1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo tại huyện buôn đôn, tỉnh đắk lắk

105 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk
Tác giả Trịnh Viết Chương
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hoa
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đắk Lắk
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu trên đây chưa đề cập nhiều và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và chưa có công trình khoa học nào nghiê

Trang 1

ĐĂK LĂK - NĂM 2023

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

*** ***

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRỊNH VIẾT CHƯƠNG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI HUYỆN BUÔN ĐÔN,

TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đề tài “Thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng em Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Học viên

Trịnh Viết Chương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, tập thể quý thầy, cô giáo và toàn thể cán bộ, viên chức đang công tác tại Học viện Hành chính Quốc gia đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em học tập và nghiên cứu chương trình đào tạo Thạc

sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính trong suốt thời gian qua

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Lê Thị Hoa, cô

đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để truyền đạt cho em kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu khoa học, trình bày một đề tài khoa học và đã tận tình hướng dẫn, góp ý đề tài với tinh thần và trách nhiệm cao, luôn quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức, viên chức UBND huyện Buôn Đôn đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho em được nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn chia sẻ, động viên và tích cực giúp

đỡ, hỗ trợ em trong suốt quá trình học tập

Trang 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,

CHỐNG THAM NHŨNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

11

1.1 Khái niệm về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào

tạo

11

1.2 Khái niệm thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trong lĩnh

vực giáo dục đào tạo

17

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện về phòng, chống tham

nhũng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

29

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,

CHỐNG THAM NHŨNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TẠI HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK

2.3 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng

trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

53

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG LĨNH

VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

65

3.1 Quan điểm đảm bảo thực hiện pháp luật về phòng, chống tham

3.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GDPL Giáo dục pháp luật GDĐT Giáo dục đào tạo PCTN Phòng, chống tham nhũng TTND Thanh tra nhân dân

UBND Ủy ban nhân dân THPL Thực hiện pháp luật PBGDPL Phổ biến giáo dục pháp luật TTPBGD Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tham nhũng là một hiện tượng có tính lịch sử, đang là vấn đề nhức nhối

không chỉ ở các nước có tỷ lệ tham nhũng cao mà còn là vấn nạn của tất các nước trên thế giới Tham nhũng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN)

là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp, không chỉ việc riêng của mỗi quốc gia mà còn là sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, tham nhũng là một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) Tham nhũng còn làm cho bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả, thậm chí làm mục ruỗng bộ máy nhà nước, đe dọa sự tồn vong của đất nước, của chế độ; gây mất niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của ban chấp hành TW (Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng khóa XIII) một trong 10 nhiệm vụ giải pháp để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới đó là: Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ban hành các quy định về kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét sử, thi hành án

Mục tiêu, quan điểm, chủ trương, giải pháp về PCTN không ngừng được bổ sung, phát triển qua các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng nhằm phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước Tại Hội nghị Trung ương 3 (khóa X) đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về PCTN, với mục tiêu “Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố lòng tin của Nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính”

Trang 9

Đại hội XIII vừa qua của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn” Đảng ta đề ra nhiều biện pháp, như

hoàn thiện pháp luật, chính sách, kê khai tài sản, kiên trì, kiên quyết và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Đồng thời đại hội XIII đã có những bước phát triển mới về phòng, chống tham nhũng, với nhiều biện pháp; Hoàn thiện pháp luật với phương châm, kiên trì,

kiên quyết “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham

nhũng, đặc biệt nhấn mạnh vấn đề phòng, chống tham nhũng: “Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng Thực hiện quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí Tiếp tục thực hiện chặt chẽ có hiệu quả về kê khai, kiểm soát, kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp” Ngày 20 tháng 11 năm 2018, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIV đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng, thay thế Luật Phòng, chống tham nhũng số: 55/2005/QH11, Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13 Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh công bố số 14/2018/L-CTN ngày 04/12/2018; Luật

có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2019

Thực tế, tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong thời gian vừa qua đã xảy

ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với quy mô khác nhau, trong đó có những vụ, việc xảy ra ở những ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm với quy mô lớn, thủ đoạn tinh vi, mức độ sai phạm lớn, làm thất thoát hoặc thiệt hại nặng

nề đối với tài sản của Nhà nước và nhân dân, gây nhiều bức xúc trong dư luận

xã hội Đảng và Nhà nước đã luôn xem việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ lâu dài, bền bỉ với nhiều chỉ đạo xuyên suốt, thống nhất và

Trang 10

quyết liệt, thể hiện quyết tâm cao trong công tác phòng, chống tham nhũng;

kiên quyết xử lý các vụ việc tham nhũng, tiêu cực với phương châm:“không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, xây dựng, hoàn thiện thể chế để đảm bảo bốn không: “không thể, không dám, không cần, không muốn”

tham nhũng

đất nước, những năm qua tỉnh Đắk Lắk đã có những khởi sắc trên nhiều lĩnh vực; kinh tế- xã hội phát triển, chính trị ổn định, tình hình quốc phòng an ninh được củng cố và giữ vững, trật tự xã hội được bảo đảm, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì tại tỉnh Đắk Lắk tình hình tham nhũng, lãng phí cũng khá phức tạp, mặc dù so với các địa phương khác không nhiều, không có vụ việc lớn phức tạp, song tình hình đó cũng phần nào làm cho xã hội bất an, bất

ổn, tiềm ẩn những mâu thuẫn, xung đột có nguy cơ phá hỏng sự nghiệp đổi mới

và các mục tiêu phát triển của địa phương Đạo đức xã hội, đạo đức gia đình, đạo đức cá nhân rơi vào trạng thái suy đồi Các giá trị tinh thần nền tảng bị xem nhẹ, bệnh vô cảm tràn lan, niềm tin, lòng tin của dân giảm sút

Thời gian qua công tác phòng, chống tham nhũng ở Đắk Lắk cũng đã được thực

hạn chế Tham nhũng trong lĩnh vực công vẫn còn rất nghiêm trọng, chưa bị đẩy lùi, thậm chí tham nhũng ngày càng tinh vi, khó phát hiện, phạm vi ngày càng rộng hơn trong đó tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ngày càng phức tạp Những hành vi tham nhũng đang tồn tại trong giáo dục, đào tạo đã làm xói mòn chất lượng giáo dục, gây ra nhiều hậu quả nguy hại: ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận giáo dục của một bộ phận người dân, làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực, gia tăng gánh nặng lên các doanh nghiệp và xã hội, dẫn đến ảnh hưởng sự phát triển của đất nước Ở Việt Nam, tham nhũng trong giáo dục, đạo tạo vẫn chưa được quan tâm đúng mức và thường bị lảng tránh

