1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn thành phố tuy hòa, tỉnh phú yên (dự án di dời các hộ có nguy cơ ảnh hưởng sạt lở núi nhạn, phường 1, thành phố tuy hòa, tỉnh p

147 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (Dự án di dời các hộ có nguy cơ ảnh hưởng sạt lở Núi Nhạn, phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên)
Tác giả Huỳnh Phương Duyên
Người hướng dẫn GS.TS. Ngô Văn Lệ
Trường học Trường đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 7,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn chuyển đổi và hội nhập, vấn đề đất đai càng trở nên phức tạp và nảy sinh nhiều vấn đề hơn, vì vậy tác giả Nguyễn Văn Sửu 2010 [25] đã tập trung phân tích một số chiều cạ

Trang 1

HUỲNH PHƯƠNG DUYÊN

ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN THUỘC DIỆN

THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

(DỰ ÁN DI DỜI CÁC HỘ CÓ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG

SẠT LỞ NÚI NHẠN, PHƯỜNG 1, THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN)

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2015

Trang 2

HUỲNH PHƯƠNG DUYÊN

ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN THUỘC DIỆN

THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

(DỰ ÁN DI DỜI CÁC HỘ CÓ NGUY CƠ

ẢNH HƯỞNG SẠT LỞ NÚI NHẠN, PHƯỜNG 1, THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN)

Chuyên ngành Xã hội học

Mã ngành: 60.31.30 LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS NGÔ VĂN LỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015

Trang 3

xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã nhận được

sự chỉ dạy tận tình của các thầy cô giáo Các thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cần thiết về chuyên môn và xã hội để giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến:

GS, TS Ngô Văn Lệ, Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh - giảng viên hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn, các thầy, cô Khoa Xã hội học, Trường Đại học KHXH&NV Thầy cô đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn; cảm ơn các các lãnh đạo và đồng nghiệp tại

cơ quan đã động viên và tạo điều kiện để tôi có hoàn thành nhiệm vụ

Ngoài ra, tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, các bạn học viên lớp cao học XHH 2011 đã tận tình giúp đỡ trong điều tra thực địa, trong xử lý các dữ liệu thu thập được cũng như trong quá trình hoàn thành nghiên cứu này

Và cuối cùng, tôi cũng rất mong nhận được sự nhận xét, đóng góp ý kiến của quý thầy cô trong Hội đồng để có thể tiếp thu những kiến thức, kinh nghiệm cho những công trình nghiên cứu khoa học trong thời gian tiếp theo

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 05 năm 2015

Tác giả

Huỳnh Phương Duyên

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi dưới sự hướng dẫn của GS, TS Ngô Văn Lệ Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đều được tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau, được ghi chú trong phần tài liệu tham khảo Các thông tin, tư liệu tham khảo đều được tác giả ghi rõ nguồn gốc

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 5 năm 2015

Tác giả

Huỳnh Phương Duyên

Trang 5

BTNMT: Bộ Tài Nguyên và Môi trường CNH: Công nghiệp hóa

THCN Trung học chuyên nghiệp

THCS: Trung học cơ sở

THPT: Trung học phổ thông

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

UBND: Ủy Ban Nhân Dân

KTĐC: Khu Tái định cư

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Tổng quan tài liệu 3

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài 3

1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 6

1.2.3 Những văn bản pháp luật liên quan 17

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 20

1.3.1 Mục tiêu chung 20

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 20

1.4 Nội dung nghiên cứu 20

1.5 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 21

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 21

1.5.2 Khách thể nghiên cứu 21

1.6 Phạm vi nghiên cứu 21

1.7 Phương pháp nghiên cứu 22

1.7.1 Các phương pháp luận nghiên cứu 22

1.7.2 Các phương pháp thu thập thông tin 22

1.7.3 Kỹ thuật chọn mẫu thu thập thông tin và xử lý số liệu 24

1.8 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 25

1.8.1 Ý nghĩa lý luận 25

1.8.2 Ý nghĩa thực tiễn 25

Trang 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

1.1 Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu 28

1.1.1 Lý thuyết lối sống 28

1.1.2 Lý thuyết mạng lưới xã hội 29

1.1.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 31

1.2 Khái niệm liên quan đến đề tài 32

1.2.1 Khái niệm đời sống 32

1.2.2 Khái niệm về thu hồi đất 34

1.2.3 Khái niệm về tái định cư 34

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 35

1.4 Giả thuyết nghiên cứu 35

1.5 Mô hình phân tích 36

1.6 Kết cấu của luận văn 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT 38

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 38

2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và tình hình hình kinh tế - xã hội thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 38

2.1.2 Đặc điểm khu tái định cư 42

2.1.3 Đặc điểm khu vực bị thu hồi đất 43

2.1.4 Tình hình dự án di dời các hộ có nguy cơ ảnh hưởng sạt lở núi Nhạn 46

2.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 47

2.2.1 Các đặc điểm nhân khẩu học của hộ 47

Giới tính và quy mô hộ gia đình 47

Độ tuổi 48

Trang 8

Độ tuổi 51

Trình độ học vấn 52

Nghề nghiệp 52

2.3 Thực trạng đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên 53

2.3.1 Việc làm 53

2.3.2 Thu nhập – chi tiêu 55

2.3.3 Việc sử dụng tiền đền bù và vay mượn 62

2.3.4 Nhà ở 65

2.3.5 Cơ sở hạ tầng 67

2.3.6 Hoạt động vui chơi, giải trí 71

2.3.7 Tham gia các tổ chức chính trị - xã hội nơi tái định cư 73

CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT 75

3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội nơi đi và nơi đến 75

3.2 Chính sách và việc thực hiện chính sách 78

3.3 Tuổi của người dân 90

3.4 Trình độ học vấn của người dân 91

3.5 Mạng lưới xã hội 93

3.6 Tâm lý người dân 96

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100

I Kết luận 101

1 Kiểm tra, đánh giá giả thuyết 101

2 Kết luận chung 102

II Khuyến nghị 104

Trang 9

PHỤ LỤC 117 PHỤ LỤC 2 PHỎNG VẤN SÂU 128 PHỤ LỤC 3 BẢNG BIỂU 131

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ

Trang

Bản đồ 1: Ranh giới hành chính Thành phố Tuy Hòa 48

Bản đồ 2: Ranh giới phường 9, thành phố Tuy Hòa 51

Bản đồ 3: Quy hoạch khu tái định cư phường 9 52

Bản đồ 4: Ranh giới phường 1, thành phố Tuy Hòa 53

Biểu đồ 2.1: Giới tính các thành viên trong hộ 57

Biểu đồ 2.2: Nhóm tuổi các thành viên trong hộ 58

Biểu đồ 2.3: Trình độ học vấn các thành viên trong hộ 59

Biểu đồ 2.4: Giới tính người trả lời 60

Biểu đồ 2.5: Nhóm tuổi của chủ hộ theo mẫu 60

Biểu đồ 2.6: Trình độ học vấn người trả lời 61

Biểu đồ 2.7: Nghề nghiệp của người trả lời 62

Biểu đồ 2.1: Đánh giá thu nhập hiện nay so với trước khi tái định cư 65

Biểu đồ 2.2: Nguồn thu nhập hàng tháng của hộ gia đình 67

Biểu đồ 2.3 Chi tiêu của gia đình trước và sau tái định cư 70

Biểu đồ 2.4 : Việc sử dụng tiền đền bù về đất 72

Biểu đồ 2.5: Tình trạng nhà ở của hộ gia đình hiện nay so với trước TĐC 74

Biểu đồ 2.6: Kết cấu nhà ở trước và sau khi tái định cư 75

Biểu đồ 2.7: Đánh giá chất lượng cơ sở hạ tầng tại nơi ở mới 76

Biểu đồ 2.8: Tiếp cận chăm sóc sức khỏe trước và sau tái định cư 78

Biểu đồ 3.1: Sự trông cậy giúp đỡ khi gặp khó khăn nơi tái định cư 103

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Tình trạng việc làm của các thành viên trong mẫu 54

