêu cầu của DN đặt hàng hoặc tăng cường sự tham gia của DN đối tác (khách hàng mục tiêu) vào xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo ; đầu tư kết cấu hạ tầng đào tạo ĐH đáp ứng yêu cầu của DN, trước hết là phải bảo đảm cơ sở vật chất có khả năng đào tạo cập nhật kỹ thuật và công nghệ mà DN đang áp dụng; hoặc kết hợp sử dụng cơ sở vật chất của DN phục vụ cho đào tạo; xác định tiêu chí đầu vào và đầu ra của đào tạo ĐH phù hợp với yêu cầu của DN, kiểm định chất lượng đầu ra của đào tạo ĐH Nguyên tắc ở đây là phải căn cứ vào tiêu chí đầu

ra (về kiến thức, kỹ năng, nhân cách) để lựa chọn công nghệ đào tạo và xác định tiêu chí đầu vào phù hợp; hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản trị đào tạo theo các

mô hình gắn kết được xác định; xây dựng phương án khả thi tạo nguồn tài chính cho thực hiện mô hình theo nguyên tắc tự chủ, có tư cách pháp nhân đầy đủ và

tự chịu trách nhiệm; hình thành thiết chế tổ chức dịch vụ đào tạo gắn với nhu cầu của DN (marketing đào tạo, PR thương hiệu nhà trường, thông tin thị trường lao động, tư vấn nghề nghiệp, giới thiệu việc làm )

1.1.4 Những nội dung cần lưu ý khi hợp tác đào tạo giữa trường đại học và doanh nghiệp:

Việc gắn kết giữa trường ĐH với DN trong đào tạo ĐH cần phải có vai trò của Nhà nước trong việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thể chế lĩnh vực giáo dục ĐH để tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho cả trường ĐH và

DN thực hiện Tuy nhiên, trường ĐH và DN với vai trò là chủ thể cần chủ động vào cuộc bằng hành động quyết liệt, cụ thể Sau đây là một số nội dung cần lưu

ý đối với trường ĐH và DN để góp phần đẩy mạnh hoạt động hợp tác đào tạo trong thời gian tới:

Trang 25

Một là, nâng cao nhận thức, quyết tâm của cả 2 phía, cả trường ĐH lẫn

DN trong việc gắn kết và hợp tác với nhau trong đào tạo ĐH vì lợi ích của cả 2 bên, lợi ích của người học và lợi ích chung của xã hội Đặc biệt, ở các trường

ĐH cần thực hiện tốt phương châm đào tạo những gì xã hội, DN cần chứ không đào tạo những gì nhà trường có; đào tạo phải lấy người học làm trung tâm và coi chất lượng kết quả đầu ra là quyết định Đây là một trong những khâu quan trọng và có tính đột phá về đổi mới đào tạo ĐH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Điều đó có nghĩa là phải bắt đầu từ đổi mới tư duy đào tạo ĐH và hành động quyết liệt mới đem lại kết quả

Hai là, các trường ĐH cần xây dựng chiến lược hành động cụ thể để định

hướng và điều chỉnh hoạt động gắn kết giữa nhà trường và DN không trái với chính sách chung của Nhà nước, tạo hành lang, khung thể chế quản trị nhà trường gắn kết trên thực tế Các chiến lược cần tập trung vào vấn đề bảo đảm chia sẻ lợi ích hài hòa giữa các bên, thu hút đầu tư cơ sở vật chất, cơ chế động lực đối với giảng viên, với sinh viên

Ba là, việc các trường ĐH xây dựng và thực hiện mô hình gắn kết với

DN trong đào tạo ĐH là một quá trình và cần có bước đi thích hợp Để xây dựng mô hình gắn kết này cần bắt đầu từ nghiên cứu nhu cầu của DN về ngành, nghề, kỹ thuật và công nghệ áp dụng; yêu cầu về kiến thức, kỹ năng nghề và thái độ của lao động để xây dựng tiêu chí đầu vào và chuẩn chất lượng đầu ra Tiếp đó là đánh giá năng lực thực tế của nhà trường về quy trình và công nghệ đào tạo, các yếu tố bảo đảm đào tạo cho kết quả đầu ra là nguồn nhân lực trình

độ ĐH đáp ứng nhu cầu của DN để có sự điều chỉnh hoặc đổi mới cho phù hợp Trên cơ sở đó thiết lập mạng lưới DN theo mô hình gắn kết lựa chọn khả thi Việc lựa chọn mô hình gắn kết có thể rất linh hoạt, nhưng nên phát triển mô hình từ thấp đến cao, có thể bắt đầu từ lựa chọn mô hình với những hình thức gắn kết riêng lẻ; tiến tới mô hình gắn kết tổng thể; cao hơn là xây dựng nhà trường thành trường “ĐH đào tạo gắn với chuyển giao công nghệ” và tiến tới xây dựng trường “ĐH nghiên cứu và triển khai”

Trang 26

Bốn là, trong xu thế chuyển đổi trường ĐH thành đơn vị cung cấp dịch

vụ đào tạo (dịch vụ công hoặc DN, xã hội), để thực hiện mô hình gắn kết giữa trường ĐH với DN trong đào tạo ĐH, nhà trường cần tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt động theo hướng tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu và triển khai, bao gồm cả gắn kết với

