1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân tỉnh đắk nông đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp

127 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp
Tác giả Nguyễn Trung Phong
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quốc Sửu
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đắk Nông
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN TRUNG PHONG

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOAT ĐỘNG CỦA VIÊN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH

TƯ PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐĂK NÔNG - NĂM 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN TRUNG PHONG

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOAT ĐỘNG CỦA VIÊN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH

TƯ PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Mã số: 8 38 01 02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu

ĐĂK NÔNG - NĂM 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM VIẾT TẮT

Các từ, cụm từ viết tắt Các từ, cụm từ nguyên nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục từ viết tắt

MỞ ĐẦU 7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 17

1.1 Khái quát về cải cách tư pháp 17 1.2 Khái niệm và đặc điểm tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân 23 1.3 Khái quát về đổi mới tổ chức và hoạt động viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp 35 Kết luận chương 1 48

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG 49

2.1 Cơ sở pháp lý về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh 49 2.2.Nội dung đổi mới, kiện toàn tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chiến lược cải cách tư pháp 65 2.3.Thực trạng thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông theo tiến trình cải cách tư pháp 79 2.4.Những hạn chế của việc đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp 96 Kết luận chương 2 104

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH

TƯ PHÁP 105

Trang 6

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh 105 3.2 Các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp 109 3.3.Giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới tổ chức và hoạt của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới 118 Kết luận chương 3 122

KẾT LUẬN 123 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân là một nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự

Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; đồng thời, bổ sung nội dung: “Nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, trong đó có Chiến lược cải cách tư pháp” Theo đó, tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Cơ quan điều tra, cơ quan Thi hành án và các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp; pḥng ngừa và đấu tranh

có hiệu quả với hoạt động của tội phạm và vi phạm pháp luật; giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các loại tranh chấp, khiếu kiện theo luật định Cải cách Viện kiểm sát là một trong những nội dung quan trọng của cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng nhằm mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Để thực hiện mục tiêu:

“Xây dựng một nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, theo đó Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, nhằm phát huy

Trang 8

mạnh mẽ dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời tăng cường pháp chế XHCN, đảm bảo kỷ cương xã hội… trong đó, định hướng tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động mà một số công tác trọng tâm trong khâu đột phá đó là cải cách nền tư pháp trong giai đoạn hiện nay và những năm sắp tới như: Nghị quyết số 49- NQ/TW Ngày 2/6/2005 Bộ Chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm

2020 trong đó xác định: “ Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với

tổ chức và hoạt động của Tòa án”, Kết luận số 79- KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ chính trị đã khẳng định: “ Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay” Kết luận số 83-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ chính trị về Tổng kết việc thực hiện NQ 48-NQ/TW của Bộ chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật Việt nam đến năm 2010 định hướng đến 2020; Kết luận số 84-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ chính trị về Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XV…

Trong những năm gần đây, tổ chức của VKSND nói chung cũng như của VKSND hai cấp tỉnh Đắk Nông nói riêng đã có nhiều bước đổi mới cả về

số lượng và chất lượng, trong đó đội ngũ công chức, KSV là nhân tố quyết định trong việc thực hiện một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước, đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả tổ chức của VKSND là vấn đề cần thiết để việc quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có hiệu quả, đáp ứng được các yêu cầu, nhiệm vụ mới, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung và đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà

Trang 9

nước nói riêng ở Việt Nam hiện nay Vấn đề cải cách tư pháp đã được quán triệt và trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức cũng như hành động, đồng thời phù hợp với quá trình đổi mới công tác lập pháp và cải cách hành chính

Bên cạnh những kết quả đạt được trong những năm qua thì hoạt động Viện kiểm sát nhân dân Đắk Nông cũng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế và bất cập như: chất lượng và hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm chưa cao, tin báo tố giác tội phạm còn để tồn đọng, kéo dài, một số vụ

án dân sự, hành chính chậm được giải quyết, chất lượng tranh tụng tại phiên tòa chưa được nâng cao… đòi hỏi phải nhanh chóng cải cách mạnh mẽ, toàn diện về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra

trong tình hình mới Với lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Đổi mới tổ chức

và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp” làm luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết trên các tạp chí liên quan đến nội dung tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như sau:

Nhóm thứ nhất: Những công trình là các đề tài khoa học cấp Nhà nước,

cấp bộ, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về

hệ thống tư pháp Việt Nam có liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân như:

Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” do Bộ Tư

Pháp (2022) biên soạn Đề án nghiên cứu nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Trong tiến trình nghiên cứu, mỗi chuyên đề chỉ rõ những điểm mới,

Trang 10

điểm đột phá về cải cách tư pháp Một số ý kiến đề nghị tập trung nghiên cứu, tổng kết đánh giá thực trạng, kết quả của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay; coi đây là thực tiễn quan trọng để xây dựng các giải pháp hoàn thiện mô h́nh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương lai Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhằm phụng sự nhân dân tốt hơn, đóng góp nhiều hơn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Vì vậy, việc xây dựng đề án cần có phương pháp tiếp cận khoa học, tầm nhìn dài hạn đến năm 2045 và đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hải Phong về: “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” cho rằng nội dung hoạt động kiểm sát chỉ là hoạt động của cơ quan VKS trong việc truy cứu TNHS người phạm tội

và buộc tội họ trước Tòa án và xác định về giới hạn phạm vi viện kiểm sát được bắt đầu từ khi vụ việc phạm tội xảy ra cho đến khi kết thúc việc buộc tội

.Nhóm thứ 2, một số bài báo khoa học, tạp chí:

