Đề tài luận văn “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt” sẽ tiến hành nghiên cứu từ góc độ đặc điểm ngữ nghĩa, cùng với những cơ s
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
-
NGUYỄN HOÀNG KHÁNH TRANG
ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA THÀNH NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
THỪA THIÊN HUẾ, 2021
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
-
NGUYỄN HOÀNG KHÁNH TRANG
ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA THÀNH NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
MÃ SỐ: 8222024
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LIÊU LINH CHUYÊN
THỪA THIÊN HUẾ, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Huế, ngày 08 tháng 11 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Hoàng Khánh Trang
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trung Quốc và Việt Nam từ lâu đã coi trọng giáo dục, coi giáo dục là mạch máu sinh tồn của dân tộc, là trụ cột cơ bản của việc xây dựng và vun đắp cho nền văn hiến lâu đời của đất nước Giáo dục trong thời đại nào cũng vậy, cũng mang chức năng truyền tải đạo lý, giáo dục, hình thành nên nhân cách con người và hoàn thiện các phẩm chất tri thức đáp ứng cho nhu cầu của xã hội Nội hàm của giáo dục đã là văn hóa, được chọn lọc và tiếp thu từ tri thức nhân loại và truyền thống dân tộc, giáo dục cũng chính là bảo tồn văn hóa và bồi đắp văn hóa, tạo nên nền văn hóa của đất nước, dân tộc
Mặc dù Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng của nhau, có
sự giao lưu về văn hóa, về mặt văn hóa có điểm tương đồng, nhưng với yếu tố
tự nhiên, vị trí địa lý, chế độ xã hội, kinh tế, phong tục, tập quán, quan niệm… của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc khác nhau, hình thành nên tư duy khác biệt, sử dụng ngôn ngữ biểu đạt riêng mang đậm bản sắc dân tộc của mình Trong đó, thành ngữ là phương diện thể hiện rõ nhất bản sắc của mỗi dân tộc Những triết lý, những quan niệm, những tư tưởng ẩn chứa đằng sau những lời ví von với ngôn ngữ đầy chất dân gian, giản dị mà sâu lắng, mộc mạc mà đầy tính nhân văn, mang đậm chất giáo huấn của thành ngữ Thành ngữ đã trở thành phương tiện để giáo dục con người, giáo dục về nhân cách, phẩm chất con người, ngoài học từ thầy cô, từ bạn bè, học từ gia đình, xã hội cũng là một yếu
tố không thể thiếu giúp hoàn thiện bản thân mỗi con người
Đề tài luận văn “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt” sẽ tiến hành nghiên cứu từ góc độ đặc điểm ngữ nghĩa, cùng với những cơ sở lý luận về ngôn ngữ học, so sánh đối chiếu thành ngữ liên quan đến giáo dục, phân tích nội hàm văn hóa, tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam, từ đó làm nổi bật tư tưởng, quan điểm, lối tư duy trong giáo dục của người dân Việt Nam và Trung Quốc Luận văn sử dụng những thủ pháp và phương pháp như: thống kê, phân loại; phân tích; miêu tả; so sánh và đối chiếu để tiến hành nghiên cứu
Luận văn tiến hành khảo sát 302 thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và 292 thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Việt Thông qua tìm hiểu, nghiên cứu, luận văn giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về đặc điểm hình thức, đặc điểm ngữ nghĩa, về nội hàm của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt, giúp cho người dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc hiểu rõ hơn về văn hóa của nhau, từ đó có thể vận dụng một cách hợp lý các thành ngữ này trong giao tiếp và dịch thuật
Trang 5ABSTRACT
China and Vietnam have attached special importance to education, considering it as the lifeblood of the nation's survival, the basic pillar of the construction and cultivation of the country's long-standing civilization Education through the ages carries the function of transmitting morality, educating and forming the human’s personality and perfecting intellectual qualities to meet the demands of the society The content of education - culture has been selected and absorbed from human knowledge and national tradition; education is also the cultural preservation and enrichment, creating the culture
