Tuy nhiên, để xem xét du lịch một cách toàn diện cần phải hiểu được bản chất đầy đủ của các chủ thể tham gia vào du lịch như: khách du lịch, các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm du lịch nh
Trang 10
UBND tØnh L©m §ång
Së du lÞch - Th•¬ng m¹i -
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH
-
BÁO CÁO TỔNG HỢP
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC (LÝ LUẬN & THỰC TIỄN) VỀ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH ĐỂ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN TUYẾN
Hà Nội, tháng 01 -2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH -
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC (LÝ LUẬN & THỰC TIỄN) VỀ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH ĐỂ XÂY DỰNG GIÁO TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH CỦA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH
Đơn vị thực hiện: Khoa QTKD Chủ nhiệm: Th.S Lưu Công Thường Thành viên tham gia: Th.S Nguyễn Thị Lý
Hà Nội, tháng 01 - 2020
Trang 3MỤC LỤC
Phần mở đầu
Sự cần thiết nghiên cứu đề tài tuyến điểm du lịch để xây dựng
giáo trình giảng dạy môn tuyến điểm du lịch
1
Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến đề tài 6
Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 7
Chương thứ nhất Cơ sở lý luận về điểm, tuyến du lịch
2.3 Các yếu tố cơ bản của một điểm đến du lịch 17
2.6 Hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận điểm du lịch 20 2.7 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân quản lý điểm du
3.2.Điều kiện để được công nhận là tuyến du lịch 25
3.4 Quản lý tuyến du lịch
3.5 Mối quan hệ tuyến và chương trình du lịch
4 Khu du lịch
4.1 Khái niệm
4.2 Điều kiện công nhận khu du lịch
4.3 Thủ tục hồ sơ, tình tự, thẩm quyền công nhận khu du lịch
Trang 42 Xây dựng các vùng, khu, tuyến điểm du lịch 40
2.2 Vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc 43
Chương thứ ba: Đề xuất chương trình giảng dạy môn tuyến
2 Dự kiến kết cấu giáo trình gồm 8 chương cơ bản 67 Chương 1: Tổng quan chung về du lịch có liên quan đến xây
dựng tuyến điểm du lịch
67
Chương 4: Cơ sở lý luận về tuyến, chương trình du lịch 68
Trang 5Phụ lục mẫu phiếu tham khảo đánh giá chất lượng khu , điểm 72
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài tuyến điểm du lịch để xây dựng giáo trình giảng dạy môn tuyến điểm du lịch
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, nền kinh
tế Việt Nam luôn luôn duy trì mức tăng trưởng khá cao, trong đó có sự đóng góp nổi bật của ngành Du lịch Sự phát triển của ngành Du lịch đã và đang góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu tại chỗ; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, ở đâu phát triển Du lịch, ở đó đời sống của cộng đồng dân
cư được cải thiện, trình độ dân trí được nâng cao, góp phần quan trọng vào xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của nhân dân; Du lịch đã làm thay đổi diện mạo đô thị và nông thôn; đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam
Xác định Du lịch là một trong ngành kinh tế quan trọng của đất nước, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành và toàn xã hội phát huy tiềm năng và thế mạnh của đất nước để đẩy mạnh và phát triển Du lịch Ngành Du lịch Việt Nam tập trung thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về Du lịch với việc thực hiện Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; tiếp tục triển khai Chương trình Hành động và Chương trình Xúc tiến Du lịch Quốc gia; ngành Du lịch đã tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh phát triển Du lịch trong giai đoạn mới Nhiều chủ trương, chính sách mới được ban hành mang tính đột phá, vừa giải quyết các vấn đề cấp bách trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài Trong đó, Nghị quyết
số 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 của Chính phủ về “Một số giải pháp phát triển Du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới” Đây là chủ trương có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với ngành Du lịch Việt Nam, gồm 5 nhóm giải pháp toàn diện có tính đột phá để Du lịch Việt Nam huy động và kết nối các nguồn lực, vượt qua khó khăn, nâng cao năng lực cạnh tranh Nổi bật, là các Nghị quyết số 39/NQ-CP và Nghị quyết số 46/NQ-CP về việc miễn thị thực có thời hạn đối với công dân 6 quốc gia: Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha và Belarus Ngày 2/7/2015 Thủ
Trang 7tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch
Ngày 24/9/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2015/NĐ-CP quy định về việc miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam Bên cạnh đó, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Chính phủ xem xét các vấn đề then chốt nhằm tháo gỡ khó khăn để đẩy mạnh phát triển Du lịch trong giai đoạn hiện nay: Thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển Du lịch Việt Nam; Đề xuất chính sách giảm thuế sử dụng đất và tiền thuê đất đối với các cơ sở lưu trú, khu Du lịch sử dụng nhiều diện tích đất cho không gian, cảnh quan; Xây dựng dự thảo Luật Du lịch(sửa đổi);
Đề xuất các chính sách để tăng cường hiệu quả quảng bá, xúc tiến Du lịch, xây dựng sản phẩm mới và nâng cao năng lực cạnh tranh; Đề xuất phương án miễn thị thực cho công dân một số quốc gia đến Việt Nam Du lịch qua chương trình
Du lịch trọn gói cho các Doanh nghiệp lữ hành quốc tế tổ chức; Xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp hạng điểm đến Du lịch
Với sự quan tâm đặc biệt và chỉ đạo sát sao của Đảng, đồng thời tạo ra cơ
sở phát lý quan trọng trong việc xác định vị trí ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân, Đảng đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 16/1/2017 của Bộ Chính trị về “phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” Với quan điểm và mục tiêu là:
Quan điểm
Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, nhưng không nhất thiết địa phương nào cũng xác định
du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn
Phát triển du lịch thực sự là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả, có thương hiệu và khả năng cạnh tranh cao; xã hội hóa cao và có nội dung văn hóa sâu sắc; tăng cường liên kết trong nước và quốc tế, chú trọng liên kết giữa ngành Du lịch với các ngành, lĩnh vực khác trong chuỗi giá trị hình thành nên các sản phẩm du lịch
Trang 8Phát triển đồng thời cả du lịch quốc tế và du lịch nội địa; tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân và du khách quốc tế tham quan, tìm hiểu, khám phá cảnh quan, di sản thiên nhiên và văn hóa của đất nước; tôn trọng và đối xử bình đẳng đối với khách du lịch từ tất cả các thị trường
Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ môi trường và thiên nhiên; giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội
Phát triển du lịch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, của toàn xã hội, có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; tập trung nguồn lực quốc gia cho phát triển
du lịch
Mục tiêu
Đến năm 2020, ngành Du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực Thu hút được 17 - 20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 82 triệu lượt khách du lịch nội địa; đóng góp trên 10% GDP, tổng thu từ khách du lịch đạt 35 tỉ USD; giá trị xuất khẩu thông qua du lịch đạt 20 tỉ USD; tạo ra 4 triệu việc làm, trong đó có 1,6 triệu việc làm trực tiếp
Phấn đấu đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác Việt Nam thuộc nhóm các nước có ngành Du lịch phát triển hàng đầu khu vực Đông Nam Á
Cùng với quan điểm mục tiêu, Nghị quyết đã đưa các giải pháp tổ chức thực hiện để sớm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Trong nghiệp vụ phát triển du lịch, việc xác định tuyến điểm du lịch để thu hút khách du lịch có vai trò quan trọng đặc biệt Vì vậy, việc xây dựng cơ sở khoa học về lý luận và thực tiễn tuyến điểm du lịch để trang bị nghiệp vụ
Trang 9chuyên ngành du lịch cho sinh viên cũng như cán bộ, công nhân viên chức trong ngành du lịch là việc làm cần thiết
Năm 2017, Trường Đại học Hòa Bình được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp
mã ngành cho việc thành lập Khoa Quản trị và Du lịch và tổ chức tuyển sinh; Trường cũng đã thành lập Bộ môn du lịch và lữ hành Cho đến nay, Trường đã tuyển được trên 20 sinh viên học chuyên ngành du lịch Trong chương trình đào tạo của Trường Đại học Hòa Bình đã đưa môn học tuyến điểm du lịch vào giảng dạy chính thức Vì vậy, việc biên soạn giáo trình môn học tuyến điểm du lịch là việc cần thiết phục vụ cho công tác đào tạo của Khoa và bộ môn du lịch
2 Cơ sở pháp lý nghiên cứu đề tài
2.1 Cơ sở pháp lý:
- Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 321/QĐ-TTg ngày 18/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch giai đoạn 2020;