Bài viết “Bàn về vai trò, trách nhiệm của đơn vị và cán bộ quản lý nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát các cấp” của tác giả Lại Hợp Việt đăng trên Tạp chí kiểm sát số 14/2016; Bài viết có một số trọng điểm sau: Căn cứ Luật

tổ chức Viện KSND, Pháp lệnh Kiểm sát viên (KSV) Viện KSND và các văn bản quy phạm pháp luật khác về tư pháp; thì những quyền năng pháp lý mà Viện Kiểm sát (VKS) trực tiếp thực hiện để quyết định và liên quan đến việc cáo buộc người phạm tội thì đó là quyền năng thuộc nội dung chức năng thực hành quyền công tố; những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát sử dụng để phát hiện và yêu cầu xử lý các vi phạm pháp luật của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, là những quyền năng thuộc nội dung chức năng kiểm sát

Trang 11

các hoạt động tư pháp Từ đó có thể hiểu là: “Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung chức năng thực hành quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử hình sự" Kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng Hiến định của Viện KSND, có nội dung giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thực hiện một số hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, xét xử, thi hành án nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Chức năng thực hành quyền công tố được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ khi khởi tố, điều tra, truy tố và tại các phiên tòa xét xử

sơ thẩm án hình sự VKS thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, không để người nào bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật.Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được Viện KSND thực hiện trong xét xử

án hình sự, dân sự, hành chính; giam giữ, cải tạo; thi hành án; giải quyết khiếu nại tố cáo Khi phát hiện các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng có vi phạm pháp luật thì VKS kháng nghị hoặc kiến nghị yêu cầu chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị xâm phạm Thực tiễn chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được ngành KSND thực hiện có hiệu quả, góp phần quan trọng trong xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý

Bài viết "Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay",

của tập thể các tác giả do GS.TS Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Khoa học xã hội,

2020 bài viết: "Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền", của TSKH Lê Cảm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số

Trang 12

4, 2021; Qua quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn sau 20 năm đổi mới, một trong những nội dung đặc trưng của NNPQ XHCN đã được Đảng và Nhà nước ta thừa nhận là yêu cầu tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người Trên cơ sở

đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp (CCTP) đến năm 2020 đã một phần hiện thực hoá nội dung đặc trưng nói trên với yêu cầu hệ thống tư pháp phải được hoàn thiện để hướng tới mục tiêu bảo vệ công lý, lẽ phải, lẽ công bằng Các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của người nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người: “Xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý…” Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ

XI của Đảng ta (năm 2011) cũng đã tiếp tục khẳng định yêu cầu bảo vệ công

lý trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2013) cũng đã hiến định những giá trị căn bản và phổ quát của công lý: “Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Như vậy, trước yêu cầu xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN, công

lý và bảo vệ công lý đã trở thành một trong những mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta và

là một giá trị tiến bộ xã hội nhân văn, bền vững được toàn xã hội thừa nhận và hướng tới

Trang 13

Các công trình khoa học nêu trên đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nước ta, phúc đáp những yêu cầu bức xúc của cuộc sống Tuy nhiên, vì các lý do khác nhau nên những công trình nghiên cứu trên chưa giải quyết một cách đầy đủ, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng trong điều kiện cải cách tư pháp Vấn đề tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2 cấp trong đó có việc xây dựng Viện kiểm sát nhân dân khu vực mới được đặt

ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/07/2010 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Vì vậy, mặc dù đã có khá nhiều bài viết về vấn đề này nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và có hệ thống chính thức được công bố

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp

- Phân tích thực trạng quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cụ thể tại tỉnh Đắk Nông và Chỉ ra những như khó khăn, thách thức đối với ngành kiểm sát trong việc xây dựng mô hình

tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp;

- Đưa ra phương hướng và giải pháp xây dựng tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và giải pháp nâng cao vận dụng thực tiển tỉnh Đắk Nông nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát

Trang 14

nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp

.- Nghiên cứu thực trạng về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp

-Rút ra khó khăn, thách thức trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp Trên cơ sở đó đưa ra một số phương hướng, giải pháp để tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, nên đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Đắk Nông nói riêng và Việt Nam nói chung

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sĩ, tác giả xác định phạm

vi của đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông bởi lẽ đây là cấp trực tiếp giải quyết số lượng chủ yếu các vụ việc theo thủ tục tư pháp và cũng là vấn đề phức tạp, có tác động rất lớn đến hiệu quả của cải cách tư pháp trong thời gian tới Trong đó, luận văn sẽ tìm hiểu những vấn đề chủ yếu của cải cách tư pháp và yêu cầu đặt ra đối với ngành kiểm sát; tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành; cơ sở thiết lập Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông; những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong việc xây dựng mô hình đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng có hiệu quả mô hình đổi mới tổ chức và hoạt động viện kiểm sát

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 15

5.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, về đổi mới

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp; những thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, về đổi mới

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp; những thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp được sử dụng là các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học xã hội, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể; đồng thời cũng sử dụng kết hợp các phương pháp luật học so sánh, phương pháp lý thuyết hệ thống, phương pháp thống kê

6 Đóng góp và ý nghĩa của luận văn

6.1 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và luận cứ khoa học về bối cảnh, quan điểm, nội dung cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay Trên cơ sở tổng hợp số liệu qua nhiều nguồn xác thực, luận văn đã đánh giá đúng thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm qua và yêu cầu cải cách Viện kiểm sát nhân dân; xác định cơ sở thiết lập và tính ưu việt của mô hình đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông; làm rõ những thuận lợi và khó khăn, thách thức

Trang 16

đối với ngành kiểm sát trong việc xây dựng mô hình đổi mới tổ chức và hoạt động này Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn để xây dựng mô hình đổi mới

tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, hi vọng rằng luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, những người làm thực tiễn và công tác nghiên cứu, giảng dạy

6.2 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ về lý luận cũng như thực tiễn trong quá trình đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, những người làm thực tiễn; đồng thời có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu, giảng dạy cho các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đổi mới tổ chức viện kiểm sát nhân dân Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông

Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC CỦA VIỆN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN 1.1 Khái quát về cải cách tư pháp

