Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc thời cổ đại và có ảnh hưởng lớn trong quá trình phát triển tư tưởng triết học Trung Quốc thời trung cổ. Nho giáo như là một thành tố văn hoá góp phần làm phong phú văn hoá Trung Quốc vốn được hình thành trên nền tảng của văn hoá Hán cùng với sự giao lưu tiếp xúc văn hoá với các tộc người khác. “Đạo” theo Nho gia là quy luật biến chuyển, tiến hoá của trời đất, muôn vật. Đối với con người, đạo là con đường đúng đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp. Đạo của con người, theo quan điểm của Nho gia là phải phù hợp với tính của con người lập nên. Chính vì vậy, Nho giáo tác động mạnh mẽ đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người và tác động vào các khu vực khác của đời sống xã hội cũng như đối với xã hội Việt Nam. Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng. Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể thực hiện nên chúng ta cần vận dụng nó một cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý và sự tác động của Nho giáo đến thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết. Việc đi sâu nghiên cứu đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, tư tưởng của Nho giáo giúp chúng ta hiểu rõ tâm lý của con người và qua đó tìm được một phương cách để hướng cho họ một nhân cách chính và đúng đắn.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốcthời cổ đại và có ảnh hưởng lớn trong quá trình phát triển tư tưởng triết học TrungQuốc thời trung cổ Nho giáo như là một thành tố văn hoá góp phần làm phong phúvăn hoá Trung Quốc vốn được hình thành trên nền tảng của văn hoá Hán cùng với
sự giao lưu tiếp xúc văn hoá với các tộc người khác
“Đạo” theo Nho gia là quy luật biến chuyển, tiến hoá của trời đất, muôn vật.Đối với con người, đạo là con đường đúng đắn phải noi theo để xây dựng quan hệlành mạnh, tốt đẹp Đạo của con người, theo quan điểm của Nho gia là phải phùhợp với tính của con người lập nên Chính vì vậy, Nho giáo tác động mạnh mẽ đếnnếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người và tác động vào các khu vực khác củađời sống xã hội cũng như đối với xã hội Việt Nam Trong công cuộc xây dựng đấtnước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng chủ đạo, là
vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của
xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó làkhông thể thực hiện nên chúng ta cần vận dụng nó một cách hợp lý để góp phần đạtđược mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này Vì vậy, việc nghiên cứu lịch
sử, giáo lý và sự tác động của Nho giáo đến thế giới quan, nhân sinh quan của conngười là hết sức cần thiết Việc đi sâu nghiên cứu đánh giá những mặt hạn chế cũngnhư tiến bộ, tư tưởng của Nho giáo giúp chúng ta hiểu rõ tâm lý của con người vàqua đó tìm được một phương cách để hướng cho họ một nhân cách chính và đúngđắn
Vì vậy, đề tài “Tư tưởng triết học của Nho giáo, quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam” được thực hiện nhằm
làm rõ hơn tư tưởng triết học chủ đạo của Nho giáo, tầm ảnh hưởng sâu rộng của
nó đến truyền thống văn hoá người Việt Nam cũng như định hướng phát triển của
nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai
Trang 2CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO
1 Khái quát lịch sử Triết học Trung Hoa cổ đại
Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuối thiênniên kỷ III TCN kéo dài tới tận thế kỷ II TCN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thốngnhất Trung Hoa mở đầu cho thời kỳ phong kiến Trong hơn 2000 năm lịch sử ấy,lịch sử Trung Hoa được phân chia làm 2 thời kỳ lớn: Thời kỳ từ thế kỷ IX TCN trở
về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII TCN đến cuối thế kỷ III TCN
1.1 Thời kỳ thứ nhất
Có các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và nhà Tây Chu Theo các văn bản cổ,nhà Hạ ra đời vào khoảng thế kỷ XXI TCN, đánh dấu sự mở dầu cho chế độ chiếmhữu nô lệ ở Trung Hoa Khoảng nửa đầu thế kỷ XVII TCN, người đứng đầu bộ tộcThương là Thành Thang đã lật đổ nhà Hạ, lập ra nhà Thương, đóng đô ở đấtBạc( Hà Nam hiện nay) Đến thế kỷ XVI TCN, Bàn Canh rời đô về đất Ân nên nhàThương còn gọi là nhà Ân Vào khoảng thế kỷ XI TCN, Chu Vũ Vương đã giết vuaTrụ nhà Ân lập ra nhà Chu ( giai đoạn đầu là Tây Chu), đưa chế độ nô lệ ở TrungHoa lên đỉnh cao Nhà Chu đã thực hiện quốc hữu hóa về tư liệu sản xuất (gồmruộng đất và sức lao động) rất nghiêm ngặt, tất cả đều thuộc quyền quản lý của vuanhà Chu Đồng thời, thành lập những đô thị lớn tạo nên sự đối lập rất lớn giữathành thị và nông thôn
Trong thời kỳ này, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâmthần bí thống trị trong đời sống tinh thần Những tư tưởng triết học đã xuất hiện,nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống Nó đã gắn chặt thần quyền với thế quyền,
lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị – xã hội với lĩnh vực đạo đứcluân lý Lúc này cũng đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc mạc,những tư tưởng vô thần tiến bộ