Trang 11

bằng tên gọi một hiện tượng xã hội hơn là được nhận dạng thực sự là tham nhũng Vì vậy, cần có những phân tích kỹ hơn nhằm nâng cao nhận thức về bản

hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật

Hiến pháp và Luật Hành chính

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Công tác PCTN được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng; những biểu hiện

về tham nhũng được nghiên cứu, phân tích từ nhiều góc độ; những giải pháp

về PCTN luôn được cập nhật, bổ sung nhằm ban hành kịp thời những quy định, chương trình hành động nhằm thực hiện PCTN có hiệu quả Thời gian qua đã

có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, có thể kể đến các công trình sau:

- Sách “Phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013 Sách do TS Nguyễn

Quốc Sửu biên soạn đề cập tương đối toàn diện và hệ thống về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ ở nước ta hiện nay Tác giả

đã phân tích và làm rõ những hành vi tham nhũng có nguy cơ nảy sinh trong quá trình cán bộ, công chức thi hành nhiệm vụ Phân tích tình hình tham nhũng

và thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng để đưa ra các nhóm giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ

- Sách “Pháp luật phòng, chống tham nhũng – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2018 Nội

dung sách cung cấp khá toàn diện và có hệ thống các vấn đề từ khái niệm, nguyên nhân của tham nhũng đến các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng Cuốn sách đã phân tích, làm rõ thực trạng tham nhũng, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định hiện hành về PCTN và đưa ra những

Trang 12

kiến nghị, đề xuất góp phần hoàn thiện các quy định này

- Sách “Quản lý tốt và phòng, chống tham nhũng”, Nxb Chính trị quốc gia sự

thật, Hà Nội, 2019 Sách cung cấp những kiến thức và thông tin mới về vấn đề quản trị tốt và phòng, chống tham nhũng Hai vấn đề này có tính kết nối, nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai vấn đề này để đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các chiến lược và giải pháp về phòng, chống tham nhũng

- Sách “Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng”, Nxb Chính trị quốc gia

sự thật, Hà Nội, 2019 Sách hệ thống hóa những tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác PCTN, giúp các ngành, các cấp, các địa phương, các tổ chức Đảng và Nhân dân nắm vững, quán triệt và triển khai có hiệu quả công tác PCTN

- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Phòng chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật

ở Việt Nam” do TS Nguyễn Quốc Văn, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh

tra Chính phủ làm chủ nhiệm, 2017 Đề tài đã làm rõ được một số vấn đề như PCTN trong xây dựng pháp luật; làm rõ nguy cơ, biểu hiện tham nhũng trong xây dựng pháp luật; pháp luật và thực tiễn Việt Nam về PCTN trong xây dựng pháp luật; Đề tài cũng đưa ra được những dự báo về tình hình tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam trong thời gian tới

- Đề tài “Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam cho đến năm 2020” do Thanh tra Chính phủ chủ trì Đề tài xây dựng 9 chuyên đề bao gồm:

hệ thống các tiêu chí điều tra nhận diện tham nhũng; phương pháp tính các chỉ tiêu tổng hợp; phần mềm xử lý số liệu; chiến lược, chính sách chống tham nhũng của Trung Quốc, Hàn Quốc, EU, Hungary; các biện pháp chống rửa tiền

và báo cáo kết quả điều tra xã hội học về thực trạng và nguyên nhân tham nhũng, cùng với Báo cáo kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng,

Trang 13

ngừa, đấu tranh chống tham nhũng và việc xây dựng Chiến lược PCTN của Việt Nam Nội dung của đề tài là cơ sở lý luận và căn cứ khoa học cho việc nghiên cứu xây dựng nội dung cơ bản của luận án cả về lý thuyết và thực tiễn

- Luận văn Tiến sĩ chính sách công: "Chính sách phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiệu nay" của tác giả Nguyễn Thị Thu Nga, Học viện Khoa học Xã

hội, 2019 Luận văn đã bước đầu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chính sách PCTN để có cơ sở khoa học phân tích, đánh giá, dự báo tình hình tham nhũng, bối cảnh thời gian tới, xác định các yêu cầu và đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện chính sách PCTN ở Việt Nam hiện nay

- Luận văn Thạc sỹ: “Thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Lào Cai hiện nay” của tác giả Dương Đức Toàn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh, 2018 Luận văn đã làm rõ những vấn đề về thực hiện pháp luật PCTN, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật PCTN trên địa bàn Lào Cai Từ

đó đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật PCTN hiện nay

- Luận văn Thạc sỹ: “Quản lý nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Bắc Kạn” của tác giả Nông Thị Diệu, Học viện Hành chính Quốc gia,

2019 Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về công tác PCTN tại tỉnh Bắc Kạn Trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về công tác PCTN tại tỉnh Bắc Kạn

- Luận văn Thạc sỹ: “Quản lý Nhà nước về phòng, chống tham nhũng trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Yến Ngọc, Học viện Hành chính

Quốc gia, 2022 Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản

lý nhà nước về công tác PCTN tại thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm bảo đảm quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Bài viết “Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật phục vụ công tác phát

Trang 14

hiện, xử lý tham nhũng” của tác giả Trịnh Thăng Quyết đăng trên thông tin điện

tử của Ban Nội chính Trung ương, 2020 Bài viết khái quát những thành tựu trong việc hoàn thiện thể chế PCTN, góp phần to lớn vào hiệu quả của công cuộc PCTN của Đảng và Nhà nước ta

- Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong khu vực

tư ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Luận đăng trên Tạp chí Công thương,

2020 Tác giả trình bày khái niệm, đặc điểm của pháp luật về PCTN trong khu vực tư; nội dung cơ bản của pháp luật về PCTN trong khu vực tư; nhận diện những ưu điểm và hạn chế của pháp luật về PCTN trong khu vực tư; trên cơ sở

đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về PCTN trong khu vực tư

Từ các công trình nghiên cứu đã được công bố ở trên cho thấy tham nhũng và các giải pháp PCTN được nghiên cứu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau và nêu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế, chính sách để PCTN nói chung Các công trình nghiên cứu trên đây chưa đề cập nhiều và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và chưa

có công trình khoa học nào nghiên cứu về thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong trong lĩnh vực giáo dục đào tạo tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk từ đó đề xuất một số giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói chung, ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu trên địa bàn Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk

Trang 15

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam

Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

Đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu về thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng ở các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk bao gồm: cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở

- Phạm vi thời gian: từ năm 2018 đến năm 2022

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu, phân tích dựa trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; các các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo để thực hiện công tác PCTN của huyện ủy, UBND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 16

Trong quá trình viết Luận văn, học viên đã sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp so sánh - thống

kê, khái quát hóa

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Luận văn tiếp cận thực tiễn nghiên cứu về PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo có liên quan đến nội dung luận văn Trên cơ sở đó hệ thống hóa, khái quát và so sánh để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của luận văn Phương pháp này được sử dụng trong hầu hết các chương của luận văn, nhất là tại Chương 1