DN trong đào tạo ĐH Trong đó, thực hiện nguyên tắc chia sẻ, hài hòa lợi ích giữa các bên phù hợp với cơ chế thị trường trong đào tạo ĐH gắn kết với nhu cầu sử dụng của DN Về lâu dài, vấn đề quan trọng nhất là các trường ĐH cần

có chiến lược xây dựng trường ĐH thành trường có chất lượng cao nhằm xây dựng thương hiệu có uy tín được DN tin tưởng

Năm là, về thiết chế tổ chức thực hiện mô hình gắn kết giữa nhà trường

với DN trong đào tạo ĐH, các trường ĐH cần thiết lập bộ phận chuyên trách xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình gắn kết này thông qua thỏa thuận hoặc hợp đồng ký kết giữa nhà trường và DN cụ thể Thiết lập được mối quan hệ gắn kết với mạng lưới các DN phù hợp với sở trường của trường mình (cùng ngành nghề) Trường ĐH cũng có thể nghiên cứu thành lập tổ chức dịch vụ đào tạo gắn với nhu cầu của DN (marketing đào tạo, PR thương hiệu nhà trường, thông tin thị trường lao động, tư vấn nghề nghiệp, giới thiệu việc làm )

1.2 Cơ sở thực tiễn về việc xây dựng các mô hình hợp tác đào tạo

1.2.1 Những mô hình cụ thể

Chủ trương liên kết giữa các trường đào tạo nghề, đại học với các doanh nghiệp (DN), cơ sở sản xuất để tạo việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường và đẩy mạnh xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm cho thanh thiếu niên đã được Chính phủ chỉ đạo tại nhiều văn bản

Cụ thể như: Nghị quyết số 100/NQ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021; Nghị quyết của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; Thông tư số 29/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 15/12/2017 của Bộ Lao

Trang 27

động, Thương binh và Xã hội quy định về liên kết tổ chức thực hiện chương trình đào tạo Theo đó, nhà trường và DN có thể liên kết tổ chức đào tạo, trong

đó DN có thể đảm nhận đến 40% chương trình đào tạo

Nhờ những chủ trương trên, nhiều mô hình liên kết với DN của các trường đại học đã được triển khai hiệu quả trong thời gian qua như:

Mô hình của Đại học Công nghiệp Hà Nội: Năm 2014, Đại học Công

nghiệp Hà Nội đã thành lập Trung tâm Hợp tác với DN Theo báo cáo tổng kết năm học 2016-2017 của Trung tâm Hợp tác với DN, nhà trường đã tiếp nhận 28 yêu cầu tham gia thăm quan, thực tập tại DN trong khuôn khổ hợp tác đào tạo của các DN như: Nissan Techno, Samsung Việt Nam, Canon Việt Nam, Foxconn, Vinatop, COMA 18 với 3.150 sinh viên

Hoạt động trao đổi cán bộ giảng viên cũng được đẩy mạnh hơn Cụ thể,

có 30 cán bộ giảng viên tới đào tạo tại các DN như: Denso Việt Nam, Canon Việt Nam, Pepsico Việt Nam, Phân lân Văn Điển, Hanacans; Có 36 cán bộ của

DN tham gia giảng dạy tại Nhà trường đến từ: Foxconn, Pepsico Việt Nam, Samsung Việt Nam, Canon Việt Nam

Năm 2017, số lượng các khoá học ngắn hạn do DN gửi tới Trường đào tạo là 148 với số lượng học viên lên tới 1.795 người, tăng 174,78% so với năm trước Số lượng chương trình thực tập trải nghiệm tại DN là 26, với khoảng 1.938 sinh viên tham gia tại các DN như: Samsung Việt Nam, Canon Việt Nam, Foxconn, UMC, Toyo Denso, TNHH Gia Minh

Có 45 giảng viên tham gia giảng dạy tại DN như: Pepsico Việt Nam, Nestle Việt Nam, Hanwha, Denso Việt Nam, Panasonic Việt Nam, Habeco Số cán bộ DN tham gia giảng dạy tại nhà trường tăng lên 40 người đến từ các DN như: Foxconn, Hanwa, Denso Việt Nam, Bóng đèn Rạng Đông, Minami Fuji

Theo thống kê, tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường có việc làm ngay chiếm khoảng từ 58,6% - 65%, số lượng sinh viên có việc làm sau 01 năm tốt nghiệp chiếm khoảng 86,9%

Căn cứ vào số lượng sinh viên có việc làm cao mà số lượng tuyển sinh của nhà trường hàng năm đều đạt mức 100% chỉ tiêu các hệ đào tạo, mang lại nguồn tài chính ổn định quan trọng đối với cơ chế tự chủ của Nhà trường

Trang 28

Mô hình của Đại học Điện lực Hà Nội: Theo Phòng Đào tạo, Trường

Đại học Điện lực, trong quá trình xây dựng các chương trình đào tạo, Nhà trường đã có sự tham gia đóng góp ý kiến trực tiếp của 38 nhà khoa học chuyên môn, 81 giảng viên, 41 cán bộ quản lý, 29 tổ chức xã hội nghề nghiệp, 55 nhà tuyển dụng lao động, 82 người đã tốt nghiệp