Về khoa học, họ đã phát minh ra chữ viết và dựa vào sự quan sát vận hànhcủa mặt trăng, các vì sao, tính chất chu kỳ của nước sông và quy luật sinh trưởngcủa cây trồng mà họ đã biết làm ra lịch (Âm lịch)
1.2 Thời kỳ thứ hai: là thời kỳ Đông Chu (còn gọi là thời kỳ Xuân Thu –
Chiến quốc)
Thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến Sựphát triển của sức sản xuất đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất vàkết cấu giai tầng của xã hội Nếu dưới thời Tây Chu, đất đai thuộc sở hữu của nhàvua thì nay thuộc về tầng lớp địa chủ mới lên và chế độ sở hữu tư nhân về ruộngđất hình thành.Từ đó, sự phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện Xã hội
Trang 3lâm vào cảnh loạn lạc, rối ren và chiến tranh xảy ra liên miên Đây chính là điềukiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành chế độ phongkiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phongkiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển.
Sự phát triển sôi động của xã hội đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm,những trung tâm của những “kẻ sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ranhững mẫu hình của một xã hội trong tương lai Lịch sử gọi đây là thời kỳ “Báchgia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng).Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn và hình thành nêncác trường phái triết học khá hoàn chỉnh Đặc điểm của các trường phái này là lấycon người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giảiquyết những vấn đề thực tiễn chính trị – đạo đức của xã hội Theo Lưu Hâm (đờiTây Hán), Trung Hoa thời kỳ này có chín trường phái triết học chính (gọi là Cửulưu hay Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm dương gia, Danh gia, Pháp gia,Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia Trừ Phật giáo được du nhập từ ấn Độ sau này,các trường phái triết học được hình thành vào thời kỳ này được bổ sung và hoànthiện qua nhiều giai đoạn lịch sử và tồn tại cho tới thời kỳ cận đại
2 Đặc điểm của triết học Trung Hoa cổ, trung đại
– Thứ nhất: là nền triết học nhấn mạnh tinh thần nhân văn Trong tư tưởngtriết học Trung Hoa cổ, trung đại, tư tưởng liên quan đến con người như triết họcnhân sinh, triết học đạo đức, triết học chính trị, triết học lịch sử phát triển, còn triếthọc tự nhiên có phần mờ nhạt
– Thứ hai: là chính trị đạo đức, các triết gia Trung Hoa đều tập trung vào lĩnhvực luân lý đạo đức, xem việc thực hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn cănbản nhất của một đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội
– Thứ ba: là nhấn mạnh sự hài hòa, thống nhất giữa tự nhiên và xã hội Cácnhà triết học nhấn mạnh sự hài hòa, thống nhất giữa các mặt đối lập, coi trọng tínhđồng nhất của các mối liên hệ tương hỗ của các khái niệm, coi việc điều hòa mâuthuẫn là mục tiêu cuối cùng để giải quyết vấn đề
– Thứ tư: là tư duy trực giác Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy triếthọc cổ, trung đại Trung Hoa là nhận thức trực giác, tức là có trong sự cảm nhận haythể nghiệm Cảm nhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp lý trí, ta
và vật ăn khớp, khơi dậy linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trong chốc lát, từ đó mànắm bản thể trừu tượng Phương thức tư duy trực giác đặt biệt coi trọng tác dụngcủa cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức, “lấy tâm để bao quát vật”
3 Các giai đoạn phát triển của Nho giáo
Trang 43.1 Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinhgồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc
Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũkinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốnLuận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử,dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử làKhổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc,Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh
Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi làNho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh"
3.2 Hán Nho
Đến đời Hán, hai cuốn Đại Học và Trung Dung được gộp vào sách Lễ Ký.Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhấtđất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệchế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này đượcgọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề caoquyền lực của giai cấp thống trị Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy
"pháp trị"
3.3 Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng vớiLuận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gốiđầu giường của các nhà Nho Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với cáctên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di, còn được gọigộp là "Chu - Trình" hoặc "Trình - Chu" Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổnggiáo" Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu
tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụcho việc đào tạo quan lại và cai trị
4 Các tác phẩm kinh điển của Nho giáo