Bảng 2.2: Thu nhập trung bình/năm của các hộ dân 57

Bảng 2.3: Thu nhập nhân khẩu/hộ/tháng 67

Bảng 2.4: Mức độ tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí 72

Bảng 2.5: Tình hình tham gia tổ chức chính trị - xã hội 73

Bảng 3.1: Tương quan giữa dự định cư trú lâu dài theo độ tuổi của chủ hộ 90

Bảng 3.2: Tương quan giữa trình độ học vấn và thu nhập 91

Trang 12

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Trang 13

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, tình hình thiên tai thường xuyên xảy ra ở các địa phương trên toàn quốc, với quy mô không lớn nhưng diễn biến rất phức tạp Đặc biệt là hiện tượng sạt lở đất, đá, lũ quét xảy ra gây tổn thất nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường sinh thái Theo số liệu thống kê, từ năm 2000 đến 2014 đã xảy

ra 250 đợt lũ quét, sạt lở ảnh hưởng tới các vùng dân cư, làm chết và mất tích 646 người, bị thương gần 351 người; hơn 9.700 căn nhà bị đổ trôi; hơn 100.000 căn nhà

bị ngập, hư hại nặng; hơn 75.000 ha lúa và hoa màu bị ngập; hàng trăm ha đất canh tác bị vùi lấp; nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi, dân sinh kinh tế bị hư hỏng nặng nề, tổng thiệt hại ước tính trên 3.300 tỷ đồng [44] Trong Luật sửa đổi 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014), đáng chú ý là Điều 65, Chương 6 Nhà nước cụ thể quy định thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả đất,

có nguy cơ đe dọa tính mạng con người bao gồm:“đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún,

bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người” Thực tế

này đã cho thấy hiện tượng sụt lún, sạt lở đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng tại nhiều nơi, đòi hỏi công tác di dời, hỗ trợ tái định canh, định cư cho các hộ ở trong khu vực bị ảnh hưởng là rất cần thiết và cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho người dân

ổn định đời sống và sản xuất

Tại Phú Yên, tình trạng sạt lở đất đá ở khu vực núi Nhạn thuộc thành phố Tuy Hòa đã xuất hiện từ nhiều năm nay, nguyên nhân được xác định là do mưa lũ lớn, nước trên núi chảy xuống kéo theo đất đá đổ tràn vào nhà dân Thống kê từ trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Tuy Hòa, từ năm 2007 đến 2013 các vụ sạt

lở đã làm 67 căn nhà bị sập hoàn toàn, hơn 54 căn nhà bị ảnh hưởng, 2 người chết

và 13 người bị thương Trước tình hình này, UBND thành phố Tuy Hòa phối hợp với các đơn vị khảo sát, lập phương án di dời các hộ bị ảnh hưởng nặng đến khu tái định cư trên địa bàn thành phố Tuy Hòa [76] Theo đó, dự án di dời các hộ có nguy

cơ ảnh hưởng sạt lở núi Nhạn được tiến hành để đảm bảo an toàn và ổn định đời sống cho người dân Đồng thời, thực hiện tái định cư cho các hộ bị ảnh hưởng theo

Trang 14

chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra: “đảm bảo cho người dân có cuộc sống

ở nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ” [66] Tuy nhiên, sau khi tái định cư, đời

sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn về việc làm, thu nhập và các điều kiện sống khác Nguyên nhân các mặt hạn chế này đã đặt ra nhiều vấn đề cần được xem xét và nghiên cứu kỹ lưỡng ở cả hai mặt khách quan và chủ quan để tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến đời sống của người dân, từ đó có những giải pháp khắc phục phù hợp

Chính vì tính cấp thiết của những vấn đề nêu trên đã thúc đẩy tác giả thực

hiện đề tài nhằm tìm hiểu “Đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất trên địa

bàn Thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên (Dự án di dời các hộ có nguy cơ ảnh hưởng

sạt lở núi Nhạn, phường 1, Thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên)

Trong phần này, tác giả sẽ trình bày tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài

Khi thu hồi đất, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; hai là, giá đất tiêu chuẩn; ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá

Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do: thứ nhất,

đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư Thứ ba, quyền

Trang 15

sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng

hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng [78] Để giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong quá trình đô thị hóa, Trung Quốc đã tập trung thực hiện một số biện pháp sau: [6]

Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động: Các doanh nghiệp

địa phương đóng vai trò chính trong việc thu hút lực lượng lao động dôi dư ở nông thôn trong quá trình đô thị hóa Chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước cùng với sự đầu tư của kinh tế tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp đã thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương, góp phần giảm sức ép về việc làm ở đô thị

Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào thành phố lớn: Theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế Trung Quốc, lợi thế của đô

thị nhỏ trong việc thu hút các lao động dư thừa ở nông thôn là:

- Các đô thị nhỏ có nhiều cơ hội việc làm, bởi các đô thị này có dân số ít, những ngành công nghiệp mới sẽ có khả năng thu hút nhiều lao động hơn

- Những đô thị nhỏ nằm giữa các thành phố và khu vực nông thôn sẽ đem lại cho nó những đặc trưng về lối sống của cả hai khu vực, nên những người nông dân

dễ dàng định cư hơn ở các thành phố lớn Các chi phí ở đây cũng thấp hơn các thành phố lớn

- Ở các đô thị nhỏ, người nông dân dễ dàng hơn trong việc kinh doanh, vì ở đây có điều kiện cạnh tranh thấp hơn và yêu cầu về vốn ít

Trung Quốc chủ trương thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp địa phương, qua đó đẩy nhanh quá trình hình thành các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn Chính sách này đã góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, tạo điều kiện quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa

Trang 16

Rút kinh nghiệm từ Trung Quốc, một quốc gia rộng lớn và nhiều tiềm năng phát triển đã rất nỗ lực giải quyết các vấn đề khó khăn, nhằm khôi phục cuộc sống

và nguồn thu nhập cho các hộ dân bị ảnh hưởng từ quá trình thu hồi đất Chúng tôi nhận thấy, địa bàn nghiên cứu cũng là một đô thị nhỏ, với các ưu điểm về không gian kinh doanh còn nhiều, cạnh tranh không nhiều và vốn đầu tư ít, sẽ là môi trường thuận lợi để doanh nghiệp địa phương phát triển, thu hút lao động, giải quyết các lao động dư thừa tại chỗ

Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường [78]

Việc đền bù khi thu hồi đất của Thái Lan cho thấy họ đã có những hành động thể hiện sự khách quan từ phía thực thi chính sách của Chính phủ khi tổ chức nghe

ý kiến người dân trước khi định giá Đây cũng là quan điểm mà rất ít khi các công trình dự án ở Việt Nam thực hiện

Nhật Bản là nước luôn bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ít và dân số đông Việc thực hiện chính sách đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn được chú trọng

để tạo việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn Chính phủ Nhật Bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nước với mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin về việc làm từ các tổ chức, doanh nghiệp qua Internet đến với những người đang tìm việc, giúp họ có những lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của mình Chính phủ cũng bồi dưỡng những công nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực, nâng cao chất lượng các tổ chức giáo

Trang 17

dục – đào tạo trên cơ sở nhu cầu của mỗi vùng, phát triển nguồn nhân lực và ký thuật kết nối thông tin trong những khu vực mới và đang phát triển

Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng, nhiều chính sách được đưa ra như chính sách về đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên Các loại hình tuyển dụng và thuê mướn được đa dạng hóa, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường Chế độ tuyển dụng thay đổi theo khu vực, không tập trung tại các

đô thị lớn như trước kia mà chuyển sang các khu vực lân cận và các địa phương [8]

Từ chính sách của Nhật Bản, một số kinh nghiệm rất hữu ích và khả thi trong việc áp dụng như: phát triển hệ thống dịch vụ việc làm và thông tin về thị trường lao động thông qua internet; đào tạo lại và nâng cao tay nghề cho lao động trung niên; phát triển các loại hình công việc bán thời gian để nhiều đối tượng lao động có thể tiếp cận

1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

Trong những năm vừa qua, do yêu cầu của cả lý luận và thực tiễn, đã có một

số công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài mà tác giả tiếp cận được bao gồm sách, tạp chí chuyên ngành, luận văn, văn bản pháp luật Luận văn điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:

Các nghiên cứu liên quan đến chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Khi nghiên cứu về nội dung này, các tác giả đã tập trung trình bày nội dung của các Nghị định, Thông tư quy định về mặt pháp lý đối với đền bù, giải tỏa và trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị giải tỏa; đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết và hạn chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa chính sách TĐC của Việt Nam với chính sách TĐC của các tổ chức quốc tế Ngoài

ra, tác giả cũng đề xuất, kiến nghị, bổ sung và điều chỉnh những chính sách hiện hành, làm cho những chính sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn [9] Trong các cuộc điều tra xã hội học ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và thành phố Huế (năm 2006 và 2010) [10], tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai có đánh giá chung