Mục tiêu chủ yếu của Đại học Điện lực Hà Nội là đào tạo nguồn nhân lực

có chất lượng nhằm cung cấp nguồn lao động cho EVN và các DN điện khác

Theo Trung tâm Đào tạo thường xuyên của Nhà trường, năm 2017, Trường đã liên kết với Tổng Công ty Điện lực miền Bắc mở các lớp đào tạo ngắn hạn cho cán bộ, công nhân ngành Điện về: Quản trị cho cán bộ quản lý cấp trung, cấp cơ sở; bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ công nhân với tổng số lớp là 27, đạt 93,1% so với năm 2016; tổng số học viên là 1.791 người

Thông qua triển khai nhiều chương trình liên kết đào tạo ngắn hạn cho các công ty điện lực mà nguồn thu tài chính của Đại học Điện lực Hà Nội được củng cố Cụ thể, nguồn thu từ EVN hàng năm chiếm khoảng 1,3% tổng nguồn thu tài chính của Nhà trường

Với các DN điện lực, sau khi cán bộ, công nhân được đào tạo lại, các cán

bộ quản lý đã nâng cao được kiến thức mới, công nghệ mới và trình độ quản lý lao động đã nâng cao trong quá trình sản xuất điện năng

Không chỉ hợp tác riêng với EVN, Đại học Điện lực còn liên kết với một

số các DN khác trong nước cũng như nước ngoài như: Hitachi (Nhật Bản), Mitsubishi (Nhật Bản), Samsung Việt Nam, Rạng Đông

Năm 2017, Nhà trường tiếp tục ký kết hợp tác với Hiệp hội Kế toán công chứng Anh (ACCA), trong đó ACCA đồng ý hỗ trợ Đại học Điện lực triển khai chương trình chất lượng cao chuyên ngành kế toán - tài chính theo tiêu chuẩn quốc tế, đào tạo trao đổi cán bộ giảng dạy và hỗ trợ tài chính đào tạo cho sinh viên

Thông qua việc liên kết đào tạo trên, chất lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường được các DN đánh giá cao Theo thống kê của Nhà trường và các tổ chức xã hội, số lượng sinh viên tốt nghiệp có việc làm chiếm 95,22%

Trang 29

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, DN thực tập đánh giá cao về thái độ làm việc 84% loại A, 16% loại B, hiệu quả công việc và chuyên cần của sinh viên thực tập 78% loại A, 20% loại B và 2% loại C

Chỉ số tương đối hài lòng về chương trình đào tạo của nhà trường 38% loại A, 62% loại B Với ưu điểm trên, tỷ lệ tuyển sinh đầu vào hàng năm của nhà trường giữ ở mức cao, đảm bảo nguồn thu để chi cho các hoạt động của nhà trường

Mô hình của Đại học Sao Đỏ: Đại học Sao Đỏ luôn coi trọng và triển

khai công tác phối hợp giữa Nhà trường và DN Theo đó, Nhà trường đang thực hiện dự án “Xây dựng mô hình 3 bên: Nhà trường - DN - Chính phủ về phát triển kỹ năng và đẩy mạnh công nghiệp hoá tại Việt Nam” có sự tham gia và tài trợ của Trường Đại học Han Kok - Hàn Quốc

Trường cũng tham gia các dự án của chương trình khuyến công quốc gia, góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Đại học Sao Đỏ với các trường trong Bộ Công Thương, các DN trong hoạt động đào tạo, chuyển giao công nghệ

Tranh thủ ưu thế của địa bàn, Đại học Sao Đỏ đã thành lập phòng hợp tác đào tạo và xúc tiến việc làm, làm cầu nối giữa sinh viên với các cơ sở sử dụng lao động trên địa bàn như: Công ty TNHH May Tinh Lợi, Công ty TNHH Toyota Hải Dương

Đối với các DN ngoài địa bàn tỉnh Hải Dương, Nhà trường cũng liên kết với DN tiếp nhận sinh viên học tập tại DN hoặc tiếp nhận việc làm như: Công ty TNHH Canon Việt Nam, Công ty TNHH Samsung Electronics, Công ty TNHH Thương mại và Du lịch An Tâm, Tập đoàn Khoa học Kỹ thuật Hồng Hải Các hoạt động này xét về góc độ đào tạo đã tạo điều kiện để sinh viên trải nghiệm thực tế và tìm kiếm đầu ra sau khi tốt nghiệp

Tổng kết giai đoạn 2012-2016, Nhà trường đã thực hiện 05 chương trình liên kết đào tạo hợp tác với DN: “Chương trình hợp tác tư vấn thủ tục đi du học cho sinh viên Đại học Sao Đỏ và Công ty cổ phần tư vấn chuyên nghiệp Việt Nam”, “Chương trình hợp tác liên kết đào tạo giữa Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực LOD và Đại học Sao Đỏ”, “Chương trình hợp tác với Chi nhánh Công ty cổ phần phát triển nhân lực, thương mại và du lịch VIWASEEN tại Hà