2013 Chỉ thị số 18/CT2013 TTg ngày 04/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, đảm bảo an ninh, an toàn cho du khách;
- Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 08/12/2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới;
- Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 02/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch
Trang 10- Thông báo của Trường Đại học Hòa Bình về việc tham gia đăng ký đề tài năm 2018-2019
- Quyết định phê duyệt đề cương và hợp đồng về đề tài: Nghiên cứu cơ sở khoa học về tuyến điểm du lịch để xây dựng giáo trình môn học “Tuyến điểm
du lịch” thuộc chuyên ngành du lịch-Khoa QTKD&DL của Đại học Hòa Bình
2.2 Cơ sở thực tiễn:
Thực trạng phát triển các điểm đến du lịch là các khu du lịch, các điểm du lịch trên cả nước, nhu cầu đánh giá, phân loại để có cơ sở khuyến khích đầu tư, tăng cường quản lý có hiệu quả các điểm đến, dần dần định vị thương hiệu điểm đến du lịch Việt Nam
3 Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến đề tài
3.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
- Sách Tuyến điểm du lịch Việt Nam của tác giả Bùi Thị Hải Yến của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam năm 2005, nội dung cuốn sách đi sau vào các nội dung
về cơ sở thực tiễn về điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, tuyến điểm du lịch các vùng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Bộ Nội dung cuốn sách không đi vào cơ
sở lý luận ; nội dung về cơ sở thực tiễn trong sách đối chiếu với các quy định hiện nay thì không phù hợp về chia vùng (nay có 7 vùng), các tuyến, điểm không đúng với thực tế
- Đề tài nghiên cứu khoa học về Cơ sở lý luận về tuyến điểm du lịch do TS Phạm Trung Lương thực hiện tại Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch năm 1995 Công trình đã đưa ra khái quát về cơ sở lý luận tuyến điểm du lịch ; nội hàm của tuyến điểm và đề xuất các mô hình tuyến điểm du lịch Việt Nam Tuy nhiên, đây là thời kỳ đầu của phát triển du lịch bước sang cơ chế thị trường nên cơ sở
lý luận trên vẫn mang tính chủ quan của chủ nhiệm nên việc định hướng tuyến điểm du lịch có một số nội dung không phù hợp với thực tế nhiều năm qua
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Xây dựng tiêu chí tuyến điểm du lịch do CN Nguyễn Thăng Long thực hiện tại Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch năm 2005 ; công trình đã hệ thống hóa về khu tuyến điểm, xây dựng các tiêu chí để đánh giá chất lượng khu tuyến điểm Tuy nhiên, cơ sở xây dựng thang điểm chưa rõ về mặt cơ
sở lý luận
Trang 11- Luận văn thạc sĩ cao học về xây dựng hình ảnh điểm đến du lịch Huế, được bảo vệ tại Khoa kinh tế- Đại học Huế năm 2017 Nội dung luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về hình ảnh điểm điểm, đề xuất một số giải pháp cải thiện hình ảnh điểm đến Luận văn có thể tham khảo
- Báo cáo khoa học : Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch, đề xuất năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch du lịch tỉnh Bạc Liệu ; tác giả Nguyễn Thanh Sang
và Nguyễn Phú Song-Đại học Cần Thơ Nội dung nghiên cứu đề xuất một mô hình cấu trúc để đolường các thuộc tính về năng lực cạnh tranh (NLCT) của một điểm đến du lịch
- Luận văn thạc sĩ Ngô Minh Huệ bảo vệ tại Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn – năm 2015 với đề tài Nghiên cứu hoạt động quản lý điểm đến du lịch tỉnh Ninh Bình” Công trình đã đánh giá thực trạng hoạt động quản lý điểm đến tỉnh Ninh Bình và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và làm cho công tác này đạt hiệu quả cao hơn
- Báo cáo khoa học : Phân tích các yếu tố của điểm đến du lịch tác động đến ý định trở lại của khách tại TP Cần Thơ của Huỳnh Nhựt Phương và Nguyễn Thúy- Trường Đại học Kinh Tế, Đại học Cần Thơ Nội dung báo cáo đánh giá
về các tuyến điểm trên địa bàn và xây dựng các giải pháp phát triển và nâng cao năng lực tuyến điểm
3.2 Nghiên cứu xây dựng Luật du lịch có liên quan đến xây dựng tuyến, điểm
Tất cả các công trình nghiên cứu trên là cơ sở để chủ nhiệm đề tài tổng hợp, lựa chọn làm tài liệu tham khảo phục vụ cho các nội dung nghiên cứu của
Trang 12đề tài và lựa chọn xây dựng nội dung chương trình giảng dạy bộ môn du lịch sinh thái của Trường Đại học Hòa Bình
4 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
4.1 Mục tiêu:
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về tuyến
điểm du lịch để xây dựng giáo trình môn học “Tuyến điểm du lịch” thuộc chuyên ngành du lịch-Khoa QTKD&DL của Đại học Hòa Bình
- Mục tiêu cụ thể:
Tổng quan chung về cơ sở lý luận về du lịch, tuyến điểm du lịch
Đề xuất bố cục chương trình và giáo trình giảng dạy môn “Tuyến điểm du lịch” phù hợp với đặc điểm chương trình đào tạo của Trường Đại học Hòa Bình
4.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu lý thuyết, kinh nghiệm của các nước trên thế giới về du lịch, tuyến điểm du lịch
Xây dựng cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) về tuyến điểm du lịch
Từ đó xác định các tiêu chí khung cho chương trình đào tạo môn nghiệp
vụ chuyên ngành du lịch: tuyến điểm du lịch; tiến tới xây dựng giáo trình đào tạo chính thức môn tuyến điểm du lịch cho sinh viên ngành du lịch của Trường Đại học Hòa Bình
5 Đối tượng, phạm vi của đề tài:
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống cơ sở lý luận về tuyến điểm du lịch Việt
Nam theo hướng phục vụ xây dựng chương trình giảng dạy cho sinh viên trường
tư thực có yếu tố hướng nghiệp
5.2 Phạm vi nghiên cứu: Chọn lọc và hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn
một số mô hình về tuyến điểm du lịch Việt Nam
6 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
6.1 Cách tiếp cận: Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu sẽ
tiếp cận theo những hướng hệ thống hóa cơ sở lý luận
Cách tiếp cận qua tổng kết thực tiễn: Khảo sát tại thực địa một số điểm du lịch dựa trên điều kiện thời gian và kinh phí cho phép tại các vùng lân cận
Trang 136.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: Đề tài sử dụng các phương
pháp truyền thống như:
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi với một số nhà nghiên cứu, cán bộ có
kinh nghiệm trong ngành du lịch
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: Để tham khảo và tổng kết bài học kinh
nghiệm trong nước và trên thế giới về tuyến điểm du lịch để xây dựng cơ sở lý
luận về tuyến điểm du lịch
- Phương pháp mô tả, phân tích, tổng hợp tài liệu đã công bố: Phân tích
lựa chọn cơ sở lý luận từ các công trình đã nghiên cứu về tuyến điểm du lịch Ngoài ra, nhóm nghiên cứu đề tài sẽ áp dụng một số phương pháp bổ sung khác
như hội thảo chuyên gia, tọa đàm, thảo luận nhóm, phương pháp quan sát khoa
học, khảo sát thực tế tại địa phương
7 Bố cục đề tài nghiên cứu
Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận về tuyến điểm trong du lịch
Phần thứ hai: Nghiên cứu khu, tuyến điểm du lịch Việt Nam
Phần thứ ba: Đề xuất bố cục chương trình giảng dạy môn tuyến
điểm du lịch
Trang 14Chương thứ nhất
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỂM, TUYẾN DU LỊCH
1 Tổng quan về du lịch
1.1 Khái niệm du lịch, các yếu tố hình thành và phát triển du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế được rất nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, học thuật đưa ra các quan điểm khác nhau dựa trên cách tiếp cận khác nhau mà có lý giải là khác nhau về du lịch
Tổ chức Du lịch Thế giới WTO (1980), đưa ra khái niệm: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư” Hangiker and Krapf (2004) cho rằng “Du lịch là Tổng hợp các hiện tượng
và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương – những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất
cứ hoạt động kiếm tiền nào” Trong khi đó, Mill and Morrison (1985) cho rằng
“Du lịch là hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới một nước, hay ranh giới một vùng, một khu vực để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm”
Trong thực tiễn, khi nói đến du lịch đa số hiểu rằng đó là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người ở một nơi khác để nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thỏa
mãn các nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, giao lưu tình cảm, công việc
Ngoài ra, du lịch được hiểu là tập hợp các hoạt động kinh doanh nhằm giúp việc thực hiện các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người, thông qua việc
tổ chức phục vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, hướng dẫn, tham quan, Tất cả những hoạt động trên tạo nên ngành kinh doanh du lịch
Có nhiều cách tiếp cận và giải thích, trong đó cách tiếp cận và giải thích phổ biến là giải thích dưới góc độ là một hiện tượng và hoạt động thuộc nhu cầu của