of the country
Although Vietnam and China are the neighbors, have cultural exchanges and similarities, they are different in thinking, using their own expressive language imbued with their own national identity due to natural factors, geographical location, social system, economy, customs, practices and concepts of each country In particular, idiom is the aspect that most clearly expresses each nation’s identity
The philosophies, concepts and ideas behind the simile are filled with folk language, simple but profound, rustic but full of humanity, imbued with the teachings of idioms Idioms have become a means of educating people about the personality and human qualities, beside learning from teachers, friends, family and society Society is also an element to perfect themselves
The thesis topic "Comparison of linguistic characteristics of idioms related to education in Chinese and Vietnamese" will be researched from the perspective of semantic characteristics, together with the theoretical bases on linguistics, comparing and contrasting idioms related to education, analyzing the cultural connotations, understanding the educational ideology of China and Vietnam, in order to stand out the Vietnamese and Chinese’s thoughts, viewpoints and ways of thinking in education
The dissertation uses such following methods as: data collection; statistics, classification; analytic method; describing method; comparative method to conduct this research
The thesis conducted a survey of 302 idioms related to education in Chinese and 292 ones in Vietnamese Through doing the research, the thesis helps readers understand more the formal characteristics, semantic characteristics, and the connotations of idioms related to education in Chinese and Vietnamese, helping Vietnamese and Chinese have a better understanding
of each other's cultures, so that they can rationally apply these idioms in
communication and translation
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Giảng viên hướng dẫn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô thuộc phòng Đào tạo sau Đại học của trường Đại học Ngoại Ngữ Huế - Đại học Huế, cùng quý Thầy Cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn luôn động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng thống kê số lượng âm tiết thành ngữ tiếng Việt 11 Bảng 1.2: Bảng thống kê số lượng âm tiết thành ngữ tiếng Hán 13 Bảng 3.1: Bảng thống kê số lượng âm tiết thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán 30 Bảng 3.2: Bảng thống kê từ sử dụng trong thành ngữ chỉ phương pháp học tập 32 Bảng 3.3: Bảng thống kê từ chỉ các thành viên trong gia đình 34 Bảng 3.4: Bảng thống kê từ chỉ giáo dục đạo đức 36 Bảng 3.5: Bảng thống kê số lượng âm tiết thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Việt 44 Bảng 3.6: Bảng thống kê từ sử dụng trong thành ngữ chỉ phương pháp học tập tiếng Việt 46 Bảng 3.7: Bảng thống kê từ chỉ các thành viên trong gia đình 48
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN ii
ABSTRACT iii
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC BẢNG v
MỤC LỤC vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ 5
1.1.1 Nghiên cứu về thành ngữ tiếng án và tiếng Việt 5
1.1.2 Nghiên cứu đối sánh thành ngữ tiếng án và tiếng Việt 6
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.2.1 hái niệm về thành ngữ 9
1.2.2 Phân loại và đặc điểm của thành ngữ 11
1.2.3 Văn hóa giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam 15
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Phương pháp thống kê, phân loại 22
2.1.1 Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường 23
2.1.2 Thành ngữ liên quan đến giáo dục gia đình 23
2.1.3 Thành ngữ liên quan đến giáo dục xã hội 23
2.2 Phương pháp Phân tích 24
2.3 Phương pháp miêu tả: 24
Trang 92.4 Phương pháp So sánh – đối chiếu 24
CHƯƠNG 3 THÀNH NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 26
3.1 Thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng án và tiếng Việt 26 3.1.1 Thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng án 27
3.1.2 Thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Việt 41