Trang 30

Nội”, “Chương trình hợp tác, liên kết đào tạo giữa Công ty Cổ phần Hợp tác đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực và Đại học Sao Đỏ”, “Chương trình hợp tác tuyển sinh, đào tạo ngoại ngữ cho người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài giữa Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu 3-2 Hòa Bình và Đại học Sao Đỏ”

Với những chương trình hợp tác như trên, Nhà trường đã gặt hái được nhiều thành công trong việc nâng cao hiệu quả đào tạo, theo đó, tỷ lệ sinh viên

có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt hơn 90%

Mô hình của Trường Đại học Nông lâm (Đại học Huế) là một trong

những trường đại học đầu tiên được chọn thí điểm mô hình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng (Professional Oriented Higher Education - POHE)

từ năm 2005 Trường đã nỗ lực hợp tác với doanh nghiệp để đổi mới chương trình đào tạo, giúp sinh viên tiếp cận nhiều hơn với thực tế, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Sinh viên được đào tạo theo Dự án POHE có nhiều cơ hội trực tiếp tham gia các hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh của các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước, như: Lào, Campuchia, Thái Lan Đến nay, Trường đã có quan hệ hợp tác với gần

500 doanh nghiệp, mang lại cơ hội lớn cho người học Chính điều này giúp sinh viên tự tin, năng động và tìm kiếm được việc làm đúng với sở trường và ngành nghề đào tạo sau khi tốt nghiệp Theo số liệu khảo sát năm 2013 của Trường đại học Nông lâm (Đại học Huế), có 100% sinh viên được đào tạo theo Dự án POHE khi ra trường tìm được việc làm đúng với nghề nghiệp được đào tạo, được các nhà sử dụng lao động đánh giá cao về năng lực nghề nghiệp

Mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp tại Trường Đại học Thái Bình

Trong những năm gần đây, công tác đào tạo gắn với doanh nghiệp đã được Trường Đại học Thái Bình đặc biệt quan tâm và coi đây là một bước đi đột phá trong công tác đào tạo Nhà trường đã có nghị quyết chuyên đề về đào tạo gắn với doanh nghiệp, với thị trường lao động, coi nhiệm vụ đào tạo đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp là một nhiệm vụ bắt buộc của mỗi khoa chuyên môn Tuy nhiên, trong thời gian qua việc hợp tác với doanh nghiệp của nhà trường chưa

Trang 31

thực tập và trải nghiệm mà cơ bản là tham quan về quy trình hoạt động, nguyên tắc làm việc, mô hình sản xuất, Nhiều đơn vị sử dụng lao động, doanh nghiệp nói riêng, đã chỉ ra những tồn tại của sinh viên nhà trường sau tốt nghiệp về khả năng hợp tác, kĩ năng làm việc nhóm, khả năng sử dụng ngoại ngữ cũng như những thiếu sót về nghiệp vụ, kiến thức thực tiễn của sinh viên khi tuyển dụng Hơn nữa, nhà tuyển dụng cũng đã đặt ra những ngành, lĩnh vực nên cân nhắc ưu tiên đào tạo, là những lĩnh vực đang có nhu cầu lớn, nhằm hỗ trợ nhà trường trong quá trình định hướng, xây dựng các chương trình đào tạo mới

Nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của nhà trường cũng như đáp ứng yêu cầu của xã hội, một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình quản lí đào tạo của nhà trường là đẩy mạnh xã hội hóa công tác đào tạo theo cả hai hướng: huy động mọi lực lượng xã hội tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực và tập trung vào đào tạo ra những con người đáp ứng các yêu cầu của xã hội Cụ thể như:

Xác định và xác định lại các ngành nghề đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của thị trường lao động, xây dựng chiến lược phát triển chung của nhà trường và nhiệm vụ đào tạo

Xây dựng kế hoạch và cơ chế phối hợp với doanh nghiệp, nhà sử dụng lao động trong giai đoạn sắp tới nhằm tạo điều kiện thuận lợi và mối quan hệ chặt chẽ cả về lợi ích giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo

Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo theo hướng đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp Phối hợp với doanh nghiệp trong đào tạo một cách chặt chẽ hơn thông qua việc ký kết các hợp đồng kinh tế,

Đánh giá chất lượng đầu ra, khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của sinh viên khi tuyển dụng

Việc phối hợp với nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo không còn

là vấn đề mới, nhưng vẫn cần có những điều chỉnh và nghiên cứu triển khai nhất định trong công tác đào tạo có sự phối hợp với các doanh nghiệp

1.2.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn

Thứ nhất, Việc xây dựng mối liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp là tất yếu khách quan nhằm đem lại lợi ích cho cả 2 phía và toàn xã hội Nhà trường cần có nghị quyết chuyên đề về đào tạo gắn với doanh nghiệp, với

Trang 32

thị trường lao động, coi nhiệm vụ đào tạo đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp là một nhiệm vụ bắt buộc của mỗi khoa chuyên môn