Trang 15khách du lịch Tuy nhiên, để xem xét du lịch một cách toàn diện cần phải hiểu được bản chất đầy đủ của các chủ thể tham gia vào du lịch như: khách du lịch, các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm du lịch như: hàng hóa và dịch vụ, chính quyền sở tại, dân cư địa phương,…
Tóm lại du lịch được định nghĩa là: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác
+ Phân loại theo điểm đi và đến
✓ Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam
✓ Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch
✓ Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài
+ Phân loại theo mục đích của khách
✓ Du lịch tham quan: là một hình thức du lịch của con người để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh Đối tượng tham quan có thể là một dạng tài nguyên du lịch thiên nhiên hoặc tài nguyên du lịch nhân văn, hay các viện nghiên cứu khoa học,…
✓ Du lịch nghỉ dưỡng: mục đích nghỉ ngơi giảm căng thẳng, phục hồi sức khỏe của du khách đôi khi chỉ đơn giản là muốn gần với thiên nhiên và thay đổi môi trường sống hàng ngày Địa điểm nghỉ dưỡng thường là nơi có không khí trong lành, khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp như bãi biển, vùng
Trang 16núi, nông thôn,…
✓ Du lịch khám phá: có thể chia thành du lịch tìm hiểu và du lịch mạo hiểm
Du lịch tìm hiểu về thiên nhiên, môi trường, lịch sử, phong tục, tập quán,…Và du lịch mạo hiểm dựa trên nhu cầu thể hiện mình, tự khám phá bản thân,… là những loại hình như: leo núi, các thác nước, hang động, các cánh rừng với môi trường hoang dã,…
✓ Du lịch sinh thái: là loại hình du lịch về thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia của cộng đồng địa phương
✓ Du lịch văn hóa: Đây là loại du lịch lôi cuốn sự di chuyển của con người từ khu vực mà họ sinh sống thường ngày đến với các điểm hấp dẫn văn hóa, với mục đích thu thập thông tin và trải nghiệm mới để đáp ứng nhu cầu văn hóa của họ Nói chung, nó giúp du khách có những trải nghiệm về các nền văn hóa và giá trị truyền thống khác nhau Mục đích du lịch thường bao gồm cả việc tham dự vào các lễ hội văn hóa
✓ Du lịch y tế: Loại hình du lịch này bao gồm những người đi du lịch vì mục đích chữa bệnh hoặc làm đẹp Và kết hợp với điểm đến thường là những khu suối nước nóng, những nơi có khí hậu trong lành để hồi phục sức khỏe
✓ Du lịch lễ hội và các sự kiện đặc biệt: là loại hình du khách tham gia vào các hoạt động lễ hội của các điểm họ đến như các lễ hội festival, các sự kiện thể thao mang tầm quốc tế như World cup, Olympic,…
✓ Du lịch kinh doanh: Loại hình du lịch này bao gồm khách đi du lịch với mục đích chính là phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, tham dự các cuộc họp, hội nghị và triển lãm Hơn nữa, một ví dụ khác là khi các công ty tổ chức cho nhân viên đi nghỉ để thưởng cho những thành tích của họ
✓ Thăm hỏi bạn bè và người thân: Du khách đi du lịch với mục đích chính là thăm hỏi bạn bè và người thân Mục đích của chuyến đi có thể là để tham dự đám cưới, lễ kỷ niệm sinh nhật hoặc mừng thọ
✓ Du lịch tín ngưỡng, tâm linh là một phần của du lịch văn hóa Nó được định nghĩa là du lịch hành hương, chuyến hành hương đến những nơi linh thiêng hoặc các di tích văn hóa,…
Trang 17✓ Du lịch ẩm thực: Mục đích chính của loại hình du lịch này là trải nghiệm các loại đồ ăn thức uống khác nhau
✓ Du lịch giáo dục: Du khách đi du lịch với mục đích chính là giáo dục, để nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn, như: tham gia vào các buổi hội thảo, các chuyến tham quan học tập hay các khóa đào tạo,…
✓ Du lịch MICE (Meeting – Incentive – Conference – Event): là loại hình du lịch kết hợp giữa mục đích đi dự hội nghị, hội thảo, triển lãm, tham gia các
sự kiện kết hợp với việc sử dụng các dịch vụ du lịch và tham quan
+ Theo đặc điểm địa lý
✓ Du lịch miền biển: nhu cầu của du khách là tìm về với thiên nhiên, tham gia các hoạt động du lịch biển và các trò chơi trên biển (lặn, lướt ván, lái cano, nhảy dù, bóng chuyền bãi biển,…)
✓ Du lịch miền núi: là loại hình du lịch đáp ứng nhu cầu du lịch của khách về tham quan các thắng cảnh, các hoạt động thể thao và nhu cầu nghỉ dưỡng của du khách
✓ Du lịch đô thị: du khách chủ yếu tham quan các công trình kiến trúc mỹ thuật, các di tích lịch sử - văn hóa, bảo tàng, hoạt động nghệ thuật (hát bội, chèo, cải lương,…), các lễ hội và sự kiện đặc biệt,… Mặt khác, đô thị cũng
là trung tâm thương mại, có nhiều điểm vui chơi giải trí
1.2.2 Tài nguyên du lịch
- Khái niệm là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm
cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa
- Phân loại tài nguyên du lịch
✓ Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên kháccó thể đượcsử dụng cho mục đích du lịch
✓ Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân
Trang 18gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người
có thể được sử dụng cho mục đích du lịch
1.2.3 Sản phẩm du lịch
- Khái niệm là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch
để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ
sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay địa phương nào đó
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và
vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ
và tiện nghi phục vụ khách du lịch hay là sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch
- Các đặc tính của sản phẩm du lịch là:
✓ Tính vô hình : Sản phẩm DL thường là một kinh nghiệm nên rất dễ dàng bị sao chép, bắt chước và việc làm khác biệt hóa sản phẩm manh tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hoá
✓ Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng : Vì sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch, nên khách thường mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm
✓ Không đồng nhất Khách du lịch khó có thể kiểm tra chất lượng trưa khi tiêu dùng sản phẩm hoặc chọn sản phẩm
✓ Sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau Khách du lịch khi tiêu dùng sản phẩm du lịch nên ít trung thành với đơn vị cung cấp sản phẩm Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ
✓ Sản phẩm du lịch mang tính đại chúng: Không chỉ có các đơn vị du lịch cung cấp mà còn có các đơn vị khác cung cấp
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và
vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ
Trang 19và tiện nghi phục vụ khách du lịch hay là sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ du lịch và hàng hóa du lịch
1.2.4 Chính quyền địa phương
- Khái niệm là một tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước ở một cấp nào đó Trong góc độ nào đó, chính quyền được hiểu là cơ cơ quan ban hành các cơ chế, chính sách, thể chế, quy định, nội quy… và tổ chức thực hiện các quy định đó
Chính quyền có thể phân thành nhiều cấp khác nhau, trong đó có chính quyền trung ương và chính quyền các cấp; chính quyền cấp dưới thực thi, thi hành và triển khai các quyết định cấp trên
- Chính quyền trong du lịch Chính quyền trong du lịch có tác động rất lớn đến phát triển du lịch thông qua quan điểm, chính sách và môi trường đối với phát triển du lịch
Phân loại chính quyền trong du lịch gồm: Các đơn vị quản lý nhà nước về
du lịch, ở cơ quan trung ương có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch; các địa phương có Sở Du lịch hoặc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, các Phòng Văn hóa&Thông tin tại các quận huyện Các đơn vị khác có liên quan quản lý nhà nước chuyên ngành như: Tài nguyên& Môi trường, Xây dựng, Công an…
1.2.5 Cộng đồng dân cư trong du lịch
- Khái niệm là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung
Cộng đồng trong du lịch là tổng hợp các yếu tố tạo nên và ảnh hưởng đến phát triển du lịch, bao gồm: cơ cấu vị trí địa lý và tộc người, tài nguyên tự nhiên
và văn hóa khu vực, văn hóa, cuộc sống sinh hoạt, hoạt động sản xuất, được hình thành trên cơ sở các nhân hay các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể
- Các yếu tố chính của cộng đồng tác động đến du lịch
✓ Tiềm năng tài nguyên du lịch trên địa bàn, trong đó có tài nguyên văn hóa
✓ Sản phẩm dịch vụ du lịch gắn liền với cộng đồng cung cấp
✓ Văn hóa ứng xử và môi trường, an ninh, tật tự khu vực
Trang 202 Tổng quan về điểm du lịch
2.1 Khái niệm về điểm du lịch
Hiện tại, tùy vào góc độ nghiên cứu hay quản lý, các nhà khoa học, các nhà quản lý đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về điểm đến du lịch Các chuyên gia
về quản lý điểm đến của Tổ chức Du lịch thế giới định nghĩa: “Điểm đến du lịch hay là điểm du lịch là một không gian vật chất mà du khách lưu trú lại ít nhất một đêm Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày Nó có các giới hạn vật chất
và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường.”