1.1.1 Bối cảnh và nhu cầu của cải cách tư pháp

1.1.1.1 Bối cảnh

Cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là quá trình đổi mới toàn diện hệ thống tư pháp với trung tâm là hoạt động xét xử nhằm mục tiêu làm cho tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ngày càng thể hiện đầy đủ, đúng đắn bản chất dân chủ, của dân, do dân, vì dân của quyền tư pháp, phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường, đáp ứng ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn yêu cầu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và nhà nước Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế [24, tr 182]

Trong hơn 60 năm qua, hệ thống các cơ quan tư pháp ở nước ta đã hình thành và từng bước kiện toàn, phát triển trên nền tảng của những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ, hiện đại, ngày càng phù hợp và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thực tiễn cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Bước vào thiên niên kỷ mới, công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt đến bước phát triển mới, tạo nên những tiền đề và cũng là thách thức lớn về kinh tế, chính trị, xã hội đòi hỏi phải có những điều chỉnh lớn mang tính cải cách đối với thiết kế tổng thể của hệ thống tư pháp, từ chức năng, nhiệm vụ đến tổ chức, con người và hoạt động của từng cơ quan tư pháp cũng như các mối quan hệ

Trang 18

giữa chúng

Trên phương diện quốc tế, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và suy thoái toàn cầu vẫn còn tiếp tục tác động đến thế giới nói chung và nền kinh tế nước ta nói riêng, vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái khủng hoảng Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh

mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên Chủ trương bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thương mại quốc tế Thực tế này đã đặt ra những thách thức gay gắt đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong việc chủ động sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế và các nỗ lực tập thể để nêu cao chủ quyền dân tộc, phát huy vai trò và bảo vệ lợi ích của mình Trong giai đoạn tới, các nước ASEAN sẽ hình thành cộng đồng kinh tế chung Quá trình này sẽ dẫn đến việc hình thành các nguyên tắc và chuẩn mực chung, trong đó

có các nguyên tắc, quy định pháp luật thể hiện lợi ích của cả cộng đồng

1.1.1.2 Nhu cầu cải cách tư pháp

Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu và rộng vào đời sống kinh tế, chính trị quốc tế Điều này không chỉ thể hiện ở sự tham gia trực tiếp của Việt Nam vào các tổ chức quốc tế và các diễn đàn quốc tế và tỉnh Đắk Nông có tính truyền thống như Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên của Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á

- Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á mà còn thể hiện sự mở rộng đối với các tổ chức và diễn đàn này thông qua các diễn đàn APEC+, ASEAN+ Quá tŕnh này làm cho hệ thống pháp luật và các thiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp của Việt Nam có những sửa đổi và điều chỉnh tích cực như từng bước chuyển hóa các nguyên tắc pháp lư thương mại quốc tế cơ bản như không phân biệt đối xử, công khai, minh bạch trong hoạt động ban hành pháp luật, áp dụng pháp luật, trong quy trình ra các quyết định

Trang 19

hành chính, tư pháp Tuy nhiên, những tiền đề đó chưa đủ để vượt qua được những thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật và tư pháp nước ta trong những năm tiếp theo Như một số nhà nghiên cứu phân tích, những thách thức đó là sự bất tương thích về mô hình đổi mới tổ chức và hoạt động tổ chức, cơ chế hoạt động và thủ tục tố tụng tư pháp của Việt Nam so với các quy tắc và chuẩn mực chung của quốc tế; sự bất cập, lạc hậu trong nhận thức, hiểu biết và đặc biệt là kỹ năng áp dụng pháp luật của đội ngũ cán bộ tư pháp trong khi xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình hội nhập Trong khi

đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức thương mại quốc tế hiện đại và

kỹ năng nghiệp vụ liên quan tới hội nhập vẫn đang trong tình trạng bị động, chắp vá, hình thức, kém hiệu quả [28] Để có thể thúc đẩy quá trình hội nhập nhanh và bền vững, việc xây dựng một nhà nước hiệu quả, có cơ cấu tổ chức phù hợp và một hệ thống pháp luật hoàn thiện, phù hợp với thông lệ chung là yêu cầu rất lớn đang đặt ra đối với đất nước ta

Sau 25 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội 2001-2010, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo ra sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển kinh tế đất nước Sự ổn định về chính trị - xã hội, dân trí được nâng cao, dân chủ hóa nhiều mặt đời sống xã hội, bảo đảm nhân quyền, công bằng, tiến bộ xã hội đang đòi hỏi phải phát huy vai trò của pháp luật và tư pháp Mặt khác, nhiều vấn đề văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục đặt ra nhiều thách thức lớn trong đó có vấn đề phát triển bền vững Quốc phòng và an ninh, nhất là chủ quyền và an ninh vùng biển đảo vẫn đang là thách thức lớn trong bối cảnh quốc tế hiện tại Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh "diễn biến hòa bình", lợi dụng triệt để vấn đề tự do dân chủ, tự do tôn giáo, các vấn đề về nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động bạo loạn, ly khai Những tội phạm có vấn đề an ninh phi truyền thống như buôn bán ma túy, cướp biển, tội phạm có tổ chức, khủng bố, nhập

Trang 20

cư và di cư trái phép đang ảnh hưởng đến tình hình trật tự - xã hội của đất nước Trong bối cảnh đó, việc xây dựng, củng cố hệ thống pháp luật và tư pháp có khả năng đối mặt với khó khăn, thách thức này càng cần phải được chú trọng

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) được tổ chức thành công có ý nghĩa trọng đại khi đất nước đang bước sang một giai đoạn phát triển mới sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới Đại hội Đảng đã thông qua Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ (sửa đổi) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 Đây là những văn kiện quan trọng định hướng cho sự phát triển đất nước trong những năm tới, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước như một khâu quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi chiến lược, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, tạo bước chuyển mạnh về cải cách hành chính

Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 12/07/2011 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về việc triển khai thực hiện chủ trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 đã đưa ra nhiều đề xuất sửa đổi quan trọng, đặc biệt là các chương về chế độ kinh tế, về tổ chức bộ máy nhà nước

Có thể nói, công cuộc đổi mới toàn diện đã tạo ra những tiền đề, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn cho tiến trình cải cách tư pháp nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam

1.1.2 Các quan điểm cải cách tư pháp

Thứ nhất, cải cách tư pháp phải xuất phát từ nhu cầu và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Trong từng giai đoạn phát triển của

mình, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan tư

Trang 21

pháp không chỉ phục vụ, tạo thuận lợi cho sự vận hành của nền kinh tế mà đồng thời phải là người lính gác bảo vệ tinh thông, nhạy bén trước những biến

cố, tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường có thể xâm hại đến trật tự công cộng [24, tr 187] Sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống tư pháp không tách rời sự phát triển của kinh tế - xã hội và tác động ngược trở lại đối với kinh tế -

xã hội, tạo nên hệ thống công cụ pháp lý an toàn cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, các trình tự, thủ tục và phương thức, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, chức danh tư pháp phải được cải cách theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo ngăn ngừa có hiệu quả

và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức, giải quyết nhanh chóng, hợp lý, hiệu quả các tranh chấp kinh tế, dân sự trong nền kinh tế thị trường đang hội nhập ngày càng sâu rộng với tỉnh Đắk Nông

và quốc tế, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội, bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội và Nhà nước

Thứ hai, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo giữ vững và phát huy bản chất dân chủ,

vì con người và bảo vệ quyền con người của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp Nguyên tắc "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" thể hiện bản

chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Mục tiêu của Nhà nước pháp quyền là bảo đảm và phát triển quyền con người, quyền công dân

Phương thức bảo đảm quyền con người của Nhà nước pháp quyền là công nhận quyền con người, xác lập quyền công dân bằng hoạt động lập pháp,

tổ chức thực thi quyền con người, quyền công dân bằng hoạt động hành pháp

và bảo vệ các quyền đó bằng hoạt động tư pháp Nguyên tắc xây dựng các cơ

Trang 22

quan tư pháp của dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi huy động sự tham gia ngày càng rộng rãi và tích cực của nhân dân vào công tác tư pháp, bắt đầu từ quá trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động tư pháp đến quá trình tổ chức thực thi pháp luật trong hoạt động tư pháp Nhiều Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị) và đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh chủ trương nghiên cứu và đẩy mạnh xã hội hóa một số hoạt động tư pháp, bổ trợ

tư pháp như tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, thi hành án, giám định tư pháp, công chứng, kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp Thực chất đó là quá trình thu hút sức mạnh, trí tuệ, nguồn lực của nhân dân để làm thành sức mạnh của nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở xã hội rộng rãi cho hoạt động tư pháp có hiệu lực, hiệu quả

Thứ ba, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải được tiến hành đồng bộ với cải cách lập pháp, hành pháp theo hướng đảm bảo tính độc lập tương đối và sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực trên cơ sở quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về nhân dân, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước

Trên cơ sở của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2001-2010 do Đại hội Đảng IX thông qua, Nhà nước đã chọn khâu trọng tâm, đột phá trong cải cách

bộ máy nhà nước - đó là xây dựng và triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính 2001-2010 với mục tiêu xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, từng bước hiện đại hóa

Thứ tư, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền phải đảm bảo tính tối cao của luật trong tổ chức và hoạt động của các

Trang 23

cơ quan tư pháp, đảm bảo cải cách đồng bộ cả hệ thống tư pháp với Tòa án

và hoạt động xét xử là trung tâm Đây là yêu cầu rất cơ bản của Nhà nước

pháp quyền đối với hoạt động tư pháp Tòa án - cơ quan duy nhất có quyền xét xử, quyền sử dụng và nhân danh quyền lực nhà nước để phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của những vi phạm pháp luật, những tranh chấp pháp lý Nguyên tắc Hiến định "Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật" [35, Điều 72] khẳng định tính tối cao, quyết định của hoạt động xét xử và vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp Vì vậy, cải cách tư pháp phải đồng bộ ở tất cả các công đoạn của quy trình tố tụng và với tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống tư pháp nhằm giải quyết triệt để những bất cập hiện nay đang làm cho quy trình tố tụng bị cắt khúc, các cơ quan tư pháp biệt lập với quyền ra những quyết định tiền xét

xử (bắt tạm giữ, tạm giam ) có nhiều nguy cơ gây oan sai, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích cơ bản của công dân, làm cho Tòa án không thực sự giữ được vị trí là trung tâm của hệ thống tư pháp, là cơ quan duy nhất có quyền ra các quyết định, phán quyết động chạm đến quyền cơ bản của công dân trong quá trình tố tụng tư pháp

1.2 Khái niệm và đặc điểm tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

1.2.1 Khái niệm tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

Trong khoa học hành chính và đời sống xã hội, theo các cách tiếp cận khác nhau, có những quan niệm và cách giải thích khác nhau về thuật ngữ tổ chức của VKSND Để làm rõ khái niệm này, Luận văn nghiên cứu một số khái niệm:

* Khái niệm tổ chức

Theo Đại từ điển tiếng Việt, tổ chức với nghĩa là động từ, là sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cũng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng hoặc là sắp xếp, bố trí để làm cho có trật tự, nền nếp hay tiến hành một

Trang 24

công việc theo cách thức, trình tự nào; và với nghĩa là danh từ, tổ chức là tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung [39, tr.1662]

Theo Từ điển Tiếng Việt, “tổ chức là làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và có những chức năng, nhiệm vụ chung nhất định, với phương thức hoạt động riêng” [39, tr.1662] Như vậy, Luận văn sẽ tiếp

cận vấn đề tổ chức với nghĩa là: việc bố trí, sắp xếp lại thành một chỉnh thể với một cấu trúc nhất định để hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung và với những phương thức hoạt động riêng phù hợp với từng

bộ phận, từng nhóm trong tổ chức đó

* Khái niệm Viện kiểm sát nhân dân

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Viện kiểm sát là cơ quan chuyên kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật” [19, tr.1151]

Từ điển Luật học không đưa ra khái niệm về VKSND mà chỉ

khái niệm: “VKSND tối cao là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trên phạm vi cả nước góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” [30, tr.855]