Trang 18

rằng phần lớn người dân đều có những phản ứng tiêu cực và không mấy thỏa mãn

về các giải pháp đền bù, di chuyển cũng như chất lượng khu ở mới tái định cư Quan tâm đến các nguyên tắc chung của bồi thường, giải tỏa; những giải pháp về tổ chức tái định cư; giải quyết việc làm các đối tượng bị giải tỏa; các giải pháp về quản lý điểm chung của những nghiên cứu về chính sách tái định cư ở các địa phương [7] Bên cạnh đó, người dân mong muốn chính quyền và các cơ quan chức năng là phải công khai, đơn giản hóa việc giải quyết các thủ tục, các quy định trong quá trình thu hồi đất và giải phóng mặt bằng (đo vẽ, kiểm đếm, tính giá đền

bù, hình thức và thời gian chi trả, bố trí nhà ở tái định cư, diện tích ở, vị trí, ) tạo điều kiện cho các hộ gia đình tái định cư được ổn định công ăn việc làm, đời sống

và các dịch vụ xã hội cơ bản khác [21]

Trong giai đoạn chuyển đổi và hội nhập, vấn đề đất đai càng trở nên phức tạp

và nảy sinh nhiều vấn đề hơn, vì vậy tác giả Nguyễn Văn Sửu (2010) [25] đã tập trung phân tích một số chiều cạnh của mối quan hệ giữa những người nông dân với đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp, nhất là các chính sách của Nhà nước về đất đai

và phát triển Phân tích và đánh giá một cách kỹ lưỡng có hệ thống các vấn đề về nguyên nhân, bối cảnh, quá trình, nội dung, hệ quả và tác động của việc đổi mới chính sách đất đai ở Việt Nam trong hơn hai thập kỉ qua từ các góc độ kinh tế, chính trị, xã hội, từ quan điểm của nhiều thực thể khác nhau trong Nhà nước và xã hội Bằng việc kết hợp những cách tiếp cận khác nhau (kỹ thuật nghiên cứu của nhân học, sử học và xã hội học) và trên cơ sở các nguồn tư liệu định tính và định lượng, nghiên cứu này phân tích và lý giải những đổi mới, chuyển đổi, về cấu trúc đất đai trong mối quan hệ với nông dân và Nhà nước ở Việt Nam trong những năm đổi mới Quá trình đổi mới đó đã tạo ra nhiều tác động tích cực đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn và đến xã hội nói chung Tuy nhiên, tác phẩm cũng cho thấy hiện đang còn tồn tại một khoảng cách nhất định giữa lý thuyết và thực tiễn, chính sách

và thực hành Khoảng cách này đang và sẽ là động lực, nguyên nhân của những điều chỉnh, đổi mới Vì thế, chính sách đất đai trong những năm tiếp theo cần được

Trang 19

nhận thức là một quá trình biện chứng chứ không phải là một sự biến đổi một chiều đơn nhất

Các nghiên cứu liên quan đến đời sống người nông dân khi bị thu hồi đất

Trên thực tế, đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia trong thời gian qua ở các địa phương chủ yếu là đất nông nghiệp Nói cách khác, những người bị mất đất chủ yếu là nông dân Điều này đã dẫn đến đất cho sản xuất – kinh doanh của người dân bị thu hẹp, phải thay đổi chỗ ở, điều kiện sống Theo tác giả Lê Duy Phong (2007) [23] Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và được các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết vấn đề bồi thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt tại nơi ở mới, đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất đã

và đang diễn ra ở nhiều địa phương Nguyên nhân này một phần do nhiều nơi thực hiện đền bù, tái định cư, đào tạo, giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất còn chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng khiếu kiện gây mất trật tự, an ninh xã hội Bên cạnh đó, bản thân người dân bị thu hồi đất còn thụ động, trông chờ vào Nhà nước, chưa tích cực tự đào tạo để đáp ứng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tương tự, theo nghiên cứu của Phạm Quang Tính (2006) và Nguyễn Văn Hải (2011) [26] thì thực trạng việc làm và thu nhập của người lao động có chính sách

hỗ trợ đền bù chưa thỏa đáng đã làm cho đời sống của sống của các hộ dân có nhiều thay đổi Còn tác giả Đoàn Văn Thành (2007) [26] nhận thấy rằng quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp đã làm thu hẹp diện tích đất canh tác nông nghiệp của

hộ nông dân, làm thay đổi cơ cấu lao động của hộ theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động phi nông nghiệp thì thu nhập tăng thêm và ngược lại Nghiên cứu của Nguyễn Hùng Sơn (2007) [26] đã đưa ra những đánh giá về thay đổi thu nhập cũng như đời sống nông hộ so với trước khi thu hồi đất, có những hộ thu nhập

Trang 20

nhiều hơn, cũng có những hộ thu nhập ít đi phụ thuộc việc phân bổ sử dụng tiền đền

bù và chuyển đổi nghề nghiệp

Trong bối cảnh quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và đô thị hóa (ĐTH) diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, nói như tác giả Nguyễn Duy Thắng

“đô thị hóa là một quá trình biến đổi kinh tế - xã hội luôn đi cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Nó vừa là kết quả, vừa là điều kiện cần để phát triển kinh tế” [27] Theo TS Trịnh Hòa Bình, quá trình đô thị hóa diễn ra ồ ạt trên

diện rộng, nóng vội, đốt cháy giai đoạn – mà các nhà khoa học gọi đó là “đô thị hóa cưỡng bức” đã khiến người nông dân bị “sốc” vì không kịp thích ứng, chuyển mình với môi trường sống mới [19] Đô thị hóa thường đi liền với sự phổ biến các giá trị văn hóa và lối sống đô thị Hệ thống nhu cầu của người dân phát triển mạnh do tác động của nhiều nhân tố như sự tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng mức sống, sự phát triển của hệ thống các dịch vụ, sự giao lưu văn hóa giữa các vùng Chính trong giai đoạn đó, việc di dời, tái định cư, ổn định đời sống cũng còn một số điểm khiến cho người dân chưa hoàn toàn hài lòng như: giá đền bù chưa sát thị trường, điều kiện cơ

sở hạ tầng và vệ sinh môi trường tại các khu tái định cư chưa thật sự tốt [21]

Một trong những nghiên cứu của tác giả Trịnh Duy Luân có bài viết“Tái

định cư trong phát triển đô thị và một số vấn đề xã hội” đã đưa ra những đánh giá

có tính tổng quát tình hình tái định cư ở đô thị Việt Nam Theo ông, những vấn đề thường gặp nhất đối với tái định cư là những vấn đề xã hội chứ không phải vấn đề

kỹ thuật Đây là một nghiên cứu rất quan trọng cho luận văn này khi đã xác định được trọng tâm cần phân tích trong tái định cư ở đô thị đó là những vấn đề liên quan đến lợi ích, tâm lý sự đồng thuận của người dân với các hoạt động này, trong đó lợi ích hay quyền lợi là yếu tố hàng đầu, gắn liền với nó là vấn đề việc làm, sinh kế lâu dài, chỗ ở và môi trường sống lân cận Tác giả cũng nhấn mạnh rằng: cần quan tâm

và giải quyết những vấn đề nảy sinh đặc biệt với nhóm người thu nhập thấp, đối tượng chính sách, khó khăn, dễ bị tổn thương [20]

Trang 21

Nghiên cứu trong bối cảnh đô thị hóa tại Thành phố Nha Trang, tác giả

Nguyễn Thị Thu Hiền với đề tài “Sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân

vùng ven thành phố Nha Trang trong quá trình đô thi hóa” (Điển cứu tại phường Phước Hải, Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), đã làm rõ những biến đổi

trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, việc làm, thu nhập, sinh hoạt vật chất, chi tiêu, vay mượn và mức sống của các hộ gia đình từ năm 2000 đến năm 2009 Bên cạnh những thay đổi về diện mạo nơi ở được khang trang, cải thiện thì bước chuyển tiếp của người nông dân lên đô thị thì nổi bật nhất vẫn là vấn đề về việc làm và thu nhập Và khi sinh kế không ổn định thì giải pháp trước mắt của họ là phải bán bớt đất để trang trải các chi phí sinh hoạt và các hoạt động khác Bên cạnh đó, tình trạng vay mượn đã dự báo xu hướng tiêu cực trong tương lai, đầu tư không chính đáng đến lúc cạn kiệt sẽ trở nên nghèo túng Tác giả cũng trăn trở “vấn đề ở đây là làm sao để người nông dân và địa phương có thể chuyển đổi một cách bền vững chứ không phải chuyển đổi nhưng lại làm các công việc lao động phổ thông nặng nhọc

và thu nhập thấp” và khẳng định “chính bối cảnh của một khu vực đang trong quá trình đô thị hóa đã làm nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn là nguyên nhân đưa đến những biến đổi trong đời sống kinh tế của người dân cả nước nói chung và các hộ dân

vùng ven thành phố Nha Trang nói riêng” [18]