Thứ hai, Nhà trường cần thành lập Phòng Hợp tác đào tạo và xúc tiến việc làm hoặc Trung tâm Hợp tác với DN, làm cầu nối giữa nhà trường, sinh viên với các cơ sở sử dụng lao động

Thứ ba, Nhà trường và doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch và các

mô hình liên kết đào tạo Mọi nội dung đều được ký kết hợp đồng nhằm tăng trách nhiệm và hiệu quả phối hợp

Thứ tư, Đẩy mạnh quá trình hoạt động trao đổi cán bộ giảng viên giữa nhà trường và doanh nghiệp

Thứ năm, Đổi mới chương trình đào tạo, giúp sinh viên tiếp cận nhiều hơn với thực tế, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Sinh viên được đào tạo sẽ có nhiều cơ hội trực tiếp tham gia các hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh của các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước

Thứ sáu, Vận dụng tốt các bài học này kết quả là số lượng tuyển sinh đầu vào hàng năm của nhà trường giữ ở mức cao, đảm bảo nguồn thu để chi cho các hoạt động của nhà trường

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã tập trung khái quát, hệ thống các nội dung lý luận và thực

tiễn có liên quan đến đề tài ngiên cứu Bao gồm những khái niệm quan trọng như là công cụ để nghiên cứu về quan hệ hợp tác đào tạo nguồn nhân lực trình

độ cao Nhận dạng nguồn nhân lực trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Cụ thể chỉ rõ nguồn nhân lực trong thời đại 4.0 phải được thể hiện rõ trên cả 4 phương diện: Tâm lực, trí lực, năng lực và thể lực Nội hàm của quan hệ hợp tác đào tạo, nội dung và các mô hình hợp tác Đề tài rút ra 7 kinh nghiệm từ nghiên cứu các mô hình thực tế để áp dụng cho các đơn vị thành viên của Tập đoàn SOVICO trong quan hệ hợp tác đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao Các kết quả nghiên cứu này một mặt để phân tích thực trạng ở chương 2 và là cơ sở lý luận đề xuất các giải pháp ở chương 3

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH VỚI CÁC

ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN TẬP ĐOÀN SOVICO

2.1 Tổng quan thực trạng nguồn nhân lực trình độ cao của Việt Nam

Năm 2018 dân số nước Việt nam là 94,67 triệu người, tăng 988,4 nghìn người so với năm 2017 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,7 triệu người, trong đó lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc là 54,6 triệu người, bao gồm 20,6 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (37,7%); khu vực công nghiệp và xây dựng 14,6 triệu người (26,7%) và khu vực dịch vụ 19,4 triệu người (35,6%)

Tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước năm 2018 là 2,0%, trong đó khu vực thành thị là 2,95% và khu vực nông thôn là 1,55%

Năng suất lao động của Việt Nam tuy đã có sự cải thiện đáng kể trong các năm qua, nhưng vẫn quá thấp so với Xingapor; Thái Lan; In đô nê xia; Philippine Nguyên nhân chính là tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao còn thấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển kinh tế

- xã hội của nước ta

Sự chênh lệch về trình độ giữa lao động thành thị và lao động nông thôn cũng quá lớn đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế chung của cả nước Đặc biệt, thiếu nhân lực trình độ cao phục vụ cho công tác quản lý cũng như sản xuất kinh doanh, thiếu cán bộ kỹ thuật chuyên môn tốt cho công tác chuyển giao khoa học công nghệ, nên mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công ở cơ sở còn manh mún

Thách thức từ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao

Nếu như ở thời điểm quý II năm 2014, nước ta mới có gần 5,4 triệu lao động trình độ cao, trong đó người có trình độ đào tạo cao đẳng trở lên có khoảng 4,01 triệu người (chiếm khoảng 74,3% lao động trình độ cao) thì 4 năm

Trang 34

sau đó - năm 2018, số lao động có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên đã tăng lên đến 7,2 triệu người, tăng 80% so với cùng kì năm 2014 Trong đó, lực lượng lao động có trình độ đại học trở lên là 5,28 triệu người và cao đẳng là 1,92 triệu người (xem số liệu bảng 2.1)

Bảng 2.1: Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT)

Cùng với sự gia tăng số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao thì sự kiềm chế, giảm phát số lượng người thất nghiệp có trình độ chuyên môn kĩ thuật từ cao đẳng trở lên cũng là một giải pháp được ngành GD - ĐT và cả hệ thống chính trị đã thực hiện tốt trong thời gian qua

Ở thời điểm cuối năm 2015, tổng số lao động thất nghiệp có trình độ chuyên môn kĩ thuật từ trình độ cao đẳng trở lên là 276.600 người (trong tổng

số 1.090.000 người thất nghiệp của cả nước) thì đến quý II năm 2018, con số này chỉ còn 197.700 người (trong tổng số 1.061.500 người), giảm 78.900 người sau gần 3 năm

Đây là những thành tựu đáng kể thể hiện sự quyết tâm, nỗ lực của ngành Giáo dục và hệ thống chính trị trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được thể hiện trong Nghị quyết 29

