Thực hiện chính sách dân số và phát triển từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam [2], Luận văn Thạc sĩ chính sách công của tác giả Cù Thị Ba 2019 cũng đã nghiên cứu lý luận về thự
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
VỪ Y XỨ
THỰC THI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TRONG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI
HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2023
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
VỪ Y XỨ
THỰC THI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TRONG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các
số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Học viên
Vừ Y Xứ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Tạ Thị Hương, đã quan tâm và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn, từ khi xây dựng đề cương đến khi hoàn thiện luận văn
Và tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô giảng viên Học viện hành chính Quốc gia đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi rất nhiều kiến thức lý luận, thực tiễn đáng quý giúp tôi nâng cao trình độ, hoàn thành tốt chương trình học tập Cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Ban quản lý đào tạo đã tận tình, quan tâm và giúp đỡ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn đến ban lãnh đạo, các phòng ban tại Ủy Ban nhân dân huyện Kỳ Sơn đã giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thiện tốt luận văn này
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè luôn động viên, ủng
hộ, giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn nghiên cứu của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Vừ Y Xứ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÊ THỰC THI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TRONG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2 Nội dung chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số 14
1.3 Hoạt động thực thi chính sách dân số 17
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách dân số 24
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TRONG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN 30
2.1 Đặc điểm chung của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An 30
2.2 Thực trạng dân số huyện Kỳ sơn 33
2.3 Phân tích thực trạng thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số tại huyện Kỳ Sơn giai đoạn 2019-2021 43
2.4 Đánh giá chung về việc thực thi chính sách dân số trên địa bàn huyện Kỳ Sơn 62 Tiểu kết chương 2 78
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI THỰC THI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TRONG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN 79
3.1 Quan điểm và mục tiêu về chính sách dân số của Việt Nam trong giai đoạn mới 79 3.2 Định hướng chung của tỉnh Nghệ An về thực thi chính sách dân số 81
3.3 Định hướng của huyện Kỳ Sơn về thực thi chính sách dân số 83
3.4 Một số giải pháp đổi mới thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An 84
3.5 Một số khuyến nghị 90
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 101
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
2.4
Kết quả Sử dụng biện pháp tránh thai; Sức khỏe sinh sản vị thành niên/thanh niên ở huyện Kỳ Sơn từ năm 2019 đến năm 2021
45
Trang 865
2.5
Mức độ đánh giá của người dân về việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách dân số của đội ngũ CB, CC
67
2.6
Mức độ đánh giá của người dân về việc sơ kết, tổng
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân số là một lĩnh vực quan trọng liên quan đến mọi mặt của đời sống con người và sự phát triển bền vững của xã hội Yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội là nguồn nhân lực, mà nguồn nhân lực luôn gắn liền sự biến đổi dân số cả về số lượng và chất lượng Mục tiêu của sự phát triển suy cho cùng là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi quy mô dân số, tốc độ tăng trưởng dân số, sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực thật sự phù hợp và tác động tích cực đến sự phát triển
Sự phù hợp đó là yếu tố quan trọng kích thích sự phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nâng cao tiềm lực của lực lượng sản xuất; là yếu tố cơ bản để xóa đói, giảm nghèo, giảm tình trạng thất nghiệp, giảm tỷ lệ mù chữ, tỷ lệ suy dinh dưỡng, nâng cao trình độ học vấn, nâng cao vị thế của người phụ nữ, giảm rủi ro về môi trường, mở rộng dịch vụ y tế, xã hội và huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ; góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
Chính sách dân số luôn là chính sách lớn của mọi quốc gia dân tộc và với Việt Nam cũng không phải ngoại lệ Chính sách dân số bảo đảm cân bằng, hài hòa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân giữa việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương pháp luật; giữa việc mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật mới với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân
Tuy nhiên, ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi,
Trang 10vùng sâu, vùng xa do nhiều tác động khác nhau từ những phong tục tập quán, văn hóa sinh hoạt, trình độ dân trí thấp, cũng như điều kện kinh tế đặc biệt khó khăn làm ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình thực thi chính sách dân số Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói, nghèo bền vững của các dân tộc thiểu số ở vùng núi, vùng sâu vùng xa, trong đó có huyện miền núi Kỳ Sơn, Nghệ An
Để làm rõ và góp phần làm đổi mới hoạt động thực thi chính sách dân
số đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở huyện miền núi, vùng sâu vùng xa, tác giả đã chọn đề tài “Thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An’’
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan đến dân số, chính sách dân số và việc thực thi chính sách dân số đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu Đến nay đã có nhiều công trình được công bố, dưới những góc độ tiếp cận và hình thức thể hiện khác nhau, tiêu biểu như:
Trong cuốn Giáo trình Dân số và phát triển [10] của tác giả Nguyễn
Nam Phương (2011) đã cung cấp những kiến thức cũng như những hiểu biết về sự vận động, biến đổi của các quá trình, các kết quả dân số (sinh, chết, di dân, qui mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số ) và đặt lồng ghép nó trong mối quan hệ tác động qua lại với các biến số phát triển (kinh
tế, xã hội, môi trường), nhận diện được xu hướng, tính quy luật tác động qua lại giữa chúng là rất quan trọng và cần thiết, nhất là đối với các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý nói chung Lồng ghép các biến dân số với các biến phát triển khi hoạch định chiến lược phát triển kinh tế
xã hội là rất cần thiết Nó là tiền đề, điều kiện rất quan trọng để kiểm soát, khai thác, sử dụng triệt để và có hiệu quả cao các nguồn lực về tài nguyên,
Trang 11thiên nhiên, con người, nâng cao tính khả thi của các kế hoạch, chương trình phát triển, hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý XH, nhằm đạt tới mục tiêu phát triển toàn diện con người - dân số