Kinh sách của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáo nguyên thủy.Các sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư Hệ thống kinh điển đó hầuhết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên.Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị, về đạo đức lànhững tư tưởng cốt lõi của Nho gia
4.1 Ngũ Kinh
Trang 54.1.1 Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói
nhiều về tình yêu nam nữ Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọingười tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng.Một lần, Khổng Tử hỏi con trai "học Kinh Thi chưa?", người con trả lời "chưa".Khổng Tử nói "Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao" (sách Luậnngữ)
4.1.2 Kinh Thư: ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có
trước Khổng Tử Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương cácminh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ
4.1.3 Kinh Lễ: ghi chép các lễ nghi thời trước Khổng Tử hiệu đính lại
mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự Khổng Tử nói: "Khônghọc Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời" (sách Luận ngữ)
4.1.4 Kinh Dịch: nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại
dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái, Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên vàgiải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ Chu Công Đán giải thích chi tiếtnghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ Kinh Dịch thời Chu gọi là ChuDịch Khổng Tử giảng giải rộng thêm Thoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi làThoán truyện và Hào truyện
4.1.5 Kinh Xuân Thu: ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng
Tử Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nướcnên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáodục các bậc vua chúa Ông nói, "Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu, thiên hạtrách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này" Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất.(Xuân thu có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói những sự việc xảy ra theo thờigian.)
4.1.6 Kinh Nhạc: do Khổng tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại
một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký Như vậy từ lục kinh chỉcòn lại ngũ kinh
4.2 Tứ Thư
4.2.1 Luận ngữ: ghi lại lời dạy của Khổng Tử do học trò của ông ghi chép
lại sau khi ông mất (Luận ngữ = các lời bình luận)
4.2.2 Đại học: dạy phép làm người để trở thành bậc quân tử Sách này do
Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử, dựa trên lờidạy của ông soạn ra (Đại học = sự học lớn)
Trang 64.2.3 Trung Dung: dạy người ta cách sống dung hòa, không thiên lệch Sách
này do người cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, học trò của Tăng Tử, còn gọi
là Tử Tư soạn ra (Trung dung = ở giữa, dung hòa)
4.2.4 Mạnh Tử: ghi lại lời dạy của Mạnh Tử (Mencius) Mạnh Tử tên thật
là Mạnh Kha, là người tiêu biểu nhất sau Khổng Tử, thuộc dòng Tử Tư, phát triển
tư tưởng của Khổng Tử ở thời Chiến Quốc (390-305 trước công nguyên)
CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO
Trang 7Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức
xã hội Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo chođược người cai trị kiểu mẫu, người lý tưởng này gọi là quân tử (quân là kẻ làm vua,quân tử là chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân", những ngườithấp kém về địa vị xã hội; "quân tử" còn chỉ cả phẩm chất đạo đức, những ngườicao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạođức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng màNho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền) Để trở thành ngườiquân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi tu thânxong, người quân tử có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo
lí Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ởđây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó lànhững nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiệnra) và cần phải tuân theo Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắmđược đạo trời, biết sợ mệnh trời Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào conngười sẽ được gọi là Mệnh)
1 Cơ sở triết lí của Nho giáo
1.1 Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức
để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội
Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo Tam Tòng
và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng người trong xãhội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội được anbình
1.1.1 Tam Cương: ba mối quan hệ quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu
Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật
Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
Trang 8 Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy
1.1.3 Tam Tòng: Tam là ba; Tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữphải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