Trang 35

Tuy nhiên, trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, ngành Giáo dục vẫn đang phải đối mặt với những thách thức lớn như: Tỉ lệ nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kĩ thuật đạt trình độ cao đẳng trở lên so với tổng số lực lượng lao động chưa cao, chỉ chiếm khoảng 13% tổng số lực lượng lao động (Theo Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam quý II/2018)

Một bộ phận nguồn nhân lực có trình độ từ cao đẳng trở lên chưa bắt kịp với nhu cầu, đòi hỏi của xã hội Tỉ lệ thất nghiệp ở lực lượng lao động có trình

độ từ cao đẳng trở lên còn lớn, chiếm khoảng 18,6% tổng số người thất nghiệp

và chiếm 2,74% trong tổng số người có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên (xem bảng số 2.2)

Bảng 2.2: Tỷ lệ thất nghiệp đối với lực lượng có trình độ CMKT cao

Nguồn: Báo cáo giáo dục nghề nghiệp Việt Nam năm 2015, 2016, 2017 và 2018

Để giải quyết được những bất cập này, ngành GD-ĐT cần phải thực hiện một số các giải pháp đồng bộ như: Định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh ngay khi còn học phổ thông Nâng cao chất lượng tuyển sinh đầu và chất lượng đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học Kiểm tra, giám sát chặt chẽ chất lượng đầu ra sinh viên của các cơ sở giáo dục đại học Tăng cường hơn nữa mối liên kết đào tạo giữa các trường đại học với các doanh nghiệp

Và để ngành Giáo dục thực hiện được những giải pháp nêu trên cần có sự chung tay vào cuộc của cả hệ thống chính trị để góp phần thực hiện thành công

Trang 36

các nội dung quan trọng của Nghị quyết 29, trong đó có mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao

Thế mạnh của trường đại học Hòa Bình trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao (cử nhân, thạc sỹ) đồng thời cũng là lĩnh vực kinh doanh quan trọng của SOVICO như hàng không, bất động sản, tài chính, du lịch, chăm sóc sức khỏe SOVICO là một trong những tập đoàn tư nhân có tốc độ phát triển hàng đầu Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực hàng không SOVICO có nhu cầu lớn về nguồn nhân lực trình độ cao có năng lực theo tiêu chuẩn quốc tế, hoạt động đa lĩnh vực từ thiết kế đồ họa cho đến hàng không…Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng cơ cấu ngành nghề và nhóm của các công việc rất đa dạng trong bối cảnh cách mạng cộng nghiệp 4.0 cũng là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển của SOVICO

2.2 Thực trạng phát triển mô hình liên kết hợp tác đào tạo giữa trường đại học với doanh nghiệp ở Việt Nam

Ở nước ta trong thời gian qua, vấn đề liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp vẫn chưa được các chủ thể nhìn nhận thấu đáo và triển khai thực hiện một cách phù hợp Hậu quả rõ nhất là tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng

về cung - cầu nhân lực chất lượng cao

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam ở mức 3,79 điểm, xếp thứ 11 trong số 12 quốc gia được khảo sát tại Châu Á Trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc, chỉ

có khoảng 49% qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề từ 3 tháng trở lên chỉ chiếm 19% Điều này cho thấy Việt Nam đang thiếu lao động có tay nghề cũng như công nhân kỹ thuật bậc cao Các nghiên cứu còn cho thấy, nguồn cung nhân lực đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp sẽ tiếp tục khan hiếm trong thời gian tới Vì thế, các doanh nghiệp sẽ còn cần phải đào tạo lại nếu muốn có nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu Trước tình hình trên, các doanh nghiệp buộc phải liên kết, hợp tác với các cơ sở đào tạo trong tìm kiếm nguồn nhân lực, đặc

Trang 37

Để sinh viên sau khi ra trường đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, đặc biệt là tránh hiện tượng mất cân đối về cung - cầu nhân lực chất lượng cao, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương cũng như cơ chế khuyến khích các trường đại học liên kết với doanh nghiệp ngay từ khâu đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ Một bộ phận doanh nghiệp đã chủ động liên kết với các cơ sở đào tạo để tìm kiếm nhân lực, “đặt hàng” nhân lực chất lượng cao

từ phía cơ sở đào tạo và có những động thái thiết thực để đồng hành cùng nhà trường trong quá trình đào tạo Về phía trường đại học, ngoài việc gắn kết chặt chẽ công tác đào tạo với việc làm, tuyển sinh với tuyển dụng thông qua ký kết hợp tác đào tạo, hội chợ việc làm với các doanh nghiệp… nhiều trường còn thành lập các quỹ học bổng, sân chơi khởi nghiệp nhằm mang đến cơ hội tự tạo việc làm, xây dựng bản lĩnh cho sinh viên của mình Một số trường đại học bước đầu hướng chương trình đào tạo của mình theo nhu cầu của doanh nghiệp bằng cách tham khảo ý kiến doanh nghiệp về chương trình đào tạo của mình, mời các doanh nhân cùng tham gia vào một số chương trình giảng dạy, trao đổi