Giáo trình giáo dục dân số sức khỏe sinh sản (2009) (Dành cho sinh
viên ngành Tâm lý - Giáo dục các trường đại học sư phạm) [11] do nhóm tác giả PGS.TS Trần Quốc Thành (Chủ biên), TS Nguyễn Thị Mùi, ThS
Lê Thị Hồng An biên soạn cũng đã đưa ra các nội dung cơ bản về giáo dục dân số- sức khoẻ sinh sản và sức khỏe sinh sản vị thành niên; vấn đề tình bạn tuổi thiếu niên và tình bạn, tình yêu tuổi đầu thanh niên; vấn đề tình dục an toàn, các phương pháp phòng tránh thai để có thể tự giáo dục mình
và có kiến thức sau này giáo dục học sinh, sinh viên
Trong Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam [14] của Tổng cục Thống kê, Hà Nội (2018) cũng đã trình bày các kết quả chủ yếu của cuộc Điều tra lao động và việc làm năm 2018 để cung cấp các thông tin về lao động và việc làm cho người sử dụng Bên cạnh đó, kết quả điều tra cũng bao gồm một số chỉ tiêu chủ yếu về thiếu việc làm và thất nghiệp đối với những người trong độ tuổi lao động Số liệu điều tra lao động và việc làm được tổng hợp theo quý cho cấp vùng cấp và toàn quốc; số liệu tổng hợp theo năm cho cấp tỉnh/thành phố
“Bài học kinh nghiệm từ chính sách dân số Việt Nam”, tạp chí Ban tuyên giáo Trung ương [3], tác giả Nguyễn Đình Cử (2021) đã đưa ra
những bài học kinh nghiệm phong phú, đa dạng của 60 năm xây dựng và triển khai chính sách dân số là một trong những chìa khóa giúp Việt Nam vượt qua những thách thức mới trong lĩnh vực Dân số, đồng thời mang lại niềm tin Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 21-NQ/TW góp phần thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững
Chất lượng dân số quận Bình Tân (Thành phố Hồ Chí Minh) trong
Trang 12quá trình đô thị hóa [15], Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa lý học của tác
giả Lê Thị Hồng Quế (2013) cũng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về khái niệm, thành phần, tiêu chí đo lường chất lượng dân số và các nhân tố đặc trưng của quá trình đô thị hóa tác động đến chất lượng dân số, luận văn này phân tích làm rõ thực tiễn về chất lượng dân số thành phố Hồ Chí Minh và quận Bình Tân trong quá trình đô thị hóa trên các lĩnh vực: thể lực – sức khỏe; giáo dục; tinh thần và đời sống văn hóa; cơ cấu dân số; đời sống vật chất và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của toàn bộ dân số Qua đó, luận văn đề xuất các định hướng và giải pháp chất lượng dân số quận Bình Tân trong quá trình đô thị hóa
Thực hiện chính sách dân số và phát triển từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam [2], Luận văn Thạc sĩ chính sách công của tác giả
Cù Thị Ba (2019) cũng đã nghiên cứu lý luận về thực hiện chính sách công
và tìm hiểu quá trình triển khai thực hiện chính sách dân số và phát triển tại thị xã Điện Bàn, để từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp trong việc
tổ chức thực hiện chính sách dân số trên địa bàn thị xã, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dân số, mang lại hiệu quả trực tiếp cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của thị xã
Bên cạnh đó còn rất nhiều các Luận Văn, Luận án, các công trình
nghiên cứu liên quan đến đề tài dân số và chính sách dân số như Tình hình thực hiện và quản lý kế hoạch hóa gia đình tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng của tác giả Nguyễn Thị Hoa (2017); Thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi của tác giả Võ Thị Anh Thoa (2015);….qua phân tích thực trạng thực
thi chính sách dân số ở từng địa phương khác nhau, các tác giả đã đưa ra những đề xuất, kiến nghị và giải pháp góp phần đảm bảo việc thực thi chính sách dân số
Trang 13Mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận mỗi góc độ, phạm vi khác nhau; mặt khác, việc thực thi chính sách dân số tại mỗi vùng, địa phương, đối tượng thụ hưởng khác nhau sẽ phát sinh những vấn đề cần giải quyết cụ thể khác nhau Song, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về quá trình thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số tại huyện
Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu, nhằm đề xuất một số giải pháp đổi
mới thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn huyện Tác giả có kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trước đó, nhưng đề tài này có nội dung mới và không trùng lắp với các công trình khoa học đã công bố trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số, luận văn đề xuất các giải pháp đổi mới thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích đặt ra, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách dân số
+ Phân tích thực trạng thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, giai đoạn năm 2019 – 2021
+ Đề xuất một số giải pháp đổi mới thực thi chính sách dân số trong
Trang 14đồng bào DTTS tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, góp phần nâng cao chất lượng dân số, mang lại hiệu quả trực tiếp cho sự phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn huyện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS
- Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian nghiên cứu: tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
+ Thời gian: nghiên cứu thực trạng thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS từ năm 2019 – 2021, từ đó đề xuất giải pháp trong giai đoạn hiện nay
+ Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thực trạng quá trình thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở phương pháp luận
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phỏng vấn: Đề tài tiến hành các cuộc phỏng vấn
trực tiếp với 20 CB, CC thực thi chính sách dân số ở huyện Kỳ Sơn để có đánh giá khách quan về đội ngũ CB, CC trong quá trình thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS
5.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học: Đề tài tiến hành điều tra xã
hội với 30 người dân, là đồng bào các DTTS ở huyện Kỳ Sơn để có đánh giá khách quan về quá trình thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS
Trang 155.2.3 Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát để thu
thập thông tin về hành vi, thái độ, điều kiện làm việc của đội ngũ công chức trong quá trình thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số
5.2.4.Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sử dụng, kế thừa các số liệu
thông tin dữ liệu trong các báo cáo, thống kê của huyện Kỳ Sơn Kế thừa
có chọn lọc một số tài liệu, giáo trình, luận án đã được công bố
Cùng với đó đề tài sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê,
so sánh, quy nạp kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, nhằm làm rõ nội dung cơ bản của đề tài luận văn, bảo đảm tính khoa học và logic giữa các vấn đề được nêu ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về thực thi chính sách dân số từ góc độ nghiên cứu của chuyên ngành chính sách công Cụ thể nêu rõ các khái niệm như dân số, chính sách dân số, thực thi chính sách dân số và quy trình thực thi chính sách dân số