Điểm du lịch đến có thể hiểu đơn giản là các khu, điểm du lịch, những đô thị, vùng quê, miền núi
Như vậy, điểm du lịch vừa mang yếu tố hẹp như tại một điểm tài nguyên
du lịch nào đó có tính hấp dẫn cao mà thu hút khách du lịch đến tham quan; theo nghĩa rộng điểm đến khu vực, quốc gia hay lãnh thổ mang tính chất đặc trưng cho các yếu tố tài nguyên nổi trội được liên kết khai thác phụ vụ khách du lịch
Theo khái niệm của Luật du lịch - 2017 Điểm du lịch là nơi có tài nguyên
du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch
Từ các khái niệm trên có thể đưa ra khái niệm mang tính chất khoa học của đề tài là: Điểm du lịch (Tourism destination) được dùng để chỉ một địa điểm (place) có tiềm năng tài nguyên du lịch hấp dẫn thu hút được nhiều khách du khách khác biệt cao hơn so với địa điểm cùng cấp với, nơi đó có chất lượng sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu khách du lịch
2.2 Đặc điểm chung của điểm du lịch
2.2.1 Tính hấp dẫn thu hút khách du lịch
Tính hấp dẫn là một trong những yếu tố quan trọng để xây dựng hình ảnh của điểm du lịch Theo các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố tạo nên tính hấp dẫn của điểm đến du lịch bao gồm: sự hấp dẫn; các tiện nghi; cơ sở hạ tầng,
cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ vận chuyển; dịch vụ khách sạn…là điều kiện đủ
để tăng tính hấp dẫn của điểm đến du lịch
Trang 21Hay có thể phân chia các nhân tố tạo nên tính hấp dẫn của điểm đến du lịch bao gồm: cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội, kiến trúc, phong cảnh thiên nhiên, khí hậu, di tích lịch sử; các loại hình nghệ thuật, phong tục tập quán v.v Nhân tố tâm lý xã hội tại điểm đến du lịch đó là sự hiếu khách và tính thân thiện của cộng đồng dân cư sở tại, các sự kiện văn hóa, cuộc sống ban đêm
và vui chơi giải trí, tính mới lạ của điểm đến du lịch, khả năng tiếp cận, các món
ăn và sự yên tĩnh, môi trường chính trị, xã hội và giá cả;
Tính hấp dẫn của điểm đến du lịch được thể hiện ở khả năng đáp ứng được nhiều loại hình du lịch có sức thu hút khách du lịch cao và có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch đi tới điểm du lịch với nguyên tắc: “Dễ dàng, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiện nghi”
Tính hấp dẫn của điểm du lịch còn phụ thuộc vào các nhân tố chính trị, kinh tế và xã hội tại điểm du lịch như : vấn đề an ninh, an toàn cho khách, nhận thức cộng đồng dân cư về phục vụ khách, các cơ chế, chính sách đối với khách
du lịch và các doanh nghiệp du lịch v.v
Tính hấp dẫn du lịch là lực hút giữa điểm đến du lịch và điểm cấp khách(nơi có khách du lịch tiềm năng) đây là yếu tố quan trọng nhất Lực hút(sức thu hút) này bao gồm: sự phù hợp của tài nguyên cho các hoạt động du lịch; cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch; sức chứa; sự phát triển các loại dịch vụ phục vụ khách tại điểm đến du lịch; sự đa dạng, độc đáo của tài nguyên để tổ chức các loại hình du lịch v.v Tất cả những giá trị đó sẽ tạo nên sức thu hút đối với khách du lịch và các nhà kinh doanh du lịch tại các điểm đến du lịch
Để đánh giá tính hấp dẫn của các điểm đến du lịch, người ta thường sử dụng hai phương pháp cơ bản, đó là đánh giá theo các chỉ tiêu định lượng và theo các chỉ tiêu định tính
+ Theo định lượng Có thể đánh giá sự hấp dẫn của điểm đến du lịch đó dựa vào các chỉ tiêu cơ bán như: các chỉ tiêu có liên quan đến khách du lịch đến tham quan trong thời gian nhất định ( ngày lưu lại, chi tiêu…); cơ sở dịch vụ tại điểm đến; hiệu quả du lịch mang lại
Trang 22+ Theo định tính: Đánh giá điểm du lịch có hấp dẫn hay không hấp dẫn còn phụ thuộc vào các yếu tố định tính là: mức độ hài lòng hay không hài lòng của khách; sự trung thành của khách (khách quay trở lại điểm đến du lịch)
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và các tiện nghi phục vụ khách Đó là khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản của khách du lịch về chất lượng và sự hài hòa
2.2.2.Tính đa dạng Tại khu vực đó có nhiều loại tài nguyên du lịch khác nhau,
cấp độ khác nhau; các sản phẩm du lịch thường phục vụ cho cả dân cư địa phương và khách thăm quan Tính đa dạng của điểm đến phụ thuộc vào sự phân biệt loại các tiện nghi chỉ phụ vụ khách du lịch, dân cư địa phương hay hỗn hợp
cả hai đối tượng trên
2.2.3 Tính bổ xung Thực tế cho thấy hỗn hợp các yếu tố cấu thành điểm đến có
mối quan hệ mật thiết với nhau ở hầu hết cá điểm đến du lịch Chất lượng của mỗi yếu tố này và sự cung cấp dịch vụ của chúng cần có sự tương đồng với nhau một cách hợp lý
2.2.4 Tính nhạy cảm Điểm du lịch rất nhạy cảm với tính thời sự, chính trị, nhạy
cảm về tính hấp dẫn tài nguyên du lịch và chất lượng dịch vụ Mọi sự thay đổi các yếu tố trên đều tác động đến hình thành và biến mất của điểm tài nguyên
2.2.5 Tính phụ thuộc Điểm du lịch phụ thuộc vào công nhận khách quan của
khách du lịch và chủ quan công nhận của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch của các cấp
2.2.6 Tính thuận lợi cho khách du lịch tiếp cận điểm đến
Một điểm đến du lịch có thể có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được vì việc tiếp cận điểm đến đó hết sức khó khăn Vấn đề tiếp cận điểm đến du lịch thuận lợi phụ thuộc vào những yếu tố sau: + Khoảng cách giữa điểm đến du lịch và nguồn khách (hay giữa điểm đi và điểm đến) là một trong những yếu tố về khả năng tiếp cận Điều này chỉ thuận lợi khi có mạng lưới các phương tiện giao thông vận chuyển khách đa dạng, thuận tiện, dễ dàng, an toàn và nhanh chóng.Đó là mạng lưới của các hãng hàng không, mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường biển
+ Nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại điểm đến du lịch
Trang 23Nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại điểm đến du lịch đóng một vai trò quyết định cho sự phát triển điểm đến bao gồm trực tiếp phục vụ khách là cán
bộ nhân viên du lịch và gián tiếp phục vụ cũng như cộng đồng dân cư điểm đến + Tuyên truyền, quảng cáo và xây dựng hình ảnh của điểm đến du lịch Để tạo
ra hình ảnh của một điểm đến người ta sử dụng các hình thức tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến đa dạng như: các phương tiện truyền thông, trên các trang Web, tham gia các hội chợ, mời các nhà báo, nhà văn viết về điểm đến v.v + Giá cả là một vấn đề quan trọng trong cạnh tranh của điểm đến với các điểm đến khác Giá cả bao gồm các yếu tố liên quan đến chi phí vận chuyển đến và
đi từ các điểm đến và các chi phí khác Để khách sẽ có sự so sánh về giá cả giữa các điểm đến du lịch trước khi họ quyết định đi du lịch
2.3 Các yếu tố cơ bản của một điểm đến du lịch