ý kiến, hướng nghiệp

Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê, đến cuối năm 2017 quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước là 55,2 triệu người, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 76,9% Trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng/chứng chỉ chiếm 21,8% (khoảng 12,02 triệu người), riêng

ĐH và trên ĐH có khoảng 5,373 triệu người, chiếm khoảng 44,7% Số lao động

có việc làm là 54,05 triệu người, nhưng số người làm việc trong lĩnh vực có quan hệ lao động (làm công hưởng lương, phần lớn là trong các DN) có khoảng 23,48 triệu người, chiếm 43,44% Số người lao động trong độ tuổi bị thất nghiệp có khoảng 1.071,2 nghìn người Trong số người thất nghiệp, có 471 nghìn người có chuyên môn kỹ thuật (chiếm 42,43%), nhưng nhiều nhất là ở nhóm có trình độ ĐH trở lên: khoảng 215,3 nghìn người, tuy có giảm 21,7 nghìn người so với quý trước, những vẫn còn cao, chiếm khoảng 45,71% trong tổng số lao động có chuyên môn kỹ thuật bị thất nghiệp Số người có nhu cầu

Trang 38

tìm việc làm là 48,1 nghìn người, tăng 17,2% so với quý trước, trong đó số người có chuyên môn kỹ thuật chiếm 79,8% Trong số này, người có trình độ

ĐH trở lên chiếm 18,3% Trong khi đó, quý 4 năm 2017 chỉ có 169,4 nghìn chỗ làm việc còn trống được các DN đăng ký để tuyển dụng, bao gồm cả nhu cầu tuyển dụng lao động chuyên môn kỹ thuật, trong đó có trình độ ĐH trở lên Tuy nhiên, nhiều ứng viên có trình độ ĐH trở lên không đáp ứng được nhu cầu của

DN Đây là bất cập rất lớn của đào tạo ĐH do chưa theo định hướng cầu của doanh nghiệp

Những năm gần đây, Chính phủ chủ trương phát triển mô hình gắn kết giữa đào tạo ĐH với sử dụng lao động, nhất là gắn kết giữa các trường ĐH với

DN Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, ngày 2-11-2005, của Chính phủ Về đổi mới

cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã đưa ra

quan điểm chỉ đạo, trong đó xác định giáo dục ĐH phải gắn kết chặt chẽ với nhu cầu nhân lực trình độ cao của đất nước và xu thế của khoa học và công nghệ, với mục tiêu đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó, nhu cầu về nguồn nhân lực qua đào tạo ĐH của DN là rất lớn Tuy nhiên, trên thực tế, đào tạo ĐH ở Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của DN Các trường ĐH về cơ bản vẫn theo tư duy cũ là đào tạo trên cơ sở cái mà nhà trường có mà chưa chuyển mạnh sang đào tạo ra sản phẩm là nguồn nhân lực trình độ cao mà DN cần Trong các diễn đàn về kết nối cung - cầu lao động trên thị trường lao động hoặc trên các sàn giao dịch việc làm chính thức, các DN thường đưa ra những nhận định không mấy khả quan rằng, chất lượng sinh viên ra trường hiện nay còn thấp Theo các nhà tuyển dụng, sinh viên tốt nghiệp ĐH không thể chỉ xuất trình bằng cấp ra là được tuyển dụng mà là phải bảo đảm kiến thức chuyên môn và kĩ năng nghề trên thực tế mới là yếu tố chính để có cơ hội việc làm Trong khi đó, phần nhiều sinh viên tốt nghiệp đều không đáp ứng được ngay yêu cầu công việc, nhất là kỹ năng thực hành còn yếu, hoặc thiếu những kiến thức, kỹ năng mềm, khoảng

Trang 39

không đáp ứng được các tiêu chí tuyển dụng của DN Ngay cả các ứng viên được DN tuyển dụng cũng phải đào tạo lại, đào tạo bổ sung tại DN từ 3 đến 6 tháng mới có thể làm việc được, trong đó chủ yếu là cập nhật kỹ thuật và công

nghệ mà DN đang áp dụng Khoảng trống hay nút thắt cơ bản ở đây là về cơ bản các trường ĐH chưa thiết lập và phát triển được mối quan hệ gắn kết bền vững và hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và các DN trong đào tạo ĐH một cách chính thống theo một mô hình lựa chọn tối ưu

Sự tồn tại của nút thắt này có thể lý giải trên các khía cạnh sau:

Về mặt nhận thức, cho đến nay chưa có sự thống nhất về khái niệm, cũng như nội hàm, cấu trúc mô hình gắn kết giữa đào tạo ĐH và DN trong kinh tế thị trường; đồng thời cả trường ĐH và DN cũng chưa có sự đồng điệu về tư duy, nhận thức đầy đủ, đúng, đồng thuận về nhu cầu gắn kết và hợp tác giữa các trường ĐH và DN nên chưa thấy hết tính cấp thiết của sự gắn kết này Hơn nữa, các hoạt động gắn kết vừa qua giữa trường ĐH và DN thường có tính tự phát, thiếu bài bản