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cùng những đề xuất của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng và thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An nói riêng, trên cả nước nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 16Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Quan điểm, định hướng và một số giải pháp đổi mới thực thi chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÊ THỰC THI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TRONG
ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm dân số
Dân số có liên quan đến nhiều hoạt động, nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội
Dân số thường được hiểu là một tập hợp người sinh sống tại một vùng lãnh thổ nhất định Tập hợp này không chỉ là số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng Tập hợp này bao gồm nhiều cá nhân hợp lại, nó không cố định mà thường xuyên biến động Ngay bản thân mỗi cá nhân cũng thường xuyên biến động: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già hóa và tử vong [8; tr.3]
Như vậy có thể hiểu, dân số là tập hợp những người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, một đơn vị hành chính hoặc vùng địa lý kinh tế
Khi đề cập đến dân số thường đề cập đến các yếu tố dân số như: quy
mô dân số, phân bố dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số
Quy mô dân số được xem như chỉ tiêu phản ánh đặc tính dân số đầu
tiên, trong đó có quy mô dân số thời điểm và quy mô dân số trung bình thời kỳ Quy mô dân số thời điểm là tổng số dân sinh sống trong một vùng lãnh thổ nhất định vào những thời điểm xác định (có thể là đầu năm, cuối năm, giữa năm hoặc thời điểm tổng điều tra dân số ) Quy mô dân số trung bình thời kỳ là số lượng dân cư được tính bình quân trong một thời
kỳ nào đó Thời kỳ ở đây được hiểu là dân số trung bình của tháng, của quý, của năm, của nhiều năm
Phân bố dân số (hay còn gọi là phân bố dân cư), là sự sắp xếp số dân
trên một vùng lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của người dân và với
Trang 18các yêu cầu nhất định của xã hội, hoặc hiểu là sự phân chia tổng số dân theo các đơn vị hành chính lãnh thổ, theo các vùng địa lý kinh tế, theo vùng địa lý khí hậu và theo thành thị, nông thôn Để đánh giá về mức độ phân bố dân cư, có thể sử dụng thước đo cơ bản là mật độ dân số
Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân thành các bộ phận theo
một tiêu thức nhất định Ví dụ như cơ cấu tự nhiên (tuổi và giới tính), cơ cấu dân tộc và cơ cấu xã hội (tình trạng hôn nhân, tôn giáo, trình độ học vấn ) Trong đó cơ cấu tuổi và giới tính của dân số là quan trọng nhất bởi vì không những nó ảnh hưởng tới các quá trình dân số như mức sinh và mức chết và di dân mà còn ảnh hưởng tới quá trình phát triển kinh tế xã hội
Chất lượng dân số là những thuộc tính bản chất của dân số bao gồm
tổng hoà các yếu tố thể lực, trí lực và tinh thần của con nguời phù hợp với quy mô, cơ cấu dân số (tuổi, giới tính, phân bố, trình độ học vấn, nghề nghiệp ) và với trình độ phát triển kinh tế xã hội Có thể đánh giá chất
lượng dân số theo các nhóm chỉ tiêu: Các chỉ tiêu về dân số: là những chỉ
tiêu phản ánh mức độ hợp lý về qui mô, cơ cấu và phân bố dân số, cũng như các chỉ tiêu về các quá trình dân số cần điều chỉnh như mức sinh, mức
chết, di dân; Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng con người: là những chỉ tiêu
đánh giá về năng lực của các cá nhân có thể thích nghi tốt với xã hội như thể lực (chỉ số khối lượng cơ thể BMI, tuổi thọ khoẻ mạnh, tỷ lệ suy dinh dưỡng ), trí tuệ (chỉ số IQ, số năm đi học trung bình ) và năng lực xã hội
(chỉ số kỹ năng nghề nghiệp ) của con người; Các chỉ tiêu về môi trường kinh tế xã hội: nhóm chỉ tiêu này đánh giá mức độ thuận lợi, đầy đủ trong
môi trường kinh tế xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển hoàn thiện của con người Ví dụ về mặt kinh tế, thu nhập, việc làm có thể sử dụng các chỉ tiêu như GDP bình quân đầu người, chỉ số nghèo khổ, tỷ lệ thất nghiệp, mức thu nhập bình quân, diện tích nhà ở bình quân ; về giáo dục đào tạo
Trang 19sử dụng các chỉ tiêu như tỷ lệ học sinh đến trường đúng tuổi, tỷ lệ học sinh
bỏ học theo giới tính, ; về mặt bảo vệ chăm sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ sử dụng các chỉ tiêu như: tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đủ 6 loại vaccin, tỷ lệ sử dụng các BPTT, số cán bộ y tế, giường bệnh/1000 dân, tỷ lệ nhiễm HIV (đặc biệt ở tuổi vị thành niên/thanh niên), tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và phá thai (đặc biệt ở tuổi vị thành niên/thanh niên)
1.1.2 Khái niệm thực thi chính sách dân số
Chính sách công với những tác động có chủ đích bằng chương trình hành động được thực hiện nhằm đạt các mục tiêu đã xác định Chính sách phải được triển khai trong thực tiễn đời sống xã hội Một chính sách tốt/ xấu chỉ có thể xác định khi trải qua thực tiễn khách quan xã hội; và được phán xét tích cực khi và chỉ khi đạt được ý chí, nguyện vọng của đại đa số người dân Hơn nữa, việc thực thi chính sách là một tất yếu khách quan nhằm duy trì sự tồn tại các công cụ của chính sách và nhằm đạt mục tiêu
đề ra theo yêu cầu quản lý nhà nước
Thực thi chính sách công là việc tổ chức và hoạt động nhằm thực thi chính sách vốn đã được cơ quan lập pháp ban hành [6; tr.97] Hoặc có thể hiểu thực thi chính sách là bước chuyển các ý đồ của chính sách thành hiện thực bằng các hoạt động có tổ chức của cơ quan nhà nước nhằm đạt mục tiêu đã xác định [6; tr.112]
Như vậy, thực thi chính sách công là toàn bộ hoạt động tham gia của các chủ thể trong quá trình tổ chức triển khai chương trình hành động bằng các giải pháp, công cụ đã được xác lập trong các quyết định mang tính pháp lý để hiện thực hóa mục tiêu định hướng của nhà nước nhằm cải thiện và phát triển xã hội
Với cơ sở nêu trên, thực thi chính sách dân số được hiểu là toàn bộ
Trang 20hoạt động tham gia của các chủ thể trong quá trình tổ chức triển khai chương trình hành động về lĩnh vực dân số bằng các giải pháp, công cụ đã được xác lập trong các quyết định mang tính pháp lý nhằm hiện thực hóa các mục tiêu định hướng của nhà nước về dân số - sức khỏe và dân số - phát triển, vì một xã hội ổn định và phát triển bền vững
Như vậy, thực thi chính sách dân số bao gồm những hoạt động tham gia của nhiều chủ thể theo kịch bản chương trình hành động đã được nhà nước duyệt thông qua nhiều giải pháp, công cụ phù hợp quy định của pháp luật để tác động tới quy mô dân số, cơ cấu dân số, điều tiết phân bố dân cư một cách có kiểm soát và nâng cao chất lượng dân số
Thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS cũng là một nội dung thực thi chính sách dân số Tuy nhiên, nội dung thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS lại hướng tới bộ phận đặc thù là đồng bào các DTTS
1.1.3 Khái niệm dân tộc thiểu số
Dân cư ở mỗi nước thường bao gồm nhiều dân tộc với những đặc điểm khác nhau về sinh hoạt, phong tục, tập quán, ngôn ngữ…Phần lớn các nước đều có nhiều dân tộc, từ vài chục đến hàng trăm (Liên bang Nga, Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Iran…) Các quốc gia chỉ có một dân tộc tương đối hiếm hơn (Nhật, Triều Tiên, Bangladesh, một vài nước ở châu Âu và trên báo đảo Ả Rập) Trong khi đó, có nhiều dân tộc lại sinh sống trong hai hay nhiều quốc gia Trong cơ cấu dân số theo dân tộc của một nước bao giờ cũng có một (hoặc một số) dân tộc đa số và có dân tộc thiểu số Ngôn ngữ của dân tộc đa số thường được coi là ngôn ngữ chính của nước đó