Tác giả Vũ Trường Giang trong nghiên cứu về “vấn đề việc làm cho nông

dân bị thu hồi đất ở Tỉnh Hải Dương” cho thấy tình trạng lao động sau khi thu hồi

đất người dân trở nên thất nghiệp, thiếu việc làm, hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp, không ổn định vẫn còn nhiều và có chiều hướng tăng lên Nguyên nhân chủ yếu, theo tác giả đó là do phần lớn người lao động thuộc diện thu hồi đất đều có trình độ chuyên môn kỹ thuật và trình độ tay nghề thấp đã không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp Bên cạnh đó, cũng chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành địa phương [13] Ở chuyên ngành kinh tế phát triển, vấn đề việc làm của người dân thuộc diện thu hồi đất ở Quảng Nam được tác giả Đoàn Thị Thanh Tâm nghiên cứu vẫn không tránh khỏi những vấn đề của các địa phương khác Tác giả

Trang 22

nhấn mạnh đặc điểm của người lao động bị thu hồi đất là một yếu tố khiến cho giải quyết việc làm trở nên cần thiết Nhiều người dân đã sống ỷ lại vào tiền đền bù mà không tính toán đến việc đầu tư con cái nâng cao trình độ và mở rộng sản xuất kinh doanh Ngoài ra, việc đền bù chưa thỏa đáng, thiếu công bằng cũng được tác giả làm rõ trong luận văn này [28] Một nghiên cứu khác của chuyên ngành địa lý, lấy

số liệu từ 198 nông hộ phân bố trên địa bàn bốn xã (những hộ tái định cư tại chỗ và không đi khỏi địa phương), tác giả Nguyễn Lưu Diễm Phúc đã thực hiện đề tài tại Long An nhằm đánh giá thực trạng chất lượng đời sống của người dân nói chung và nông hộ nói riêng sau khi nhận đền bù và di dời Theo tác giả, những vấn đề khiến nông hộ quan tâm hiện nay là chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống sau tái định cư cũng như vấn đề về chính sách đền bù thỏa đáng Bên cạnh những nông hộ nhanh chóng thích nghi với cuộc sống mới sau tái định cư, còn một số nông hộ vẫn loay hoay tìm kế sinh nhai khi công việc đồng áng mà họ đã quen làm trước đây giờ không còn phù hợp nữa Đối với những nông hộ mà nguồn thu nhập chủ yếu không phụ thuộc vào hoạt động nông nghiệp khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp thì cuộc sống của họ không có nhiều thay đổi thậm chí chất lượng cuộc sống khá hơn trước do có thêm khoản thu từ tiền đền bù Ngược lại, có những nông hộ cầm số tiền đền bù nhưng lại không biết phải làm gì; cũng có những nông hộ dùng phần lớn

số tiền đó chỉ để xây sửa nhà cửa, mua sắm đồ dùng đắt tiền trong nhà mà không có một phương án nào dành cho hoạt động sản xuất tạo việc làm, tạo nguồn thu nhập mới thay thế cho nguồn thu nhập [26]

Các nghiên cứu liên quan đến đời sống người dân khi bị thu hồi đất ở đô thị

Các vấn đề liên quan đến việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển và nâng cấp

đô thị, tác giả Dư Phước Tân đã có nghiên cứu để làm rõ một số khía cạnh kinh tế

xã hội nảy sinh trong quá trình di dời của các hộ trên và ven kênh rạch tại Thành

phố Hồ Chí Minh (Dự án Nhiêu Lộc – Thị Nghè) Với đề tài này tác giả đã khảo sát

157 hộ tái định cư về khía cạnh kinh tế - xã hội, có so sánh cuộc sống trước và sau khi di dời, những yếu tố có tương quan với quyết định di dời lên chung cư hay

Trang 23

không muốn lên chung cư Tác giả cũng đưa ra những vấn đề xã hội của việc cải tạo chỉnh trang nội thành, nêu ra những cảnh báo cần quan tâm khi tiến hành di dời, tái định cư để tránh những thất bại [29] Tương tự như vậy, nghiên cứu về địa bàn ven

kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, tác giả Ngô Thị Kim Dung với đề tài “Một số vấn đề

xã hội nảy sinh trong quá trình tái định cư dân sống ven kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè”

đã có phát hiện quan trọng: đời sống kinh tế - xã hội – tâm lý của cư dân địa bàn tái định cư càng gần nơi cư trú thì sự đảo lộn về việc làm, thu nhập càng ít nghiêm trọng hơn, do các mối liên hệ truyền thống trong lao động ít bị tổn thương, việc học hành của trẻ em cũng được đảm bảo hơn, Trong bước chuyển tiếp từ nhận tiền đền

bù đến việc tái tạo nơi cư trú mới tại căn hộ chung cư, các hộ đã gặp khó khăn như trải qua thời kỳ ở nhà tạm cư, tình trạng vay nợ do tiền đền bù không đủ tiền mua nhà, một số thành viên trong gia đình phải tách khỏi hộ chung, tìm nơi ở mới ngoài vùng dự án Tác giả cũng cho rằng, chiều hướng giảm sút việc làm và thu nhập trong gia đình mới di dời và tái định cư là do chưa kết hợp chặt chẽ giữa tái định cư

và tạo điều kiện để mưu sinh, tái tạo cuộc sống trong điều kiện mới, phát triển xã hội trong cộng đồng dân cư Việc xây dựng cơ cấu nhà ở và cơ cấu các khu tái định

cư chưa chú ý nhiều đến đặc điểm mưu sinh của nhóm mục tiêu, làm suy giảm yếu

tố sử dụng nguồn lao động và tạo việc làm Nguồn thu nhập của bộ phận dân cư rất nghèo và phụ nữ vốn đã bấp bênh đang bị đe dọa Việc xây dựng cơ cấu nhà ở và cơ cấu khu tái định cư chưa được đồng bộ và chưa chú ý nhiều đến lợi ích của trẻ em, người già và phụ nữ Khả năng tái hội nhập của nhiều hộ đến nơi ở mới còn thấp và rất không đồng đều [22]

Nghiên cứu về sinh kế và phục hồi sinh kế của các hộ dân tái định cư, tác giả

Trương Thanh Thảo (2011) [32] đã đi sâu nghiên cứu “Vấn đề sinh kế của người

dân thuộc diện tái định cư di dời trong các dự án cải tạo nâng cấp đô thị Tp HCM (Trường hợp dự án 415) Kết quả từ cuộc điều tra xã hội học này cho thấy, những

biện pháp hỗ trợ được đưa ra rất nhiều nhưng không phải đều đem lại kết quả tích cực cho toàn bộ cộng đồng dân cư: ban quản lý dự án đã rất quan tâm đến việc nâng

Trang 24

cao năng lực thể chế cho chính quyền địa phương về khả năng giải quyết các vấn

đề về môi trường, nhà ở và tái định cư, và các vấn đề kinh tế xã hội; tạo cơ hội cho chính quyền địa phương thu thập kinh nghiệm, năng lực, kiến thức, bằng các khoá đào tạo, hội thảo cung cấp những thông tin hữu ích cho lãnh đạo và nhân viên thừa hành Bên cạnh đó, kết quả còn cho thấy có sự khác biệt về mục tiêu và lợi ích giữa các bên, về phía dự án thì muốn đạt được mục tiêu cải tạo hạ tầng khu vực cũ

và xây dựng khu dân cư kiểu mẫu, nhưng những nhóm dân cư khác nhau lại có những mối quan tâm khác nhau Luận văn cũng tìm hiểu và làm rõ quá trình từ sau khi tái định cư với những yếu tố tác động làm tăng hoặc giảm khả năng thích nghi

và tự ổn định sinh kế của người dân [30]

Trong quá trình phát triển, con người không thể tránh khỏi các yếu tố tác động từ bên ngoài, đặc biệt do thiên nhiên: lũ lụt, sạt lở, sóng thần, và đời sống của người dân ở khu vực này phải chịu những ảnh hưởng rất lớn Tác giả Phạm Đức Việt (2012) [30] đã có nghiên cứu đời sống của các hộ tái định cư vượt lũ tại đồng bằng song Cửu Long theo quyết định số 1545/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ký năm 2001 Ngoài việc đưa ra một số thuận lợi, khó khăn của người dân thuộc KDC vượt lũ Thạnh Quới về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, tác giả đã kiểm chứng được giả thuyết đưa ra rằng: có sự khác biệt về đời sống trong các nhóm thuộc KDC vượt lũ (việc làm, thu nhập, chi tiêu); chính sách có vai trò quyết định đến đời sống của người dân đặc biệt là nhóm nghèo và diện chính sách; lối sống của người dân thay đổi theo hướng chỉ dừng lại ở nhận thức; thanh niên vẫn còn xu hướng đi làm việc nơi khác

Các nghiên cứu liên quan đến mạng lưới xã hội và vốn xã hội của người dân

Khi đi sâu tìm hiểu về đời sống người dân bị thu hồi đất, tái định cư thì các yếu tố tác động cũng như những hệ quả của nó, tất cả đều có mối quan hệ lẫn nhau,

vì vậy khi phân tích về vấn đề này tác giả còn tổng quan một số công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan để làm rõ thêm vấn đề cần nghiên cứu Một vấn đề trong nỗ lực ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nơi tái định cư

Trang 25

đó là việc thiết lập mạng lưới xã hội cho cộng đồng dân cư vùng dự án Tái định cư cần được nhìn nhận là một quá trình thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội cả một bộ phận cư dân hơn là chỉ dừng lại ở việc xem xét đây là quá trình thay đổi chỗ ở Quá trình thay đổi này rất cần sự hỗ trợ từ các mạng lưới xã hội, cả chính thức và phi chính thức để người dân sớm ổn định, hòa nhập với nơi ở mới [7] Tác giả Đặng

Nguyên Anh với bài viết “Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư” in

trong Tạp chí Xã hội học số 2, đã nêu lên vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di dời, tái định cư Dựa trên kết quả của cuộc khảo sát “Di cư và sức khỏe” do Viện Xã hội học (thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia) tiến hành năm 1998, tác giả cho rằng mạng lưới xã hội được xem như một nhân tố quan trọng quyết định toàn bộ quá trình di cư Bài viết nghiên cứu về những người di cư nói chung, về sự khác nhau trong vai trò của mạng lưới xã hội giữa nam và nữ Các yếu tố như trình độ học vấn, ngành nghề, lĩnh vực lao động của người nhập cư không được đề cập đến do những yếu tố này có thể có những ảnh hưởng nhất định đến mạng lưới xã hội những người di cư [23] Tương tự, Văn Ngọc Lan và Trần

Đan Tâm có bài viết “Thử khảo sát sự vận động của mạng lưới xã hội trong đời

sống di cư” cũng đã cung cấp cái nhìn mới về vai trò của mạng lưới xã hội đối với

người dân đô thị nói chung và người nhập cư vào đô thị nói riêng [17] Mạng lưới

xã hội có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống người di cư như cung cấp thông tin về nơi nhập cư, tìm việc làm, nhất là vai trò trong xóa đói giảm nghèo cho người nghèo, vấn đề đang được xã hội quan tâm [33]

Vốn xã hội là một khái niệm trung tính, có ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực, một khái niệm đang trở nên rất phổ biến trong các ngiên cứu về di dân, tái định cư

và một số lĩnh vực khác Vốn xã hội dùng để chỉ một cách tổng hợp hiện thực và đặc trưng của những mối liên kết giữa con người với nhau trong một cộng đồng hay một xã hội Những mối liên kết này chịu sự chi phối quyết định của các chuẩn mực (chính thức và phi chính thức) và các định chế đang tồn tại trong cộng đồng và được biểu hiện ra thành những hiện tượng mà chúng ta có thể quan sát được như sự

Trang 26

tin cậy giữa con người với con người với nhau Chúng ta chỉ có thể quan sát và đo lường những biểu hiện ra bên ngoài của vốn xã hội như sự tin cậy, sự hợp tác, sự tham gia vào các hội đoàn và các mạng lưới xã hội Có thể xem mạng lưới xã hội là một trong những chỉ số dùng để đo lường vốn xã hội [24]

Những nghiên cứu về thu hồi đất của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam

Kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới (ADB, 2004) cho thấy, tái định cư có thể dẫn đến những nguy cơ nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường như: hệ thống sản xuất bị phá vỡ, người dân phải đối mặt với nguy cơ nghèo đói khi những điều kiện sản xuất và những nguồn tạo thu nhập của họ bị mất đi, người dân có thể

bị di dời đến những nơi không có việc làm hay các tài nguyên kiếm sống không có nhiều, các thiết chế cộng đồng và mạng lưới xã hội bị phá vỡ; các mối quan hệ họ hàng thân thích cũng bị ảnh hưởng: các yếu tố truyền thống, văn hóa và tình tương thân tương ái có thể bị mất đi Đây chính là những chi phí, những tổn thất vô hình

mà người dân tái định cư phải ghánh chịu bên cạnh những mất mát về nhà cửa, đất đai

Bên cạnh đó, ngoài những thiệt hại trên, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995) [34] còn nêu thêm những thiệt hại khác mà người dân tái định cư có thể gặp phải như: cư dân tại chỗ các khu tái định cư không thân thiện hay không có những nét tương đồng về văn hóa, những khó khăn về công việc làm ăn nơi ở mới

có thể khiến cho người tái định cư phải khai thác tối đa đến mức kiệt quệ các tài nguyên môi trường để sinh tồn và điều này gây ra những hậu quả hết sức tai hại cho môi trường ADB đã có những đề nghị cụ thể nhằm giúp cho cuộc sống “hậu tái định cư” của người dân được ổn định và dễ dàng hơn Trong chính sách tái định cư không tự nguyện của Ngân hàng Phát triển châu Á đã đề cập, nếu các cá nhân hay cộng đồng dân cư nào bị mất đất, mất kế sinh nhai, mất lối sống quen thuộc thì phải được: Bồi thường mọi tài sản, thu nhập và kế sinh nhai bị mất; giúp di dời và tái định cư; giúp đỡ để đời sống kinh tế và xã hội được tốt hơn, hay ít nhất là ngang bằng so với trước tái định cư; cung cấp đầy đủ đất đai, nhà ở, cơ sở hạ tầng và

Trang 27

những yếu tố khác như cuộc sống ban đầu; cung cấp đầy đủ thông tin và tư vấn kỹ càng về các mức bồi thường và các phương án tái định cư

Tổ chức UNDP (Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam) (Sở Xây dựng, 1997, Dự án VIE/95/051) đã đưa ra 6 nguyên tắc khuyến cáo Thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh thực hiện trong các dự án phát triển, trong đó có nguyên tắc: Nguyên tắc bồi thường “phi vật chất” cho các hộ nên được chú trọng nhiều hơn so với việc bồi thường vật chất, bằng tiền, vẫn chưa được quan tâm đúng mức Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam, các bồi thường “phi vật chất” vẫn chưa được quan tâm đúng mức Mặc dù, ở một số dự án có đề cập nhưng lại chưa được cụ thể hóa trong các hành động thiết thực trên thực tế: tạo việc làm gắn với đào tạo nghề, chính quyền địa phương chưa tạo ra được cơ chế quản lý phù hợp đối với người dân khi định cư tại nơi ở mới, Một nguyên tắc khác đề cập đến trường hợp: khi bắt buộc phải tiến hành giải tỏa, di dời, trước tiên cần phải xây dựng một kế hoạch thực hiện thật chi tiết và cụ thể, kể cả kế hoạch quản lý hậu di dời, để đảm bảo rằng những người bị di dời, tối thiểu có cuộc sống tốt hơn hoặc ngang bằng so với nơi ở trước đây về khía cạnh kinh tế và xã hội Để có thể thực hiện được đầy đủ nguyên tắc thứ hai này, những người có trách nhiệm không chỉ quan tâm đến vấn đề nhà ở cho người dân tái định cư, mà còn phải có trách nhiệm quan tâm đầy đủ và thăm dò

ý kiến của chính những người dân về vấn đề tái định cư để có những kế hoạch cung cấp tốt nhất và sớm nhất các cơ hội về nhà ở, về sinh kế của người dân sau khi họ thay đổi chỗ ở

Như vậy, chính sách bồi thường tái định cư của các dự án sử dụng nguồn vốn nước ngoài có sự khác biệt với chính sách của các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách ở chỗ: chủ yếu tập trung về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ sử dụng đất như không phân biệt nguồn gốc pháp lý, thời điểm sử dụng nhà, đất nếu bị ảnh hưởng bởi dự án thì đều được bồi thường và bố trí tái định cư Bên cạnh đó, các tổ chức trên đã lưu ý đến tất cả các khía cạnh mà người dân tái định phải đối mặt không chỉ trong thời điểm hiện tại mà cho những năm tiếp theo Những vấn đề các tổ chức đề

Trang 28

cập rất rõ ràng và thể hiện một cách đầy đủ về lợi ích cho người dân Họ có thể chưa nhìn thấy những hậu quả lâu dài, nhưng những nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách hoàn toàn có khả năng giúp họ nhận định tình hình, dự báo các biến cố

có thể xảy ra để họ có một cách nhìn đúng đắn cho cuộc sống “hậu tái định cư”

Từ việc tổng quan những công trình nghiên cứu nêu trên đã cho tác giả có những hiểu biết về lý thuyết và thực tiễn liên quan đến vấn đề về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở nhiều địa phương trên cả nước Các nghiên cứu về chính sách thì chủ yếu tập trung vào đánh giá nội dung của các văn bản pháp luật quy định về mặt pháp lý đối với việc đền bù, giải tỏa và trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất, đề xuất những thay đổi về chính sách, khung pháp lý

về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Các nghiên cứu về đời sống kinh tế, xã hội của người dân thuộc các vùng dự án thì đã khái quát về thực trạng đời sống, việc làm, thu nhập và các điều kiện sinh hoạt

Trên cơ sở kế thừa các thành quả nghiên cứu nước ngoài và các vùng trong nước, các tổ chức quốc tế thực hiện tại Việt Nam, chúng tôi tiếp tục đi sâu các làm

rõ đề tài về đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất theo cách tiếp cận của xã hội học Tuy nhiên, về đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu so với đề tài luận văn vẫn có những điểm khác biệt Đồng thời, sự thay đổi các chủ trương, chính sách cũng như việc thực thi pháp luật mỗi địa phương cũng có cách thức thực hiện khác nhau, điều này dẫn đến lợi ích của người bị ảnh hưởng cũng không giống nhau Đáng chú ý, cho đến thời điểm nghiên cứu năm 2013, mặc dù việc thu hồi đất diễn

ra mạnh mẽ trên nhiều địa bàn của tỉnh Phú Yên từ nhiều năm trước nhưng các đề tài nghiên cứu, báo cáo về thực trạng đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất cũng như tình hình tái định cư của người dân hầu như chưa được thực hiện

1.2.3 Những văn bản pháp luật liên quan

Trong phần này, tác giả tập trung làm rõ một số cơ sở pháp lý liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quan điểm của Hiến pháp và Luật đất đai được tiến triển qua các năm như sau:

Trang 29

Hiến pháp năm 1959: Nhà nước thừa nhận ba hình thức sở hữu đất đai bao gồm

sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể Hiến pháp năm 1980: Nhà nước

xác lập quyền sở hữu duy nhất và tuyệt đối về đất đai

Luật Đất đai 1987: được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 2 năm 1987 quy

định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho các đối tượng có nhu cầu để

sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được duyệt

Hiến pháp năm 1992: khẳng định quyền của công dân trong việc sở hữu và

bảo vệ quyền hợp pháp về sở hữu nhà ở

Luật đất đai năm 1993: khẳng định quyền sở hữu và quản lý đối với đất đai của

Nhà nước và Nhà nước có quyền giao và xác định mục đích sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài

Luật Đất đai năm 2003: được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu

lực kể từ ngày 01/7/2004 Luật đất đai 2003 ra đời nhằm mục đích thay thế, bổ sung và

mở rộng so với Luật đất đai 1993 Riêng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có 3 điểm mới so với Luật đất đai 1993 về đền bù khi Nhà nước thu hồi đất vì các lợi ích quốc gia

và lợi ích công cộng, là khung đơn giá; chính sách về tái định cư, và hạn chế quy mô giải phóng mặt bằng Tại thời điểm nghiên cứu, Luật đất đai 2003 và các văn bản dưới Luật được địa phương áp dụng trong công tác thu hồi đất, vì vậy, trong nội dung luận văn này chúng tôi làm rõ một số quy định được áp dụng như sau:

+ Luật đất đai năm 2003 đã quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất (Điều 38); thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (Điều 39), phát triển kinh tế (Điều 40); việc thu hồi đất và quản lý quỹ đất đã thu hồi (Điều 41); bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi (Điều 42); những trường hợp thu hồi đất mà không bồi thường; thẩm quyền thu hồi đất (Điều 44); nguyên tắc xác định giá đất (khoản 1, Điều 56)

+ Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật đất đai được quy định trong 3 điều (Điều 41, 42 và 43); nguyên tắc

Trang 30

bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước Thu hồi đất (Điều 74 và Điều 88)

+ Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc phòng, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế Trong Nghị định này, điều 38 có quy định: đối với những dự án phải di chuyển cả cộng đồng dân cư và làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng thì tùy trường hợp cụ thể Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc trình chính phủ xem xét quyết định chính sách tái định cư đặc biệt với mức hỗ trợ cao nhất + Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

+ Nghị định 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư (Điều 4, Điều 5, Điều 17)

+ Thông tư số14/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

Bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm 2003 và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành, thì Nhà nước chủ trương tùy vào tình hình thực

tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn Trên cơ sở đó, tỉnh Phú Yên đã ban hành một số văn bản cụ thể liên quan đến dự án di dời

Nhìn chung, có thể nói hiện nay Việt Nam đã có khung pháp lý đầy đủ cho công tác thu hồi đất, tái định cư với hàng loạt chính sách và chương trình liên quan

ở trung ương và cấp tỉnh, như Luật Đất đai (2003; sửa đổi năm 2013), các quy định, nghị định và các chính sách khác liên quan liên quan đến quản lý đất đai Đồng thời, những quy định trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình thu hồi đất, từng

Trang 31

bước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường, đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người bị thu hồi đất Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng và thực thi chính sách, qua điều tra thực tế tại địa bàn nghiên cứu cho thấy nhiều vấn đề còn hạn chế và bất cập cần được xem xét và khắc phục

1.3.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên Trên cơ sở đó phát hiện những vấn đề nảy sinh cần giải quyết và đề xuất giải pháp nhằm ổn định cuộc sống cho người dân tại địa bàn nghiên cứu

Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả đi vào phân tích chủ yếu hai nội dung lớn như sau:

Thứ nhất, thực trạng đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất ở khía

cạnh đời sống vật chất và đời sống tinh thần

- Thực trạng đời sống vật chất bao gồm: việc làm; thu nhập – chi tiêu; việc sử dụng tiền đền bù và vay mượn; nhà ở; cơ sở hạ tầng

Trang 32

- Thực trạng đời sống tinh thần bao gồm: hoạt động vui chơi, giải trí; tham gia các tổ chức chính trị - xã hội nơi tái định cư

Thứ hai, tác giả phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến đời sống của người

dân tại địa bàn nghiên cứu

- Những nhân tố khách quan: điều kiện kinh tế - xã hội nơi đi và nơi đến; chính sách và việc thực hiện chính sách

- Những nhân tố chủ quan: tuổi, trình độ học vấn, tâm lý của người dân và mạng lưới xã hội

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn thành phố Tuy

Hòa, tỉnh Phú Yên (Dự án di dời các hộ có nguy cơ ảnh hưởng sạt lở núi Nhạn,

phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên)

1.5.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể của cuộc nghiên cứu là chủ hộ hoặc lao động chính trong gia đình

đã ra khu tái định cư phường 9 đã cư trú liên tục từ năm 2007 đến 2013 để đảm bảo đánh giá được sự thích ứng của người dân tại nơi ở mới

- Phạm vi nội dung: để phù hợp với thời gian, kinh phí, lực lượng nghiên cứu

đề tài chỉ nghiên cứu đời sống của các hộ gia đình tái định cư thuộc diện thu hồi đất của dự án di dời các hộ có nguy cơ ảnh hưởng sạt lở núi Nhạn, phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

- Phạm vi thời gian: từ năm 2007 đến nay

- Phạm vi không gian: luận văn được nghiên cứu giới hạn trong phạm vi địa

bàn của nơi ở cũ (phường 1) và nơi tái định cư (phường 9), thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Trang 33

- Phạm vi khách thể: nghiên cứu này tập trung nghiên cứu ở các nhóm khách

thể như sau: những hộ dân thuộc diện thu hồi đất của dự án di dời các hộ có nguy

cơ ảnh hưởng sạt lở núi Nhạn, có thời gian di dời từ năm 2007 đến 2011

1.7.1 Các phương pháp luận nghiên cứu

Trong luận văn này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu chung của nghiên cứu khoa học xã hội là kết hợp phương pháp định lượng và phương pháp định tính:

Phương pháp nghiên cứu định lượng: nhằm xác định mức độ phổ biến của

thực trạng cũng như mức độ chặt chẽ của mối quan hệ nhân quả Trong nghiên cứu định lượng người ta thường sử dụng các phương pháp thu thập thông tin với bảng hỏi được chuẩn bị kỹ từ trước, trong đó chủ yếu là các câu hỏi đóng nhằm thu thập thông tin của số lượng lớn các đơn vị nghiên cứu trong cơ cấu mẫu của tổng thể nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu định lượng thường là các con số phản ánh những đặc trưng cần nghiên cứu của tổng thể

Phương pháp nghiên cứu định tính: là dạng nghiên cứu nhằm tìm hiểu sâu về

đặc tính, tính chất của đối tượng nghiên cứu, các phản ứng từ bên trong các suy nghĩ, tình cảm tạo ra các cách ứng xử khác nhau Nghiên cứu định tính hướng đến việc xác định các khía cạnh, các nguyên nhân của thái độ, hay là phản ứng của người đó với hiện tượng, sự việc Phương pháp định tính để bổ sung các thông tin chuyên sâu cũng như lý giải các yếu tố tác động và dự đoán các mối quan hệ nhân quả mà nghiên cứu định lượng chưa làm rõ

1.7.2 Các phương pháp thu thập thông tin 1.7.2.1 Thu thập thông tin định lượng Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có

Phương pháp phân tích tư liệu sẵn nhằm mục đích là xem xét các thông tin

có sẵn trong các tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết, nhằm đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trang 34

Thông qua các kênh thu thập dữ liệu khác nhau, tác giả đã thu thập nguồn tư liệu cần thiết làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá những nội dung cần thiết như: những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; những thông tin khái quát về tình hình địa bàn nghiên cứu như: tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Ủy ban Nhân dân phường 1 và phường 9, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Các số liệu này được trích dẫn để giải thích rõ hơn các vấn đề trong đề tài nghiên cứu Bên cạnh đó, tác giả tổng quan những tài liệu nghiên cứu trước có liên quan hoặc gần với chủ đề luận văn để so sánh, nhận diện và phân tích thực tiễn vấn đề nghiên cứu tại địa phương

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông tin định lượng qua bảng hỏi được chuẩn bị từ trước, trong đó chủ yếu là các câu hỏi đóng và một số câu hỏi mở nhằm tìm hiểu thêm về nhu cầu, nguyện vọng của người dân Bảng hỏi dành cho một đối tượng khách thể nghiên cứu là những hộ dân thuộc diện thu hồi đất của dự án di dời các hộ có nguy cơ sạt lở núi Nhạn tại phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên,

có thời gian cư trú từ năm 2007 đến nay tại khu tái định cư thuộc phường 9, thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên Tác giả sử dụng 120 bảng hỏi để thu thập thông tin của người dân và có kết cầu làm 4 phần như sau: phần 1: thông tin về hộ gia đình; phần 2: thông tin về việc làm và thu nhập, phần 3: thông tin về điều kiện sinh hoạt

1.7.2.2 Thu thập thông tin định tính

Trong đề tài, phương pháp thu thập thông tin định tính sẽ tập trung vào một

số đại diện nhất định của tổng thể nghiên cứu thông qua hình thức phỏng vấn sâu Việc thực hiện trên một số đại diện nhất định cho phép thực hiện các câu hỏi được linh hoạt hơn và lại tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân các hành vi của họ Thực hiện phỏng vấn sâu không dùng một câu hỏi cho tất cả mọi cá nhân được nghiên cứu, cá nhân nào am hiểu về vấn đề nào trong nghiên cứu thì tập trung hỏi nhiều hơn, thông tin thu thập được bằng cả ghi âm và cả ghi chép tại chỗ một cách cẩn thận Ngoài ra

Trang 35

còn sử dụng phương pháp quan sát không tham dự để quan sát hiện trạng về đời sống của người dân tại nơi đi và nơi đến nhằm phát hiện thêm những hành vi có tính chất phổ biến để tìm hiểu tiến trình đang diễn ra

1.7.3 Kỹ thuật chọn mẫu thu thập thông tin và xử lý số liệu

Kỹ thuật chọn mẫu

Đối với mẫu định lượng

Đề tài tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi120 hộ dân trong tổng số 257 hộ theo danh sách các hộ dân thuộc dự án di dời các hộ có nguy cơ sạt lở núi Nhạn tại phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã ra sinh sống tại khu tái định cư phường 9, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Từ danh sách này, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu xác xuất hệ thống , cứ 2 hộ chọn 1 hộ cho đến khi hết danh sách Với dung lượng mẫu hạn chế nên mẫu không nhằm đại diện cho tình hình tái định cư chung của thành phố Tuy Hòa

Phương pháp xử lý số liệu

 Các thông tin thứ cấp từ các nguồn như sách, tạp chí, báo cáo, luận văn…sẽ được tổng hợp theo chủ đề, đề mục cụ thể để có một một cái nhìn khái quát về đời sống của người dân tái định cư từ những nghiên cứu trước Bên cạnh đó những phân tích, khái quát, số liệu cũng sẽ được tác giả trích dẫn để minh họa cụ thể hơn cho từng nội dung cụ thể trong luận văn của mình

Trang 36

 Các thông tin định lượng thu thập từ bảng hỏi được xử lý và hệ thống theo nội dung dựa vào phần mềm SPSS 13 Các câu hỏi mở cũng được mã hóa lại và cũng được xử lý như những câu hỏi đóng

 Đối với các cuộc phỏng vấn sâu có ghi âm sẽ được gỡ băng phỏng vấn và tiến hành phân tích các thông tin ghi nhận được nhằm minh họa cụ thể hơn bằng những tâm tư, nguyện vọng, đánh giá của người dân về các nội dung của nghiên cứu

1.8.1 Ý nghĩa lý luận

Thu hồi đất là một quá trình tất yếu trong giai đoạn CNH-HĐH hiện nay Quá trình này đã tạo ra nhiều yếu tố sẽ thúc đẩy quá trình biến đổi cơ cấu xã hội và kinh tế của đô thị, làm cho đời sống của người dân thay đổi mạnh mẽ trong nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên đây là một vấn đề rất nhạy cảm và gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện Về mặt lý luận, đề tài nêu lên thực trạng, phát hiện những vấn đề tác động đến đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất tại địa bàn nghiên cứu; bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu bổ sung vào những nghiên cứu tiếp theo

1.8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đối với người dân tại các khu vực bị thu hồi đất nói chung và tại thành phố Tuy Hòa nói riêng, thì việc thu hồi đất vào mục đích nào thì cũng đều tác động mạnh mẽ đến đời sống của người dân Địa bàn mà chúng tôi khảo sát là một nhóm

cư dân phải di dời do bị ảnh hưởng của sạt lở núi Nhạn tại phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Từ kết quả điều tra, chúng tôi đề cập những vấn đề thuận lợi và khó khăn khi di chuyển ra nơi ở mới, đưa ra những ý kiến mang tính khuyến nghị góp phần ổn định cuộc sống cho người dân thuộc diện di dời của dự án nói riêng và các dự án di dời khác của Thành phố nói chung Đồng thời, qua đề tài này chúng tôi

có cơ hội áp dụng những kiến thức lý luận, những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu xã hội học được học vào thực tế Thông qua các kết quả nghiên cứu, đề tài góp

Trang 37

phần giúp các nhà quản lý, các cấp chính quyền địa phương có cái nhìn khách quan

và toàn diện hơn về thực trạng của các hoạt động liên quan đến thu hồi đất, những kết quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế

Trang 38

PHẦN II: ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Trang 39

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1.1 Lý thuyết lối sống

Chủ nghĩa Mác xem xét lối sống trong hệ biện chứng với phương thức sản xuất chất và trong sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố khách quan (điều kiện và phương tiện sống ) với nhân tố chủ quan (lẽ sống, tình cảm, niềm tin, ) của đời sống

Từ đó đến nay, trong các tài liệu đã công bố nhiều quan điểm khác nhau về lối sống Trong đó có một số quan niệm tiêu biểu:

Thứ nhất, quan niệm “lối sống là một phạm trù xã hội học thể hiện toàn bộ

hoạt động sống của con người thuộc các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội trong những điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định, biểu hiện trong quan niệm sống, trong toàn bộ các hoạt động của con người như trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người và người, trong sinh hoạt tinh thần và văn

hóa”

Thứ hai, quan niệm “lối sống là tập hợp những nét cơ bản, tiêu biểu và ổn

định của các hình thức hoạt động sống của cá nhân và xã hội Đó là cách thức hoạt động và ứng xử của chủ thể (cá nhân và tập thể) để đáp ứng nhu cầu sống: từ ăn, uống, ở, mặc, đi lại, tái tạo nòi giống đến học hành, vui chơi, giao tiếp, từ hoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội đến việc tổ chức đời sống cá nhân và xã hội” [35]

Thứ ba, “lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống ổn định của con

người gắn liền với dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội và các cá nhân trong cộng đồng” [14]

Thứ tư, “lối sống là cách thức cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội bằng

những hoạt động của mình Và sự lựa chọn đó được xác định trên cơ sở con người biết đánh giá hoạt động sống của mình trong tương quan với điều kiện sống” [36]

Trang 40

Đối với xã hội học, đây là một phạm trù quan trọng, tính giá trị của khái niệm này thể hiện ở chỗ nó đưa ra các bức tranh toàn vẹn về cuộc sống của các cá nhân trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, được thể hiện trong các hình thức hoạt động cơ bản như hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động văn hóa tinh thần, hoạt động sinh hoạt và giao tiếp để duy trì sự tồn tại và phát triển của cá nhân và xã hội Vì vậy, khi nghiên cứu cần đặt nó trong mối tương quan với điều kiện chủ quan và khách quan có tác động đến lối sống của người dân một cách

cụ thể để phân tích những tác động của bối cảnh sống và để tìm hiểu những quan điểm cá nhân, sự đánh giá về hoàn cảnh, về cuộc sống của chính họ [36]

Ngoài ra, theo hướng phân tích của luận văn thì phải kể đến lý thuyết lối sống đô thị của Wirth Theo ông, mối quan hệ giữa người dân trong môi trường sống đô thị không phải là mối quan hệ toàn bộ mà là mối quan hệ tách rời Công việc, vai trò và địa vị xã hội có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với họ Còn những quan hệ mang tính gia đình, dòng họ có vai trò thứ yếu, đặc biệt là tại các đô thị lớn Theo Wirth, cư dân đô thị thường sống tách biệt, chỉ liên quan đến nhau về lợi ích [11]

Vận dụng các quan điểm, lý thuyết về lối sống giúp tác giả định hướng nghiên cứu của đề tài làm rõ thực trạng đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất cần

“đưa ra các bức tranh toàn vẹn về cuộc sống của các cá nhân trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định”, phân tích các yếu tố thuộc về đời sống vật chất và tinh thần gắn với lối sống của cá nhân và nhóm xã hội; đồng thời, luôn đặt các vấn đề theo hai hướng khách quan và chủ quan khi phân tích các yếu tố tác động đến đời sống của đối tượng nghiên cứu

1.1.2 Lý thuyết mạng lưới xã hội

Về khái niệm, có một số quan điểm như sau: “Mạng lưới xã hội có thể hiểu

ngắn gọn là toàn bộ các quan hệ xã hội mà con người thiết lập trong quá trình sống Mặt khác, dù có ý thức hay không, hoạt động sống của con người đều là những hoạt động trong mạng và phụ thuộc vào mạng lưới” [65] Nhà xã hội học

Ngày đăng: 30/08/2023, 22:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4]. Franck Castiglioni, Ludovic Dewaele và Nguyễn Quang Vinh, Những thách thức của việc tái định cư các nhà tạm ở Thành phố Hồ Chí Minh: so sánh giữa các chương trình lớn và dự án nhỏ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức của việc tái định cư các nhà tạm ở Thành phố Hồ Chí Minh: so sánh giữa các chương trình lớn và dự án nhỏ
[5]. Đỗ Hoàng Phương An (2014), Sự thích ứng của cộng đồng người dân tái định cư trong quá trình đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp: người dân tái định cư ở Phường An Phú, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh ), Luận văn Thạc sĩ Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thích ứng của cộng đồng người dân tái định cư trong quá trình đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp: người dân tái định cư ở Phường An Phú, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh )
Tác giả: Đỗ Hoàng Phương An
Năm: 2014
[6]. Đặng Nguyên Anh (1998), Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư, Tạp chí Xã hội học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 1998
[7]. Phạm Xuân Bình (2000), Nghiên cứu thực trạng và các chính sách giải pháp, biện pháp trong việc bồi thường giải tỏa và tái định cư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Thành phố, Luận văn Thạc sĩ Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và các chính sách giải pháp, biện pháp trong việc bồi thường giải tỏa và tái định cư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Thành phố
Tác giả: Phạm Xuân Bình
Năm: 2000
[8]. PGS.TS. Doãn Chính (2013), Lối sống và Tư duy của cộng đồng người Việt vùng Đông Nam bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb.Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối sống và Tư duy của cộng đồng người Việt vùng Đông Nam bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: PGS.TS. Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2013
[9]. Bùi Thế Cường (2011), Phương pháp nghiên cứu xã hội và lịch sử - Giáo trình môn học Phương pháp luận nghiên cứu xã hội, chương trình đào tạo sau đại học liên ngành khoa học xã hội, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội và lịch sử - Giáo trình môn học Phương pháp luận nghiên cứu xã hội, chương trình đào tạo sau đại học liên ngành khoa học xã hội
Tác giả: Bùi Thế Cường
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2011
[10]. Ngô Thị Kim Dung (1999), Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình tái định cư dân sống ven kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè, Luận văn thạc sĩ Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình tái định cư dân sống ven kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè
Tác giả: Ngô Thị Kim Dung
Năm: 1999
[13]. Vũ Trường Giang (2010), Vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Tỉnh Hải Dương, Luận văn Thạc sĩ ngành Kinh tế Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Tỉnh Hải Dương
Tác giả: Vũ Trường Giang
Năm: 2010
[14]. Bộ Khoa học và Công nghệ (2010), Chương trình khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước: Báo cáo tổng hợp Đề tài Khoa học cấp Nhà nước, Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam và những yêu cầu đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, Mã số: KX.O3.07/06-10, Hà Nội, tr.44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước: Báo cáo tổng hợp Đề tài Khoa học cấp Nhà nước, Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam và những yêu cầu đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
[15]. Phạm Mộng Hoa – TS. Lâm Mai Lan (2000), Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội [16]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđđ, t. 11, tr.605-606 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn
Tác giả: Phạm Mộng Hoa, TS. Lâm Mai Lan
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2000
[18]. Nguy ễn Thị Thu Hiền (2011), Sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang trong quá trình đô thi hóa (Điển cứu tại phường Phước Hải, Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), Luận văn thạc sĩ Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang trong quá trình đô thi hóa (Điển cứu tại phường Phước Hải, Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa)
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ Xã hội học
Năm: 2011
[19]. Đỗ Long (2007), Quan hệ cộng đồng và cá nhân trong tâm lý nông dân, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ cộng đồng và cá nhân trong tâm lý nông dân
Tác giả: Đỗ Long
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2007
[20]. Trịnh Duy Luân (2009), Tái tái định cư trong phát triển đô thị và một số vấn đề xã hội, Tạp chí Xã hội học số 3, trang 13-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái tái định cư trong phát triển đô thị và một số vấn đề xã hội
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Năm: 2009
[21]. Trịnh Duy Luân (2008), Biến đổi tâm lý – xã hội của cộng đồng dân cư đô thị dưới tác động của cộng đồng dân cư đô thị dưới tác động của đô thị hóa – Từ kết quả nghiên cứu tại Đà Nẵng, Tạp chí xã hội học số 1 (101) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi tâm lý – xã hội của cộng đồng dân cư đô thị dưới tác động của cộng đồng dân cư đô thị dưới tác động của đô thị hóa – Từ kết quả nghiên cứu tại Đà Nẵng
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Năm: 2008
[23]. Lê Du Phong (chủ biên) (2007), Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia
Tác giả: Lê Du Phong (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
[24]. Trần Hữu Quang (2006), Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội, Tạp chí Khoa học xã hội học số 07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội
Tác giả: Trần Hữu Quang
Năm: 2006
[25]. Nguy ễn Văn Sửu (2010), Đổi mới chính sách đất đai ở Việt Nam - Từ lý thuyết đến thực tiễn, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách đất đai ở Việt Nam - Từ lý thuyết đến thực tiễn
Tác giả: Nguy ễn Văn Sửu
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2010
[72]. Khung phân tích sinh kế bền vững DFID (Báo cáo tóm tắt: Các nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững),http://www.livelihoods.org/info/guidance_sheets_rtfs/Sect2.rtf 73.Khung phân tích sinh kế bền vững IFAD, http://corenarm.org.vn/?pid=92&id=571 Link
[77]. Tạp chí cộng sản số 11 (179) năm 2009, Nguồn: http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/5159-Chinh-sach-den-bu-khi-thu-hoi-dat-cua-mot-so-nuoc-trong-khu-vuc-va-Viet-Nam#ixzz2G9C8PUxg Link
[80]. Thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên, http://phuyen.vietccr.vn/xem-tong-quan/thong-tin-kinh-te-xa-hoi-phu-yen-default.html Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w