Luật Tổ chức VKSND năm 2014 khái niệm: “VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [21]

Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: Viện kiểm sát nhân dân là một trong những bộ phận hợp thành hệ thống cơ quan của bộ máy nhà nước của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Cũng như các hệ thống cơ quan khác, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung Song, do có vị trí, chức năng và nhiệm vụ mang tính đặc thù nên hệ thống các Viện kiểm sát nhân dân

Trang 25

được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc riêng, nhằm bảo đảm cho các Viện kiểm sát hoạt động có hiệu quả cao hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về tổ chức của

VKSND như sau: Tổ chức của VKSND là việc bố trí, sắp xếp lại thành một chỉnh thể thống nhất với cơ cấu, số lượng hợp lý, gồm đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố

và kiểm sát hoạt động tư pháp một cách hiệu quả

1.2.2 Đặc điểm tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

Thứ nhất, tổ chức của VKSND được thành lập từ VKSND tối cao đến

VKSND cấp tỉnh, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi công vụ

Trong tổ chức và hoạt động bộ máy Nhà nước pháp quyền của nước ta,

hệ thống cơ quan tư pháp nói chung và VKSND nói riêng được tổ chức và

hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”

Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soátgiữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành

Trang 26

pháp, tư pháp [20]

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, VKSND là một cơ quan trong

hệ thống cơ quan của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam Do đó, cũng như các hệ thống cơ quan khác, VKSND được tổ chức và hoạt động trên cơ

sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung Song, do có vị trí, chức năng, nhiệm vụ mang tính đặc thù nên hệ thống các VKSND được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù Điều đó không có nghĩa là tách hệ thống VKSND ra khỏi bộ máy nhà nước ta, mà nhằm bảo đảm cho nó hoạt động có hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện nhiệm vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của VKSND được quy định tại Điều 109 Hiến pháp năm

2013 và Điều 7 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 Đó là nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của VKSND và nguyên tắc kết hợp vai trò lãnh đạo của Viện trưởng với quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng của Ủy ban kiểm sát

Vì vậy, việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung cũng như VKSND nói riêng đều có sự thống nhất từ trên xuống dưới và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm thực thi công vụ một cách hiệu quả

Thứ hai, tổ chức của VKSND là cơ sở cho công tác tổ chức cán bộ

nhằm nâng cao vị trí, vai trò và trách nhiệm của VKSND để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình

Công cuộc cải cách tư pháp hiện nay đã đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với cán bộ, công chức ngành KSND VKSND là cơ quan với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đảm bao không để xảy ra oan sai hay bỏ lọt tội phạm, bảo vệ pháp luật và quyền con người, quyền công dân, góp phần trong đấu tranh, phòng chống tội phạm, do đó, đòi

Trang 27

hỏi mỗi một cơ quan, đơn vị, ngoài vai trò của người đứng đầu mỗi cơ quan,

đơn vị thì cần phải có một đội ngũ công chức, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương

và trách nhiệm” Vì vậy, trên cơ sở tổ chức của VKSND, công tác tổ chức cán

bộ cần đảm bảo mỗi cán bộ Kiểm sát có đủ năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm, bản lĩnh nghề nghiệp, qua đó để nâng cao vị trí, vai trò và trách nhiệm của VKSND trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình

Thứ ba, tổ chức của VKSND được thiết lập là để thực hiện những chức

năng, nhiệm vụ được giao trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Để một hệ thống VKSND có thể thực hiện có hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thì hệ thống cơ quan Viện kiểm sát phải được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào các cơ quan chính quyền địa phương Do đó, việc tổ chức của VKSND các cấp cũng phải bảo đảm quán triệt các nguyên tắc trên để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình

Thứ tư, tổ chức của VKSND là cơ sở để đánh giá chất lượng thực thi

nhiệm vụ của cán bộ, công chức trong các công tác và hoạt động của Ngành

Tổ chức của VKSND một cách khoa học, khách quan, công khai, minh bạch trên

cơ sở triển khai và thực hiện có hiệu quả Luật Tổ chức VKSND năm 2014, các văn bản hướng dẫn thi hành, các khâu công tác tổ chức cán bộ với nhiều quy định mới đã làm tăng lên trách nhiệm, thẩm quyền của cán bộ, công chức trong ngành Kiểm sát, qua đó đánh giá được ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cũng như chất lượng thực thi nhiệm vụ trong công tác và hoạt động của Ngành

1.2.3 Nguyên tắc, vai trò tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

Trang 28

1.2.3.1.Nguyên tắc tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

 Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành

Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành bắt nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật Nguyên tắc này mang tính đặc thù của ngành kiểm sát, là một nguyên tắc hiến định và được quy định từ Hiến pháp năm 1959 đến nay Nguyên tắc này cũng bảo đảm cho ngành kiểm sát được tổ chức theo một chỉnh thể thống nhất và hoạt động được tập trung thống nhất theo chiều dọc từ người lãnh đạo cao nhất cho đến các cấp, các cán bộ của ngành kiểm sát Nội dung nguyên tắc được thể hiện như sau:

- Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành đề cao vai trò của người đứng đầu ngành kiểm sát Theo đó, Viện trưởng VKSND tối cao được trao thẩm quyền rất rộng để bảo đảm tính thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành với tư cách là người đứng đầu ngành, chịu trách nhiệm về toàn

bộ hệ thống VKSND Bên cạnh đó, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới phải chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của Viện kiểm sát cấp mình và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng VKSND cấp trên Cụ thể, tại Khoản 1 Điều

109 Hiến pháp năm 2014 quy định: Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Tại Khoản 5, 6 Điều 63 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định

nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng VKSND tối cao: “Viện trưởng VKSND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp, Điều tra viên các ngạch, Kiểm tra viên các ngạch; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc

Trang 29

thẩm quyền”.Các chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc thẩm quyền như Viện

trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, cấp tỉnh, cấp tỉnh; Viện trưởng VKS quân sự quân khu và khu vực, Phó viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, quân khu và khu vực đều do Viện trưởng VKSND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức

Như vậy, tất cả các VKSND từ trên xuống dưới tạo thành một hệ thống nhất Mọi hoạt động của VKSND, dù ở cấp nào, đều đặt dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu trách nhiệm cá nhân về toàn

bộ hoạt động của VKS do mình lãnh đạo trước Viện trưởng VKSND cấp trên

và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao Viện trưởng VKSND tối cao chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước (Khoản 12 Điều 63 Luật Tổ chức VKSND năm 2014)

- Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành còn được thể hiện bằng việc lãnh đạo, chỉ đạo của Viện kiểm sát cấp trên và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 7 Luật Tổ chức VKSND năm

2014 quy định: “Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ quyết định trái pháp luật của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới”

Việc thực hiện nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành bảo đảm cho các cấp Viện kiểm sát hoạt động đồng bộ, thống nhất, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Mặt khác, nhấn mạnh nguyên tắc này nhằm đề cao trách nhiệm cá nhân của Viện trưởng, là người có quyền và trách nhiệm quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát và chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi

Trang 30

của mình không có nghĩa là loại trừ nguyên tắc tập trung dân chủ ra khỏi hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Phải thấy rằng, bên cạnh Viện trưởng còn

có Ủy ban kiểm sát Theo Khoản 2 Điều 7 Luật Tổ chức VKSND năm 2014

quy định: “Tại VKSND tối cao, VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh, VKSQS Trung ương, VKSQS quân khu và tương đương thành lập Ủy ban kiểm sát để thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng, cho ý kiến về các vụ án, vụ việc trước khi Viện trưởng quyết định”

Như vậy, quy định này vừa bảo đảm mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể, vừa hạn chế những thiếu sót của Viện trưởng và đề cao trách nhiệm của Viện trưởng Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành được xác lập trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của VKSND, đồng thời, cũng là một trong những căn cứ để phân biệt về tổ chức và hoạt động của VKSND với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước

 Nguyên tắc độc lập

Nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của VKSND bắt nguồn

từ nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất

Nội dung nguyên tắc này thể hiện như sau:

- Các VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách độc lập, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, không chịu sự chi phối bởi các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân, mà chỉ chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao, sự chỉ đạo của Viện trưởng VKSND cùng cấp Điều

đó có nghĩa là các cơ quan, tổ chức, cá nhân không có quyền can thiệp vào hoạt động của VKSND Mặt khác, về mặt tổ chức, Viện trưởng VKSND tối cao quyết định bộ máy và biên chế của VKSND các cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên các Viện

Trang 31

kiểm sát các cấp Do đó, VKSND có bộ máy tổ chức độc lập, không chịu sự chi phối từ bất cứ cơ quan nhà nước nào

- Nguyên tắc độc lập được bảo đảm bằng việc nghiêm cấm hành vi can thiệp vào hoạt động nghiệp vụ của VKSND, điều này quy định trong Luật Tổ

chức VKSND năm 2014: “Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp vào hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân; lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống cán

bộ, công chức, viên chức và người lao động khác của Viện kiểm sát nhân dân” (Khoản 3 Điều 9)

- Nguyên tắc độc lập còn được bảo đảm bằng hoạt động nghiệp vụ một cách độc lập của Kiểm sát viên, nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoặc can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của Kiểm sát viên Theo đó tại Khoản 2

Điều 109 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân” Như vậy, Kiểm sát viên tuân

theo pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình trong việc thực hành quyền công tố, tranh tụng tại phiên tòa và kiểm sát hoạt động tư pháp Mặt khác, nguyên tắc này phải phù hợp với nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát, bảo đảm sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát mỗi cấp và sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức và hoạt động của VKSND nhằm bảo đảm cho VKSND có đầy đủ điều kiện và căn cứ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật

 Nguyên tắc kết hợp vai trò lãnh đạo của Viện trưởng với quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng của Ủy ban kiểm sát

Nguyên tắc này được quy định từ Luật tổ chức VKSND năm 1960, tuy

Trang 32

nhiên, lúc này, Ủy ban kiểm sát chỉ có vai trò tư vấn cho Viện trưởng chứ không có quyền quyết định Đến Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức VKSND năm 1992, vai trò của Ủy ban kiểm sát được đề cao, theo đó, Ủy ban kiểm sát có quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng

Hiến pháp năm 2013 đã không đề cập đến Ủy ban kiểm sát, nhằm thu hẹp thẩm quyền của Ủy ban kiểm sát, theo xu hướng chỉ là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng và quyết định một số vấn đề quan trọng Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định về Ủy ban kiểm sát trên cơ sở tổ chức hệ

thống bốn cấp Viện kiểm sát, cụ thể như sau: Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân

sự quân khu và tương đương thành lập Ủy ban kiểm sát để thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng, cho ý kiến về các vụ án, vụ việc trước khi Viện trưởng quyết định (Khoản 2 Điều 7)

Như vậy, Ủy ban kiểm sát được thành lập tại năm đơn vị Viện kiểm sát

đó là: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện kiểm sát quân

sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương

Ủy ban kiểm sát VKSND tối cao được quy định trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014, như sau: “Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng” (Khoản 3 Điều 43)

“Theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban kiểm sát thảo luận, cho ý kiến về các vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phức tạp để

Trang 33

Viện trưởng xem xét, quyết định” (Khoản 4 Điều 43)

So với Luật Tổ chức VKSND năm 2002, Ủy ban kiểm sát theo Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã thu hẹp thẩm quyền, đồng thời đề cao vai trò của Viện trưởng như:

- Tại Khoản 3 Điều 43 không quy định trong trường hợp “nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước” (Điều 32 Luật Tổ chức VKSND năm 2002)

Quy định này cho thấy, vai trò, trách nhiệm của Viện trưởng VKSND tối cao

là người có quyền cao nhất trong việc quyết định những vấn đề quan trọng cùng với Ủy ban kiểm sát