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm các dân tộc Kinh, Mường, Mán, Thổ, Tày, Nùng, Thái, Dao, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Chăm, Khơme…
Trang 21Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã cho thấy, bất kỳ ở đâu và trong thời điểm nào thì đồng bào các dân tộc thiểu số anh em cũng kề vai, sát cánh cùng với đồng bào Kinh để cùng chống thiên tai, địch họa, dịch bệnh Bất cứ một dải đất biên cương nào của Tổ quốc cũng có sự góp sức, không kể máu xương của đồng bào các dân tộc anh em
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thì “nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp Các dân tộc thiểu số đã sát cánh với anh em đa số chiến đấu chống kẻ thù chung, đưa Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến đến thắng lợi… Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”
Theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc thì: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn
so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vậy, thế nào là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, như chúng ta đã biết “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia, đó là dân tộc Kinh với 85,7% dân số cả nước Các dân tộc khác đều là dân tộc thiểu số
Như vậy, chúng ta có thể hiểu Dân tộc thiểu số là những dân tộc có
số dân ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dân số cả nước, đa số các dân tộc thiểu số đều tập trung sinh sống ở những khu vực giáp biên giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn, vấn đề giáo dục, chăm sóc sức khỏe người dân còn nhiều hạn chế
Trang 22Dân tộc thiểu số tuy chiếm tỉ lệ không lớn nhưng lại chính là những người lưu giữ được những bản sắc, giá trị văn hóa truyền thống độc đáo,
đa dạng và có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước Dân tộc thiểu số có những đặc trưng như:
- Thường sinh sống ở những vùng núi, vùng sâu vùng xa
- Mỗi dân tộc thiểu số đều sở hữu và sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc đó Ngoài ra, những dân tộc đó có thể sử dụng ngôn ngữ chính được quốc gia chọn, tuy nhiên, ngôn ngữ giao tiếp chính giữa những người dân tộc thiểu số với nhau là ngôn ngữ riêng của họ Những ngôn ngữ dân tộc đa dạng cũng đem lại những đặc sắc, đặc trưng riêng biệt tạo giá trị văn hóa truyền thống đất nước
- Những dân tộc này thường sinh sống tại những bản, làng vùng sâu vùng xa, vùng núi biệt lập với cộng đồng nên nền kinh tế còn kém phát triển và nhiều hạn chế trong việc thu hút đầu tư phát triển
1.2 Nội dung chính sách dân số trong đồng bào các dân tộc thiểu số
Chính sách dân số là tổng thể các mục tiêu về phát triển dân số và hệ thống những biện pháp được chính phủ quy định dưới các dạng tài liệu khác nhau (như văn kiện, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, điều luật…) nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào các quá trình dân số để điều tiết sự phát triển dân số cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, từng giai đoạn nhất định của đất nước[1]
Chính sách dân số trong đồng bào các DTTS tựu chung lại cũng bao hàm nội dung của các chính sách thành phần:
- Chính sách điều tiết mức sinh trong đồng bào dân tộc thiểu số, như các chương trình, biện pháp để giúp tăng mức sinh cho một số dân tộc rất
ít người,… Chẳng hạn như ở Việt Nam, đối với nhóm dân tộc rất ít người thì chính phủ vừa ban hành chính sách theo quyết định số 499/QĐ-TTg
Trang 23ngày 10/04/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình "Bảo
vệ và phát triển các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2021 - 2030"; Nghị quyết số 137/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới, Chính phủ đã giao cho Ủy ban Dân tộc xây dựng đề án: “Bảo vệ và phát triển các dân tộc thiểu số dưới 10 nghìn người theo hướng bình đẳng, đồng đều giữa các dân tộc”;
- Chính sách nâng cao chất lượng dân số cho đồng bào dân tộc thiểu
số, như các chương trình giảm tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, nâng cao trình độ dân trí, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, chăm sóc bà
mẹ và trẻ sơ sinh,… Hiện nay, ở Việt Nam Ủy ban dân tộc và Bộ Y tế đã ban hành một số quyết định nhằm nâng cao chất lượng dân số cho đồng bào dân tộc thiểu số như: Quyết định số 498/QĐ-TTgngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng DTTS giai đoạn 2015-2025” (Đề án 498) nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật về hôn nhân và gia đình, góp phần giải quyết tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực ở vùng DTTS; Quyết định 2621/QĐ-BYT ngày 21/06/2023 của Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn chuyên môn về giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc Tiểu dự án 2, Dự án 9, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm
2021 đến năm 2025; Quyết định số 98/QĐ-UBDT ngày 18/02/2021 của
Ủy ban Dân tộc về ban hành kế hoạch thực hiện đề án giảm thiểu tình
Trang 24trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2025 (giai đoạn II); Quyết định số 5556/QĐ-BYT 04/12/2021 của Bộ Y tế về việc phê duyệt kế hoạch hành động phòng chống suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; Quyết định số 2415/QĐ-BYT ngày 05/09/2022 của Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn thực hiện dự án 7- chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số; phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025;
- Chính sách định cư ổn định để phát triển kinh tế xã hội, hay di dân gắn với các dự án phát triển KTXH, bảo vệ QP-AN,… Ở Việt Nam Chính Phủ và Ủy ban Dân tộc cũng đã ban hành một số quyết định như: Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 – 2020; Thông tư 02/2017/TT-UBDT ngày 22/05/2017 của Ủy ban Dân tộc về hướng dẫn thực hiện quyết định
số 2085/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 2016 của thủ tướng chính phủ phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 – 2020, Thông tư này hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, tín dụng ưu đãi
và chính sách bố trí sắp xếp ổn định dân cư cho hộ dân tộc thiểu số còn du canh du cư quy định tại Quyết định số 2085/QĐ-TTg; Quyết định
số 72/QĐ-TTg ngày 16/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc các xã, thôn trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi được tiếp tục thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội đã ban hành; Mục II Chuyên đề 6 Quyết định 778/QĐ-UBDT ngày 23/10/2019 quy định nội dung buổi học
Trang 25chuyên đề công tác quốc phòng, an ninh ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi;
- Chính sách giảm mức chết, nhất là mức chết của trẻ sơ sinh trong vùng đồng bào DTTS;
1.3 Hoạt động thực thi chính sách dân số
1.3.1 Xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực thi chính sách dân số