Tại gia tòng phụ: nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,
Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con
1.1.4 Tứ Đức: bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có là: Công, Dung, Ngôn,Hạnh.
Công: khéo léo trong việc làm
Dung: hòa nhã trong sắc diện.
Ngôn: mềm mại trong lời nói.
Hạnh: nhu mì trong tính nết
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:
Đạt Đạo. Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử màngười quân tử phải thực hiện trong cuộc sống "Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều:đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè" (sách TrungDung), tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu" Đóchính là Ngũ thường, hay Ngũ luân Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là "trungdung" Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập trung lại chỉ còn ba mối quan hệquan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng
Đạt Đức. Quân tử phải đạt được ba đức: "nhân - trí - dũng" Khổng Tửnói: "Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được Người nhân không lobuồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi" (sách Luận ngữ) Vềsau, Mạnh Tử thay "dũng" bằng "lễ, nghĩa" nên ba đức trở thành bốn đức: "nhân,nghĩa, lễ, trí" Hán nho thêm một đức là "tín" nên có tất cả năm đức là: "nhân,nghĩa, lễ, trí, tín" Năm đức này còn gọi là Ngũ thường
Biết Thi, Thư, Lễ, Nhạc. Ngoài các tiêu chuẩn về "đạo" và "đức",người quân tử còn phải biết "Thi, Thư, Lễ, Nhạc" Tức là người quân tử còn phải
có một vốn văn hóa toàn diện
1.2 Hành đạo
Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làmchính trị Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc,bình thiên hạ" Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - tề gia, cho đến lớn - trị
Trang 9quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kim chỉ namcho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm:
Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêungười và coi người như bản thân mình Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thìKhổng Tử nói: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Điều gì mình không muốn thì đừnglàm cho người khác" (sách Luận ngữ) Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý,đạo đức, Khổng Tử nói: "Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không cónhân thì nhạc mà làm gì?" (sách Luận ngữ)
Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó,mỗi người phải làm đúng chức phận của mình "Danh không chính thì lời khôngthuận, lời không thuận tất việc không thành" (sách Luận ngữ) Khổng tử nói vớivua Tề Cảnh Công: "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi,cha ra cha, con ra con" (sách Luận ngữ)
Trên đây là những điều mấu chốt trong kinh sách của Nho giáo, chúng đượctóm gọi lại trong chín chữ: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Và chín chữ đóchỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi
Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư,
lễ, nhạc Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức màkhông cần phải có quyền Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đứcthì được gọi là tiểu nhân (như dân thường)
2 Một số Triết Gia tiêu biểu
2.1 Khổng Tử (551- 479 – TCN)