3.2 Tư tưởng giáo dục và đặc trưng văn hóa giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam qua thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt 56
3.2.1 Giáo dục học đường 57
3.2.2 Giáo dục gia đình 59
3.2.3 Giáo dục xã hội 61
CHƯƠNG 4 ĐỐI CHIẾU THÀNH NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 64
4.1 Những n t tương đồng giữa thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng án và tiếng Việt 64
4.1.1 Những n t tương đồng về mặt hình thức 64
4.1.2 Những n t tương đồng về mặt ngữ nghĩa 65
4.1.3 Những n t tương đồng về nội hàm văn hóa 68
4.2 Những n t khác biệt giữa thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng án và tiếng Việt 69
4.2.1 Những n t khác biệt về mặt hình thức 69
4.2.2 Những n t khác biệt về mặt ngữ nghĩa 70
4.2.3 Những nét khác biệt về nội hàm văn hóa 72
4.3 Vận dụng thành ngữ tiếng án liên quan đến giáo dục trong quá trình giao tiếp liên văn hóa, giáo dục, dịch thuật 74
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC DANH SÁCH CÁC THÀNH NGỮ GIÁO DỤC TIẾNG HÁN
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thành ngữ là một bộ phận của văn học dân gian, ngắn gọn, súc tích, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ dàng thấm sâu vào lòng người Cho nên chúng được sử dụng rất nhiều trong giao tiếp, trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội hàng ngày, làm phong phú thêm phong cách và ngôn ngữ diễn đạt Tư tưởng triết lý trong thành ngữ bao gồm các lĩnh vực trong đời sống xã hội như: lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực lao động sản xuất, lĩnh vực đời sống, cách ứng xử giữa con người với con người trong xã hội, lĩnh vực buôn bán, thương mại… Thông qua thành ngữ, chúng ta có thể thấy được một cách rõ ràng tư tưởng, tình cảm, quan niệm sống, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm được đúc kết, các mối quan hệ xã hội… của nhân dân ta từ thuở xa xưa cho đến bây giờ
Từ xưa đến nay, đất nước ta luôn luôn coi trọng giáo dục, coi giáo dục là nền tảng cơ bản nhất để hình thành nên nhân cách của mỗi con người, người được giáo dục tốt sẽ hình thành nên phẩm chất nhân cách tốt Giáo dục là một yếu tố vô cùng quan trọng của xã hội, xã hội có nền giáo dục tốt thì sẽ góp phần quan trọng trong việc đào tạo nên những người tài, những cá thể ưu tú, xuất sắc để tạo ra nguồn lực dồi dào, những thế hệ tương lai vừa hồng vừa chuyên đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập của đất nước hôm nay và mai sau
Trong thời kỳ cải cách mở cửa hiện nay, thời đại của hội nhập kinh tế quốc tế, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển và hội nhập vào nền kinh tế thế giới của mỗi quốc gia, giáo dục lại càng là một vấn
đề cấp thiết, ngoài việc giáo dục văn hóa ở trường học thì việc giáo dục về nhân cách sống, giáo dục về nhân phẩm, giáo dục về đạo đức, dạy về cách đối nhân xử thế, cách ứng xử giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội phát triển như ngày nay cũng là một vấn đề quan trọng
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục cho nên ông cha ta đã thông qua thành ngữ - một hình thức diễn đạt ngắn gọn, súc tích, dễ thuộc, dễ nhớ này để chỉ bảo, khuyên nhủ, để răn dạy con cháu Những triết lý, những quan niệm, những tư tưởng ẩn chứa đằng sau những lời ví von với ngôn ngữ đầy chất dân gian, giản dị mà sâu lắng, mộc mạc mà đầy tính nhân văn, mang đậm chất giáo huấn Thành ngữ đã trở thành phương tiện để giáo dục con người, giúp con người giữ gìn phẩm chất sống cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, giúp con người nhận thức đúng đắn nhiều vấn đề phát sinh trong xã hội với muôn vàn những mối quan hệ nhân sinh quan giữa con người với con người, giúp con người tích lũy được những kiến thức, những kinh nghiệm trong cuộc sống
Trang 11Trung Quốc cũng là một quốc gia coi trọng nền giáo dục Từ xa xưa, Trung Quốc cũng đã coi giáo dục là yếu tố cơ bản nhất để hình thành nhân cách con người, thể hiện qua tư tưởng giáo dục của Khổng Tử - một tư tưởng giáo dục quý báu trong kho tàng giáo dục của nhân loại