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn nghiên cứu tổng kết công tác thực tiễn để thống kê, phân tích, so sánh và đánh về những kết quả, hạn chế, cùng với nguyên nhân của thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn, sử dụng chủ yếu ở Chương 2

- Phương pháp tổng kết thực tiễn: luận văn sử dụng phương pháp phân tích

và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc phân tích, luận chứng để làm sáng

tỏ các quan điểm một số giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn, sử dụng chủ yếu ở Chương 3

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận thực hiện pháp

luật về PCTN trong lĩnh vực lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói chung và thực hiện pháp luật về PCTN trong lĩnh vực lĩnh vực giáo dục, đào tạo tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk nói riêng

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể là tài liệu tham khảo của các tổ chức, cá

nhân có liên quan đến công tác PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục nghiên cứu về thực hiện pháp luật về PCTN

7 Kết cấu của luận văn

Trang 17

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận, pháp lý thực hiện pháp luật về phòng, chống tham

nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong

lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

Chương 3 Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống

tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

Trang 18

1.1.1 Khái niệm giáo dục, đào tạo

Giáo dục - đào tạo giữ vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng như của toàn nhân loại Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, cùng với quá trình toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là xu thế tất yếu của nền kinh tế tri thức

đã tác động mạnh đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đặt ra yêu cầu cho mỗi quốc gia phải không ngừng đổi mới, cải cách hệ thống giáo dục quốc dân để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả giáo dục

Trong xu thế hội nhập toàn cầu cùng sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục, đào tạo đóng vai trò ngày càng quan trọng, trở thành kim chỉ nam cho sự phát triển bền vững của mọi quốc gia, dân tộc

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người Điều đó xuất phát

từ nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của yếu tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của quốc gia Xây dựng và phát triển con người trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Vì thế, giáo dục và đào tạo có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một quốc gia Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân

Trang 19

Quan điểm “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” được đưa ra lần đầu tiên trong Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng (khoá

dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa

và con người Việt Nam

Giáo dục và đào tạo là quá trình trao truyền và bồi dưỡng tri thức cho cá nhân

và cộng đồng của thế hệ trước cho các thế hệ sau, để từ đó họ có thể tiếp nhận rèn luyện, hòa nhập và phát triển trong cộng đồng xã hội Quá trình giáo dục

và đào tạo cũng như quá trình tự giáo dục, tự đào tạo diễn ra suốt vòng đời con người thông qua hệ thống giáo dục trong nhà trường và hệ thống giáo dục xã hội Mục tiêu của nền giáo dục và đào tạo của bất cứ quốc gia nào cũng đều hướng tới phát triển con người cả về thể lực, trí lực và tri thức tình cảm, xây dựng các thế hệ công dân đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước

Phát triển giáo dục và đào tạo chính là xây dựng nền móng văn hóa dân tộc, là

cơ sở để phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Giáo dục và đào tạo là cơ sở thiết yếu để đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt

là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Giáo dục và đào tạo không chỉ là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến đào tạo nguồn nhân lực cho nền sản xuất xã hội mà còn là trung tâm đào tạo nhân tài cho đất nước Hiền tài là nguyên khí quốc gia, có vai trò to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong quá trình phát triển nền kinh tế tri thức hiện nay, vai trò của nhân tài nói riêng, của đội ngũ tri thức nói chung ngày càng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng không chỉ đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội mà cả trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, trong đối nội và đối ngoại

1.1.2 Khái niệm tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Trang 20

Tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là hành vi vi phạm pháp luật

do người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ sở giáo dục, đào tạo thực hiện trong quá trình quản lý, điều hành, triển khai thực hiện hoạt động chuyên môn nghiệp vụ giáo dục, đào tạo xâm hại đến hoạt động đúng đắn của các cơ sở giáo dục

Có nhiều quan điểm, cách tiếp cận trong việc định nghĩa khái niệm tham nhũng Công ước Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng (UNCAC) đưa ra danh sách các hành vi được bị coi là tham nhũng nhưng không đưa ra khái niệm chính thức cho hành vi này Theo lý giải từ tổ chức Minh bạch quốc tế vì tham nhũng là một khái niệm động nên người soạn thảo không muốn ràng buộc cách hiểu về hành vi tham nhũng vào thời điểm ban hành

quyền lực được giao phó để thu lợi riêng” Lạm dụng được hiểu là việc một người cố ý thực hiện hoặc không thực hiện vượt quá hoặc chưa đầy đủ theo đúng bổn phận của mình, ảnh hưởng đến tính đúng đắn của quy trình, trình tự thực hiện công việc Quyền lực được giao phó có thể được hiểu là những chức

vụ, quyền hạn phát sinh từ việc một người đại diện một người hoặc một nhóm người khác để thực hiện công việc Quyền lực này có thể được giao phó từ người dân, doanh nghiệp hoặc cộng đồng mà không chỉ giới hạn trong quyền lực nhà nước Từ đó cho thấy, tham nhũng có thể xảy ra cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước Thu lợi riêng được hiểu là việc lợi ích này không phục

vụ cho chủ thể giao phó quyền lực mà gây tổn thất cho lợi ích của chủ thể giao phó quyền lực hoặc toàn xã hội Lợi ích thu được từ việc tham nhũng luôn luôn xuất phát từ thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp từ một đối tượng khác Nguồn lợi này có thể bao gồm lợi ích vật chất hoặc phi vật chất do người tham nhũng lạm dụng quyền lực mà đạt được, không nhất thiết phải trực tiếp chuyển giao cho

Trang 21

người thực hiện, mà có thể là những người thân thích, liên quan tới người thực hiện hành vi tham nhũng

Theo Từ điển Luật học Việt Nam năm 2006: "Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hưởng lợi ích vật chất trái pháp luật, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cả nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức"

Ở Việt Nam, theo Luật PCTN năm 2018 thì "tham nhũng là hành vi của người

có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (Điều 3)