– Khổng Tử là người mở đầu khai sinh ra trường phái Nho gia Ông tên thật
là Khổng Khâu, tự là Ni, sinh ra tại nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông-TrungQuốc Sinh ra trong gia đình quý tộc nhưng đã sa sút Cha Khổng Tử đã từng làmquan nước Lỗ, có lúc làm quan đại phu của nước Lỗ Nhưng khi Khởng Tử ra đời,cha về hưu (Cha có 3 vợ: vợ đầu có 9 con gái, vợ 2 có 1 người con trai nhưng bị teochân Năm 70 tuổi, cha cưới vợ 3 sinh ra Khổng Tử, đến năm 73 tuổi thì mất).Khổng Tử nói “ta lớn lên trong cảnh nghèo hèn nên biết nhiều nghề mọn”
- Khổng tử là người thông minh ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn và hiếuhọc Với ông, “học không biết chán, dạy không biết mỏi” Người đầu tiên tự mởtrường dạy học Học trò của ông không phân biệt giai cấp nhưng việc đào tạo cómục đích
- Khổng Tử từng làm quan (quan trong coi ruộng đất, sổ sách) nhưng khôngđược trọng dụng Cuộc đời không thành đạt trong quan trường nhưng lại rực rỡtrong lĩnh vực triết học nhân sinh Khổng tử mất vào năm 73 tuổi
Trang 10- Khổng Tử là người viết nhiều tác phẩm (8 tác phẩm)
+ Kinh Dịch: giải thích bản chất của thế giới theo quan điểm âm dương ngũhành
+ Kinh Thư: trình bày các hoạt động của các triều đại trong lịch sử
+ Kinh Thi: tác phẩm sưu tầm truyền thuyết, ca dao, dân ca
+ Kinh Lễ: tác phẩm trình bày tổ chức hành chính và trật tự đòi nhà Chu.+ Kinh Xuân Thu
Các bộ kinh trên gọi là Ngũ Kinh
+ Luận Ngữ: bàn về đường lối vchính trị lấy dân làm gốc
+ Đại Học: tác phẩm bàn về sự học của người quân tử
+ Trung Dung: dạy cách ứng xử của người quân tử
Khổng tử sống trong thời đại nhà Chu suy tàn, trật tự xã hội bị đảo lộn trướctình hình đó, ông chủ trương lập lại lễ giáo nhà Chu, lập ra học thuyết, mở trườngdạy học và đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình Để thực hiện điều đó, ông
đã xây dụng nên học thuyết về chính trị xã hội mà cốt lõi là 3 phạm trù chính danh
nhân-lễ-– Quan niệm đức nhân: đức nhân có nhiều nghĩa nhưng nghĩa chính làthương người, nhân đạo đối với con người, nhân cũng là đức hạnh của người quân
tử Khổng Tử cho rằng đức nhân dựa trên 2 nguyên tắc:
+ “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”- cái gì mình không muốn thì đừng làm chongười khác
+ “ Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”- mình muốn đứngvững thì giúp người khác đứng vững, mình muốn lập thân thì gíup người khác lậpthân, mình muốn thành đạt thì giúp người khác thành đạt
Trên cơ sở 2 nguyên tắc này, ông cụ thể thành các tiêu chuẩn đạo đức cụ thểđặc biệt là đối với tầng lớp quân tử, ông cho rằng đối với những người làm chính trịquản lý xã hội muốn có đức nhân phải có 5 điều:
+ Một là trọng dân
+ Hai là khoan dung độ lượng với dân
+ Ba là giữ lòng tin với dân
+ Bốn là mẫn cán (tận tụy trong công việc): lo việc chung
+ Năm là đem lòng nhân ái đối xử với dân
Như vậy, quan niệm về đức nhân của Khổng Tử là một đóng góp lớn trongviệc giáo dục đào tạo con người giúp con người phát triển toàn diện, vừa có đứcvừa có tài Tuy nhiên do hạn chế về lập trường giai cấp nên quan niệm về đức nhân
Trang 11của Khổng Tử cũng có nội dung giai cấp rõ ràng khi ông cho rằng chỉ có ngườiquân tử mới có được đức nhân, còn kẻ tiểu nhân tức nhân dân lao động không cóđức nhân; nghĩa là đạo nhân chỉ là đạo của người quân tử là của giai cấp thống trị.