Việc lập kế hoạch thực thi chính sách dân số (chương trình hành động) là căn cứ định hướng các hoạt động của cơ quan nhà nước ở các cấp
để chủ động tổ chức tiến hành đưa chính sách dân số đi vào thực tiễn đời sống xã hội Kế hoạch triển khai thực thi chính sách dân số cần chi tiết, rõ ràng và cụ thể
- Chương trình kế hoạch tổ chức, điều hành đối với các tổ chức, cơ quan tham gia, lực lượng cán bộ và cơ chế thực thi chính sách:
Việc lập kế hoạch tổ chức, điều hành chính sách dân số gồm có: (1) Bảng dự kiến bố trí phân công nhiệm vụ của từng cơ quan: cơ quan chủ trì đầu mối, những cơ quan thực hiện, các bên phối hợp thực thi chính sách dân số; (2) Bảng dự kiến gắn trách nhiệm với phần hành nhiệm vụ của từng đơn
vị, cơ quan, của cán bộ quản lý và của công chức, viên chức phải thực hiện; (3) Cơ chế tác động giữa các cấp trong thực thi chính sách dân số
Việc lập kế hoạch tổ chức, điều hành chính sách dân số yêu cầu đòi hỏi là phải tránh tình trạng trùng lặp hay chồng chéo nhiệm vụ hoặc tình trạng bỏ sót nhiệm vụ của các cơ quan
- Kế hoạch về nguồn lực phục vụ công tác thực thi chính sách dân số: (1) Dự kiến về số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ nhân sự theo yêu cầu nhiệm vụ thực thi chính sách dân số;
(2) Dự kiến cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật, các
Trang 26vật tư văn phòng phẩm, tài chính ngân sách
Việc dự kiến kế hoạch phải bố trí đủ nguồn lực tối thiểu để đảm bảo tính khả thi triển khai kế hoạch hoạt động; cũng như không phải lùi thời hạn kế hoạch thực hiện
- Xác định khung tiến độ dự kiến thời gian, thời điểm triển khai thực thi nội dung ở các giai đoạn nhỏ nhằm đạt mục tiêu chính sách dân số theo thời gian dự kiến phải hoàn thành: thời gian của bước tuyên truyền phổ biến; thời gian tổ chức triển khai thực thi chính sách và duy trì chính sách dân số; thời gian sơ kết cà thời gian tổng kết để đánh giá chính sách dân
số Việc dự kiến từng nhiệm vụ phải gắn theo các mục tiêu cụ thể cần đạt
và phải phù hợp với một chương trình, đề án hành động của chính sách
- Dự kiến kế hoạch giám sát, kiểm tra tiến độ thực hiện chính sách dân số ở từng phần việc nội dung theo thời gian đã xác định Dự kiến cả về các hình thức và phương pháp giám sát, kiểm tra quá trình thực thi chính sách dân số
- Thiết lập quy chế thực hiện chính sách dân số: quy chế về tổ chức hoạt động điều hành chính sách dân số trong thực hiện; quy chế về quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ tham gia của người cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước điều hành chính sách dân số; quy chế về khen thưởng, kỷ luật trong thực hiện chính sách dân số
Việc thông qua chương trình kế hoạch thực thi chính sách dân số
do thẩm quyền của người lãnh đạo cùng cấp xét duyệt Sau khi được phê duyệt, kế hoạch thực thi chính sách này sẽ có giá trị pháp lý và thời hiệu phải thực hiện Ngay cả việc điều chỉnh kế hoạch thực thi chính sách dân số cũng do thẩm quyền của người lãnh đạo cùng cấp xem xét quyết định
Trang 271.3.2 Tổ chức công tác tuyên truyền phổ biến và vận động thực thi chính sách dân số
Bước thực hiện nhiệm vụ này phải được triển khai ngay lập tức sau khi phê duyệt chương trình kế hoạch thực hiện chính sách dân số, yêu cầu các cơ quan nhà nước, nhất là cơ quan truyền thông và đội ngũ cán bộ phải triển khai nhiệm vụ này theo chương kế hoạch được duyệt Việc tổ chức công tác tuyên truyền phổ biến, vận động của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức đến tất cả các cộng đồng dân cư và nhân dân (đối tượng chịu sự tác động của chính sách và thụ hưởng chính sách) vào việc thực thi chính sách dân số, pháp luật về dân số
Dựa vào bảng phân công từ kế hoạch chính sách dân số được phê duyệt, các chủ thể chính sách là các cơ quan nhà nước và các tổ chức trong
hệ thống chính trị các cấp cùng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được phân công có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến kịp thời đến toàn thể nhân dân dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú thông qua các kênh báo chí truyền thông, mạng internet, website, tuyên truyền miệng, lồng ghép vào các cuộc họp tiếp dân, họp cộng đồng… Thông qua đó giúp cho người dân hiểu rõ về yêu cầu và mục đích của chính sách và pháp luật về dân số, ý nghĩa và lợi ích mang lại khi triển khai thực thi chính sách này để họ tự giác chấp hành và tham gia thực hiện tích cực để chính sách được triển khai hiệu quả
1.3.3 Phân công, phối hợp thực thi chính sách dân số
Nhiệm vụ phân công, phối hợp thực hiện chính sách dân số cần được tiến hành đồng bộ trong quá trình thực hiện các hoạt động Với yêu cầu đó, bắt buộc các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp và đội ngũ nhân sự là cán bộ, công chức, viên chức phải căn cứ vào chương trình kế hoạch hành động được duyệt để triển khai
Trang 28Các chủ thể là lực lượng tham gia thực thi chính sách dân số là bao gồm tất cả mọi người dân (chứ không riêng gì chỉ là nhiệm vụ đơn thuần của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp và đội ngũ nhân
sự là cán bộ, công chức, viên chức) Theo đó việc tổ chức phối hợp theo một cơ chế để thực hiện công tác dân số giữa các cơ quan nhà nước, đoàn thể nhân dân và các tổ chức, cá nhân tham gia công tác dân số là cần thiết Nên trong điều kiện tổ chức thực thi chính sách dân số diễn ra trên phạm
vi và quy mô cả quốc gia cùng tham gia thực hiện chính sách này, nên yêu cầu về tính đồng bộ trong phối hợp hoạt động rất cao Đặc biệt, trong đó trước hết yêu cầu quá trình phân công, phân cấp và phối hợp tương tác giữa các cấp, ngành phải đồng bộ, chặt chẽ và có trách nhiệm; cũng như tạo lập môi trường thuận lợi để tổ chức thực thi chính sách dân số có kết quả nhằm đạt mục tiêu đã xác lập
Điểm cần lưu ý là, trong tổ chức thực thi chính sách dân số phải phòng tránh tình trạng không rõ ràng, tình trạng chung chung không cụ thể; thay vào đó là phải có sự phân công và phối hợp một cách khoa học
và hợp lý, cụ thể, quy được trách nhiệm đâu là vai trò chủ trì, điều phối thuộc về cơ quan, cá nhân cụ thể; đâu là vai trò cơ quan, cá nhân nào là thành viên chính tham gia; đâu là vai trò cơ quan, cá nhân nào có nhiệm vụ phối hợp thực hiện Chỉ có trên cơ sở như vậy, mới có thể ngăn chặn và phòng chống hiệu quả về tình trạng né tránh, đùn đẩy do không rõ trách nhiệm hoặc ôm đồm…, nhằm bảo đảm môi trường thuận tiện và linh hoạt trong thực hiện chính sách dân số ngay sau khi kế hoạch thực thi chính sách này được duyệt
1.3.4 Duy trì và điều chỉnh chính sách dân số
Trước hết việc duy trì chính sách dân số cần phải đảm bảo thỏa mãn các điều kiện tối thiểu nhưng lại căn bản, mà ít nhất đó là: (1) Phải đảm
Trang 29bảo yêu cầu về nguồn lực vốn và tài chính ngân sách, cơ sở vật chất, phương tiện và kỹ thuật phục vụ công tác dân số, nguồn nhân lực mà trước hết là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và mạng lưới cộng tác viên để
có thể thực thi chính sách dân số; (2) Các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền thực thi để đảm nhiệm công tác dân số và năng lực, khả năng của họ trong