Điểm đến bao gồm một số các yếu tố cơ bản thu hút du khách và thỏa mãn những nhu cầu của họ tại điểm đến Những yếu tố cơ bản có thể chia thành những điểm du lịch (những điều cần xem và những điều cần làm) và những yếu
tố khác Khả năng cung cấp và chất lượng của những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định đi du lịch của du khách
Các yếu tố cơ bản của một điểm du lịch:
Hình 1: Các yếu tố cơ bản hình thành điểm du lịch
Khả năng tiếp cận
Các tiện nghi công cộng và
cá nhân
Điểm du
lịch
Nguồn nhân lực
Trang 24tách biệt nhau vì mục đích quản lý tốt hơn Cùng nhau quản lý tránh khỏi các nỗ lực trùng lặp, hỗ trợ kinh doanh và giúp phát hiện các kẽ hở trong hoạt động quản lý
- Lợi ích của quản lý điểm đến
+ Tạo lợi thế cạnh tranh
+ Đảm bảo phát triển bền vững
+ Phân phối lợi ích
+ Nâng cao năng suất du lịch
- Phân loại và phân hạng điểm du lịch
+ Mục đích của việc phân hạng và phân loại điểm đến:
✓ Bảo vệ và tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch một cách hợp
lý và đồng bộ
✓ Xây dựng và tổ chức tuyên truyền và quảng bá du lịch hiệu quả đúng đối tượng và tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch trong quá trình lựa chọn điểm đến trong mỗi tour du lịch
✓ Xây dựng phương án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch phù hợp với đặc điểm, tính chất đáp ứng nhu cầu quản lý và khách du lịch
✓ Xây dựng mô hình tổ chức quản lý đồng bộ và hiệu quả tài nguyên du lịch
✓ Nâng cao chất lượng quản lý và dịch vụ tại các điểm đến
+ Phân loại điểm đến du lịch:
Có thể thấy, tất cả các điểm đến đều có những hợp phần cơ bản như: Tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở hạ tầng,…, đều có sức hấp dẫn đối với du khách, đầu nhằm mục đích phục vụ nhu cầu du lịch của khách và mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư, các địa phương và cộng đồng dân cư Tuy nhiên, mỗi điểm đến du lịch đều có những sự khác biệt và chính sự khác biệt này đã tạo thành sức hấp dẫn riêng và khả năng cạnh tranh giữa chúng Theo từng tiêu chí phân loại, có thể chia thành nhiều loại điểm đến khác nhau
✓ Quy mô lãnh thổ của điểm đến, các điểm đến được phân loại thành vùng
du lịch, trung tâm du lịch, điểm du lịch và khu du lịch Cách phân loại
Trang 25này được thể hiện ở Chiến lược du lịch quốc gia, quy hoạch phát triển du lịch quốc gia
✓ Không gian địa lý, các điểm đến được phân loại thành các điểm đến du
lịch vùng núi, vùng ven biển, hải đảo, đô thị, nông thôn,… Tuy nhiên, cách phân loại này chỉ được áp dụng về mặt lý thuyết trong các giáo trình giảng dạy đại học chuyên ngành địa lý, du lịch mà chưa có văn bản quy
định chính thống
✓ Tiêu chí như chất lượng dịch vụ, quy mô, sức hấp dẫn đối với khách du
lịch… để đánh giá, chấm điểm xếp hạng thành những thứ bậc từ thấp tới cao Việc này nhằm mục đích: nâng cao chất lượng và dịch vụ tại các điểm đến, tăng khả năng cạnh tranh giữa các điểm đến
2.5 Điều kiện công nhận điểm du lịch
Điều kiện công nhận điểm du lịch bao gồm:
a) Có tài nguyên du lịch, có ranh giới xác định;
b) Có kết cấu hạ tầng, dịch vụ cần thiết bảo đảm phục vụ khách
c) Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật
2.6 Hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận điểm du lịch
- Hồ sơ đề nghị công nhận điểm du lịch bao gồm:
a) Đơn đề nghị công nhận điểm du lịch theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định;
b) Bản thuyết minh về điều kiện công nhận điểm du lịch quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này
- Trình tự, thủ tục, thẩm quyền đề nghị công nhận điểm du lịch được quy định như sau:
a) Tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý điểm du lịch nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước
về du lịch (sau đây gọi chung là cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh) nơi có điểm du lịch;
b) Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Trang 26c) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận điểm du lịch; trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi quyết định công nhận điểm du lịch trong trường hợp điểm du lịch không còn bảo đảm điều kiện quy định
2.7 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân quản lý điểm du lịch
- Tổ chức, cá nhân quản lý điểm du lịch có quyền sau đây:
a) Đầu tư, khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch;
b) Ban hành nội quy; tổ chức kinh doanh dịch vụ phục vụ khách du lịch; c) Tổ chức dịch vụ hướng dẫn; quy định, quản lý việc sử dụng hướng dẫn viên du lịch trong phạm vi quản lý;
d) Được thu phí theo quy định của pháp luật
- Tổ chức, cá nhân quản lý điểm du lịch có nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo đảm điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật;
b) Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan;
c) Quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong phạm vi quản lý;
d) Bảo đảm an toàn cho khách du lịch, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường tại điểm du lịch;
đ) Tổ chức tiếp nhận và giải quyết kịp thời kiến nghị của khách du lịch trong phạm vi quản lý
2.8 Tiêu chí xếp hạng điểm du lịch
Đối chiếu với điều kiện của Du lịch Việt Nam, việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý điểm đến du lịch trong nước cần tập trung xác định các tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch Việt Nam gồm các nhóm sau:
Trang 276 Mức độ hài lòng của khách du lịch đối với điểm đến
- Xác định tiêu chí đánh giá:
Dựa trên sáu nhóm tiêu chí lớn để đánh giá điểm đến du lịch gồm: Tài nguyên du lịch, sản phẩm và dịch vụ, quản lý điểm đến, cơ sở hạ tầng, sự tham gia của cộng đồng địa phương, mức độ hài lòng của khách du lịch đối với điểm đến, các tiêu chí để đánh giá điểm đến là các khu du lịch được xác định gồm 32 tiêu chí (bảng 1 dưới đây)
- Xác định điểm cho các tiêu chí đánh giá
Căn cứ vào vai trò của các nhóm tiêu chí và các tiêu chí đánh giá đã xác định, phân bố tỷ lệ điểm đánh giá các khu du lịch, nếu lấy thang điểm 100 cho mỗi khu du lịch thì điểm đánh giá của các tiêu chí đánh giá được thể hiện tại bảng 1
Mỗi tiêu chí đánh giá sẽ được xem xét, đánh giá bằng cách cho điểm với điểm tối đa mỗi tiêu chí như trình bày tại bảng 1, điểm tối thiểu mỗi tiêu chí là 0 điểm, điểm lẻ tính đến ¼ điểm Tổng điểm cao nhất của 5 nhóm tiêu chí do chuyên gia chấm điểm là 85 điểm (I)
Riêng về yếu tố đánh giá của khách về khu du lịch thuộc tiêu chí “sự hài lòng của khách”, để định lượng sự hài lòng của du khách đối với khu du lịch, điểm du lịch, cần sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp du khách