Nhấn mạnh giáo dục là quốc sách hàng đầu, người Trung Quốc từ xưa đến nay cũng thông qua thành ngữ để giáo dục, răn dạy người đời sau Coi
trọng giáo dục, đề cao những người “科班出身” (những người đã được giáo
dục, huấn luyện) Có rất nhiều thành ngữ được người dân Trung Quốc thể hiện
tư tưởng, quan niệm về giáo dục, thường được sử dụng nhiều trong sinh hoạt
đời sống hàng ngày hiện nay: “玉琢成器” (con người chỉ có được giáo dục
mới có thể có thành tựu), “学海无涯” (biển học vô bờ), “学如穿井” (tri thức
càng thâm sâu, việc học càng khó, phải kiên trì), “学以致用” (Học là để ứng
dụng vào thực tế), “百炼成钢” (Mài sắt nên kim), “卑以自牧” (Hạ mình để
tự tu dưỡng), “不耻下问” (Không ngần ngại học người kém mình), “不教乃
Đến nay, tại Việt Nam hay ở Trung Quốc, giáo dục vẫn luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu, đây cũng là truyền thống của các nước trên thế giới nói
chung và các nước phương Đông nói riêng Truyền thống tôn sư trọng đạo “尊
giáo dục Giáo dục về nhân cách, phẩm chất con người, ngoài học từ thầy cô,
từ bạn bè, học từ gia đình, xã hội cũng là một yếu tố không thể thiếu giúp hoàn thiện bản thân mỗi con người
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng Từ thời xa xưa đã
có sự tiếp xúc về văn hóa lẫn nhau, đều có nền văn hóa truyền thống lâu đời với nhiều n t tương đồng như đều thuộc nền văn minh lúa nước, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên, đạo Phật được truyền bá rộng rãi trong nước… Mặc dù Việt Nam và Trung Quốc có sự giao tiếp về văn hóa, về mặt văn hóa có điểm tương đồng, nhưng x t cho cùng với yếu tố tự nhiên, vị trí địa lý, chế độ xã hội, kinh
tế, phong tục, tập quán, quan niệm… của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc khác nhau nên hình thành nên tư duy khác biệt, sử dụng ngôn ngữ biểu đạt riêng mang đậm bản sắc dân tộc của mình Trong đó, thành ngữ là phương diện thể hiện rõ nhất bản sắc của mỗi dân tộc
Chính vì lý do trên, luận văn tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt” Trong giới hạn của đề tài luận văn Thạc sĩ, luận văn tiến hành khảo sát, phân tích về đặc điểm hình thức, đặc điểm ngữ nghĩa, nội hàm, đặc trưng văn
Trang 12hóa của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Việt và tiếng Hán nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt của chúng Trên cơ sở đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam, làm nổi bật tư tưởng, quan điểm, lối tư duy trong giáo dục của người dân Việt Nam và Trung Quốc
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu đặt ra của luận văn này như sau:
- Thứ nhất, thống kê và giới thiệu các thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt liên quan đến giáo dục
- Thứ hai, Luận văn này sẽ tiến hành nghiên cứu từ góc độ đặc điểm ngữ nghĩa, cùng với những cơ sở lý luận về ngôn ngữ học, so sánh đối chiếu thành ngữ liên quan đến giáo dục, phân tích nội hàm văn hóa giống nhau và khác nhau của hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam, tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam, từ đó làm nổi bật tư tưởng, quan điểm, lối tư duy của người dân Việt Nam và Trung Quốc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài dựa trên những đơn vị thành ngữ khảo sát và thống kê từ quyển 成语大词典 (Đại từ điển thành ngữ tiếng Hán), xuất bản năm 2015 của tác giả
Bianweihui-编委会, Nhà xuất bản 北京:商务印书馆 và Từ điển thành ngữ
Việt Nam, xuất bản năm 1993 của tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên, Nguyễn
Văn hang, Phan Xuân Thành, Nhà xuất bản Văn óa à Nội để tiến hành phân loại thành ngữ liên quan đến giáo dục bao gồm giáo dục học đường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Nghiên cứu từ góc độ đặc điểm ngữ nghĩa, phân tích nội hàm văn hóa giống nhau và khác nhau của hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam, tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam,
từ đó làm nổi bật tư tưởng, quan điểm, lối tư duy của người dân Việt Nam và Trung Quốc
4 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt” góp phần bổ sung, làm phong phú thêm vào
lý luận thành ngữ học nói chung và thành ngữ của những ngôn ngữ đơn lập âm tiết như tiếng Hán và tiếng Việt Ngoài ra, đề tài còn góp phần làm nổi bật vai