Vụ lợi được hiểu là: việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng” (Điều 3) Đây là một khái niệm tương đối bao quát, đủ để xác định bản

chất của hành vi tham nhũng phổ biến trong xã hội Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu trên nhiều góc độ, đã có nhiều quan niệm và cách diễn đạt khác nhau về tham nhũng nhưng hầu hết các học giả đều có một điểm chung thống

nhất đó là: Tham nhũng là hành vi của người (hoặc nhóm người) có quyền lực,

đã lợi dụng quyền lực để trục lợi riêng

Tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là hành vi vi phạm pháp luật do người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ sở giáo dục, đào tạo thực hiện trong quá trình quản lý, điều hành, triển khai thực hiện hoạt động chuyên môn nghiệp

vụ giáo dục, đào tạo xâm hại đến hoạt động đúng đắn của các cơ sở giáo dục

Tham nhũng có rất nhiều hệ quả nghiêm trọng và có thể được ví như là “tế bào ung thư” ở trong cơ thể quốc gia Tham nhũng làm gia tăng bất bình đẳng xã hội, gây xói mòn niềm tin của người dân vào nhà nước Tham nhũng làm kiệt quệ nền kinh tế quốc gia, chệch hướng các nguồn lực đầu tư của quốc gia dẫn đến việc thiếu hụt nguồn lực quốc gia để giải quyết những vấn đề xã hội Tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo gây ra hậu quả rất lớn, tuy nhiên, tình trạng tham nhũng trong giáo dục, đào tạo vẫn chưa nhận được sự quan tâm

Trang 22

đúng mức và vấn nạn này thường được xem là một hiện tượng xã hội hơn là một loại tham nhũng

Tham nhũng trong lĩnh vực GDĐT có những tác động tiêu cực đến sự phát triển của con người Tham nhũng trong lĩnh vực GDĐT cản trở việc thực hiện quyền của người dân vì làm gia tăng chi phí cho việc học tập, hạn chế khả năng tiếp cận từ đó không đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với mọi thành phần xã hội Tham nhũng nói chung và tham nhũng trong lĩnh vực GDĐT ảnh hưởng mạnh

mẽ nhất đến người nghèo, có khả năng làm giảm tính di động của xã hội, là nguyên nhân gián tiếp cho các tệ nạn xã hội của người dân nghèo

Tham nhũng trong GDĐT ở Việt Nam xảy ra dưới các hình thức chính như:

“chạy trường, chạy điểm” cho đến việc lạm thu và sử dụng tài chính không minh bạch trong các cơ sở giáo dục tại khối công lập Tình trạng xung đột lợi ích khi chính giáo viên tổ chức dạy thêm lại là người ra đề để kiểm tra, đánh giá học sinh dẫn đến việc các học sinh đi học thêm được điểm cao hơn học sinh không đi học hoặc bị phân biệt đối xử trong lớp học chính thức Trong hoạt động mua sắm trang thiết bị giáo dục có sự thông đồng, móc nối giữa các bên

để nâng khống giá, gây thất thoát ngân sách nhà nước trên nhiều tỉnh thành Đặc biệt, trong hoạt động thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia còn xảy ra tình trạng nhận hối lộ để gian lận trong công tác chấm thi tại Hà Giang và Hòa Bình dẫn đến những bức xúc to lớn trong dư luận xã hội

Tình trạng tham nhũng trong lĩnh vực GDĐT do nhiều nguyên nhân, có thể kể

đến những nguyên nhân cơ bản như:

Thứ nhất, các hoạt động chi tiêu công trong lĩnh vực GDĐT mang tính thường

xuyên và liên tục hàng năm GDĐT là hoạt động cơ bản, thiết yếu mà mỗi cá

nhân đều có nhu cầu sử dụng trong suốt cuộc đời Việc này tạo ra một nguồn cầu liên tục và có xu hướng gia tăng vì những đòi hỏi ngày càng cao trong đời sống kinh tế thị trường Từ đó cho thấy nhu cầu trong lĩnh vực GDĐT là rất ổn

Trang 23

định và có xu hướng gia tăng về cả chất lẫn lượng Trong khi đó, dịch vụ GDĐT công lập khó gia tăng nguồn cung một cách tự do mà phải dựa trên quy hoạch phát triển của địa bàn và các điều kiện cấp phép hoạt động khắt khe Vì nhu cầu có xu hướng tăng nhưng nguồn cung không đáp ứng được và có xu hướng

đổ dồn lên tuyến trên, gây quá tải tại các thành phố lớn nên dễ nảy sinh tham nhũng hơn so với thị trường khác có tính cạnh tranh cao

Thứ hai, GDĐT là dịch vụ khó kiểm chứng chất lượng và không thể cam kết

cụ thể về chất lượng Nghĩa vụ của người cung cấp dịch vụ GDĐT là nỗ lực tối

đa trong khả năng mà không phải cam kết tạo ra một kết quả đúng như yêu cầu,

kỳ vọng của người sử dụng dịch vụ Vì vậy, chất lượng của hàng hóa, dịch vụ

là vật tư, thiết bị đầu vào của GDĐT khó kiểm chứng từ phía người sử dụng dịch vụ vì sự bất cân xứng về thông tin Người sử dụng dịch vụ đôi khi không hài lòng với chất lượng dịch vụ mình nhận được nhưng rất khó, thiếu cơ sở để chứng minh được rằng người cung cấp dịch vụ đã không nỗ lực tối đa trong khả năng có thể

Thứ ba, người thụ hưởng dịch vụ trong lĩnh vực GDĐT trong tương quan với

người cung cấp dịch vụ là bên yếu thế hơn về thông tin và địa vị quyền lực Những sai phạm trong lĩnh vực GDĐT thường bị phát hiện bởi cơ quan quản

lý và báo chí, tổ chức xã hội hoặc cha mẹ phụ huynh học sinh hoặc các bên thứ

ba độc lập trong quan hệ giáo dục vì người trực tiếp thụ hưởng dịch vụ GDĐT

đa phần là những đối tượng trẻ tuổi, chưa đủ hiểu biết, thiếu kinh nghiệm để trực tiếp đứng ra phản biện, tố cáo sai phạm trong lĩnh vực GDĐT Ngoài ra, nhiều trường hợp phụ huynh là người đã phát hiện những sai phạm nhưng vì nỗi lo sợ con mình sau đó có thể bị “trù dập” nên chưa đủ can đảm đứng ra phản biện, tố cáo hành vi sai phạm Vì nhiều sai phạm mang tính hệ thống nên việc tố cáo, phản biện của một cá nhân sẽ không có hiệu quả khi người giải quyết tố cáo, khiếu nại có thể bảo hộ, bao che cho sự sai phạm

Trang 24

1.2 Khái niệm thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

1.2.1 Khái niệm pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Để bảo đảm việc phòng, chống tham nhũng có hiệu quả và tuân theo một trật

tự nhất định, Nhà nước ban hành các quy định pháp luật nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng Nhiệm vụ trọng tâm của pháp luật PCTN là xây dựng một cơ chế phòng ngừa tham nhũng toàn diện và sâu rộng, qua đó góp phần xây dựng một cơ chế quản lý nhà nước, quản lý xã hội công khai, minh bạch để “không thể tham nhũng”; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng để “không dám tham nhũng”