tổ chức triển khai các mục tiêu của chính sách dân số trở thành kế hoạch chi tiết cụ thể, trở thành chương trình hành động có tính khả thi cao; (3) Việc phân công và phối hợp tương tác được thực hiện theo một quy chế rõ ràng/cơ chế pháp lý giữa các cơ quan, tổ chức đoàn thể để duy trì hoạt động chính sách dân số trôi chảy, nhất là phải chú ý cấu trúc tổ chức bộ máy tinh gọn và mạng lưới thực hiện công tác dân số được phủ sóng và ổn định; tăng cường chất lượng tổ chức quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác dân số
Điều đó cho thấy, việc duy trì và điều chỉnh chính sách dân số có thuận lợi hay không thì tùy thuộc vào mức độ tương tác phối hợp, đồng tâm hiệp lực và đồng thuận của các nhân tố, đó là: (1) Chủ thể là các tổ chức, cơ quan và cá nhân có thẩm quyền để tổ chức thực thi chính sách dân số cần tạo dựng môi trường điều kiện ổn định nhằm thực thi chính sách có hiệu quả; (2) Chủ thể là nhân dân, người chấp hành chính sách dân
số (đối tượng thụ hưởng và chịu sự tác động của chính sách) thì cần tham gia tự giác, tích cực vào quá trình chính sách dân số
Đối với các hoạt động điều chỉnh chính sách dân số là nhiệm vụ rất quan trọng trong quá trình thực thi chính sách dân số Hoạt động điều chỉnh chính sách này cần được suy tính khoa học và thấu đáo, tiến hành hoạt động điều chỉnh một cách thận trọng và chính xác nhằm không ảnh hưởng quá trình duy trì tính ổn định của chính sách dân số; cũng như không làm biến dạng hoàn toàn tính hướng đích của chính sách dân số như
Trang 30dự kiến ban đầu Mặt khác, các hoạt động điều chỉnh chính sách này cần hướng tập trung vào việc đổi mới cơ chế và đưa ra các sáng kiến biện pháp phù hợp, để chủ động và kịp thời giải quyết các vấn đề không bình thường phát sinh trong thực tiễn nhằm đáp ứng tốt việc hiện thực hóa các mục tiêu của chính sách dân số
1.3.5 Theo dõi, kiểm tra và đôn đốc thực thi chính sách dân số
Theo dõi, kiểm tra và đôn đốc việc thực thi chính sách dân số là hoạt động quản lý đương nhiên của cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp để triển khai nhiệm vụ này
Nhiệm vụ hoạt động theo dõi, kiểm tra và đôn đốc với ý nghĩa mục đích là giúp cho các chủ thể chính sách dân số đề cao ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc đảm nhiệm các nhiệm vụ được phân công và sử dụng các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả; cũng như tổ chức triển khai đúng các nguyên tắc, yêu cầu, quy trình và kế hoạch xác định, góp phần thống nhất hiệp lực trong triển khai các công cụ, giải pháp định hướng của chính sách dân số
Việc theo dõi, kiểm tra và đôn đốc việc thực thi chính sách dân số là hoạt động cần tiến hành thường xuyên, theo định kỳ và kể cả đột xuất nhằm nắm chắc hiện trạng diễn tiến trong thực hiện chính sách dân số; cũng như kịp thời đưa ra những kết luận/ chỉ dẫn xác đáng Chính vì vậy, hoạt động theo dõi, kiểm tra và đôn đốc việc thực thi chính sách dân số có vai trò cốt lõi trong việc: (1) Đề xuất các cảnh báo/ khuyến nghị giúp cho các chủ thể thực thi chính sách dân số tái rà soát các dấu hiệu không bình thường, những hạn chế/ bất cập trong quá trình làm để có những nỗ lực chủ động kịp thời để điều chỉnh, sửa đổi bổ sung và hoàn thiện quái tình thực thi chính sách này; (2) Giúp phát hiện sớm để ngăn chặn và phòng chống có hiệu quả trước những ý
Trang 31đồ và hành vi tiêu cực, vi phạm chính sách, pháp luật dân số
1.3.6 Sơ kết, tổng kết đánh giá việc thực thi chính sách dân số
Việc tiến hành các hoạt động sơ - tổng kết và đánh giá quá trình thực thi chính sách dân số thường được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền trong thời gian duy trì chính sách này ở nhiều mặt: từ lập và phê duyệt chương trình kế hoạch thực thi chính sách dân số; nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến chính sách và vận động nhân dân thực hiện; quá trình tổ chức chỉ đạo điều hành việc thực hiện, duy trì và điều chỉnh chính sách dân số; nhiệm vụ phân công, phối hợp trong tổ chức thực thi; theo dõi, kiểm tra, giám sát
Trong công tác đánh giá việc thực thi chính sách dân số bằng nhiều cách lựa chọn Có thể đánh giá theo từng phần về kết quả thực thi chính sách dân số xét theo từng giai đoạn (xem xét đánh giá giữa kỳ hoặc cuối kỳ); hoặc đánh giá tổng hợp so với mục tiêu chính sách dân số sau khi kết thúc chính sách này Đối tượng được xem xét, đánh giá sơ - tổng kết việc thực thi chính sách dân số thì phải xem xét, đánh giá các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị các cấp, nhất là đối với những cơ quan trực tiếp chỉ đạo và điều hành chính sách; phải đánh giá thực tiễn thực hiện vai trò của cộng đồng dân cư tham gia cũng như sự chấp hành của họ đối với chính sách, pháp luật dân số
Việc tiến hành sơ - tổng kết, đánh giá hoạt động chỉ đạo và điều hành quá trình thực hiện chính sách dân số, phải căn cứ vào hiệu lực hiện hành của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về lĩnh vực dân số, căn cứ vào chương trình kế hoạch đã duyệt và các quy chế hoạt động để tiến hành xem xét đánh giá tình hình hoạt động chỉ đạo, sự tổ chức điều hành và phối hợp của các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong thực thi chính sách dân số Công tác đánh giá về tình hình thực tiễn thực hiện của đối tượng thực
Trang 32thi chính sách dân số, bao gồm: tất cả dân cư của quốc gia Thước đo đánh giá kết quả thực thi chính sách dân số của các nhóm đối tượng thụ hưởng -
đó là thái độ đồng tình ủng hộ hưởng ứng đối với mục tiêu mà chính sách dân số dưa ra; đánh giá về ý thức tuân thủ các quy định chính sách, pháp luật hiện hành về lĩnh vực dân số; đánh giá về giải pháp, biện pháp, cơ chế
do cơ quan nhà nước xác lập nhằm thực hiện mục tiêu chính sách dân số Tóm lại, cần phải chú trọng công tác sơ - tổng kết đánh giá quá trình thực thi chính sách dân số và phải tiến hành thường xuyên, liên tục để rút bài học kinh nghiệm (cả thành công và chưa thành công) nhằm kịp thời điều chỉnh việc tổ chức thực hiện có hiệu quả và hiện thực hóa các mục tiêu của chính sách dân số trên thực tế
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách dân số
1.4.1 Vị trí địa lý tự nhiên
Ở các khu vực, địa phương có vị trí địa lý khó khăn, đặc điểm không thuận lợi thường xảy ra tình trạng di cư, sự dịch chuyển dân cư từ vùng này sang vùng khác, từ nông thôn đổ vể đô thị… tác động đến những thay đổi về điều kiện sống của những người dân di cư cũng như những người dân không
di cư Di cư đã và đang là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực thi chính sách dân số, cụ thể ảnh hưởng đến những chương trình, kế hoạch triển khai thực thi tại các địa phương, vì mỗi vùng miền có những chương trình, kế hoạch triển khai khác nhau Đồng thời ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp, an sinh
xã hội hạn chế cũng là vấn đề khó khăn trong khâu vận động người dân phối hợp với chính quyền địa phương thực thi chính sách dân số
Ví dụ ở Việt Nam vùng đồng bằng có mật độ dân số quá cao, số người tăng thêm hàng năm khá lớn, nhưng khả năng mở rộng sản xuất lại