Trang 13trò của nội hàm văn hóa được biểu đạt trong thành ngữ, góp phần vào lý luận giảng dạy ngôn ngữ với tư cách là ngoại ngữ
- Góp phần giúp nắm vững những đặc điểm ngôn ngữ một cách có hệ thống
về những thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt
- Thành ngữ liên quan đến giáo dục thể hiện tư tưởng, quan niệm của nhân dân về giáo dục, đúc kết ra những kinh nghiệm về giáo dục trong học đường, giáo dục trong gia đình và giáo dục ngoài xã hội Thông qua đối chiếu thành ngữ sẽ giúp cho người đọc có thể nhìn nhận được những điểm tương đồng và khác biệt, đồng thời có sự vận dụng thành ngữ tốt hơn trong giao tiếp hoặc dịch thuật các văn bản có liên quan giữa hai ngôn ngữ
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần gợi mở cho những nghiên cứu
về sau
5 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm có 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận Ngoài ra còn có tài liệu tham khảo và phụ lục Trong phần nội dung chia làm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng án và tiếng Việt Chương 4: Đối chiếu thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng án
và tiếng Việt
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Thành ngữ là một bộ phận của văn học dân gian, với đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ dàng thấm sâu vào lòng người Chúng được
sử dụng rất nhiều trong giao tiếp, trong nhiều lĩnh vực hằng ngày của đời sống
xã hội, làm phong phú thêm phong cách và ngôn ngữ diễn đạt Có rất nhiều học giả đã nghiên cứu về thành ngữ ở nhiều góc độ khác nhau
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ
Cho dù ở Việt Nam hay Trung Quốc, thành ngữ là lĩnh vực thu hút rất nhiều học giả tiến hành nghiên cứu, phân tích
Từ trước đến nay đã có nhiều đề tài luận văn nghiên cứu đối chiếu thành ngữ hay thành ngữ và tục ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt, chủ yếu tập trung các khía cạnh sau:
1.1.1 Nghiên cứu về thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
Nghiên cứu về thành ngữ, ở Trung Quốc đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, phần lớn tập trung vào việc biên soạn từ điển về thành ngữ như: 现代汉语成语全功能实用词典 (Từ điển thực dụng
toàn công năng thành ngữ tiếng Hán hiện đại) của 赵羽 (Triệu Việt) & 成功
(Thành Công) (2000), 新华成语词典 (Từ điển thành ngữ Tân Hoa) của 谢振
生 (Tạ Chấn Sinh) (2015), 中华成语故事 (Câu chuyện thành ngữ Trung Hoa)
của 金志宝 (Kim Chí Bảo) (2004); hoặc tập trung phân tích những khái niệm,
lý luận của thành ngữ như: 汉语成语研究 (Nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán)
của 史式 (Sử Thức) (1979); 成语概说 (Khái luận thành ngữ) của 向光忠
( ướng Quang Trung) (1985)
Bên cạnh đó còn có nhiều công trình tiến hành phân tích đặc trưng và nội hàm văn hóa của thành ngữ cũng như cách thức vận dụng thành ngữ trong
giao tiếp hằng ngày như: 成语与成语的运用 (Thành ngữ và sự vận dụng
马国凡(Mã Quốc Phàm) (1978); 成语知识浅谈 (Bàn về tri thức thành ngữ)
của 许肇本 (Hứa Triệu Bản) (1980); 成语与中国文化 (Văn hóa Trung Quốc
và thành ngữ) của 李大农 (Lý Đại Nông) (1994); 汉语成语特征分析 (Phân
(2001)
Trang 15Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu thành ngữ liên quan đến động
Hán liên quan đến côn trùng và côn trùng trong thành ngữ) của 郑兴国 (Trịnh
ưng Quốc) (2004); 汉语动物成语研究 (Nghiên cứu thành ngữ động vật
tiếng Hán) của 陈静 (Trần Tĩnh) (2016) Trong những công trình nghiên cứu
này, mỗi tác giả đã đề cập tới nhiều phương diện khác nhau, tạo nên những giá trị khoa học khác nhau Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về thành ngữ liên quan đến giáo dục
Ở Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, khảo sát
về đặc tính của thành ngữ tiếng Việt, về kết cấu của thành ngữ tiếng Việt, phân biệt thành ngữ và tục ngữ, giải thích nghĩa thành ngữ, thành ngữ từ góc
nhìn của văn hóa học như: Thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (1978); Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Văn Hằng (1999); Thành ngữ học tiếng Việt của oàng Văn ành (2004); Biểu