Sự hài lòng của khách du lịch đối với khu du lịch, điểm du lịch được tính bằng trị trung bình của 6 nhân tố: Cơ sở vật chất, khả năng tiếp cận, yếu tố môi trường, sự hấp dẫn, năng lực phục vụ và giá cả hàng hóa, dịch vụ
Đánh giá của khách về khu du lịch ở mức “hoàn toàn hài lòng” được chấm điểm 15, ở mức “hài lòng” chấm điểm 10, ở mức “bình thường” chấm điểm 7, ở mức “không hài lòng” chấm điểm 3 và ở mức “rất không hài lòng” chấm điểm 1 Tổng điểm cao nhất của nhóm tiêu chí “Sự hài lòng của khách du lịch” là 15 điểm (II)
Điểm đánh giá tổng hợp của khu du lịch (TS) bằng tổng điểm đánh giá của chuyên gia cho 31 tiêu chí thuộc 5 nhóm tiêu chí và điểm đánh giá của khách du lịch cho nhóm tiêu chí cuối cùng (TS= I + II) Theo đó, TS cao nhất của một khu du lịch có thể đạt được là 100 điểm
Trang 28Bảng phân bố điểm đánh giá các khu du lịch
Nhóm tiêu chí Tiêu chí đánh giá
Điểm tối
đa mỗi tiêu chí
Điểm tối
đa nhóm tiêu chí Tài nguyên du
lịch
Sự đa dạng và tính độc đáo của tài nguyên 10 15
Sức chứa của điểm tài nguyên 2
Bảo vệ và tôn tạo tài nguyên 3
Sản phẩm và
dịch vụ
Cung cấp thông tin cho khách hàng 1 30
Chỉ dẫn thông tin trong toàn bộ khu du lịch 1
Trung tâm thông tin du lịch 2
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ lưu trú của khách du lịch
Cơ sở phục vụ vui chơi giải trí 2
Dịch vụ vui chơi, giải trí 1
Các hoạt động trình diễn, biểu diễn nghệ thuật 1
Dịch vụ tham quan, nghỉ dưỡng, khám phá, tìm hiểu các giá trị về tự nhiên, văn hóa
Cơ sở hạ tầng Hệ thống đường giao thông 3 15
Biển báo chỉ dẫn tiếp cận khu du lịch bằng đường
Trang 293 Tuyến du lịch
3.1 Khái niệm và bản chất của tuyến trong du lịch
- Khái niệm về tuyến: Theo từ điển Việt Nam thì có rất nhiều khái niệm về
tuyến nhưng nói chung là chỉ sự liên kết hoặc kết nối ít nhất hai bộ phận, địa điểm, các vật thể với nhau để hình thành nên một khái niệm Nói chung tuyến đều có sự kết nối các vật thể với nhau có quan hệ, tác động và tương hỗ để tạo nên hình thể cấu trúc, một vật thể như: tuyến đường giao thông, tuyến mạng, tuyến thần kinh…
- Cơ sở hình thành nên tuyến du lịch Theo các chuyên gia du lịch, tuyến du lịch
là dựa trên cơ sở tuyến trong không gian, được gắn kết các điểm du lịch, các khu du lịch được nối với nhau tạo thành tuyến du lịch Như vây, trong từng trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có thể là tuyến nội tỉnh (trong lãnh thổ của một tỉnh, thành phố); tuyến nội vùng (trong phạm vi lãnh thổ của một vùng du lịch); tuyến liên vùng (giữa các vùng du lịch); hoặc tuyến liên quốc gia (giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ) Nếu dựa vào loại hình phương tiện vận chuyển, chúng ta có thể phân chia ra tuyến du lịch đường bộ, đường không, đường thủy… Theo mục 9, điều 4 của Luật Du lịch thì “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp các dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”
Các tuyến du lịch được xem là những sản phẩm du lịch đặc biệt, việc xác định các tuyến du lịch phải dựa vào một số tiêu chuẩn nhất định để đảm bảo được tính hấp dẫn cao của sản phẩm du lịch đặc biệt này
Để xác định các tuyến du lịch cần căn cứ vào một số tiêu chí chính sau đây: Định hướng tổ chức không gian du lịch chính của toàn lãnh thổ Tài nguyên du lịch và sự hấp dẫn của các cảnh quan trên toàn tuyến và ở các điểm dừng tham quan du lịch Các khu, điểm nghỉ ngơi, vui chơi giải trí với khả năng thu hút khách Các điều kiện về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông và các cửa khẩu quốc tế, về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch Sự phân bố và xu hướng của các luồng kháchdu lịch Sự trong sạch của môi trường tự nhiên và vănhóa
xã hội Các điều kiện về an ninh, trật tự an toàn xã hội.Nhu cầu giao lưu và hội nhập khu vực và quốctế cho nên tuyến trong du lịch cũng có thể hiểu là:
Trang 30- Khái niệm tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ
sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không
Vậy có thể hiểu được tuyến du lịch là sự kết nối các khu, điểm du lịch nơi
có tài nguyên du lịch hấp dẫn, nơi có các dịch vụ du lịch cung cấp khách nhằm thõa mãn nhu cầu khách và được thể hiện trong một chương trình du lịch nhất định của công ty lữ hành trong và ngoài nước
- Bản chất của tuyến trong du lịch:
+ Là tác nhân, xây dựng hay xây dựng bởi các nhà kinh doanh lữ hành hoặc khách du lịch tự đề xuất xây dựng nên tuyến du lịch
+ Là sự kết nối các khu điểm du lịch hoặc các tài nguyên du lịch không trong cùng một điểm với nhau
+ Là kết nối các sản phẩm hay các dịch vụ du lịch tại các khu điểm du lịch hay
là trên đường hình thành nên tuyến du lịch
+ Cấu trúc hình thành nên tuyến du lịch là hệ thống giao thông có liên hệ đi đến các khu điểm du lịch
+ Hình thành tuyến du lịch kể từ khi có xác nhận của các công ty lữ hành và khách du lịch và đồng thời kết thúc khi không được sử dụng cho các chuyến tham quan của khách du lịch hoặc vì một lý do nào đó như tác động của thiên nhiên, vấn đề an ninh, an toàn, tôn giáo, chiến tranh phải đóng chương trình hay
do yêu cầu phải hủy bỏ
+ Một khu, điểm, sản phẩm du lịch có thể hình thành nên nhiều tuyến du lịch khác nhau với tên gọi khác nhau phụ thuộc vào mục đích của người xây dựng và
sử dụng tuyến du lịch đó
3.2.Điều kiện để được công nhận là tuyến du lịch
- Có thể hiện các khu, điểm du lịch trên tuyến tham quan của khách và có liên kết các khu, điểm du lịch cũng như các dịch vụ du lịch sẵn sàng cung cấp cho khách tại các khu điểm du lịch
- Được cấp có thẩm quyền cho phép tổ chức thực hiện bao gồm cho phép đến các khu, điểm du lịch để tham quan, cho phép đi lại trên hệ thống giao thông và phương tiện hợp pháp và cho phép thực hiện chuyến hành trình, cung đường đi
Trang 31- Đảm bảo an toàn, an ninh cho khách du lịch trên đường và tại điểm du lịch
- Có đầy đủ cơ sở dịch vụ du lịch đảm bảo đáp ứng nhu cầu khách
- Có hệ thống đường giao thông thuận lợi, an toàn và phương tiện giao thông đi đến thông suốt
3.3 Phân loại tuyến du lịch
- Tuyến du lịch quốc tế
a) Là dự kết nối các khu du lịch, điểm du lịch của một quốc gia hay nhiều quốc gia với nhau mà được thể hiện trong các chương trình du lịch của các công ty lữ hành quốc tế hoặc các văn bản quản lý nhà nước về du lịch sở tại quy định b) Có các dịch vụ du lịch tại các điểm và trên đường đi đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch lựa chọn
c) Có sử dụng các phương tiện mang tích chất quốc tế phục vụ cho việc đi lại của khách du lịch
d) Quá trình đi lại có sự dụng các thủ tục xuất nhập cảnh phù hợp với thông lệ quốc tế
- Tuyến du lịch quốc gia, liên vùng