– Quan niệm về lễ: Khổng tử cho rằng để đạt được đức nhân, phải chủtrương dùng lễ để duy trì trật tự xã hội.Lễ trước hết là lễ nghi, cách thờ cúng, tế lễ;
lễ là kỷ cương, trật tự xã hội, là những qui định có tính pháp luật đòi hỏi mọi ngườiphải chấp hành Ai làm trái những điều qui định đó là trái với đạo đức Như vậy, lễ
là biên pháp đạt đến đức nhân
– Quan niệm về chính danh: quy định rõ danh phận của mỗi người trong xãhội Khổng Tử cũng như các nhà Nho có hoài bão về một xã hội kỷ cương Vàothời đại Khổng Tử, xã hội rối ren, vì vậy, điều căn bản của việc làm chính trị là xâydựng xã hội chính danh để mỗi người mỗi đẳng cấp xác định rõ danh phận củamình mà thực hiện
Chính danh có hai bộ phận là danh và thực: danh là tên gọi, là địa vị, thứ bậccủa con người; thực là quyền lợi mà con người được hưởng phù hợp với danh.Khổng Tử cho rằng danh và thực phải thống nhất với nhau Từ đó ông chia xã hộithành 5 mối quan hệ gọi là Ngũ Luân:
+ Vua-tôi (quân-thần): vua nhân-tôi trung
+ Chồng-vợ (phu-phụ): chồng biết điều-vợ biết nghe lẽ phải
+ Cha-con (phụ-tử): cha hiền-con thảo
+ Anh- em (huynh-đệ): anh tốt-em ngoan
+ Bạn bè (bằng hữu): chung thủy
Khổng Tử cho rằng nếu mỗi người mỗi đẳng cấp thực hiện đúng danh phậncủa mình thì xã hội có chính danh và một xã hội có chính danh là một xã hội có kỷcương thì đất nước sẽ thái bình thịnh trị
Trong quan điểm về thế giới, Khổng Tử có sự giao động gĩưa lập trường duyvật và lập trường duy tâm vì có khi Khổng Tử tin có mệnh trời: ông cho rằng “tửsinh có mệnh” (sống chết tại ở trời, không cãi được mệnh trời) Khổng Tử cho rằngngười quân tử có 3 điều sợ trong đó sợ nhất là mệnh trời, 2 là sợ bậc đại nhân, 3 là
sợ lời thánh nhân Nhưng có khi Khổng Tử lại không tin có mệnh trời: ông chorằng trời là lực lượng tự nhiên không có ý chí, không can thiệp vào công việc củacon người Ông cho rằng “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa cứ vận hành thay đổi,trăm vật trong vũ trụ cứ sinh sôi”
Tóm lại, mặc dù đứng trên lập trường thế giới quan duy tâm bảo thủ, bảo vệtrật tự xã hội nhà Chu suy tàn nhưng triết hoc Khổng Tử có yếu tố tiến bộ là đề cao
Trang 12vai trò đạo đức kỷ cương xã hội, đề cao nguyên tắc giáo dục đào tạo con người,trong người hiền tài, nhân đạo đối với con người và quan niệm tiến bộ của ôngnhằm xây dựng xã hội thái bình thịnh trị.
2.2 Mạnh Tử (327-289 – TCN)
Mạnh tử tên thật là Mạnh Kha, tự là Dư, sinh tại nước Lỗ, nay thuộc tỉnh SơnĐông – Trung Quốc Ông là người kế thừa phát triển tư tưởng của trường phái Nhogia Quan điểm triết học của Mạnh Tử thể hiện ở 3 nội dung sau:
Mạnh tử phát triển tư tưởng “thiên mệnh” của Khổng Tử và đẩy thế giớiquan ấy tới đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm Ông cho rằng không có việc gì xảy ra
mà không do mệnh trời, mình nên tùy phận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy
Từ đó, Mạnh Tử đưa ra học thuyết “Vạn vật đều có đủ ở trong ta, nên chỉ cần tựtĩnh nội tâm là biết được tất cả”, nghĩa là không phải tìm cái gì ở thế giới kháchquan mà chỉ cần tu dưỡng nội tâm là biết được tất cả Ông đã chuyển từ quan điểmduy tâm khách quan sang quan điểm duy tâm chủ quan
Mạnh Tử cho rằng bản chất con người vốn là thiện, tính thiện đó là do thiênphú chứ không phải là do con người lựa chọn Nếu con người biết giữ gìn thì làmcho tính thiện ngày càng mạnh thêm; nếu không biết giữ gìn sẽ làm cho nó ngàycàng mai mọt đi thì con người trở nên nhỏ nhen, ti tiện không khác gì loài cầm thú
Từ đó, Mạnh Tử kết luận: bản chất con người là thiện nhưng con người hiệnthực có thể là ác, đó là do xã hội rối loạn, luân thường đạo lý bị đảo lộn Cho nên,