Pháp luật xác định rõ hành vi nào là tham nhũng, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong PCTN, trình tự, thủ tục xử lý tham nhũng, đồng thời, quy định trách nhiệm và cơ chế để phát huy vai trò của các tổ chức, cá nhân trong xã hội tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng Thời gian qua, pháp luật PCTN ở nước ta đã từng bước giúp tạo ra môi trường thể chế ngày càng công khai, minh bạch; từng bước tăng cường sự tham gia của người dân vào công tác PCTN; cơ chế kiểm soát đối với cán bộ, công chức, viên chức và chế độ công vụ cũng ngày càng được cải thiện; việc xử lý người có hành vi tham nhũng

và tài sản tham nhũng cũng được chú trọng và nâng cao hiệu quả; bộ máy cơ quan PCTN bước đầu được củng cố, kiện toàn

Từ những phân tích trên đây có thể hiểu: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng

trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng ở các cơ sở giáo dục, đào tạo

Trang 25

Pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo có một

số đặc điểm sau:

- Pháp luật về PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo điều chỉnh những quan

hệ xã hội phát sinh trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng bằng các phương pháp, cách thức điều chỉnh khác nhau, tùy theo tính chất, mức

độ của các chủ thể có hành vi tham nhũng; đồng thời, quy định vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng

- Các phương pháp điều chỉnh của pháp luật về PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo mang tính quyền uy, phục tùng, buộc mọi chủ thể pháp luật phải tuân theo nhằm hạn chế, ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân

- Nội dung của pháp luật về PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo gồm các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan phòng, chống tham nhũng; các quy định về hợp tác quốc tế và phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức,

cá nhân trong phòng, chống tham nhũng; xác định rõ hành vi nào là hành vi tham nhũng và những biện pháp cưỡng chế nhà nước cần áp dụng đối với các chủ thể có hành vi đó; đồng thời quy định các biện pháp bảo đảm nhằm phòng, chống tham nhũng có hiệu quả

1.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Thực hiện pháp luật là một giai đoạn quan trọng trong quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống để qua đó xây dựng một xã hội có trật tự và an toàn theo pháp luật Nội hàm của khái niệm thực hiện pháp luật hiện nay được định nghĩa khác nhau tùy quan niệm và cách tiếp cận, nếu tập thể tác giả trường Đại học Luật

Hà Nội (2009) cho rằng “THPL là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những

Trang 26

hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” thì các tác giả Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu (2009) lại cho rằng “THPL là hoạt động của các chủ thể pháp luật làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật”, các quan niệm này cho thấy rõ chủ thể tham gia

THPL và tính chất của hoạt động này là hoạt động “có mục đích” và “có ý thức” của chủ thể trong xã hội

Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về THPL nhưng nhìn chung các định nghĩa đều thống nhất ở khía cạnh đó là hoạt động có chủ đích, có ý thức nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật, đưa pháp luật đi vào cuộc sống thông qua hoạt động của các chủ thể pháp luật Về bản chất, THPL là việc các chủ thể pháp luật bao gồm các cá nhân và tổ chức tạo lập các hành vi hợp pháp (những hành vi không trái pháp luật, nằm trong giới hạn cho phép của pháp luật, phù hợp với những mệnh lệnh (chỉ dẫn) của pháp luật)

Từ những phân tích trên, thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với những quy định của pháp luật Dưới góc độ của pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Như vậy, thực hiện pháp luật về PCTN trong lĩnh vực GDĐT là hoạt động có mục đích của các chủ thể có thẩm quyền làm cho những quy định của pháp luật

về PCTN đi vào cuộc sống, nhằm ngăn ngừa, hạn chế, đấu tranh chống tham nhũng trong tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục, đào tạo Góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác giáo dục, đào tạo góp phần nâng cao trình độ dân trí, bảo đảm quyền học tập của công dân, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và các giá trị đạo đức liêm chính, làm lành mạnh các mối

Trang 27

quan hệ xã hội và củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước

1.2.3 Nội dung thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

1.2.3.1 Ban hành văn bản về phòng, chống tham nhũng

Ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về công tác PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo bao gồm:

- Ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

- Ban hành các văn bản về chủ trương và chỉ đạo thực hiện các nội dung công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng

Thể chế nói chung và thể chế về PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói riêng cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực là yếu tố cơ bản, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng Cần phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để đảm bảo công tác PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

có hiệu lực, hiệu quả, nhất là xây dựng các quy chế nội bộ, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với viên chức ngành giáo dục; xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế xã hội và thể chế về PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo theo Cương lĩnh xây dựng dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng chính sách, pháp luật về GDĐT sẽ hạn chế được các tác động tiêu cực, ngăn chặn nguy cơ nảy sinh tham nhũng từ khi xây dựng chính sách

Nhiệm vụ tham mưu ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về PCTN trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo chủ yếu do Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Đảng ủy Bộ nghiên cứu, chỉ đạo lãnh đạo

Trang 28

Bộ Giáo dục và Đào tạo và các đơn vị cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác PCTN Tổ chức quán triệt, triển khai các quy định của Đảng và Nhà nước liên quan đến PCTN, đồng thời, yêu cầu thủ trưởng các đơn

vị phối hợp với cấp ủy đồng cấp chỉ đạo Đảng bộ, Chi bộ trực thuộc nghiên cứu, quán triệt sâu rộng nội dung của các văn bản trên đến toàn thể đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị

Thực hiện Chương trình hành động của ngành giáo dục thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Kế hoạch số 178-KH/BGDĐT, ngày 16/3/2017 triển khai Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 27/CT-TT, ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong ngành giáo dục

Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là công việc không thể tách rời với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật PBGDPL là khâu đầu tiên trong hoạt động thực thi pháp luật, là phương tiện để chuyển tải những đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới toàn thể cán bộ và nhân dân Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (TTPBGD) pháp luật về phòng chống tham nhũng (PCTN) là một trong những nội dung quan trọng của công tác PCTN Thời gian qua, qua hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, Thanh tra tỉnh không chỉ phát hiện xử lý kịp thời các hành

vi tiêu cực, sai phạm, tham nhũng, mà còn góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật nói chung và TTPBGD pháp luật về PCTN nói riêng Trong những

Trang 29

năm qua, cùng với sự quyết tâm và ý thức trách nhiệm cao của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, đặc biệt là vai trò của quần chúng nhân dân, công tác TTPBGD pháp luật về PCTN trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động Cán bộ, công chức cơ bản có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, nâng cao hiệu quả quản

lý nhà nước, góp phần vào sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh Trên một số lĩnh vực, tham nhũng đã từng bước được kiềm chế Đặc biệt, tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp được kiểm soát Có được kết quả đó là nhờ cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành đã tổ chức triển khai và duy trì có hiệu quả công tác TTPBGD pháp luật về PCTN rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Các cấp, các ngành đã tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, rà soát, sửa đổi, bổ sung một số quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn, thực hiện công khai, minh bạch trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đặc biệt là việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để phòng ngừa tham nhũng, như: công khai, minh bạch trong hoạt động; minh bạch tài sản, thu nhập Việc kiểm tra, thanh tra, giám sát được quan tâm, từng bước nâng cao hiệu quả công tác PCTN Qua hoạt động, thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại

tố cáo, các vụ việc tiêu cực, sai phạm, tham nhũng đã được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của của pháp luật, có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ, góp

phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

1.2.3.3 Thực hiện quy định về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng

Việc thực hiện pháp luật PCTN là quá trình hiện thực hóa các quy định về phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng

Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thì việc phòng ngừa tham nhũng đóng vai trò thiết yếu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giúp

Trang 30

ngăn ngừa hành vi tham nhũng, tăng cường khả năng phát hiện tham nhũng và khắc phục hậu quả tham nhũng Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong lĩnh vực GDĐT bao gồm:

(1) Quy định về công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị: Công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị là một trong những biện pháp quan trọng nhất để phòng ngừa tham nhũng Thông qua việc công khai, minh bạch các cơ quan, tổ chức liên quan có thể tiếp cận các thông tin về cơ chế, chính sách của nhà nước để người dân giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước

(2) Quy định về xây dựng và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: Pháp luật quy định cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; công khai các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn về quyền lợi đối với từng loại chức danh trong cơ quan mình; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn

(3) Quy định về thực hiện Quy tắc ứng xử và chuyển đổi vị trí công tác

Quy tắc ứng xử: Người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội phải thực hiện quy tắc ứng xử, bao gồm các chuẩn mực xử sự là những việc phải làm hoặc không được làm phù hợp với pháp luật và đặc thù nghề nghiệp nhằm bảo đảm liêm chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ

Quy tắc đạo đức nghề nghiệp: là chuẩn mực xử sự phù hợp với đặc thù của

từng nghề bảo đảm sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong việc hành nghề Tổ chức xã hội - nghề nghiệp phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với hội viên của mình theo quy định của pháp luật

Trang 31

Kiểm soát xung đột lợi ích: Xung đột lợi ích là tình huống mà trong đó lợi ích

của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc

sẽ tác động không đúng đắn đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ

Chuyển đổi vị trí công tác: Cơ quan, tổ chức, đơn vị theo thẩm quyền quản lý

có trách nhiệm thực hiện việc định kỳ chuyển đổi cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại một số vị trí liên quan đến việc quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị,

cá nhân nhằm chủ động phòng ngừa tham nhũng Việc chuyển đổi vị trí công tác phải theo kế hoạch và được công khai trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn

vị Không được lợi dụng việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức vì vụ lợi hoặc để trù dập cán bộ, công chức, viên chức (4) Quy định về cải cách hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ và thanh toán không dùng tiền mặt

Cải cách hành chính nhằm phòng ngừa tham nhũng: Nhà nước thực hiện cải

cách hành chính nhằm tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; phân định rõ nhiệm

vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước; công khai, đơn giản hoá và hoàn thiện thủ tục hành chính; quy định cụ thể trách nhiệm của từng chức danh trong

cơ quan, tổ chức, đơn vị

Về tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý: Cơ quan, tổ chức,

đơn vị thường xuyên cải tiến công tác, tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động của mình, tạo thuận lợi để công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục giải quyết công việc để cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chủ động thực hiện mà không phải trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, công chức, viên chức

Trang 32

Thanh toán không dùng tiền mặt: Nhà nước áp dụng các biện pháp quản lý để

thực hiện việc thanh toán thông qua tài khoản tại ngân hàng, Kho bạc nhà nước

Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực hiện các quy định về thanh toán bằng chuyển khoản

(5) Quy định về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập

Pháp luật quy định cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm kê khai tài sản, thu nhập Các bộ, công chức, viên chức thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai

Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm quản lý và lưu giữ bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai do mình quản lý; tổ chức việc xác minh theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản và công khai kết luận đó theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Phát hiện tham nhũng là khâu quan trọng trong công tác đấu tranh chống tham nhũng Phát hiện tham nhũng là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước Theo đó, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanh tra, điều tra, viện kiểm sát có thẩm quyền Các hình thức phát hiện tham nhũng hiện nay bao gồm: Công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước; Công tác tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị; Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử và xử lý đề nghị của cơ quan dân

cử, đại biểu dân cử; Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán; Phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng

1.2.3.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý hành vi tham nhũng

Trang 33

Thanh tra về PCTN: Trách nhiệm này chủ yếu thuộc về các tổ chức thanh tra nhà nước và đây cũng là mảng hoạt động rõ nét nhất của công tác quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng Điều 61 Luật PCTN quy định cụ thể về thẩm quyền thanh tra các cấp: cơ quan thanh tra, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo thẩm quyền như sau:

a) Thanh tra Chính phủ thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan ở trung ương thực hiện; người công tác tại Thanh tra Chính phủ thực hiện;

b) Thanh tra Bộ thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, cơ quan ngang

Bộ thực hiện, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

c) Thanh tra tỉnh thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương thực hiện, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này.”

Kiểm tra về PCTN: Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải tăng cường quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện, giải quyết

từ sớm, ngăn chặn từ đầu sai phạm

Việc kiểm tra được thực hiện hàng năm khi đã được các cơ quan, tổ chức, đơn

vị có thẩm quyền phê duyệt hoặc khi phát hiện dấu hiệu vi phạm các quy định của pháp luật về PCTN Việc kiểm tra được thực hiện theo quy trình, thủ tục của pháp luật

Trang 34

Công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các vụ việc tham nhũng Tại Điều 55 Luật PCTN quy định

về công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước như sau: “1 Người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý tham nhũng; 2 Khi phát hiện có hành

vi tham nhũng, người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”

Xử lý các hành vi tham nhũng: Người có hành vi tham nhũng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét áp dụng tăng hình thức kỷ luật Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thì còn bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức đó

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/7/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCTN năm

2018 Trong đó, Chương VI của Nghị định 59 quy định về việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với người có chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm liên quan đến tham nhũng và Chương X quy định về xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống tham nhũng

Pháp luật quy định tương đối đầy đủ hệ thống chế tài áp dụng cho người có hành vi tham nhũng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của họ ở mức độ khái

Trang 35

quát nhất có thể phân chia thành hai loại chế tài: Chế tài kỷ luật áp dụng cho người có hành vi tham nhũng ở mức độ ít nguy hiểm cho xã hội, còn chế tài hình sự được áp dụng cho người có hành vi tham nhũng gây nguy hiểm cao cho

xã hội bị coi là tội phạm

Trách nhiệm kỷ luật (chế tài kỷ luật): Trách nhiệm kỷ luật là việc áp dụng

những hậu quả bất lợi đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng mà theo quy định của pháp luật phải xử lý bằng chế tài kỷ luật Theo quy định của pháp luật thì chế tài kỷ luật có các hình thức sau tương ứng với

mức đội vi phạm của hành vi tham nhũng: Công chức vi phạm quy định của

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; hạ ngạch; cách chức; buộc thôi việc