trưng ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt (trên cứ liệu thành ngữ có yếu tố chỉ tên gọi động vật) của Trịnh Cẩm Lan (2009); Thế giới động vật trong thành ngữ tiếng Việt của Đỗ Thị Thu ương (2017)… Gần đây có bài viết Phân tích điểm thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán của tác giả Liêu Linh
Chuyên (2021), bài viết này thu thập 192 thành ngữ liên quan đến phương thức giáo dục trong tiếng Hán, chủ yếu dựa trên các nội dung thành ngữ có liên quan nhiều đến “hành vi giáo dục” như bồi dưỡng đào tạo, cách thức giáo dục và các thành ngữ mang tính chất khuyến khích, khuyên răn, chỉ bảo, nhắc nhở cảnh cáo trong quá trình giáo dục… để tiến hành phân tích đặc điểm ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của thành ngữ
1.1.2 Nghiên cứu đối sánh thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
Nghiên cứu đối sánh thành ngữ tiếng án và tiếng Việt nói chung là đề tài được rất nhiều học giả chú tâm nghiên cứu Trong đó phải kể đến các công trình như: 汉越成语对比研究 (Nghiên cứu đối sánh thành ngữ Hán - Việt)
của Nguyễn Thị Thu ương (阮氏秋香, 2004) tiến hành so sánh một cách toàn diện về các phương diện: đặc trưng cơ bản, đặc trưng kết cấu, chức năng ngữ pháp và đặc trưng tu từ giữa thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt Tác giả Nguyễn Thị Thanh (阮氏清, 2008) với công trình nghiên cứu: 汉越明喻成语对比分析以及对越汉明喻成语教学 (Đối sánh thành ngữ so sánh Hán Việt
và giảng dạy thành ngữ so sánh Việt Hán), tiến hành nghiên cứu đối sánh
thành ngữ so sánh Hán Việt, tìm ra những n t tương đồng và khác biệt văn hóa của hai đất nước này, từ đó có biện pháp thích hợp khi dạy về thành ngữ so
sánh Việt Hán Phạm Minh Tiến (2008) với công trình Đặc điểm thành ngữ so
Trang 16sánh tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt) tập trung nghiên cứu, so sánh đặc
điểm ngữ nghĩa, hình thức kết cấu, văn hóa và phương thức chuyển dịch thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt, nhưng không đi sâu phân tích cụ thể về bình diện nội hàm văn hóa Thái Tâm Giao (蔡心交, 2011) trong công trình nghiên cứu
thì chỉ tập trung đối chiếu về mặt ngữ âm, cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa Ngoài ra từ năm 2000 trở lại đây, phần lớn công trình nghiên cứu tập trung vào việc đối chiếu thành ngữ có liên quan đến các yếu tố như con số, thực vật, động vật, ẩm thực trong thành ngữ Chẳng hạn như:
Tác giả Giang Thị Tám (2000) trong công trình nghiên cứu Khảo sát
thành ngữ tiếng Hán có yếu tố chỉ con số trong sự đối chiếu với thành ngữ tiếng Việt có yếu tố là con số, giới thiệu đặc điểm cấu tạo và nội dung ngữ
nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ con số trong mối quan hệ giữa hai ngôn ngữ Hán - Việt Tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa việc sử dụng yếu
tố con số để cấu tạo thành ngữ trong hai ngôn ngữ, phát hiện những điểm chung và đặc thù của mỗi loại
Đường Tú Trân (2007) với công trình Khảo sát thành ngữ có yếu tố chỉ
thực vật trong tiếng Hán (có so sánh với tiếng Việt) tập trung nghiên cứu
những n t đặc trưng về văn hóa và tư duy liên tưởng của hai quốc gia hai dân tộc Từ cơ sở đó rút ra được những kinh nghiệm vận dụng vào công việc nghiên cứu, dịch thuật, biên soạn sách, biên soạn từ điển
Mạc Tử Kỳ (2009) với công trình Khảo sát thành ngữ có con số trong
tiếng Hán và cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt, tập trung mô tả đặc điểm
cấu trúc ngữ nghĩa (nghĩa đen và nghĩa bóng) của thành ngữ chỉ con số trong tiếng Hán, tìm ra quy luật sử dụng con số, từ đó tìm hiểu cách thức chuyển dịch thành ngữ con số từ tiếng Việt sang tiếng Hán
汉、越动物成语对比研究 (Nghiên cứu đối sánh thành ngữ chỉ động vật
tiếng Hán, tiếng Việt) của Vị Thị Thủy (韦氏水, 2012), đã tiến hành thống kê
tổng số thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Hán là 631 thành ngữ, tiếng Việt là 649 thành ngữ, trên cơ sở đó tác giả đã tiến hành thống kê phân loại nhóm loài vật, tiến hành phân tích đối sánh đặc điểm của thành ngữ chỉ động vật, tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về phương diện kết cấu và ngữ nghĩa biểu đạt và sự giống và khác nhau về nền văn Trung Quốc và Việt Nam
Phan Phương Thanh (2019) với công trình Thành ngữ có yếu tố chỉ loài
vật trong tiếng Hán và tiếng Việt từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, trong