để thiết lập quốc gia thái bình thịnh trị thì phải trả lại cho con người tính thiện bằngđường lối chính trị lấy nhân nghĩa làm gốc
Trong quan điểm về chính trị xã hội, Mạnh Tử có nhiều tiến bộ đặc biệt là tưtưởng của ông về dân quyền, tức đề cao vai trò của quần chúng nhân dân Ông chorằng trong một xã hội thì quý nhất là dân rồi mới đến vua, đến của cải xã tắc “dân
vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi” Với tinh thần ấy, Mạnh tử chủ trương xâydựng một chế độ bảo dân, dưỡng dân tức là phải chăm lo, bảo vệ nhân dân và ôngyêu cầu người trị vì đất nước phải quan tâm đến dân, phải tạo cho dân có nhà cửa,ruộng vường, tài sản bởi vì họ “hàm sản mới hàm tâm” Ông là người chủ trươngkhôi phục chế độ tĩnh điền để cấp đất cho dân Ông khuyên các bậc vua chúa tiếtkiệm chi tiêu, thu thuế của dân có chừng mực Đó là những quan điểm hết sức mới
mẽ và tiên bộ của ông khiến ông mạnh dạn đưa vào đường lối chính trị của trường
Trang 13phái Nho gia hàng loạt vấn đề mới mẽ toát lên tinh thần nhân bản theo đường lốilấy dân làm gốc.
CHƯƠNG 3 QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG
TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VIỆT NAM
1.1 Định nghĩa Văn hóa
Từ “Văn hóa” có rất nhiều nghĩa với nhiều phạm vi khác nhau trongtiếng Việt, Văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ vănhóa), lối sống (nếp sống văn hóa); Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minhcủa một giai đoạn lịch sử (Văn hóa Đông Sơn)
Định nghĩa văn hóa trong các từ điển hầu hết mở đầu bằng câu : “Văn hóa
là tập hợp của các giá trị…” Ủy ban UNESCO của liên hợp quốc thì xếp văn hóabên cạnh khoa học và giáo dục, tức đặt hai lĩnh vực này ra ngoài khái niệm vănhóa, và đã định nghĩa văn hóa như sau : “ Văn hóa là một phức thể, tổng thể cácđặc trưng – diện mạo tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm … Khắc họa lên bảnsắc một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội Văn hóa
Trang 14không chỉ bao gồm nghệ thuật văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơbản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống tín ngưỡng …”
Theo Triết học Macxít thì : “Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của xã hội
mà loài người đạt được, bao gồm quan hệ con người với tự nhiên và xã hội, cả sựphát triển sáng tạo và khả năng của cá nhân” Phó giáo sư – Tiến sĩ Trần NgọcThêm đã tổng kết và đưa ra định nghĩa văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thốnghữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quátrình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tựnhiên và xã hội của mình”
Ta thấy khái niệm văn hóa có mặt trong mọi phạm vi xã hội và gắn liền vớimột xã hội, một dân tộc, một cộng đồng và một cá thể trong từng thời điểm lịch sửnhất định Văn hóa là một nhân tố chủ quan của con người tác động trở lại quá trìnhphát triển khách quan của lịch sử Ngày nay, nhân tố con người ngày càng trở nênquan trọng, nhất là trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
1.2 Quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo Việt Nam
• Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo được du nhập vào Việt Nam từ lâu và
đã có vai trò đáng kể trong đời sống tinh thần của nhân dân Những trào lưu ấyđược cải biến cho phù hợp với truyền thống văn hóa của nhân dân và nhu cầu củađất nước, đã trở thành nhân tố của nền văn hóa và hệ tư tưởng thống trị ở ViệtNam Nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam không thể tách rời nó với truyền thốngViệt Nam