Chế tài hình sự: (hình phạt) là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà

nước được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 do TA quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Tham nhũng và tệ nạn tham nhũng xuất phát từ chính bộ máy công quyền, vì vậy, phòng, chống tham nhũng nói chung thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực GDĐT nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Việc nhận diện các yếu tố này sẽ giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật phòng,

Trang 36

chống tham nhũng trong lĩnh vực GDĐT ở nước ta có những cơ chế phù hợp nhằm phát huy những yếu tố tích cực, giảm thiểu những tác động trái chiều, giúp cho kết quả của công cuộc phòng, chống tham nhũng đạt kết quả cao hơn Thực hiện pháp luật trong phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, là trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân Đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh

tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới Vì tham nhũng là căn bệnh của bộ máy nhà nước; đồng thời, đó cũng là một tệ nạn xã hội cần phải được bài trừ và lên án của cả xã hội; Thì vai trò của thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo đều có trách nhiệm là của toàn ngành giáo dục với sự quyết tâm cao tham gia tích cực để ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới xóa bỏ các điều kiện tồn tại của tham nhũng ra khỏi đời sống xã hội Việc tham gia tích cực vào công cuộc đấu tranh đó vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của các thành viên trong nhà trường, cùng các em học sinh, sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cũng đã có thể tham gia tích cực vào công tác đấu tranh Phòng chống tham nhũng; sự tham gia của các em được thể hiện trước hết ở thái độ nghiêm túc trong học tập, tự phấn đấu bằng chính năng lực của bản thân Bên cạnh đó, các em cũng cần có thái độ thẳng thắn và đấu tranh kiên quyết với mọi biểu hiện tham nhũng diễn

Trang 37

và quyết tâm chính trị của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương Có thể nhìn nhận yếu tố chính trị trên mấy khía cạnh sau đây:

Một là, nhận thức chính trị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm

quyền Điều này có nghĩa, các nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật Nhà nước có được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp cận và lĩnh hội một cách đầy đủ, chính xác để từ đó xác định được quan điểm, mục tiêu chung trong đấu tranh PCTN hay không, hơn thế nữa, từ sự nắm bắt đó, các chủ thể này có xác định được một cách rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, từ đó đề ra được các phương hướng, biện pháp cụ thể trong quá trình thực hiện pháp luật PCTN hay không

Hai là, quyết tâm chính trị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm

quyền Đây là khía cạnh tư tưởng, ý chí nội tâm của các chủ thể có liên quan Nhận thức chính trị là vấn đề quan trọng, nhưng nếu các chủ thể không có ý chí quyết tâm, coi đấu tranh PCTN là trách nhiệm cao cả, là nhiệm vụ thiêng liêng,

là sứ mệnh quan trọng của mình trước Đảng, trước nhân dân thì sẽ rất khó để biến nhận thức thành hành động cụ thể

Ba là, quyết tâm chính trị là điều ẩn sâu bên trong, do đó, điều quan trọng

là quyết tâm đó phải được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động chính trị, tức bằng các hoạt động thực tế của mỗi người Vì vậy, yếu tố chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện pháp luật PCTN chính là thông qua các hành động chính trị cụ thể, thiết thực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chứ không phải qua lời nói, sự hô hào hay những chỉ thị suông Nói cách khác, nhận thức chính trị hay quyết tâm chính trị phải được thể hiện trên thực tế thông qua các nghị quyết, các chương trình, kế hoạch, v.v các cơ quan, ban, ngành, địa phương Và điều quan trọng là các cơ quan hữu quan thực hiện các quyết tâm đó thông qua các hành động cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Bên cạnh đó, các

cơ quan hữu quan phải huy động được sự hưởng ứng, sự tham gia nhiệt tình,

Trang 38

đầy trách nhiệm của tất cả các cơ quan, tổ chức và mọi công dân đối với công cuộc đấu tranh PCTN

1.3.2 Yếu tố pháp lý

Trong các yếu tố tác động tới thực hiện pháp luật PCTN thì yếu tố pháp

lý đóng một vị trí hết sức quan trọng Đấu tranh PCTN là hoạt động sử dụng nhiều công cụ khác nhau, nhưng pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất Nếu không

có hệ thống các quy định của pháp luật về PCTN thì không thể có cơ sở pháp

lý để tiến hành các hoạt động phòng ngừa và xử lý tham nhũng Sự ảnh hưởng của yếu tố pháp lý đến hoạt động thực hiện PCTN thể hiện ở mấy khía cạnh sau:

Thứ nhất, nếu một hệ thống pháp luật về PCTN được ban hành mang tính hệ

thống, toàn diện, phù hợp thực tiễn và mang tính khả thi thì đây sẽ là điều kiện tiên quyết để hoạt động thực hiện pháp luật PCTN có hiệu lực và hiệu quả cao Nhưng nếu hệ thống các quy định của pháp luật không đầy đủ, chồng chéo, mâu thuẫn hoặc xa rời thực tế sẽ cản trở quá trình thực hiện pháp luật trong cuộc đấu tranh PCTN

Thứ hai, trong các quy định của pháp luật về PCTN thì các quy định về phòng

ngừa tham nhũng góp phần hạn chế khả năng hình thành các hành vi tham nhũng, do vậy, nếu các quy định về phòng ngừa tham nhũng được quy định một cách chặt chẽ, có sự phối hợp đồng bộ trên các lĩnh vực khác nhau sẽ tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ pháp luật một cách chặt chẽ, từ đó giảm khả năng vi phạm pháp luật về phòng ngừa tham nhũng Ngược lại, nếu các quy định pháp luật trong lĩnh vực này không dự liệu hết được các khả năng, điều kiện nảy sinh tham nhũng thì sẽ tạo kẽ hở cho các hành vi tham nhũng phát sinh

Thứ ba, các quy định pháp luật về xử lý hành vi tham nhũng là một công

cụ pháp lý sắc bén để chống tham nhũng có hiệu quả, vì vậy, nếu pháp luật về

Trang 39

lĩnh vực này được quy định một cách cụ thể, trừng phạt cao, tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi tham nhũng thì sẽ tạo điều kiện quan trọng để thực hiện pháp luật về chống tham nhũng có hiệu quả Ngược lại, nếu các quy định này không đủ sức răn đe thì sẽ không tạo được sự cảnh tỉnh đối với các chủ thể có khả năng tham nhũng, thậm chí các chủ thể này còn có thể “nhờn” pháp luật, sẵn sàng vi phạm pháp luật vì mục đích cao hơn