luận án này xác định đặc điểm tri nhận, đặc trưng văn hóa dân tộc qua ngữ
Trang 17nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt
Các công trình nghiên cứu khác thì không chỉ tập trung nghiên cứu thành ngữ mà còn nghiên cứu, so sánh đối chiếu cả tục ngữ Lý Diễm Kiệt (2012) đã
tiến hành So sánh các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc
trong tiếng Hán và tiếng Việt chủ yếu tập trung so sánh về đặc điểm cấu trúc
và phương thức tạo nghĩa, không nghiên cứu đến sự khác biệt về nội hàm văn
hóa So sánh ngữ nghĩa văn hóa của từ chỉ động vật trong tục ngữ, thành ngữ
hai nước Trung Việt của Wu Hui Jun (2008) tiến hành đối chiếu ý nghĩa văn
hóa về từ vựng của tiếng Hán và tiếng Việt Gần đây, tác giả Mạnh Trí Đông
(2019) đã tiến hành Đối chiếu thành ngữ và tục ngữ liên quan đến “nước”
giữa tiếng Hán và tiếng Việt đối chiếu về mặt ý nghĩa trên mặt chữ, ý nghĩa
thực tế và nội hàm văn hóa của thành ngữ và tục ngữ liên quan đến “nước”, qua đó làm nổi bật đặc trưng tư duy của hai dân tộc
Mặc dù, trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
và so sánh thành ngữ tiếng Hán với thành ngữ tiếng Việt nhưng chủ yếu là các
đề tài thành ngữ liên quan đến “nước”, thành ngữ chỉ con số, thành ngữ chỉ thực vật, động vật, loài vật hay chỉ nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ nói chung Cho đến nay chưa thấy đề tài nào nghiên cứu thành ngữ liên quan đến giáo dục, so sánh đối chiếu về bình diện ngữ nghĩa, đi sâu nghiên cứu, phân tích về nội hàm văn hóa của hai dân tộc Qua việc tìm hiểu trên Internet, báo chí, sách nghiên cứu những đầu sách về ngữ pháp, từ loại, thành ngữ có rất nhiều nhưng sách liên quan đến thành ngữ liên quan đến giáo dục thì rất ít, chỉ
có thể tìm thấy một số bài viết ngắn về vấn đề này Như vậy, cho đến nay, đã
có rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã tiến hành nghiên cứu về thành ngữ dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều mảng đề tài khác nhau, nhưng thành ngữ vẫn tiếp tục được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, bởi còn rất nhiều phương diện của thành ngữ cần được đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu
Cho nên, thông qua việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp độc giả hiểu sâu hơn về văn hóa giáo dục, hiểu biết thêm thành ngữ liên quan đến giáo dục Từ
đó, giúp cho người học ngoại ngữ tiếng Trung Quốc và tiếng Việt vận dụng vào quá trình giao tiếp Đây là đề tài mới, từ trước đến nay chưa có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu, phân tích về vấn đề này
Trang 181.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 hái niệ về thành ngữ
1.2.1.1 Khái niệm về thành ngữ tiếng Hán
Thành ngữ tiếng Hán rất phong phú và đa dang, mang đậm n t văn hóa đặc trưng của Trung Quốc Từ trước đến nay, đã có rất nhiều học giả Trung Quốc tiến hành nghiên cứu thành ngữ ở nhiều mức độ khác nhau
Cát Bản Nghi (葛本仪, 2001) đã đưa ra quan niệm về thành ngữ rằng: Thành ngữ là cụm từ cố định có ý nghĩa hoàn chỉnh và có hình thức kết cấu cố định Định hình kết cấu của thành ngữ không thể tùy tiện thay đổi thành phần
và trật tự hư từ
Mạc Bành Linh (莫彭龄, 2001) lại cho rằng thành ngữ là một loại của tục ngữ, nó là đoản ngữ cố định, được bắt chước và thường dùng với sắc thái ngôn ngữ viết Hình thức cơ bản nhất của thành ngữ tiếng Hán là có 4 âm tiết Phù Hoài Thanh (符淮青, 2003) quan niệm rằng thành ngữ là kết cấu cố định của ngôn ngữ, và là loại quan trọng nhất trong kết cấu cố định
Có nhiều học giả Trung Quốc lý giải thành ngữ theo hướng nghĩa mở rộng, cho rằng những ngữ hay câu lưu hành thông dụng trong xã hội đều được xem là thành ngữ, chính như ông Phương Thằng Huy (方绳辉, 1943) quan niệm rằng thành ngữ là cổ ngữ, tất cả những từ lưu hành trong xã hội, có thể sưu tập lại dùng để biểu đạt ý muốn của mình là thành ngữ
Trong từ điển của Trung Quốc, khái niệm thành ngữ cũng được biểu đạt
khác nhau Ví dụ như Từ Hải (辞海, 1936) đưa ra định nghĩa về thành ngữ:
“Thành ngữ là cổ ngữ có nguồn gốc từ kinh truyện, hoặc ngạn ngữ, ca dao được nhiều người biết đến, thường được người hiện đại sử dụng” (1936, trang