Trang 33có hạn Trong khi đó miền núi đất đai khá rộng, có ưu thế phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi, nghề rừng, nhưng mật độ dân cư lại thưa thớt, thiếu lao động… Vấn đề này cũng làm ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách dân số, gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện của đội ngũ cán bộ địa phương phụ trách với nhau, của ngũ cán bộ địa phương với người dân Bởi vì, cùng một nội dung chính sách nhưng mỗi vùng miền khác nhau tùy theo mật độ dân cư, sự phân bố dân cư, cán bộ phụ trách lại triển khai thực thi chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa bàn vùng đó Tránh những trường hợp nội dung của địa phương này nhưng lại
áp dụng thực thi tại địa phương khác, làm hạn chế hiệu quả thực thi
1.4.2 Yếu tố văn hóa, xã hội
Truyền thống tập quán văn hóa của từng nhóm cư dân ít nhiều ảnh hưởng khách quan tới nhận thức của người dân Chẳng hạn, yếu tố văn hóa
“trọng nam kinh nữ” tạo ra bất bình đẳng về giới, nó chi phối về việc quyết định mức sinh và tạo ra những khác biệt về tỷ lệ sinh ở các tỉnh, vùng miền, và nhóm xã hội Tư tưởng trọng nam làm tăng tỷ số giới tính khi sinh, làm tăng TFR (Total Fertility Rate: Tổng tỷ suất sinh) ở một số vùng miền và một số nhóm xã hội
Bên cạnh đó, trình độ dân trí ở các địa phương không đồng đều, cũng là mặt thách thức không nhỏ trong quá trình thực thi chính sách dân số Bởi vì, trình độ dân trí thấp thì cộng đồng cư dân còn mơ hồ, chưa hiểu rõ mục tiêu chính sách dân số thì việc thực thi chính sách dân số sẽ chậm đi vào thực tiễn
xã hội hoặc mục tiêu chính sách dân số không đạt được như kỳ vọng
Để vượt qua các thách thức đó, một mặt phải không ngừng nâng cao dân trí; mặt khác, phải kiên trì triển khai hiệu quả nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến chính sách bằng nhiều hình thức với phương pháp phù hợp đối với từng nhóm đối tượng để từng bước mở rộng và nâng cao nhận thức
Trang 34hiểu biết của người dân về lợi ích khi thực thi chính sách dân số
1.4.3 Yếu tố kinh tế, khoa học công nghệ
Sự vận động của nền kinh tế thường kéo theo một chuỗi các vấn đề
xã hội nảy sinh không chỉ các nhà hoạch định chính sách dân số phải tính toán trong quá trình ban hành chính sách dân số, mà các cơ quan Nhà nước
và đội ngũ CB, CC triển khai thực thi chính sách dân số cũng phải có sự điều chỉnh các chương trình, kế hoạch triển khai thực thi phù hợp Một khi tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và đạt chất lượng cao, thì mức thu nhập bình quân đầu người tăng lên, cải thiện và nâng cao mức sống, điều kiện chất lượng sống của người dân được phát triển… sẽ tạo tiền đề rất quan trọng cho sự biến đổi mức sinh Khi nền kinh tế càng lớn, các vấn đề xã hội phát sinh từ lý do kinh tế càng nhiều, càng phức tạp khiến cho đa số chính sách tập trung cho vấn đề kinh tế như: việc làm, lao động, thương mại, đầu tư, tín dụng, ngân hàng, chuyển giao công nghệ, thị trường chứng khoán và bất động sản Kinh tế vừa là mục tiêu chính sách dân số, vừa là phương tiện động lực, nên đòi hỏi các nhà hoạch định và thực thi chính sách dân số phải nghiên cứu, cân nhắc để triển khai thực thi phù hợp với
sự phát triển của nền kinh tế
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc
tế hiện nay, nhân tố khoa học công nghệ cũng là cơ hội để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân số, chẳng hạn như qua các trang mạng xã hội (internet, facebook, youtube,…) để truyền tải những kiến thức bổ ích nâng cao dân trí và chuyển biến nhận thức sâu sắc và thay đổi thói quen sinh hoạt, rút ngắn khoảng cách phát triển, cũng như góp phần khắc phục và cải tạo thói quen tập quán của người dân theo hướng tích cực
1.4.4 Yếu tố chính trị, pháp lý
Thể chế chính trị là yếu tố quan trọng đối với quá trình chính sách
Trang 35công Chính sách công tùy thuộc vào thể chế chính trị để xây dựng, hoạch định và thực thi cho phù hợp Đây là yếu tố (Hiến pháp và hệ thống pháp luật, thể chế chính chị và các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị cùng cơ chế hoạt động) chi phối cả hình thức, nội dung, quy trình hoạch định và quy trình thực thi chính sách dân số
Thực thi chính sách dân số phụ thuộc một cách xuyên suốt vào đường lối lãnh đạo của đảng cầm quyền của quốc gia về lĩnh vực này Đường lối của đảng lãnh đạo thể hiện qua Cương lĩnh, chủ trương, nghị quyết định hướng về mục tiêu chính sách dân số và cả quá trình thực hiện chính sách này Hơn nữa, thông qua sự chỉ đạo của Nhà nước, đưa những đường lối, chủ trương về dân số của Đảng vào thực tiễn cuộc sống bằng những chính sách, pháp luật dân số Đường lối chủ trương, quan điểm của Đảng và hệ thống chính sách pháp luật dân số là yếu tố thể chế quan trọng để hoạch định và thực thi chính sách dân số Khi thể chế thúc đẩy mạng lưới các tổ chức xã hội, cộng đồng người dân… tham gia vào thảo luận chính sách dân số trước khi ban hành nó Chính mức độ về chất lượng của môi trường thể chế chính sách dân số sẽ tác động theo chiều thuận trong thực thi chính sách này Nói cách khác, đó là yếu tố bao trùm mở đường
trong toàn bộ quá trình thực thi chính sách dân số
Sự đổi mới phương thức và nâng cao năng lực của Đảng đối với hệ thống chính trị, thế chế Nhà nước ta cùng với hệ thống pháp luật, chính sách (trong đó Hiến pháp là đạo luật cơ bản, nền tảng của pháp luật và mọi chính sách) vì mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh Điều này đã tạo nên văn hóa chính trị, văn hóa công vụ của tổ chức và đội ngũ cán bộ đảng viên, công chức, viên chức trong quá trình thực thi CS dân số
1.4.5 Năng lực của chủ thể thực thi chính sách dân số
Thông qua hệ thống vận hành chức năng quản lý nhà nước gắn liền
Trang 36với chủ thể chính sách dân số trong vai trò chủ động cả trong hoạch định
và thực thi chính sách dân số Mà ở đó, năng lực của các tổ chức, cơ quan chức năng và cá nhân có thẩm quyền trong chỉ đạo, điều hành việc thực hiện nhiệm vụ phân công phối hợp và tạo lập cơ chế thực thi chính sách dân số có vai trò quyết định để đạt mục tiêu của chính sách này Yêu cầu đòi hỏi đội ngũ CB, CC phải có năng lực hay khả năng, kỹ năng chỉ đạo, điều hành sự phân công, điều phối - phối hợp một cách khoa học, hợp lý
và đồng bộ về các yếu tố chủ quan và khách quan ở thế chủ động trong thực thi chính sách dân số Vì nếu không đủ năng lực chỉ đạo, điều hành sự phân công, điều phối - phối hợp thực hiện chính sách này; hoặc chỉ điều hành một cách chung chung, không phân công rõ trách nhiệm thì hệ lụy của tình trạng né tránh/ đùn đẩy trách nhiệm xảy ra trong thực thi chính sách dân số và nguy cơ mục tiêu chính sách dân số không đạt kỳ vọng Trình độ, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tổ chức thực thi chính sách dân số cũng đóng vai trò tác động trực tiếp tới kết quả chính sách này Những hành vi ứng xử của đội ngũ này trong cơ cấu hệ thống các cơ quan nhà nước (Các hành vi ứng xử đó bắt nguồn từ hiểu biết và các giá trị, niềm tin, động cơ của đội ngũ công chức)