a) Sự kết nối các khu, điểm trong nước với nhau được thể hiện trong các chương trình của các công ty lữ hành hoặc các văn bản quản lý nhà nước về du lịch các cấp
b) Có các dịch vụ du lịch tại các điểm và trên đường đi đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch lựa chọn
c) Có hệ thống giao thông và phương tiện đi lại đến các khu, điểm du lịch đảm bảo an toàn cho khách
- Tuyến du lịch địa phương:
a) Nối các khu du lịch, điểm du lịch trong phạm vi địa phương;
b) Có các dịch vụ du lịch tại các điểm và trên đường đi đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch lựa chọn
c) Có hệ thống giao thông và phương tiện đi lại đến các khu, điểm du lịch đảm bảo an toàn cho khách
3.4 Quản lý tuyến du lịch
Trang 32Mỗi quốc gia khác nhau có sự quản lý tuyến du lịch khác nhau theo chức năng quản lý du lịch của nước sở tại Đối với Việt Nam, nội dung quản lý nhà nước về du lịch tập trung giao chính quyền, quản lý ngành du lịch tại địa phương quản lý các khu điểm du lịch, quản lý phạm vi hoạt động du lịch Đối với chương trình du lịch chủ yếu quản lý theo các công ty lữ hành Ngoài ra, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Bộ Giao thông vận tải quản lý tuyến du lịch địa phương và phần tuyến
du lịch quốc gia thuộc địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc quản
lý các khu điểm du lịch nhạy cảm hoặc hạn chế của cơ quan chức năng Nội dung quản lý được thể hiện chủ yếu là:
• Bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cảnh quan, môi trường dọc theo tuyến du lịch;
• Tạo thuận lợi cho việc tham gia giao thông của các phương tiện chuyên vận chuyển khách du lịch;
• Quản lý việc đầu tư, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch dọc tuyến du lịch theo quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định
3.5 Mối quan hệ giữa tuyến và chương trình du lịch
- Khái niệm về chương trình du lịch Có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về các
chương trình du lịch Tuy nhiên, có một điểm chung thống nhất giữa các chương trình du lịch chính là nội dung của các chương trình du lịch, còn điểm tạo nên sự khác biệt xuất phát từ giới hạn, những đặc điểm và phương thức tổ chức các chương trình du lịch
Chương trình du lịch là sự kết hợp của nhiều thành phần và là yếu tố cần thiết đối với sự hoạt động có hiệu quả của công nghệ du lịch trên toàn thế giới Chương trình du lịch cũng đóng góp đáng kể đối với nền kinh tế của một đất nước, một vùng nơi mà chương trình đó được thực hiện Ngoài ra, các chương trình du lịch còn là nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho một quốc gia Chuyến du lịch (tour), theo qui định của Tổng cục Du lịch là chuyến đi được chuẩn bị trước bao gồm tham quan một hay nhiều điểm du lịch và quay trở về nơi khởi hành Chuyến du lịch thông thường có các dịch vụ về vận chuyển, lưu trú, ăn uống,
Trang 33tham quan và các dịch vụ bổ sung khác Chương trình du lịch là lịch trình của chuyến du lịch (lịch trình từng buổi, từng ngày), các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi Nhìn chung, chương trình du lịch (tour) gồm các dịch vụ trong lịch trình của khách đã được lên kế hoạch đặt trước và được khách du lịch thanh toán đầy đủ Tour du lịch được chia làm 2 loại cơ bản là:
+ Tour địa phương (Local tour) là một chương trình được cung cấp cho khách du lịch thường bao gồm: dịch vụ vận chuyển, vé vào cửa và thuyết minh hướng dẫn tại điểm đến thăm quan thường không kéo dài hơn 1 ngày, bị giới hạn về mặt địa lý thường là tại một điểm du lịch, một thành phần và vùng lân cận
+Tour trọn gói (Package tour) là các dịch vụ được cung cấp trong lịch trình của khách du lịch thường bao gồm việc vận chuyển, lưu trú, đi lại và tham quan ở một hay nhiều nước, không giới hạn đối với khu vực địa lý hay các thành phần và thường kéo dài từ hai ngày trở lên
- Đặc điểm và vai trò của chương trình du lịch
a Đặc điểm của chương trình du lịch
Chương trình du lịch là một sản phẩm đặc biệt, có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Chương trình du lịch là một sản phẩm vô hình, du khách không thể nhìn thấy, sờ thấy, hoặc mô tả trước khi họ sử dụng sản phẩm đó
+ Chất lượng của một loại tour du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như là: tiêu chuẩn của phòng khách sạn, tính hiệu năng của dịch vụ vận chuyển ở sân bay, thái độ của người hướng dẫn…
+ Tour du lịch là một sản phẩm dễ bị hỏng nếu không được sử dụng tại một thời điểm xác định nó sẽ bị mất đi vĩnh viễn
+ Tour du lịch là phương tiện chính nối du khách với địa điểm du lịch + Tour là một sản phẩm thay đổi linh hoạt tùy theo ý thích của du khách + Tour du lịch là một phần quan trọng của địa điểm du lịch và nó sẽ hấp dẫn du khách và ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của họ với những trải nghiệm
đã đạt được
Trang 34b Tầm quan trọng của chương trình du lịch
Chương trình du lịch đóng vai trò quan trọng đối với các địa điểm du lịch
và du khách:
* Đối với địa điểm du lịch
+ Tạo những cơ hội việc làm cho lao động chuyên và không chuyên ngành, tức là lao động trực tiếp và gián tiếp của ngành du lịch
+ Mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia
+ Khuyến khích việc bảo tồn di sản và truyền thống văn hóa
+ Tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước và địa phương
+ Tạo cơ hội giao lưu, tiếp xúc với những người dân địa phương, mở rộng
sự hiểu biết, tăng cường tình đoàn kết, thân ái giữa con người với con người Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học
kĩ thuật và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh du lịch, các trang web về du lịch cũng như hoạt động kinh doanh du lịch trực tuyến (e-tourism)… được ứng dụng ngày càng sôi động đã và đang rút ngắn khoảng cách
về không gian và thời gian giữa các vùng miền trong một quốc gia với nhau, việc khám phá và tìm hiểu các giá trị đặc trưng, tiêu biểu của một đất nước ngày càng trở nên dễ dàng và thuận lợi
4 Khu du lịch
4.1 Khái niệm
Hiện nay, có nhiều khai niệm có liên quan đến khu du lịch tùy thuộc vào cách quan sát, linh vực áp dụng, nhận thức, thạm chí là quan điểm Theo các chuyên gia khu hay vùng có khái niệm tương tự như: Từ điển bách khoa thì khai niệm là vùng là khu vực rộng được phân chia bởi các đặc tính vật lý (Địa lý tự nhiên), các đặc tính tác động của con người (Địa lý nhân văn), và các tương tác con người và môi trường (Địa lý tích hợp) Các vùng địa lý hay phân vùng được
Trang 35mô tả chủ yếu theo các định nghĩa tương đối, và đôi khi là các ranh giới tạm thời, trừ trong địa lý nhân văn, nơi các khu vực tài phán như biên giới quốc gia được định nghĩa rõ ràng theo luật Cho nên khai niệm khu du lịch có thể hiểu được vùng du lịch nào đó.