Ở tầm vĩ mô, mặc dù đã có chủ trương tăng cường gắn kết giữa trường

ĐH và DN trong đào tạo ĐH, song Nhà nước chưa thể chế hóa mô hình gắn kết này thành cơ chế, chính sách rõ ràng và do đó cũng chưa có hướng dẫn cụ thể nhằm tạo hành lang pháp lý để các trường ĐH và DN thực hiện nên các trường

ĐH khá lúng túng trong triển khai chủ trương thực hiện, dẫn đến “mạnh ai nấy làm”

Vấn đề rất cốt yếu để trường ĐH xây dựng và phát triển mô hình gắn kết giữa đào tạo ĐH với nhu cầu sử dụng của DN là phải trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự trang trải cho nhà trường, nhưng trên thực tế các trường ĐH đang gặp phải những rào cản lớn liên quan đến quản lý vĩ mô, nhất là việc trao cho các trường ĐH được tự chủ về đầu tư, tài chính, tuyển sinh, tiền lương, với nhiều khó khăn, vướng mắc

Trong những năm qua đã xuất hiện một số mô hình gắn kết giữa trường

ĐH và DN khá hiệu quả, đem lại lợi ích cho sinh viên, nhà trường, DN và xã

Ngày đăng: 31/08/2023, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Anh (2017). Giải pháp quản lí hoạt động hợp tác của trường đại học với doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực kĩ thuật điện tử, truyền thông. Tạp chí Giáo dục, số 429, tr 11-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp quản lí hoạt động hợp tác của trường đại học với doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực kĩ thuật điện tử, truyền thông
Tác giả: Nguyễn Đức Anh
Năm: 2017
2. Hoàng Phương Bắc - Trường Đại học Thái Bình, Một số giải pháp tăng cường đào tạo gắn với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình, Tạp chí Giáo dục số đặc biệt 6/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp tăng cường đào tạo gắn với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình
5. TS. Nguyễn Hữu Dũng, (2018), Mô hình gắn kết giữa trường Đại học với doanh nghiệp trong đào tạo đại học ở nước ta, Tạp chí Cộng sản 10/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình gắn kết giữa trường Đại học với doanh nghiệp trong đào tạo đại học ở nước ta
Tác giả: TS. Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2018
6. Trần Khánh Đức (2014). Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
7. Trần Kiểm (2017). Quản lí và lãnh đạo nhà trường hiệu quả. NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí và lãnh đạo nhà trường hiệu quả
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2017
8. Phan Văn Kha (2006). Các giải pháp tăng cường mối liên hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực có trình độ Trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam. Đề tài mã số B-2003 52-TĐ50, Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp tăng cường mối liên hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực có trình độ Trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Kha
Năm: 2006
10. Nguyễn Hữu Lộc - Phạm Công Bằng - Lê Ngọc Quỳnh Lam (2014). Chương trình đào tạo tích hợp từ thiết kế đến vận hành. NXB Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình đào tạo tích hợp từ thiết kế đến vận hành
Tác giả: Nguyễn Hữu Lộc - Phạm Công Bằng - Lê Ngọc Quỳnh Lam
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2014
13. Nguyễn Thị Thu Phương - Ngô Thị Tân Hương (2018). Thực trạng công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.Tạp chí Giáo dục, số 423, tr 4-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Phương - Ngô Thị Tân Hương
Năm: 2018
14. Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị nhân lực
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2012
15. Nguyễn Trọng Sơn (2016). Cơ sở khoa học về quản lí đào tạo nghề theo hướng chuẩn đầu ra đáp ứng nhu cầu nhân lực. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 5, tr 86-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học về quản lí đào tạo nghề theo hướng chuẩn đầu ra đáp ứng nhu cầu nhân lực
Tác giả: Nguyễn Trọng Sơn
Năm: 2016
16. Trần Anh Tài, Viện Đào tạo SĐH, Liên kết nhà trường với doanh nghiệp, kinh nghiệm của trường Đại học Đại Nam, ĐH Đainam.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết nhà trường với doanh nghiệp, kinh nghiệm của trường Đại học Đại Nam
18. Nguyễn Ngọc Trang (2018). Vận dụng mô hình CIPO để đổi mới trong quản lí hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm đào tạo đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Tạp chí Giáo dục, số 429, tr 11-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng mô hình CIPO để đổi mới trong quản lí hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm đào tạo đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
Tác giả: Nguyễn Ngọc Trang
Năm: 2018
21. Nguyễn Ngọc Oanh Vũ (2018), Bốn “trụ cột” làm nên một nhân tài thời 4.0, https://Doanhnhansaigon.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn “trụ cột” làm nên một nhân tài thời 4.0
Tác giả: Nguyễn Ngọc Oanh Vũ
Năm: 2018
3. Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Khác
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2008). Báo cáo tổng quan dạy nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp thời gian qua - Định hướng, giải pháp cho những năm tới Khác
9. Lê Thị Mỹ Linh (2009), Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế, Luận án Tiến sỹ, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Khác
11. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, ngày 2-11-2005, của Chính phủ Về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 Khác
12. Nghị quyết số 100/NQ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021 Khác
17. Thông tư số 29/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 15/12/2017 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Quy định về liên kết tổ chức thực hiện chương trình đào tạo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w