- Tại Khoản 4 Điều 43, Ủy ban kiểm sát chỉ thảo luận, cho ý kiến để Viện trưởng xem xét, quyết định, tức là thẩm quyền quyết định cuối cùng là của Viện trưởng, mà Ủy ban kiểm sát chỉ tham gia với vai trò cơ quan tư vấn, tham mưu, phụ giúp cho Viện trưởng đưa ra quyết định

Đối với các Ủy ban kiểm sát của VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh, VKS quân sự trung ương và VKS quân sự quân khu và tương đương được quy

định tại các điều 45, 47, 53, 55 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, giống như quy định của Ủy ban kiểm sát VKSND tối cao về vai trò tư vấn cho viện trưởng là theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp mình, Ủy ban kiểm sát thảo luận, cho ý kiến về các vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phức tạp

để Viện trưởng xem xét, quyết định; Về nghị quyết của Ủy ban kiểm sát cũng phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành, trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng Tuy nhiên, nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo

Trang 34

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Như vậy, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 ghi nhận nguyên tắc này một cách cụ thể và chi tiết Trong tổ chức và hoạt động của VKSND, vai trò của Ủy ban kiểm sát là cần thiết, với trí tuệ tập thể, thành viên của Ủy ban kiểm sát đều là những Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và quản lý, chỉ đạo, điều hành, vì vậy, có thể tham gia thảo luận, cho ý kiến về các vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thýõng mại, lao động phức tạp Đồng thời, phát huy sức mạnh tập thể của Ủy ban kiểm sát trong công tác tham mưu, tư vấn để thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng cùng với quyết định của Viện trưởng sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành VKSND tối cao và Viện kiểm sát các cấp

1.2.3.2 Vai trò tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

Thứ nhất, trong các cơ quan hành chính nói chung cũng VKSND nói

riêng, mỗi cơ quan, đơn vị đều có mục tiêu, nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao phó Và để thực hiện và hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ

đó, trước hết cần phải tổ chức bộ máy Nhà nước một cách hiệu quả, trong đó người đứng đầu cơ quan trực tiếp tổ chức quản lý trong việc bố trí, sắp xếp nhân lực sao cho phù hợp với từng nhiệm vụ cụ thể nhằm đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng để thực hiện các mục tiêu đề ra hay nhiệm vụ được giao Như vậy, có thể thấy vai trò quan trọng trong việc tổ chức của bất kì một cơ quan Nhà nước hay tổ chức nào, sẽ quyết định toàn bộ quá trình hoạt động cũng như hiệu quả đạt được của cơ quan, tổ chức đó

Thứ hai, tổ chức của VKSND nhằm quản lý xã hội theo pháp luật, bao

gồm hệ thống các văn bản pháp luật là cơ sở để quản lý Nhà nước Theo đó, trên cơ sở hệ thống pháp luật chung và thống nhất, người đứng đầu đơn vị mà

ở đây là Viện trưởng VKSND dựa vào đó để có thể tổ chức bộ máy một cách

Trang 35

hoàn thiện và hiệu quả nhất

Thứ ba, tổ chức của VKSND có chức năng xác định rõ trách nhiệm và

cách thức thể hiện vai trò của mỗi cán bộ Kiểm sát trong việc thực hiện công

vụ Khi việc tổ chức đã hoàn chỉnh, sẽ làm cho mỗi cán bộ, công chức hiểu rõ những yêu cầu của đơn vị đối với họ thông qua các quy tắc, quy trình làm việc Ngoài ra, tổ chức của VKSND còn góp phần xử lý thông tin để ra quyết định và giải quyết các vấn đề của mình

1.3 Khái quát về đổi mới tổ chức và hoạt động viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

1.3.1 Đặc điểm đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp

Tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước là một vấn đề phức tạp Trên thế giới, mỗi quốc gia có cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực riêng cho nhà nước của mình Đối với hầu hết các nhà nước tư sản đều tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo học thuyết tam quyền phân lập Theo đó, quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhánh độc lập, giao cho ba hệ thống cơ quan khác nhau thực hiện, trong khi thực hiện quyền lực có sự đối trọng và chế ước lẫn nhau Ở những nước này không có cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, mà chỉ có cơ quan Viện công tố và cơ quan này cũng không phải là một

hệ thống độc lập mà nó có thể nằm trong Tòa án hoặc chịu sự quản lý của Bộ

Tư pháp hay của Chính phủ Chức năng cơ bản của Viện công tố của các nước này là đưa kẻ phạm tội ra trước Tòa án và thực hiện sự buộc tội đối với hành vi phạm tội của người đó

Đối với các nước tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo học thuyết tập quyền (Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc nhóm này) thì tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội và Hội đồng nhân

Trang 36

dân các cấp Trong bộ máy nhà nước của các quốc gia này tồn tại một hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân có vị trí độc lập, trực thuộc Quốc hội Viện kiểm sát nhân dân được giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật

Xem xét vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trên phương diện trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo qui định của pháp luật hiện hành có thể thấy vị trí của Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan nhà nước khác như sau:

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Quốc hội: Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất Quốc hội thành lập ra Viện kiểm sát nhân dân và giao cho Viện kiểm sát nhân dân chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Quốc hội thực hiện việc giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Quốc hội

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Chính phủ: Chính phủ là

cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Như vậy, Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân đều là những cơ quan do Quốc hội thành lập, nhưng đây là hai hệ thống cơ quan độc lập về tổ chức bộ máy, biên chế và chức năng, nhiệm vụ Tuy nhiên, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân phải có cơ chế phối hợp tốt để thực hiện các mục tiêu chung của đất nước

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân: Viện

Trang 37

kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân là các cơ quan tư pháp do Quốc hội thành lập và được Quốc hội giao cho các chức năng khác nhau Viện kiểm sát nhân dân độc lập với Tòa án nhân dân về tổ chức bộ máy và biên chế Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật quá trình xét xử, thi hành