có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình chính sách dân số của cán bộ, công chức được thể hiện qua quá trình chính sách Nên yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ CB, CC: (1) phải đề cao đạo đức trách nhiệm công vụ trong tổ chức thực hiện chính sách dân số; (2) Phải được trang bị đủ cả trình độ chính trị và chuyên môn am hiểu các vấn đề cuả dân số, có kỹ năng, kinh nghiệm công tác và sử dụng tốt các phương pháp trong tổ chức thực hiện quá trình chính sách dân số
Trang 37và khái niệm đồng bào các DTTS Nội dung chương 1 cũng tập trung làm
rõ nội dung chính sách dân số và trình bày các hoạt thực thi chính sách dân
số thông qua 6 giai đoạn thực hiện, đó là: (1) Xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực thi chính sách dân số; (2) Tổ chức công tác tuyên truyền phổ biến và vận động thực thi chính sách dân số; (3) Phân công, phối hợp thực thi chính sách dân số; (4) Duy trì và điều chỉnh chính sách dân số; (5) Theo dõi, kiểm tra và đôn đốc thực thi chính sách dân số; (6)
Sơ kết, tổng kết đánh giá việc thực thi chính sách dân số
Ngoài ra, để có thể phân tích làm rõ thực tiễn thực thi chính sách dân
số, những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách dân số cũng là nội dung cần thiết không kém phần quan trọng, với những yếu tố về: (1) Vị trí địa lí tự nhiên; (2) Yếu tố văn hóa, xã hội; (3) Yếu tố kinh tế, khoa học công nghệ; (4) Yếu tố chính trị, pháp lý; (5) Năng lực của chủ thể thực thi chính sách dân số Với những nội dung trong chương 1, vừa là hệ thống cơ sở lý luận về thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS, vừa là căn cứ lý luận để tác giả nghiên cứu phân tích làm rõ các nội dung của chương 2
Trang 38CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ
TRONG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI
HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN 2.1 Đặc điểm chung của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Kỳ Sơn là huyện miền núi cao, biên giới phía Tây của tỉnh Nghệ An, diện tích tự nhiên là 2.095 km2; đường biên giới dài 203,409 km tiếp giáp với bốn huyện, ba tỉnh của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (Huyện Nọong Hét, Huyện Mường Mọc tỉnh Xiêng Khoảng; Huyện Mường Quắn, tỉnh Hủa Phăn và Huyện Viêng Thoong tỉnh Bôlykhămxay)
Với địa hình hơn 80% diện tích đồi núi phức tạp và độ chia cắt lớn,
Kỳ Sơn là huyện có vị trí địa lý khó khăn nên ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực thi các chính sách phát triển của Nhà nước, trong đó có chính sách dân số Tuy nhiên, với vị trí địa lý tự nhiên của huyện cũng có các thế mạnh đặc trưng về tài nguyên rừng: Đinh hương, pơ mu, sến, táu, mật, gội nếp, lát, chò chỉ, sa mu dầu Là huyện vùng cao, Kỳ Sơn có tiềm năng rất lớn về phát triển kinh tế rừng Năm 2021, toàn huyện có 59 nghìn
ha rừng, chiếm 28% diện tích tự nhiên với nhiều loại động thực vật phong phú và quý hiếm; riêng về thực vật đã phát hiện được 12 họ gồm gần 150 loại cây có giá trị kinh tế cao [18; tr.2]
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
Trên con đường hội nhập và phát triển, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Kỳ Sơn đoàn kết, chung sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, coi nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, phát triển nông – lâm nghiệp là cơ sở hàng đầu Các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện của địa phương được nhân rộng và đã phát
Trang 39huy được hiệu quả như: Chăn nuôi bò, gà đen, lợn đen ngày càng có giá trị kinh tế cao; cây chè Tuyết San ở Huồi Tụ từ mô hình của Tổng đội thanh niên xung phong nay đã được nhân dân trồng đồng loạt theo hướng chuyên canh sản xuất hàng hóa; các mô hình trồng gừng, dong riềng ở Na Ngoi, Đọoc Mạy; mận Tam Hoa ở các xã Mường Lống, Tây Sơn; trồng lạc ở Na Loi, Bắc Lý, Hữu Lập đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế và xóa nghèo bền vững
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ 2019 - 2021 đạt 5,55% (năm 2020 ước đạt 5,7%); tổng giá trị sản xuất năm 2021 ước đạt 1.551.282 triệu đồng; thu nhập bình quân đầu người năm 2021 ước đạt 23 triệu đồng [18; tr.5]
Tổng giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ năm 2021 ước đạt 782.237 triệu đồng (tăng 317.431 triệu đồng so với năm 2019), tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ 2019 - 2021 đạt 6,66%; Hạ tầng thương mại được đầu tư phát triển; các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu được phân phối rộng khắp các xã, đáp ứng nhu cầu của nhân dân Tổng nguồn vốn tín dụng đầu tư các ngân hàng đạt 574 tỷ đồng, tăng 264 tỷ đồng so với năm 2019; đảm bảo cho doanh nghiệp và người dân mở rộng sản xuất, kinh doanh [18; tr.6]
Tổng vốn đầu tư xây dựng giai đoạn 2019 - 2021 đạt 853,385 tỷ đồng Hệ thống hạ tầng cơ sở, điện, đường, các công trình xã hội không ngừng được đầu tư xây dựng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo quốc phòng; an ninh Hiện nay 21/21 xã, thị trấn đã có điện lưới quốc gia đến trung tâm, các khối bản có 108/191 có điện lưới Trên địa bàn huyện
cơ bản có đường nhựa vào đến trung tâm xã, hiện còn hai tuyến đường giao thông chưa có đường nhựa vào trung tâm xã (tuyến Tà Cạ - Mường Típ – Mường Ải; Tuyến Huồi Tụ - Na loi – Đoọc Mạy – Keng Đu) [18; tr.6-7]
Trang 40Tổng thu ngân sách giai đoạn 2019 - 2021 ước đạt 4.636,85 tỷ đồng; trong đó thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 96,541 tỷ đồng (bình quân đạt 19,308 tỷ đồng), dự toán thu trên địa bàn năm 2021 ước đạt 17 tỷ đồng (tăng 05 tỷ đồng so với năm 2019) Công tác quản lý, thực hiện nhiệm vụ thu - chi đúng quy định, kịp thời, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện [18; tr.7]
Là một trong ba huyện nghèo nhất của tỉnh Nghệ An, trong những năm qua, nhờ các chính sách đầu tư phát triển lớn của Đảng và Nhà nước như: Chương trình 30a, 135, 167, xây dựng Nông thôn mới, các trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang, kiên cố, hệ thống điện lưới đang được tiếp tục kéo vào các xã vùng sâu, xa [18; tr.7-8] Cụ thể:
-Mạng lưới trường, lớp được đầu tư xây dựng, sắp xếp ngày càng hợp lý; toàn huyện có 71 trường học, với 21.561 học sinh Công tác xây dựng trường Chuẩn quốc gia, tập trung mọi nguồn lực để xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2019-2022 Đến nay, toàn huyện đã có 14/71 trường đạt chuẩn Quốc gia (chiếm tỷ lệ 19,7%)
- Chú trọng xây dựng gia đình văn hóa; làng, bản, đơn vị văn hóa; đầu
tư xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao, bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa các dân tộc chuyển biến mạnh mẽ, phong trào thể dục thể thao phát triển rộng khắp, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia
- Công tác y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho Nhân dân được chú trọng, 14/21 xã, thị trấn đạt chuẩn Bộ tiêu chí quốc gia về y tế Các chương trình mục tiêu về y tế được triển khai thực hiện đạt hiệu quả tốt Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được chăm lo đảm bảo
-Chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Kỳ Sơn được lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả; lồng ghép nhiều chương trình, nguồn vốn
hỗ trợ xây dựng nông thôn mới, trong đó, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng