1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh quảng ninh

107 8 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh
Tác giả Nguyễn Tiến Long
Người hướng dẫn PGS.TS Bùi Huy Khiên
Trường học Học viện Hành chính quốc gia
Chuyên ngành Chính sách công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 879,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chưa hoàn thiện, còn nhiều khiếm khuyết, làm giảm hiệu quả của việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch; nhân sự quản lý hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/……… .…/…

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN TIẾN LONG

THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DU LỊCH

TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2023

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/……… .…/…

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN TIẾN LONG

THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DU LỊCH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng cá nhân tôi Các số liệu, những kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2022

Tác giả

Nguyễn Tiến Long

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, trách nhiệm của PGS.TS Bùi Huy Khiên - Học viện Hành Chính quốc gia trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình giúp đỡ, giảng dạy, truyền thụ kiến thức

Trân trọng cảm ơn lãnh đạo và chuyên viên các các Sở, ban, ngành trong tỉnh Quảng Ninh, các cán bộ của Trường Đại học Hạ Long trong tỉnh Quảng Ninh đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Tác giả

Nguyễn Tiến Long

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DU LỊCH Ở TỈNH 10

1.1 Chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch 10

1.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch 18

1.3 Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch 22

1.4 Quy trình thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch 27

1.5 Kinh nghiệm thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch của một số địa phương và giá trị tham khảo cho tỉnh Quảng Ninh 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DU LỊCH TẠI TỈNH QUẢNG NINH 41

2.1 Khái quát chung về tỉnh Quảng Ninh và thực trạng nguồn nhân lực ngành du lịch của tỉnh 41

2.2 Phân tích thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh 48

2.3 Đánh giá chung về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh 58

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DU LỊCH CỦA TỈNH QUẢNG NINH 66

3.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh 66

3.2 Giải pháp tăng cường thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh 72

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 100

Trang 6

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo giai đoạn 2015-2020 44

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nhân lực theo trình độ đào tạo giai đoạn 2015-2020 45

Bảng 2.1: Nhân lực ngành du lịch,tỉnh Quảng Ninh 47

Bảng 3.1: Nhu cầu nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2021-2030 72

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Tỉnh Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng an ninh và đối ngoại Quảng Ninh là một trong 7 tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cùng với

Hà Nội, Hải Phòng được xem là một trong ba đầu tàu thúc đẩy kinh tế vùng Tỉnh là địa phương duy nhất trong cả nước vừa có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, là một trong những cửa ngõ hợp tác, giao lưu kinh

tế, thương mại giữa hai khu vực phát triển năng động giữa Đông Nam Á và Đông Bắc Á thông qua tuyến hành lang kinh tế Bắc - Nam của Việt Nam

Trong những năm gần đây, kinh tế Quảng Ninh liên tục tăng trưởng cao và ổn định Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 10,7%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIV đề ra, cao hơn so với bình quân chung của cả nước Chất lượng tăng trưởng được nâng lên; quy mô, tiềm lực của nền kinh tế cải thiện rõ rệt; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo chiều sâu, phát triển bền vững; dịch vụ, du lịch ngày càng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”

Những năm qua, tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cụ thể, tỉnh đã xây dựng và ban hành các nghị quyết, quyết định quy định một số chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng CBCC và thu hút nhân tài; chính sách thu hút lao động và phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển các KCN, KKT trong tỉnh; các chính sách riêng thu hút giảng viên cho Đại học Hạ Long mặc dù đã đạt được những kết quả cao trong việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành

du lịch song vẫn còn một số hạn chế Thực thi chính sách phất triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch trên địa bàn tỉnh còn thiếu chuyên nghiệp; cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật phục vụ cho lĩnh vực đầu tư cho lĩnh vực du lịch

Trang 9

chưa hoàn thiện, còn nhiều khiếm khuyết, làm giảm hiệu quả của việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch; nhân sự quản lý hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch còn yếu về kỹ năng ngoại ngữ, tin học, kỹ năng tổ chức, kỹ năng giao tiếp cũng như nền tảng lý luận khoa học, số lượng, chất lượng hướng dẫn viên chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường…

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025

đã định hướng đến năm 2030 “Xây dựng, phát triển Quảng Ninh là tỉnh kiểu mẫu giàu đẹp, văn minh, hiện đại; là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện, trung tâm du lịch quốc tế ”

Trong đó, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm du lịch quốc

tế, tỉnh đã và đang đẩy mạnh đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đồng thời thực hiện nhiều giải pháp đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch – coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để góp phần đưa ngành du lịch của tỉnh phát triển theo hướng chuyên nghiệp, đẳng cấp Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 09-6-2014 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng xác định mục tiêu: phát triển nguồn nhân lực, nhất

là nguồn nhân lực chất lượng cao là một khâu đột phá quyết định nhằm thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi phương thức phát triển

từ “nâu” sang “xanh”, trong đó nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ du lịch - ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, đóng vai trò vô cùng quan trọng Quảng Ninh cũng xác định ưu tiên xây dựng và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, chú trọng nhân lực trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi, nhân viên giỏi Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được Quảng Ninh xác định

là một trong ba khâu đột phá chiến lược Vì vậy, để đưa du lịch tỉnh phát triển bền vững trong xu thế hội nhập, công tác phát triển nguồn nhân lực du

Trang 10

lịch cần được các cấp, ngành, địa phương, doanh nghiệp tiếp tục quan tâm, đầu tư xứng tầm Qua đó góp phần thiết thực đưa ngành du lịch bứt phá mạnh mẽ, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của tỉnh trong lĩnh vực nhân lực ngành

du lịch, học viên chọn đề tài “Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân

lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn thạc sỹ

của mình Học viên mong muốn có những đóng góp nhất định để góp phần vào nâng cao chất lượng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về các chính sách của Nhà nước trong các lĩnh vực và đối với các đối tượng trong xã hội nói chung và chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được nhiều nhà khoa học quan tâm Nghiên cứu về chính sách công, quy trình hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách công có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:

- Nguyễn Hữu Hải (chủ biên): “Chính sách công”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2014 Cuốn sách trình bày những vấn đề chung về chính sách công, gồm 4 chương: những vấn đề chung về chính sách công; hoạch định chính sách công; thực thi chính sách công và đánh giá chính sách công

- Lê Như Thanh, Lê Văn Hoà: “Hoạch định và thực thi chính sách công”, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2017 Cuốn sách đã trình bày tổng quan về chính sách công (quan niệm, vai trò, phân loại, chu trình chính sách công); về hoạch định chính sách công (khái niệm, vai trò, chủ thể, yêu cầu, căn cứ, quy trình hoạch định chính sách công) và thực thi chính sách công (khái niệm, vai trò, chủ thể tham gia, yêu cầu, quy trình triển khai, điều kiện, những yếu tố ảnh hưởng và phương pháp thực thi chính sách

Trang 11

công, công cụ thực thi chính sách công, xây dựng và thực hiện chương trình,

dự án thực thi chính sách công)

Nghiên cứu về đề tài thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch nói riêng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó có thể

kể đến các công trình nghiên cứu sau:

- Nguyễn Văn Nam và Nguyễn Văn Áng năm 2007 đã xuất bản cuốn

sách chuyên khảo “Các giải pháp cơ bản gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực” Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực đối với phát

triển kinh tế - xã hội; phân tích thực trạng đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

- Tác giả Nguyễn Hữu Long (2010) trong giáo trình “Phát triển nguồn nhân lực” đã trình bày khái quát những vấn đề về phát triển nguồn nhân lực,

khái niệm, vị trí, vai trò của nguồn nhân lực, các loại hình giáo dục - đào tạo trong phát triển nguồn nhân lực Theo đó, nguồn nhân lực được hiểu là toàn

bộ những người trong độ tuổi của một nước, một vùng Cuốn sách nhấn mạnh, nội dung phát triển nguồn nhân lực bao gồm phát triển số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực

- Đoàn Xuân Thủy trong bài viết “Những vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”, đăng ở tạp chí Quản lý

nhà nước, số 65, năm 2013 Bài viết đã phân tích đặc điểm con người Việt Nam theo phương diện nguồn nhân lực và những vấn đề đặt ra đối với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta Tác giả đã phân tích thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nhận xét Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, tương đối trẻ nhưng tỷ lệ lao động được đào tạo kỹ thuật, chuyên môn

Trang 12

thấp, phân bố nguồn nhân lực không đồng đều giữa các vùng, cơ cấu lao động theo ngành ở mức rất lạc hậu so với các nước Từ đó, tác giả đã đề cập đến những vấn đề đặt ra đối với đào tạo nhân lực chất lượng cao ở nước ta

Có nhiều bộ, ngành, địa phương đã nghiên cứu đề tài liên quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở bộ, ngành, địa phương của mình

Đề tài khoa học “Giải pháp đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực Ngân hàng Việt Nam thời điểm đầu thế kỷ XXI" do TS Phạm Thanh Bình làm chủ nhiệm; đề tài khoa học “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực hệ thống Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Trần Hữu Thắng, năm 2003 Năm 2018, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp về chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao của Đà Nẵng” Các đề tài khoa học đã phân tích làm rõ nội hàm nguồn nhân lực chất

lượng cao trên giác độ quản trị nguồn nhân lực và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở bộ, ngành, địa phương

Ngoài các sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu khoa học, nhiều nhà khoa học đã viết các bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành Chúng ta có thể

kể đến các công trình nghiên cứu sau:

- Trần Khánh Đức, “Chính sách quốc gia về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Giáo dục và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, số tháng 5/2014

- Phạm Đức Tiến, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ, số 7/2009

- Bùi Huy Khiên, “Thu hút và trọng dụng nhân tài: xưa và nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia, số 189-11/2011

- Hoàng Anh Tuấn, Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm tăng tính cạnh tranh và phát triển bền vững của nền

Trang 13

kinh tế Việt Nam, Kỷ hiếu Hội thảo khoa học “Đào tạo nhân lực trong giai

đoạn hội nhập và phát triển kinh tế”, Hà Nội - 2013

- Lê Cẩm Hà, Võ Thanh Bình, “Chính sách thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao - từ góc độ quản lý nguồn nhân lực khu vực công”, Tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia, số 262-11/2017

Các công trình nghiên cứu khoa học và các luận văn, bài viết trên đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thời điểm nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, qua đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh Đây là nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích làm rõ các vấn đề lý luận về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, luận văn đề xuất quan điểm và các giải pháp tăng cường thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra những nhiệm

vụ nghiên cứu chính sau:

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch của tỉnh

- Phân tích thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

Trang 14

- Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch của tỉnh Quảng Ninh căn cứ trên Nghị quyết số 08-NQ-TW ngày 16/01/2017

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp đồng thời nhiều phương pháp nghiên cứu

để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu, trong đó tập trung vào một số phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp:

Tác giả luận văn nghiên cứu các văn bản quy phạm có liên quan đến đề tài nghiên cứu; tài liệu của các hội nghị, hội thảo chuyên đề; các bản báo cáo, kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học có liên quan đã được công bố

Trang 15

- Phương pháp phân tích - tổng hợp:

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích để lý giải tính cấp thiết và ý nghĩa mà đề tài nghiên cứu đặt ra trong thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh Luận văn phân tích thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, đánh giá thực trạng thực thi chính sách này làm cơ sở đề xuất giải pháp tăng cường thực thi chính sách

Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm lược nội dung sau mỗi nội dung phân tích Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát vấn đề, tóm lược nội dung của từng mục và tiểu kết các chương và kết luận

- Phương pháp thống kê:

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê trong chương 2 để thống kê

số liệu cụ thể về thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia:

Phỏng vấn bằng bảng hỏi về thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch của tỉnh Quảng Ninh

Học viên đã phỏng vấn bằng bảng hỏi với 25 phiếu được phát ra, thu về

22 phiếu cho đối tượng là chuyên gia, các nhà khoa học về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch; cán bộ, công chức Sở Du lịch; giảng viên Khoa Du lịch, Trường Đại học Hạ Long

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch trên địa bản tỉnh, khái niệm, đặc điểm nguồn nhân lực chất lượng cao, nội dung, quy trình, các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch

Trang 16

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn phân tích thực trạng thực thi thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh; đánh giá việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế

- Đề xuất giải pháp tăng cường thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho học viên và nhà quản lý về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch trên địa bàn tỉnh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch của tỉnh

Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh

Trang 17

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DU LỊCH Ở TỈNH

1.1 Chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

Trên thế giới, có hai thuật ngữ có liên quan thường được sử dụng là talent (nhân tài) và skilled worker (lao động có kỹ năng/trình độ) hay highly skilled worker (lao động có kỹ năng/trình độ cao) Talent (nhân tài) thường để chỉ những người có tài năng, năng khiếu bẩm sinh để làm một công việc nhất định Còn lao động có trình độ cao là để chỉ những người có những kỹ năng thực hiện công việc thông qua quá trình đào tạo, huấn luyện hoặc làm việc Thông thường, thuật ngữ “nhân tài” vẫn được sử dụng để chỉ những người có trình độ cao, có năng lực, uy tín trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định Ngoài ra, còn có các thuật ngữ có liên quan như thiên tài (người có tài năng, năng khiếu thiên phú đặc biệt, hơn hẳn người thường), hiền tài (người vừa có tài, vừa có đức) [22, tr.112]

Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế, các quốc gia phát triển như các nước Tây Âu, Úc, Canada, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Singapore… đều rất quan tâm đến việc thu hút nguồn nhân lực CLC ở trong nước cũng như từ nước ngoài

Trong các chính sách về quản lý di cư hoặc nhập tịch của những nước này đều có những quy định nhằm thu hút và tạo điều kiện thuận lợi cho việc

cư trú hoặc nhập tịch đối với lao động có trình độ cao (skilled worker/highly skilled worker) Nhiều nước đã đề ra các chính sách để thu hút nguồn nhân lực cao từ nước ngoài, như tạo điều kiện thuận lợi thành lập doanh nghiệp, cho phép có hai quốc tịch, ưu đãi thuế…

Trang 18

Tùy vào chính sách nhập cư của từng nước và cách tiếp cận khác nhau

mà các quốc gia đề ra tiêu chuẩn khác nhau để phân biệt lao động có trình độ

và lao động không có trình độ Hơn nữa, định nghĩa lao động có trình độ còn thay đổi theo thời gian để phù hợp với cấu trúc nền kinh tế và cấu trúc thị trường lao động Lao động có trình độ cao thường được gọi là “chuyên gia” (professional) hoặc “lao động có trình độ cao” (highly skilled worker) nhưng tùy từng hoàn cảnh mà có nghĩa khác nhau

Có hai cách tiếp cận định nghĩa lao động có trình độ, phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và nguồn dữ liệu phân tích Cách thứ nhất cho rằng, lao động có trình độ là người có trình độ đào tạo ít nhất là ở bậc đại học, cao đẳng Đây là cách tiếp cận tạo thuận lợi cho công tác thống kê số liệu, vì thế thường được sử dụng khá rộng rãi Cùng cách tiếp cận này, lao động có trình độ cao (highly skilled worker) được xác định là người đã qua đào tạo sau đại học hoặc có bằng tiến sĩ Chẳng hạn, Tổ chức Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ là tổ chức thu thập đầy

đủ nhất bộ thông tin về các nhà khoa học và kỹ sư quốc tế và bộ thông tin này chỉ tập trung thông tin về những nhà khoa học/kỹ sư có bằng tiến sĩ trở lên

Cách tiếp cận thứ hai dựa trên đặc điểm nghề nghiệp của người lao động Theo đó, nguồn nhân lực trình độ cao là những người làm việc trong ngành y tế (bác sĩ, y tá đã đăng ký hành nghề, kỹ thuật viên y tế) hoặc công nghệ cao (toán, máy tính, khoa học tự nhiên, kỹ sư kỹ thuật công nghệ, ) Cách tiếp cận này có nhược điểm là rất nhiều trường hợp làm trong lĩnh vực này nhưng lại chưa qua đào tạo

Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Cộng đồng chung châu Âu (EU) thì lại đưa ra định nghĩa: “Nguồn nhân lực có trình

độ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ phải thỏa mãn 01 trong 02 tiêu chí: có trình độ đại học hoặc đã từng làm việc trong lĩnh vực khoa học - công nghệ ở

vị trí của người phải tốt nghiệp đại học” Trong khi đó, tại cuộc hội thảo

Trang 19

“Dòng chuyển dịch quốc tế của nguồn nhân lực trình độ cao: Từ phân tích số liệu thống kê đến xây dựng chính sách” do các nước OECD tổ chức vào tháng 6/2001 tại Pari lại xác định nguồn nhân lực trình độ cao là những người đã được đào tạo sau đại học, nhà nghiên cứu, chuyên gia công nghệ thông tin, y dược, các nhà quản trị doanh nghiệp [4, tr.152]

Cũng có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao phải đáp ứng cả hai tiêu chí trên Chẳng hạn, pháp luật về nhập cảnh theo visa H-1B của Mỹ quy định người lao động nước ngoài muốn xin visa loại này phải có kiến thức trong các lĩnh vực như kiến trúc sư, kỹ sư, toán, lý, khoa học xã hội, công nghệ sinh học, y dược, giáo dục, luật, kế toán, kinh doanh, thần học, nghệ thuật và ít nhất phải có bằng cử nhân (trừ người mẫu) Riêng đối với người đang ở Mỹ thì phải có bằng thạc sĩ trở lên do các cơ sở đào tạo ở Mỹ cấp Tiêu chuẩn cấp thẻ xanh của EU cũng quy định người có “trình độ cao”

là người có bằng đại học và 3 năm kinh nghiệm làm việc liên quan

Nhìn chung, trên thế giới, tùy cách tiếp cận, mục tiêu nghiên cứu hoặc mục tiêu hoạch định chính sách mà khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao được định nghĩa khác nhau Nhưng có thể rút ra một điểm chung nhất của các cách tiếp cận trên là họ phải được đào tạo ở một bậc học nhất định (đại học trở lên hoặc cao học, nghiên cứu sinh trở lên) và trong một số lĩnh vực nghề nghiệp nhất định

Ở Việt Nam, các thuật ngữ “nguồn nhân lực trình độ cao” và “nguồn nhân lực chất lượng cao” cũng được sử dụng khá phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng Chúng ta cũng chưa có một định nghĩa chính thức cho những thuật ngữ này Có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của thị trường, tức là có kiến thức; có kỹ năng; có thái

độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc [7] Như vậy, bất kỳ người lao động nào (công nhân, kỹ thuật viên, kỹ sư, bác sĩ, giáo sư hay tiến sĩ) được

Trang 20

sử dụng đúng ngành nghề đào tạo, đáp ứng yêu cầu tốt nhất công việc của cơ quan, doanh nghiệp cũng đều là nguồn nhân lực chất lượng cao Vì thế, để xác định một người có phải là “nhân lực chất lượng cao” hay không phải thông qua việc đánh giá quá trình và kết quả làm việc của họ

Với cách tiếp cận hình thức, có tác giả sử dụng khái niệm “nguồn nhân lực trình độ cao” để chỉ những người đã đạt được một trình độ đào tạo nhất định thuộc hệ thống giáo dục đại học, nắm vững chuyên môn nghề nghiệp, có khả năng làm việc độc lập, tổ chức triển khai những công trình quan trọng với phương pháp khoa học, công nghệ tiên tiến Cách tiếp cận này cũng khá tương đồng với cách tiếp cận khái niệm lao động có kỹ năng cao trên thế giới, tức là cùng dựa vào tiêu chí trình độ đào tạo để xác định nguồn nhân lực trình độ cao

Thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam lần đầu tiên được sử dụng tại văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Văn kiện Đại hội xác định: “Nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là

bộ phận ưu tú nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có sức khỏe tốt; luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn”

Trên cơ sở khái niệm chung về nguồn nhân lực chất lượng cao, chúng

ta có thể nêu quan niệm về nguồn nhân lực CLC ngành du lịch như sau: nguồn nhân lực CLC ngành du lịch là một bộ phận của nguồn nhân lực ngành

du lịch, bao gồm những người làm chuyên môn trong các sở, ngành, các cơ quan nhà nước; người quản lý các tour du lịch, nhà hàng, khách sạn… có khả năng đáp ứng được yêu cầu cơ bản của nguồn nhân lực, có khả năng trở thành chuyên gia trong lĩnh vực công tác, công việc được giao

Trang 21

1.1.2 Tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao

Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao, vì vậy có rất nhiều cách xác định khác nhau đối với nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể xác định bởi các tiêu chí sau:

Một là, có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách

xuất sắc nhất và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội, của nghề nghiệp và nơi họ làm việc; không phải ở dạng tiềm năng, không phụ thuộc nhiều vào bằng cấp, học vị Khía cạnh này đề cập nhiều đến “tài” và

“tầm” của nhân lực chất lượng cao

Hai là, có phẩm chất đạo đức, ý chí, khát vọng phục vụ lợi ích chung

Những phẩm chất nhân cách của con người mới là yếu tố cơ bản bảo đảm chất lượng nhân lực Sự phát triển nhân lực chất lượng cao tùy thuộc vào trình độ phát triển nhân cách với những bộ phận hợp thành cấu trúc nhân lực

Ba là, có trí tuệ, tư duy độc lập, khả năng đổi mới sáng tạo và hợp tác

làm việc

Bốn là, có năng lực nghề nghiệp vượt trội, tiêu biểu trong các lĩnh vực

làm việc (có tay nghề cao, …)

Nhân lực du lịch chất lượng cao có thể chia thành ba nhóm với những đặc điểm, vai trò khác nhau:

1) Nhóm nhân lực quản lý nhà nước về du lịch, với vai trò quan trọng trong xây dựng chiến lược phát triển du lịch quốc gia và địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch, hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch có hiệu quả; kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh du lịch

2) Nhóm nhân lực sự nghiệp ngành Du lịch, là bộ phận có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về du lịch, có chức năng đào tạo,

Trang 22

nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong phát triển nguồn nhân lực

3) Nhóm nhân lực kinh doanh du lịch là nhóm nhân lực chiếm số lượng đông đảo nhất trong hoạt động du lịch Nhân lực du lịch chất lượng cao trong kinh doanh có một số đặc điểm riêng là: Cơ cấu độ tuổi trẻ, tỷ lệ nữ cao hơn

so với nam trong ngành dịch vụ; Không đồng đều về chất lượng và cơ cấu; Ở những bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, nhân lực chất lượng cao thường được trang bị đầy đủ các kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, giao tiếp

và tỷ lệ thông thạo ngoại ngữ tương đối cao; Có sự biến động mạnh về số lượng theo thời gian trong năm

1.1.3 Nội dung chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Một là, phát triển số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ, về mặt số lượng thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi Theo đó, nguồn nhân lực được gọi là đông về số lượng khi quy mô dân số lớn, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao Về mặt số lượng, nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi quy mô dân số tại thời điểm gốc và chính sách phát triển dân số của các quốc gia và vùng lãnh thổ Đối với mỗi ngành, tổ chức, cơ quan, đơn vị, về mặt số lượng nguồn nhân lực bao gồm tất cả những cán bộ, người lao động làm việc trong ngành, tổ chức, cơ quan, đơn vị đó

Phát triển số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao là phát triển về quy

mô tổng số nhân lực chất lượng cao và số lượng các loại hình nhân lực của một tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức, một địa phương hay một ngành Phát triển số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó đảm bảo khả năng hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của một tổ chức, một địa phương

Trang 23

Hai là, phát triển cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao

Cơ cấu nguồn nhân lực là một khái niệm kinh tế phản ánh thành phần, tỷ lệ, vị trí của các bộ phận nhân lực hợp thành và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy trong tổng thể nguồn nhân lực của tổ chức Cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định theo yêu cầu của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội mà địa phương, tổ chức đã xây dựng Nói cách khác phải xuất phát từ mục tiêu của tổ chức, từ yêu cầu công việc phải hoàn thành, từ yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, từ quy trình công nghệ mà chuẩn bị cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao cho phù hợp Từ đó vừa đạt được hiệu quả, mục tiêu trong kinh doanh, vừa sử dụng có hiệu quả từng thành viên của tổ chức, vừa kích thích được tính tích cực lao động của các thành viên đó Điều này cũng có nghĩa là, khi chiến lược, mục tiêu, điều kiện kinh doanh của địa phương, tổ chức thay đổi, thì cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao phải thay đổi tương ứng [7]

Nói cách khác, để xác định cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải căn cứ vào: các loại nhiệm vụ và quy mô từng loại nhiệm vụ của tổ chức; mức độ hoàn thành công việc của người lao động; các điều kiện về vật chất để

hỗ trợ cho người lao động làm việc Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của mỗi địa phương phải lựa chọn cơ cấu hợp lý, phù hợp với cơ cấu kinh tế

và trình độ phát triển kinh tế xã hội ở từng giai đoạn

Tiêu chí đánh giá bao gồm: cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao theo trình độ chuyên môn; cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao theo ngành nghề;

cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao theo độ tuổi, giới tính; cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao theo vùng

Ba là, phát triển kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của nguồn nhân lực

Kiến thức là những hiểu biết chung và những hiểu biết chuyên ngành

về một lĩnh vực cụ thể của người lao động Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ

Trang 24

là kiến thức tổng hợp, kiến thức chuyên môn, kiến thức đặc thù cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh vá các hoạt động khác, là phát triển, nâng cao kiến thức về kỹ thuật, kinh tế, xã hội

Trong điều kiện hiện nay, sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ yêu cầu người lao động phải có trình độ học vấn cơ bản, trình độ chuyên môn

kỹ thuật và kỹ năng lao động tốt, để có khả năng tiếp thu và áp dụng công nghệ mới Người lao động làm việc một cách chủ động, linh hoạt và sáng tạo,

sử dụng được các công cụ, phương tiện lao động hiện đại, tiên tiến

Do vậy, phát triển kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ là nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ thuật cho người lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động sản xuất

Tiêu chí đánh giá: số lượng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động đã đạt được; tỷ lệ của trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong tổng số người lao động; số lượng nhân lực được đào tạo các trình độ hàng năm

Bốn là, phát triển kỹ năng và hoàn thiện những phẩm chất khác của nguồn nhân lực

Thực chất đây là phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng, tức là sự phát triển trên ba mặt: kỹ năng, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động Phát triển nhân cách, thẩm mỹ là phát triển yếu tố văn hóa, tinh thần

và quan điểm sống như: tính tích cực, dám nghĩ, dám làm, đạo đức, tác phong, lối sống trong mỗi người lao động Đó là quá trình nâng cao trình độ nhận thức các giá trị cuộc sống, tinh thần trách nhiệm, khả năng hòa hợp cộng đồng, đấu tranh với các tệ nạn xã hội để xây dựng lối sống lành mạnh

và hình thành tác phong lao động công nghiệp Thực chất là quá trình phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ

Trang 25

đang phát triển, quá trình này chịu ảnh hưởng của các nhân tố: văn hóa và phong cách của người sản xuất nhỏ tiểu nông, hệ quả còn sót lại của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đặc biệt là mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập

1.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

1.2.1 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Hiện nay, trên thế giới có nhiều quốc gia hiểu rõ vai trò của nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển đất nước

Vì vậy, giáo dục - đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu Mỗi quốc gia đều thấy được vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao và đây được coi là bí quyết của thành công và là chìa khóa của sự phát triển

Nguồn nhân lực chất lượng cao luôn được xác định là yếu tố có vai trò quyết định đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, đơn vị Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện ở một số nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, trong quá trình CNH, HĐH đất nước và quá trình hội nhập

quốc tế, nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò rất quan trọng, quyết định

sự phát triển kinh tế - xã hội

Con người luôn được coi là mục tiêu và động lực của sự phát triển Xuất phát tư nhu cầu thực tiễn, qua các thời kỳ đại hội Đảng ta luôn khẳng định vai trò quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực Tại Ðại hội XI của Ðảng, Ðảng ta đã xác định hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là

Trang 26

nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi

mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Đây chính là bước ngoặt quan trọng nhằm nâng cao sức mạnh nội sinh từ tri thức, trí tuệ của con người Việt Nam nhằm đáp ứng với yêu cầu của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế

Cần nhận thức rõ vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Trước tình hình đó, đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao trong các cơ quan nhà nước

Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiệu quả

sẽ tạo điều kiện để nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc và cống hiến Đây

là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đáp ứng với

sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tận dụng mọi thời

cơ và cơ hội ứng dụng khoa học kỹ thuật vào giải quyết hiệu quả công việc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng giúp các

bộ, ngành, địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình mở cửa hội nhập Trong tiến trình mở cửa hội nhập quốc tế như hiện nay, mỗi bô, ngành, địa phương muốn thực hiện thành công mục tiêu hiện đại hóa để phát triển kinh tế - xã hội của mình cần phải tính đến nhiều yếu tố như: nhân lực, khoa học, công nghệ, trong đó yếu tố con người phải được ưu tiên số một Thực tế đã cho thấy, vai trò động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội luôn thuộc về con người Chính con người với sức lực và trí tuệ của mình mới là nhân tố quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác của mỗi bộ, ngành, địa phương Do đó, đối với mỗi bộ,

Trang 27

ngành, địa phương, nếu có nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ có ưu thế trong

sự cạnh tranh và phát triển, tạo nền tảng giúp cho bộ, ngành, địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập

Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng để rút ngắn

khoảng cách phát triển, đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra rất mạnh mẽ, bên cạnh những cơ hội thì đó cũng là thách thức rất lớn của các quốc gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khiến nhiều công đoạn sản xuất sẽ được thay thế bằng máy móc, sẽ là mối đe dọa với lực lượng lao động trình độ thấp

Đây là một trong những thách thức lớn nhất khi đối diện với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, một số ngành mới sẽ ra đời nhưng đồng thời một số ngành cũ sẽ biến mất nên đòi hỏi người lao động phải có các kỹ năng mới Những quốc gia dựa vào nguồn nhân lực lao động chất lượng thấp sẽ phải đối diện nhiều thách thức Điều này gây khó khăn, cản trở cho việc tiếp cận ứng dụng, trình độ khoa học công nghệ khi tham gia hội nhập

Như vậy, vấn đề quan trọng là cần phải xây dựng chính sách và thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu mở cửa hội nhập và cuộc cách mạng lần thứ tư để không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Đây cũng là cách thức hữu hiệu để có thể rút ngắn khoảng cách phát triển và tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam

1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển ngành du lịch

Nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch có vai trò rất quan trọng trong thu hút khách du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch là yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Trang 28

Hoạt động du lịch của địa phương có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của nguồn nhân lực của ngành Để nâng cao hiệu quả hoạt động và của ngành du lịch thì việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là biện pháp quan trọng để đáp ứng tốt nhu cầu, tránh tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao Do vậy, thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch là rất quan trọng nhằm phát hiện, tuyển dụng, thu hút người có phẩm chất đạo đức, có trình độ, chuyên môn kỹ thuật,

kỹ năng nghề nghiệp vào làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước

Trong bối cảnh thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế và mở cửa hội nhập quốc tế, vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch càng trở nên quan trọng, bởi các lý do sau đây:

Một là, nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng có vai trò rất quan

trọng trong quản lý và tổ chức công việc của các cơ quan, đơn vị du lịch ở địa phương Nguồn nhân lực chất lượng cao thực hiện sứ mệnh của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, thực hiện các quy định của pháp luật về du lịch Nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch cũng có vai trò chính trong việc tham mưu đề xuất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng của các sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch; quảng bá hình ảnh của đất nước đến tất cả các quốc gia

Hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch trực tiếp thực hiện

chức năng quản lý hành chính nhà nước về du lịch, mang lại nhiều lợi ích cho địa phương, xã hội và đất nước Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch không chỉ thể hiện ở việc tham mưu cho các cơ quan nhà nước nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch mà còn trực tiếp thực hiện kiểm tra việc thực hiện, phát hiện các sai phạm của ngành để các cấp quản lý điều chỉnh, sửa đổi, khắc phục những hạn chế, bất cập trong ngành

Trang 29

1.3 Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành

Giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách công” của Học viện hành chính, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, năm 2013 định nghĩa: “Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng”

Nói cách khác, thực thi chính sách là một quá trình biến các ý tưởng, mục tiêu chính sách thành các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể Những hành động được biến đổi từ chính sách nhằm đạt được sự cải thiện xã hội và thường được thể hiện phổ biến nhất dưới dạng các chương trình, thủ tục, quy định và các hành động cụ thể để đạt được mục tiêu chính sách

Như vậy, thực thi chính sách không đơn giản chỉ là sự tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách mà còn bao gồm: (1) ban hành các văn bản quy định chi tiết, quy định các biện pháp, các thủ tục thực thi chính sách và thi hành các văn bản đó; (2) thiết lập các chương trình, dự án để thực thi chính sách và

tổ chức thực hiện các chương trình, dự án đó

Tóm lại, thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch

là quá trình đưa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

Trang 30

Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch là một giai đoạn trong chu trình chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách, có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch, đưa chính sách vào đời sống

Ở tỉnh Quảng Ninh, chủ thể ban hành chính sách phát triển chất lượng cao ngành du lịch là trung ương cụ thể là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Ban Chấp hành Trung ương, tỉnh Quảng Ninh triển khai, thực hiện nghị quyết

1.3.2 Các yếu tố tác động đến thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

Trong quá trình thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân vì thế kết quả tổ chức thực thi chính sách cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan

Các yếu tố khách quan là các yếu tố xuất hiện và tác động đến việc tổ chức thực thi chính sách từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản lý Các yếu tố này vận động theo quy luật khách quan nên các nhà quản lý thường không quan tâm nhưng chúng lại tác động mạnh đến quá trình thực thi chính sách Các yếu tố chủ quan là các yếu tố bên trong thuộc về các cơ quan nhà nước

và đội ngũ cán bộ, công chức chi phối đến quá trình thực hiện chính sách

1.3.2.1 Môi trường thực thi chính sách

Môi trường thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành

Trang 31

du lịch là các yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và quốc tế Các hoạt động này diễn ra theo quy luật trong những điều kiện cụ thể nên nó độc lập với quá trình thực thi chính sách Theo nghĩa rộng, môi trường thực thi chính sách chứa đựng toàn bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực thi chính sách, như các nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội; các điều kiện vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế; bầu không khí chính trị; trật tự xã hội; quan hệ quốc tế Một xã hội ổn định, ít biến động về chính trị sẽ đưa đến

sự ổn định về hệ thống chính sách cũng góp phần thuận lợi cho thực thi chính sách Nếu các bộ phận cấu thành môi trường vận động phù hợp vối trình độ tổ chức, điều hành của cơ quan nhà nước, phù hợp với cơ chế, chính sách đang tồn tại sẽ có tác dụng thúc đẩy các hoạt động tổ chức thực thi chính sách Ngược lại, các yếu tố này sẽ kìm hãm, ngăn trở các hoạt động này, dẫn đến việc thực thi chính sách công kém hiệu quả

1.3.2.2 Việc tuân thủ các bước trong thực thi chính sách

Quy trình thực thi chính sách được coi là những nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống Việc tuân thủ quy trình cũng là một nguyên tắc hành động của các nhà quản lý Mỗi bước trong quy trình đều có

vị trí, ý nghĩa to lớn đối với quá trình thực thi chính sách Ví như, trước khi thực thi chính sách, chính sách phải được phổ biến rộng rãi đến mọi đối tượng

và toàn dân để họ nhận thức đầy đủ ý nghĩa, mục tiêu chính sách, đồng thời cũng thấy được ích lợi mang lại từ chính sách, qua đó củng cố lòng tin của nhân dân vào chính sách của nhà nước Sau khi làm rõ lợi ích của chính sách đối với đời sống xã hội, các cơ quan nhà nước tiếp tục vận động các đối tượng tích cực thực thi chính sách Kết hợp các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách với vận động thực thi sẽ giúp cho các đối tượng chính sách nêu

cao tinh thần tự giác trong quá trình thực thi chính sách

Trang 32

1.3.2.3 Các yếu tố thuộc về các chủ thể tổ chức thực thi chính sách

- Mục tiêu của cơ quan, tổ chức nhà nước: Mỗi cơ quan, tổ chức đều có

mục tiêu cần hướng tới Mục tiêu này phải cụ thể, rõ ràng để thúc đẩy cán bộ, công chức làm việc tốt hơn đạt được mục tiêu của cơ quan, tổ chức

- Chính sách quản lý nhân sự của cơ quan, tổ chức nhà nước: Chính

sách quản lý nhân sự là các chính sách do lãnh đạo cơ quan, tổ chức nhà nước

đề ra, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế của cơ quan, tổ chức, như vấn đề lương, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… Các chính sách này hướng vào việc đạt được mục tiêu của cơ quan, tổ chức nhà nước Hệ thống chính sách này góp phần quan trọng khuyến khích cán

bộ, công chức thực thi chính sách Vì vậy, các chính sách nhân sự phải khoa học, công khai, minh bạch, công bằng

- Phong cách lãnh đạo của người lãnh đạo, quản lý: Với bất cứ cơ quan,

tổ chức nhà nước nào, mục tiêu chiến lược, chính sách thực thi chính sách bị ảnh hưởng rất lớn bởi phong cách lãnh đạo của người lãnh đạo, quản lý Mỗi phong cách lãnh đạo có ưu điểm và hạn chế, vì vậy cần áp dụng các phong cách lãnh đạo khoa học, phù hợp với đối tượng quản lý, phù hợp với tính chất công việc và hoàn cảnh thực tế

- Nguồn tài chính và cơ sở vật chất phục vụ việc thực thi chính sách:

Để thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch có kết quả, trước hết phải có đủ nguồn tài chính và điều kiện cơ sở vật chất Khi nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất đảm bảo thì việc triển khai thực thi chính sách sẽ có hiệu quả Ngược lại, nếu nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất hạn hẹp thì việc thực thi chính sách sẽ gặp nhiều khó khăn, không có điều kiện thực hiện các cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch

Trang 33

1.3.2.4 Năng lực thực hiện chính sách của cán bộ, công chức các cơ quan nhà nước

Chất lượng, hiệu quả thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch phụ thuộc nhiều vào năng lực thực thi chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức Nếu cán bộ, công chức thực thi chính sách có trình

độ năng lực, có các kiến thức, kỹ năng triển khai thực hiện chính sách sẽ nhanh chóng đưa chính sách vào trong thực tiễn, chính sách được thực hiện hiệu quả

Năng lực thực thi chính sách của cán bộ, công chức bao gồm ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng và thái độ của cán bộ, công chức Cụ thể các yếu tố đó được thể hiện trong đạo đức công vụ, năng lực thiết kế tổ chức, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó với những tình huống phát sinh trong quá trình thực thi chính sách Cán bộ, công chức khi được giao nhiệm vụ tổ chức thực thi chính sách phải có năng lực, có tinh thần trách nhiệm và nghiêm chỉnh thực hiện kỷ luật công vụ Tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật giúp cán bộ, công chức phát huy được năng lực của bản thân Khi cán bộ, công chức có năng lực sẽ chủ động triển khai công việc, điều phối các yếu tố chủ quan, khắc phục các ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố khách quan để việc thực thi chính sách đạt được mục tiêu

Năng lực của cán bộ, công chức trong thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch bao gồm: năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách; năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách; năng lực duy trì chính sách; năng lực điều chỉnh chính sách; năng lực theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực thi chính sách; năng lực đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực thi chính sách

Trang 34

1.4 Quy trình thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

1.4.1 Xây dựng kế hoạch thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

Chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch bao gồm những nội dung chính sau: phát triển số lượng, cơ cấu nguồn nhân lực CLC; phát triển kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của nguồn nhân lực CLC; phát triển kỹ năng và hoàn thiện những phẩm chất khác của nguồn nhân lực CLC

Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập

kế hoạch, lên chương trình để các cơ quan, tổ chức triển khai thực hiện một cách chủ động

Kế hoạch triển khai thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực thi chính sách đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện chính sách Kế hoạch triển khai thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch bao gồm những nội dung chính sau đây:

Một là, lập kế hoạch tổ chức, điều hành thực thi chính sách

Kế hoạch này bao gồm những dự kiến về các chủ thể, cơ quan chủ trì

và phối hợp triển khai thực thi chính sách; số lượng, chất lượng nguồn nhân lực CLC cần phát triển; xác định chế độ trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực hiện chính sách; cơ chế phối hợp giữa các cấp, các tổ chức trong thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch

Hai là, xây dựng kế hoạch dự kiến các nguồn lực

Kế hoạch này bao gồm dự kiến về con người làm việc cho tổ chức thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch; các nguồn lực tài

Trang 35

chính, các cơ sở vật chất, máy móc, xe cộ, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, vật tư, văn phòng phẩm…

Ba là, xây dựng kế hoạch thời gian triển khai thực hiện

Là dự kiến về thời gian triển khai thực thi chính sách; dự kiến các bước

tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện các mục tiêu Có thể dự kiến mỗi bước cho phù hợp với quá trình thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch

Bốn là, xây dựng kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách

Kế hoạch này bao gồm những dự kiến về hình thức, phương thức kiểm tra, giám sát tổ chức thực thi chính sách; dự kiến những nội quy, quy chế về

tổ chức, điều hành việc thực thi chính sách; dự kiến chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

Sau khi bản kế hoạch thực thi chính sách được thông qua, các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là phổ biến, truyên truyền chính sách đến các cá nhân, tổ chức Đây là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách giúp cho các đối tượng tham gia thực thi chính sách hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách, qua đó để họ tự giác thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi

Trang 36

chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi chính sách có hiệu quả

Phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch cần được thực hiện nghiêm túc và phải đầu tư đầy đủ các trang thiết bị kỹ thuật, nguồn lực con người phù hợp Trong thực tế có không ít cơ quan, địa phương do thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đã làm cho chính sách bị biến dạng, làm cho cán bộ, công chức và người dân hiểu không đầy

đủ, hiểu sai về chính sách

Phổ biến, tuyên truyền thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thực thi để mọi đối tượng hiểu được chính sách, tạo sự đồng thuận và tích cực thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, truyền hình, pano, áp phích, v.v…

1.4.3 Phân công, phối hợp thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

Bước tiếp theo là phân công, phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch được thực thi trên địa bàn tỉnh, vì thế số lượng các đối tượng thực thi chính sách là khá rộng Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng chịu sự tác động của chính sách và bộ máy tổ chức thực thi chính sách trên địa bàn tỉnh Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương tham gia vào quá trình thực thi chính sách Hoạt động phân công, phối hợp thực hiện chính sách phải thực

Trang 37

hiện chủ động, sáng tạo để chính sách luôn được duy trì ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách

1.4.4 Điều hành, kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

Để chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch thực hiện đạt hiệu quả, các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh phải điều hành, kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách Điều hành, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên giúp cho các cơ quan nhà quản lý nắm bắt được tình hình thực thi chính sách,

từ đó đánh giá khách quan về những ưu điểm, hạn chế trong thực thi chính sách; giúp phát hiện những thiếu sót trong quá trình thực thi để điều chỉnh; tạo

ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu chính sách; kịp thời khuyến khích những yếu tố tích cực để tạo ra phong trào thi đua cho thực hiện mục tiêu chính sách

Điều hành, kiểm tra, đôn đốc còn giúp cho các đối tượng thực thi chính sách biết được những hạn chế của mình để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện; giúp họ nhận thức đúng được vị trí của mình để họ yên tâm thực hiện công việc được giao Điều hành, kiểm tra, theo dõi tình hình tổ chức thực thi chính sách để kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách, chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách

1.4.5 Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch

Tổ chức thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch phải được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình đó các cơ quan chức năng có thể tổng kết, đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ việc thực thi sau khi kết thúc chính sách Tổng kết, đánh giá là quá trình xem xét, kết luận

Trang 38

về sự chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách

Đối tượng được tổng kết, đánh giá chính sách là các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách

Cơ sở để tổng kết, đánh giá việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế đã được xây dựng

Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước của tỉnh cũng cần xem xét, đánh giá việc thực thi chính sách của các đối tượng tham gia thực thi chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trục tiếp và gián tiếp từ chính sách

Thông qua kết quả tổng kết, đánh giá thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực CLC ngành du lịch, chủ thể thực thi chính sách nhìn rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm để điều chỉnh, hoàn thiện chính sách

1.5 Kinh nghiệm thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch của một số địa phương và giá trị tham khảo cho tỉnh Quảng Ninh

1.5.1 Kinh nghiệm thực thi chính sách của một số địa phương

1.5.1.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh luôn dẫn đầu cả nước về chính sách thu hút nhân tài, thu hút lực lượng lao động có trình độ cao phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Thực tế, do có chính sách hấp dẫn hơn các địa phương khác nên Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được đông

Trang 39

đảo những người có trình độ cao, các chuyên gia, các nhà khoa học, từ các địa phương khác ở trong Nam, ngoài Bắc về làm việc

Song, các chính sách đó đã dần giảm sự hấp dẫn do khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các địa phương khác cũng đã có chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao hấp dẫn hơn Nên đội ngũ này đã bị khu vực

có vốn đầu tư nước ngoài và các tỉnh bạn thu hút

Trước tình hình trên, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quy định về một số chính sách đối với người có trình độ cao, chuyên gia giỏi làm việc trên địa bàn Chẳng hạn như tuyển dụng, bố trí, sử dụng nhân lực không phân biệt quốc tịch, tôn giáo, hộ khẩu; trả lương đúng với tài năng và trình độ, được ưu tiên đề bạt vào những chức vụ quan trọng trong các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp từ cấp trưởng phòng, ban trở lên; Người chưa có nhà ở được ưu tiên giải quyết mua nhà ở khu chung cư và có chính sách miễn, giảm; những người ở xa thành phố được bố trí nơi ở không phải trả tiền thuê; bố trí phương tiện đi lại thuận tiện; được chọn trường cho con đi học; những người phải nuôi dưỡng cha mẹ già yếu được trợ cấp hàng tháng, Với chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” như trên, Thành phố

Hồ Chí Minh đang thể hiện quyết tâm đẩy mạnh CNH,HĐH để trở thành một trung tâm mạnh về nhiều mặt của cả nước, chắc chắn sẽ thu hút được đông đảo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố, trong đó có nguồn nhân lực CLC ngành du lịch

1.5.1.2 Kinh nghiệm của Thành phố Hà Nội

Hà Nội là địa phương có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo lớn nhất cả nước Số người có trình độ chyên môn của Hà Nội cũng chiếm tỷ lệ lớn nhất so với cả nước Đặc biệt người có trình độ trên đại học chiếm tới 40% của cả nước (cao hơn nhiều so với Thành phố Hồ Chí Minh) Trong tổng số cán bộ giảng dạy đại học cao đẳng có trình độ trên đại học của cả nước thì

Trang 40

Hà Nội chiếm tới 65,7% Hà Nội không thiếu nhân tài là giáo sư, phó giáo

sư, tiến sĩ, thạc sỹ, các nhà khoa học - công nghệ, các nhà quản lý, các chuyên gia giỏi

Trong những năm qua, Sở Du lịch tổ chức rà soát lại lực lượng lao động trong lĩnh vực du lịch bị biến động do ảnh hưởng của dịch COVID-19 để xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng lại lực lượng lao động, chuẩn bị cho việc mở cửa hoạt động đón du khách Cơ quan này cũng phối hợp với các cơ

sở đào tạo chuyên ngành tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng du lịch cộng đồng, nghiệp vụ du lịch cho các cơ sở kinh doanh lưu trú, dịch vụ ăn uống, mua sắm đạt tiêu chuẩn phục vụ du khách trên địa bàn thành phố Trong đó, các lớp tập huấn du lịch cộng đồng sẽ đẩy mạnh triển khai nhằm nâng cao chất lượng, thái

độ phục vụ du khách của đối tượng là người địa phương làm dịch vụ du lịch tại các điểm du lịch, tham quan, các làng nghề, phố nghề Sở cũng thúc đẩy hoạt động của các sàn giao dịch việc làm, tạo điều kiện để các đơn vị, doanh nghiệp

du lịch tiếp cận nguồn nhân lực du lịch

Định hướng chiến lược phát triển theo hướng bền vững với thế “kiềng 3 chân”: lữ hành; phát triển, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và du lịch cộng đồng gắn với tiêu thụ sản phẩm OCOP, ngày 22/1/2022 Công ty cổ phần Đầu tư Du lịch Hà Nội- Hanoi Tourism đã chính thức ra mắt Trung tâm phát triển nguồn nhân lực Du lịch (THD centre)

Tuy nhiên, Thành phố Hà Nội vẫn chưa có cơ chế chính sách đãi ngộ một cách hợp lý nguồn nhân lực CLC, trong đó có nguồn nhân lực CLC ngành du lịch Theo thống kê của Sở Nội vụ Hà Nội, trong 10 năm qua đã

có 1.080 thủ khoa được vinh danh, nhưng mới có 107 thủ khoa về làm việc cho các cơ quan của Thành phố, chỉ chiếm chưa tới 10% Có thủ khoa rất chật vật khi đi xin việc làm và cũng có không ít thủ khoa sau một thời gian

Ngày đăng: 30/08/2023, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Trần Khánh Đức, “Chính sách quốc gia về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Giáo dục và Đào tạo, số tháng 5/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách quốc gia về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”
6. Phạm Xuân Đương, “Cải cách nền hành chính và phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia, số 226/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cải cách nền hành chính và phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam”
7. Lê Cẩm Hà, Võ Thanh Bình, “Chính sách thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao từ góc độ quản lý nguồn nhân lực khu vực công”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 262, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao từ góc độ quản lý nguồn nhân lực khu vực công”
8. Nguyễn Thị Minh Hà, “Chủ động hợp tác quốc tế, thu hút nguồn nhân lực phát triển bền vững”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 1-2 (184-184), 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chủ động hợp tác quốc tế, thu hút nguồn nhân lực phát triển bền vững”
9. Nguyễn Thị Hồng Hải, “Quản lý nguồn nhân lực hành chính nhà nước theo năng lực”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 245, năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nguồn nhân lực hành chính nhà nước theo năng lực”
11. Học viện Hành chính Quốc gia (2013), Giáo trình “Chính sách công”, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2013
12. Học viện Hành chính Quốc gia (2013), Giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách công”, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạch định và phân tích chính sách công
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2013
13. Bùi Huy Khiên, “Thu hút và sử dụng nhân tài ở Singapore - bài học nào cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, số 11 (152), 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thu hút và sử dụng nhân tài ở Singapore - bài học nào cho Việt Nam”
15. Hoàng Phương (2009), “Trung Quốc thu hút nhân tài nước ngoài”, www.maivang.nld.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc thu hút nhân tài nước ngoài”
Tác giả: Hoàng Phương
Năm: 2009
16. Bùi Việt Phú (2010), “Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để tham gia nền kinh tế tri thức”, http://www.quangtri.edu.vn/home/chitiet Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để tham gia nền kinh tế tri thức”
Tác giả: Bùi Việt Phú
Năm: 2010
17. Nguyễn Văn Phúc, “Hình thành và phát triển thị trường lao động trình độ cao sau khi Việt Nam gia nhập WTO”, Tạp chí Lao động & Xã hội, số tháng 12/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hình thành và phát triển thị trường lao động trình độ cao sau khi Việt Nam gia nhập WTO”
20. Lê Như Thanh, Lê Văn Hòa (đồng chủ biên), sách chuyên khảo “Hoạch định và thực thi chính sách công”, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạch định và thực thi chính sách công
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật
22. Đoàn Xuân Thủy (2013), “Những vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”
Tác giả: Đoàn Xuân Thủy
Năm: 2013
24. Phạm Đức Tiến, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ, số 7/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài”
25. Hoàng Anh Tuấn, Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm tăng tính cạnh tranh và phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam, Kỷ hiếu Hội thảo khoa học “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế”, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm tăng tính cạnh tranh và phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam, "Kỷ hiếu Hội thảo khoa học “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế
28. Vũ Bá Rồng, “Một số kết quả thực hiện chính sách thu hút và sử dụng nhân tài của tỉnh Bắc Ninh”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 8/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số kết quả thực hiện chính sách thu hút và sử dụng nhân tài của tỉnh Bắc Ninh”
29. Lê Đình Viên, “Bàn về chính sách sử dụng và trọng dụng nhân tài”, Tạp chí Giáo dục Việt Nam, số tháng 6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về chính sách sử dụng và trọng dụng nhân tài”
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Khác
2. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Khác
3. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 25/02/2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Những điểm tham quan du lịch của Quảng Ninh tập trung chủ  yếu ở 4 thành phố, huyện chính: Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn và Uông Bí - Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh quảng ninh
Hình 1.1 Những điểm tham quan du lịch của Quảng Ninh tập trung chủ yếu ở 4 thành phố, huyện chính: Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn và Uông Bí (Trang 49)
Bảng 2.1: Nhân lực ngành du lịch,tỉnh Quảng Ninh - Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh quảng ninh
Bảng 2.1 Nhân lực ngành du lịch,tỉnh Quảng Ninh (Trang 54)
Bảng 3.1: Nhu cầu nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2021-2030 - Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch tỉnh quảng ninh
Bảng 3.1 Nhu cầu nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2021-2030 (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w