án hình sự của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, các vụ án hành chính và các việc khác theo qui định của pháp luật

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân địa phương với các cơ quan chính quyền địa phương và Hội đồng nhân dân cùng cấp: Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc hội, không thừa hành quyền lực từ chính quyền địa phương Viện kiểm sát nhân dân địa phương độc lập với cơ quan chính quyền địa phương về tổ chức

bộ máy, biên chế, tài chính và độc lập về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác của Viện kiểm sát cấp trên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp về các công việc có liên quan

Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất

và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan bảo vệ pháp chế, Viện kiểm sát nhân dân còn được tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc đặc thù, đó là nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất trong ngành Nguyên tắc

Trang 38

lãnh đạo tập trung thống nhất đã chi phối nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Do đó, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất

Nguyên tắc tập trung thống nhất đảm bảo cho các Viện kiểm sát nhân dân địa phương được tổ chức và hoạt động một cách tập trung, thống nhất và độc lập theo ngành dọc, không lệ thuộc hay chịu sự can thiệp nào từ phía các

cơ quan Nhà nước ở địa phương Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng, xuất phát từ tính chất và nhiệm vụ của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, khi xác định vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước cần có nhận thức đúng về những vấn đề sau:

Tuy Viện kiểm sát nhân dân địa phương không chịu sự chỉ đạo của chính quyền sở tại, nhưng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương không phải là một bộ phận tách rời mọi hoạt động của địa phương Viện kiểm sát nhân dân địa phương còn phải chịu sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng địa phương

và sự giám sát của nhân dân địa phương Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cũng phải phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương Do đó, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải kết hợp chặt chẽ và đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo và nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất trong ngành

Đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là cấp vừa trực tiếp thực hiện công tác kiểm sát theo thẩm quyền cấp mình, mặt khác vừa có nhiệm vụ chỉ đạo trực tiếp đối với Viện kiểm sát cấp tỉnh nên tổ chức bộ máy cần phải có

Trang 39

cơ cấu phù hợp để thực hiện cả hai hoạt động đó Đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là cấp cơ sở, cấp trực tiếp thực hiện phần lớn các nội dung của công tác kiểm sát theo thẩm quyền Viện kiểm sát cấp tỉnh cần tập trung thực hiện tốt các mục tiêu công tác cụ thể mà Viện kiểm sát cấp trên đề ra Do đó, cấp tỉnh cần được tăng cường và tạo điều kiện về mọi mặt để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

Để đảm bảo Viện kiểm sát các cấp hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trong tiến trình cải cách tư pháp thì hệ thống cơ quan Viện kiểm sát cần phải được tổ chức theo nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất, không phụ thuộc

và chịu sự can thiệp nào của chính quyền địa phương Nguyên tắc tập trung thống nhất đòi hỏi phải xác định đúng đắn vai trò và trách nhiệm của từng cấp kiểm sát Các Viện kiểm sát cấp trên cần tăng cường sự lãnh đạo, công tác kiểm tra đối với cấp dưới Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần thực hiện tốt vai trò là trung tâm chỉ đạo mọi hoạt động của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân

Trong hệ thống cơ quan nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Thực hiện nhiệm

vụ này, Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan thể hiện trực tiếp bản chất của nhà nước ta, là bộ phận không thể thiếu trong bộ máy nhà nước

Bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Các cơ quan Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân được phân công trực tiếp thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan bảo

vệ pháp luật Do đó, có thể xem Tòa án và Viện kiểm sát như là những bộ

Trang 40

phận truyền tải quyền lực nhà nước chứa đựng trong pháp luật vào đời sống

xã hội thông qua hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của những cơ quan này Điều này cũng có nghĩa hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước một phần chi phối bởi hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân

Thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới cho thấy cần tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Hiến pháp năm 1992 khẳng định đường lối của Đảng và Nhà nước là xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển Cùng với sự hình thành cơ chế kinh tế mới đòi hỏi sự thay đổi, ra đời của hàng loạt chế định pháp luật phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Nhà nước thừa nhận quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Đổi mới nền kinh tế đã bắt đầu bằng sự phát triển của hàng loạt các doanh nghiệp với mọi hình thức tổ chức, hoạt động Mặt khác, yêu cầu cải cách hành chính và cải cách tư pháp cần phân định rõ phạm vi, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tổ chức trong bộ máy nhà nước, của cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân

Những ý kiến, quan điểm về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được đề cập khi tiến hành cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới đất nước, đặc biệt là khi tiến hành đổi mới trên lĩnh vực kinh tế Những bước đi ban đầu của nền kinh tế chuyển đổi với không ít những lựa chọn, những thay đổi, từ cơ chế chính sách đến vấn đề pháp lý để có thể định hình từng bước phát triển của nền kinh tế thị trường Đó là quá trình trăn trở, tháo gỡ dần những vướng mắc trên mọi phương diện để có thể xây dựng được một thể chế hoàn chỉnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

Ngày đăng: 30/08/2023, 23:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp (2004), Báo cáo sơ kết hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về"một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về"một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
2. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp - Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2006), Kế hoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (giai đoạn 2006 - 2010) , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (giai đoạn 2006 - 2010)
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
3. Ban Nội chính Trung ương Đảng (2002), Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh chống tội phạm, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh chống tội phạm
Tác giả: Ban Nội chính Trung ương Đảng
Nhà XB: Đề tài khoa học cấp bộ
Năm: 2002
4. Lê Cảm (2005), "Bàn về tổ chức quyền tư pháp - nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", Kiểm sát, (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tổ chức quyền tư pháp - nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Kiểm sát
Năm: 2005
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 08-11 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 08-11 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1993
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21-3 của Bộ Chính trị về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21-3 của Bộ Chính trị về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7 về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/05/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7 về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/05/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
18. Đỗ Văn Đương (2006), "Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay", Nghiên cứu lập pháp, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Văn Đương
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2006
19. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hạn chế quyền lực nhà nước
Tác giả: Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
20. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
21. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w