Căn cứ vào Luật Du lịch 2017, thì khái niêm Khu du lịch là khu vực có
ưu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch
Như vậy, khu du lịch cũng được xác định dựa trên đặc điểm tài nguyên du lịch có phạm vi rộng hoặc tính đa dạng tài nguyên khác nhàu gắn liền với phạm
vi về diện tích và cấu trúc địa lý Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia
4.2 Điều kiện công nhận khu du lịch
Căn cứ vào điều 26 Luật Du lịch 2017 thì:
1 Điều kiện công nhận khu du lịch cấp tỉnh bao gồm:
a) Có tài nguyên du lịch với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có ranh giới xác định;
b) Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu khác của khách du lịch;
c) Có kết nối với hệ thống hạ tầng giao thông, viễn thông quốc gia;
d) Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật
2 Điều kiện công nhận khu du lịch quốc gia bao gồm:
a) Có tài nguyên du lịch đa dạng, đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có ranh giới xác định;
b) Có trong danh mục các khu vực tiềm năng phát triển khu du lịch quốc gia được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
c) Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ chất lượng cao, đồng bộ, đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu khác của khách du lịch;
d) Các điều kiện quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này
3 Chính phủ quy định chi tiết Điều này
Trang 364.3 Thủ tục hồ sơ, trình tự, thẩm quyền công nhận khu du lịch
1 Hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch cấp tỉnh bao gồm:
- Đơn đề nghị công nhận khu du lịch cấp tỉnh theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định;
- Bản thuyết minh về điều kiện công nhận khu du lịch cấp tỉnh
- Thủ tục, thẩm quyền công nhận khu du lịch cấp tỉnh được quy định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc tổ chức quản lý khu du lịch nộp 01
bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi có khu du lịch;
b) Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
c) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận khu du lịch cấp tỉnh; trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
- Đối với khu du lịch nằm trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp huyện trở lên, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch cấp tỉnh Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hội đồng thẩm định, quyết định công nhận khu du lịch cấp tỉnh
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi quyết định công nhận khu du lịch cấp tỉnh trong trường hợp khu du lịch không còn bảo đảm điều kiện
2.Thủ tục, thẩm quyền công nhận khu du lịch quốc gia
- Đơn đề nghị công nhận khu du lịch quốc gia theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định;
- Bản thuyết minh về điều kiện công nhận khu du lịch quốc gia quy định tại khoản 2 Điều 26 của Luật này
- Trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận khu du lịch quốc gia được quy định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nộp 01 bộ hồ sơ đến Tổng cục Du lịch;
b) Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Tổng cục
Du lịch thẩm định, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
Trang 37c) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định công nhận và phối hợp với
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức công bố khu du lịch quốc gia; trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
3 Đối với khu du lịch nằm trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ công nhận
4 Người có thẩm quyền công nhận khu du lịch quốc gia thu hồi quyết định công nhận trong trường hợp khu du lịch không còn bảo đảm điều kiện
4.4 Quản lý khu du lịch
1 Nội dung quản lý khu du lịch bao gồm:
a) Quản lý công tác quy hoạch và đầu tư phát triển;
b) Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, hoạt động của hướng dẫn viên du lịch;
c) Quản lý việc đầu tư, khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch;
d) Bảo đảm an toàn cho khách du lịch; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường trong khu du lịch;
đ) Xây dựng hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn, điểm cung cấp thông tin phục vụ khách du lịch;
e) Các nội dung khác theo quy định của pháp luật
2 Chính phủ quy định mô hình quản lý khu du lịch quốc gia; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mô hình quản lý khu du lịch cấp tỉnh
5 Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa tuyến, điểm và khu du lịch
Trang 38Bảng số 1: Bảng phân tích sự giống nhau và khác nhau chính giữa điểm tuyến và khu du lịch
Giống nhau
Mục tiêu Xác định điểm tài nguyên để phục vụ khách du lịch và quản lý nhà nước, kinh doanh của doanh
nghiệp Nhận dạng Xác định qua tài nguyên và vị trí trên lãnh thổ địa lý
Các dịch vụ Có các dịch vụ du lịch do các doanh nghiệp, cộng đồng cung cấp cho khách du lịch
Cơ quan quản lý Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tại các địa phương
Khác nhau
Phạm vi Tính theo các điểm được kết nối Một điểm độc lập Một vùng có diện tích lớn
Nhận dạng Gắn kết với hạ tầng giao thông Gắn kết với tài nguyên Tài nguyên,
Cơ sở hình
thành
Khi có công ty lữ hành tổ chức Do các dịch vụ du lịch Gồm cả hai
Nguồn: Tác giả nghiên cứu
Trang 39Tóm tắt chương 1:
Nội dung trong chương đã đề cập được các nội dung có liên quan đến các khai niệm du lịch, các yếu tố tác dộng và hình thành nên du lịch tại một địa nhất định Tác giả đã tổng quan được về điểm du lịch bao gồm các khái niệm, đặc điểm, cơ cấu hình thanh nên điểm du lịch; về quản lý điểm đến tác giả đã đề cập được các điều kiện hình thanh, công nhận, quản lý điểm du lịch Tác giả đã tổng quan về tuyến du lịch bào gồm: khai niệm, cấu trúc về tuyến, điều kiện hình thành, phân loại và quản lý nhà nước về tuyến du lịch; trong linh vực kinh doanh tác giả đã cập nhật sự liên hệ giữa tuyến du lịch và chương trinh du lịch,
từ đó phân tích và đựa ra khai niệm chương trinh du lịch và mối quan hệ với tuyến diểm du lịch Đối với khu du lịch, tác giả đã tổng quan về khai niệm, điều kiện hình thanh, phân loại, các vấn đề có liên quan đến quản lý nhà nước đối với khu du lịch Nội dung phân tích chương này, tác giả đãn dựa trên tổng quan các công trinh đã nghiên cứu và các văn bản của nhà nước nên có tinh khả thi và phù hợp với tinh hình thực tế du lịch Việt Nam
Trang 40Chương thứ hai
NGHIÊN CỨU VÙNG, KHU, TUYẾN & ĐIỂM DU LỊCH VIỆT NAM
1 Tiềm năng và điều kiện của Việt Nam để xây dựng tuyến điểm du lịch
1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên du lịch
- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Việt Nam nằm ở Đông Nam Á, bờ Tây của Thái Bình
Dương, nằm trong khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới, với địa hình tự nhiên và khí hậu đa dạng, nền văn hóa giàu truyền thống, Việt Nam
có vị trí hết sức thuận lợi để phát triển du lịch
Việt Nam có nền chính trị ổn định, kiên trì chính sách đối ngoại rộng
mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, điều kiện kết nối giao thông thuận lợi cả về đường bộ, đường biển, đường thủy và đường hàng không với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Đông Bắc Á và các thị trường gửi khách lớn như châu Âu, Bắc Mỹ
Khí hậu: Nhiệt mặt trời lớn, hiệt độ trung bình năm trên 21oC và tăng dần từ Bắc vào Nam Có diện tích không lớn nhưng trài dài trên 2000 km theo chiều Bắc - Nam với hơn 3000km bờ biển, Việt Nam có lượng mưa lớn
và độ ẩm không khí trung bình cao, là điều kiện phát triển thuận lợi cho các
hệ sinh vật tự nhiên và sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên do ảnh hưởng của những vùng núi rộng lớn chiếm tới 3/4 diện tích cả nước và có bờ biển dài nên khí hậu Việt Nam cũng hết sức đa dạng, khí hậu, thời tiết khác biệt giữa các vùng và các tiểu vùng
Quỹ đất, nước Mặc dù Việt Nam có diện tích trên 330 nghìn km2, 3/4 là
đồi núi, phần lớn tập trung ở khu vực đồng bằng, ven biển Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, tài nguyên nước ở Việt Nam được đánh giá là đa dạng và phong phú, bao gồm cả nước mặt và nước ngầm ở các thủy vực tự nhiên và nhân tạo như sông, suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo, giếng khơi, hồ, đập, ao, đầm phá và các túi nước ngầm
- Tài nguyên du lịch