• Nho giáo ở dạng Hán nho được các quan lại Trung Hoa như TíchQuang, Nhâm Diên, Lý Thiện, Sĩ Nhiếp tích cực truyền bá từ công nguyên.Nhưng Phật giáo đã có ưu thế hơn Nho giáo rất nhiều Trong khi Nho giáo chỉdừng lại ở tầng lớp quan lại xung quanh chính quyền ngoại bang thì Phật giáo đãthâm nhập vào các tầng lớp nhân dân ở mọi miền đất nước Có thể nói rằng suốt cảgiai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam
• Đến thời Lý, với sự kiện Lý Thái Tổ cho xây cất Văn Miếu thờ ChuCông, Khổng Tử (1076), mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức.Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho (Nhà Lý cùng thời vớinhà Tống ở Trung Hoa) chứ không phải Hán Nho, Đường Nho…
• Vào năm 1232 vua Trần đã đặt ra học vị đầu tiên cho thi cử Nho giáo ởnước ta, đó là học vị Thái học sinh (về sau đổi thành tiến sĩ) và có Chu Văn An đỗthái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học, đào tạo được kháđông học trò Các nhà Nho thời kỳ này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗđứng của mình Tuy nhiên, đến cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận
Trang 15rộng rãi (Không cứ gì ở nơi nông thôn, ngay ở chốn triều đình, các tập tục, lề lốicủa khuôn mẫu Nho giáo cũng rất xa lạ với ta Một lần có người đề nghị cải tổ triềuđình theo khuôn mẫu Phương Bắc đã bị vua Trần cự tuyệt và nói rằng ta có cáchcủa ta).
• Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, các nhà Nho, đứng đầu làNguyễn Trãi, tập hợp dưới ngọn cờ của Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn Với
sự lớn mạnh của Nho giáo Việt Nam, với nhu cầu cải cách đất nước đã dẫn đếnviệc triều Lê chủ động đưa Nho giáo thành Quốc giáo; Nho giáo giữ địa vị độc tôn
Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của các triều đại phong kiến NhàNguyễn lên cầm quyền, địa vị của Nho giáo một lần nữa khẳng định để rồi tàn lụidần khi phải đối mặt với sự tấn công của văn hóa phương Tây
1.3 Sự tiếp thu Nho giáo trên cơ sở truyền thống văn hóa Việt Nam
Nét độc đáo của văn hoá Việt Nam là khi tiếp thu cái ngoại lai, nó tiếpnhận từng yếu tố riêng lẻ và Việt Nam hoá để rồi cấu tạo lại theo cách của mình
Nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo chính là đểkhai thác những yếu tố là thế mạnh của Nho giáo, thích hợp cho việc tổ chức vàquản lý đất nước
Trước hết nhà nước quân chủ Việt Nam đặc biệt là các triều Lê, Nguyễn
đã học tập rất nhiều ở cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật, hệ thống thi cử
để chọn người tài bổ dụng, trong bộ máy cai trị đã được triều đình phong kiến ViệtNam vận dụng ngay từ đầu thời Lý hoàn thiện dần ở thời Trần và hoàn chỉnh vàothời Lê Chữ cổ đã mai một và mất hẳn thì người Việt sử dụng chữ Hán (chữ Nho)làm văn tự chính thức trong giao dịch hành chính, trên cơ sở chữ Hán, từ cuối thờiBắc thuộc, người Việt đã tạo ra chữ Nôm dùng trong sáng tác văn chương ThờiTây Sơn vua Quang Trung đã mở rộng sử dụng chữ Nôm trong lĩnh vực hành chính
và giáo dục
Có rất nhiều yếu tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã biến đổi cho phù hợpvới truyền thống của văn hoá dân tộc tức là: “Chữ nghĩa nó vẫn thế nhưng cáchhiểu thì đã khác nhiều”
Về chữ Trung và Hiếu
Trong giai đoạn của lịch sử Việt Nam, khi xuất hiện mâu thuẩn giữa Vua vàđất nước với dân tộc, thì đất nước dân tộc luôn là cái quyết định, được đặt lên trênhết Tư tưởng Trung quân của Nho giáo được người Việt Nam tiếp thu trên cơ sởtinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có khiến cho nó đã bị biến đổi, “Trungquân” gắn liền với “Ái quốc”