Thứ tư, một trong những yếu tố pháp lý ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật

PCTN là ý thức pháp luật của các cán bộ, công chức, viên chức cũng như của các tổ chức, cá nhân công dân Yếu tố này mặc dù khó nhìn nhận, khó lượng hóa được, bởi nó ẩn sâu trong tiềm thức của các chủ thể, tuy nhiên, nó lại có sức ảnh hưởng không nhỏ tới xử sự của các chủ thể Về phía cán bộ, công chức, viên chức (với tư cách là những người có cơ hội để tham nhũng), nếu ý thức pháp luật cao, vững chắc thì họ sẽ có khả năng lựa chọn hành vi, tính toán để

có sự xử sự phù hợp nhất trước những cám dỗ của lợi ích Và khi đó, mặc dù

có sự cám dỗ về vật chất hoặc tinh thần, nhưng họ sẽ đủ bản lĩnh để từ chối và giữ được sự liêm chính của mình Về phía công dân, khi đã có ý thức pháp luật

về PCTN tốt thì họ sẽ không ngần ngại, không sợ hãi, không nao núng trước hành vi tham nhũng và sẵn sàng cung cấp thông tin để xử lý các hành vi tham nhũng

1.3.3.Yếu tố kinh tế

Tham nhũng là tệ nạn gắn liền với yếu tố kinh tế, bởi tham nhũng chính

là sự trục lợi cá nhân về lợi ích, trong đó lợi ích vật chất là trọng tâm Chính vì vậy, yếu tố kinh tế có ảnh hưởng không nhỏ tới thực hiện pháp luật PCTN Sự tác động của yếu tố kinh tế đối với thực hiện pháp luật PCTN thể hiện trên các góc độ sau đây:

Một là, khi yếu tố kinh tế không bảo đảm cho cuộc sống của đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức thì sẽ không đủ khả năng để duy trì sự liêm chính của

Trang 40

một bộ phận, nhất là trong điều kiện họ có thể “cải thiện” cuộc sống của mình thông qua việc thực thi công vụ của họ Điều đó có nghĩa, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những lý do có thể dẫn tới tình trạng tham nhũng Vì vậy, nếu nhà nước có sự bảo đảm về mặt kinh tế, đời sống cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thì họ sẽ không phải tính toán, tìm cách trục lợi cá nhân trong quá trình thực thi công vụ của mình

Hai là, lĩnh vực kinh tế là nơi mà khả năng tham nhũng dễ nảy sinh nhất,

vì vậy, các quy định pháp luật về quản lý kinh tế là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thực hiện pháp luật PCTN Một cơ chế kinh tế minh bạch, công khai, bảo đảm sự khách quan, công bằng thì sẽ là một môi trường lành mạnh

để nguy cơ tham nhũng khó có thể xảy ra Ngược lại, nếu pháp luật, chính sách kinh tế không chặt chẽ, nhiều kẽ hở thì sẽ là mảnh đất dung dưỡng các hành vi tham nhũng Chính vì thế, để góp phần thực hiện pháp luật PCTN có hiệu quả thì các chủ trương, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực kinh tế phải tiên lượng được mọi tình huống có thể trao cơ hội trục lợi cho các cá nhân, tổ chức liên quan, từ đó hạn chế một cách tối đa khả năng và môi trường sản sinh tham nhũng

Ba là, kinh tế cũng là yếu tố có khả năng kích thích việc thực hiện PCTN

có hiệu quả Các chủ thể tham gia công cuộc PCTN luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức, thậm chí phải gánh chịu những rủi ro, hiểm nguy cho cuộc sống của bản thân mình, bởi chống tham nhũng là chống lại những đối tượng có sức mạnh quyền lực nhất định Vì thế, nếu nhà nước quan tâm đến lợi ích (cả vật chất lẫn tinh thần) của những người tham gia PCTN thì sẽ khuyến khích, động viên họ sẵn sàng cùng với các cơ quan chức năng vạch mặt và trừng trị các hành vi tham nhũng Tạo điều kiện, tạo niềm tin cho các công dân

để họ vững tâm sát cánh cùng các cơ quan nhà nước trong đấu tranh PCTN sẽ

là một trong những yếu tố góp phần thực hiện pháp luật PCTN đạt kết quả cao,

Ngày đăng: 30/08/2023, 22:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 21/8/2006 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 21/8/2006 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
2. Ban Chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam (2021), Kết luận số 21-KL/TW Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về việc “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 21-KL/TW Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về việc “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí”
Tác giả: Ban Chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2021
3. Ban Nội chính Trung ương (2005), Một số văn bản của Đảng về phòng chống tham nhũng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản của Đảng về phòng chống tham nhũng
Tác giả: Ban Nội chính Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
4. Bộ chính trị (1996), Nghị quyết số 14/NQ-TW ngày 1/5/1996 của về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 14/NQ-TW ngày 1/5/1996 của về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 1996
5. Chính phủ (2009), Chiến lược Quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020 ban hành kèm theo Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 107/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 107/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chính phủ (2006), Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng chống tham nhũng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng chống tham nhũng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
8. Chính phủ (2007), Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong PCTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
9. Chính phủ (2007), Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
11. Chính phủ (2010), Nghị định số 93/2010/NĐ-CP ngày 31/8/2010 Sửa đổi một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 93/2010/NĐ-CP ngày 31/8/2010 Sửa đổi một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
12. Chính phủ (2011), Nghị định số 68/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 9/3/2007 về minh bạch tài sản, thu nhập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 68/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 9/3/2007 về minh bạch tài sản, thu nhập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
14. Chính phủ (2013), Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ, về minh bạch tài sản, thu nhập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ, về minh bạch tài sản, thu nhập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
15. Chính phủ (2013), Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
17. Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) (1990), Quyết định Số 240- HĐBT ngày 26/6/1990 về đấu tranh chống tham nhũng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Số 240- HĐBT ngày 26/6/1990 về đấu tranh chống tham nhũng
Tác giả: Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ)
Năm: 1990
19. Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia (2000), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, tr.269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia
Năm: 2000
20. Nguyễn Yến Ngọc (2016), Quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Yến Ngọc
Nhà XB: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2016
24. Quốc hội (1993), Nghị quyết của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa IX , kỳ họp thứ tư (từ ngày 6 đến ngày 30/12/1993) về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chống tham nhũng, chống buôn lậu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa IX , kỳ họp thứ tư (từ ngày 6 đến ngày 30/12/1993) về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chống tham nhũng, chống buôn lậu
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1993
25. Quốc hội (1997), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự ngày 10/5/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự ngày 10/5/1997
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1997
26. Quốc hội (1999), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí năm 1999
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1999
29. Quốc hội (2007), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống tham nhũng năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống tham nhũng năm 2007
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w