143) Trong cuốn Từ điển Hán ngữ hiện đại (现代汉语词典, 2005), có đưa ra
lý giải về thành ngữ như sau: “Kết cấu định hình hoặc đoản ngữ ngắn gọn,
súc tích được con người quen dùng trong thời gian dài Thành ngữ tiếng Hán phần lớn đều do 4 chữ cấu tạo thành, thông thường đều có xuất xứ” (2005,
Trang 19nhất về thành ngữ, hay nói cách khác rằng chưa có khái niệm hay định nghĩa nào về thành ngữ chuẩn mực, hay hoàn toàn chính xác, mà chỉ mang ý nghĩa tương đối mà thôi Tuy nhiên, xét về góc độ nhìn nhận chung, có thể thấy được thành ngữ tiếng Hán là một cụm từ mang kết cấu cố định, chặt chẽ, không thể tách rời hay thay đổi trật tự từ trong cụm từ đó, thành ngữ tiếng Hán phần lớn có 4 âm tiết và là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng tiếng Hán Mỗi thành ngữ có một ý nghĩa nhất định, hoàn chỉnh dùng để gọi tên sự vật, trạng thái, tính chất, hành động…
1.2.1.2 Khái niệm về thành ngữ tiếng Việt
Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt, chúng ta có thể tìm thấy được nhiều quan niệm, định ngữ về thành ngữ được các tác giả đưa ra trong các tài liệu sách nghiên cứu hoặc các tạp chí về ngôn ngữ Sau đây xin đưa ra một số quan điểm tiêu biểu:
Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một
bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn” (Vũ Ngọc Phan, 1978, trang 28)
Đỗ Hữu Châu lại cho rằng: “Do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các
ngữ cố định ít hay nhiều đều có tính thành ngữ” (Đỗ Hữu Châu, 1981, trang 72)
Tác giả Nguyễn Như Ý định nghĩa thành ngữ: “Cụm từ hay ngữ cố định
có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không
có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu” (Nguyễn Như Ý,
1998, trang 271)
Hoàng Tất Thắng lại quan niệm rằng: Thành ngữ là những cụm từ cố định có sẵn trong ngôn ngữ, mang chức năng định danh như từ, dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất, hành động và có tính hình tượng
Phạm Minh Tiến lại đưa ra khái niệm: “Thành ngữ là một bộ phận tiêu
biểu của ngữ cố định, có cấu trúc hình thái ổn định, hoàn chỉnh và bóng bẩy
về mặt ngữ nghĩa, thường mang theo nét nghĩa đặc trưng, có văn phong khẩu ngữ và thường có vần điệu, là đơn vị ngôn ngữ văn hóa” (Phạm Minh Tiến,
2008, trang 5)
Từ các khái niệm của các tác giả nêu ra ở trên, chúng ta có thể thấy được cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về cách diễn đạt, nhưng về quan điểm thì cơ bản thống nhất Qua đó, chúng ta có thể tổng kết lại và định nghĩa thành ngữ như sau: thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu ổn định, chặt chẽ, chúng không thể tách rời nhau, là những cụm từ cố định có sẵn trong ngôn ngữ, thường mang một ý nghĩa nhất định, dùng để gọi tên sự vật, trạng thái, tính chất, hành động
Trang 201.2.2 Phân loại và đặc điểm của thành ngữ
Thành ngữ là một loại đơn vị từ vựng tồn tại ở mọi ngôn ngữ, là một sản phẩm tinh thần có liên quan đến ngôn ngữ Ngôn ngữ cũng có quá trình phát triển từ khi ra đời cho đến khi lớn dần và trưởng thành, cùng với quá trình phát triển của dân tộc, sự biểu đạt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm cũng ngày một đa dạng hơn, từ đó thành ngữ ra đời và phát triển để đáp ứng được nhu cầu đó Thành ngữ được cấu tạo nên bởi các âm tiết Qua khảo sát và thống kê có
thể thấy được một thành ngữ có ít nhất là ba âm tiết, ví dụ: “Ăn như phá”,
“Ăn phải đũa”, “Tai vách mạch rừng”, “Quen ăn bén mùi”, “Phúc đức tại mẫu” và nhiều nhất là 13 âm tiết, ví dụ: “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” Thành ngữ tiếng án cũng như thành ngữ tiếng Việt nói chung
đều là một cụm từ cố định giống như một đơn vị từ vựng có sẵn trong ngôn ngữ và được mọi người sử dụng một cách thành thạo, phổ biến trong giao tiếp
xã hội, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày
Như vậy việc phân loại thành ngữ theo tiêu chí âm tiết cũng là một phân loại khác ngoài tiêu chí phân loại theo đặc điểm cấu tạo và đặc điểm cấu trúc
trong thành ngữ tiếng Viêt Căn cứ vào quyển Từ điển thành ngữ Việt Nam
(Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn hang, & Phan Xuân Thành, 1993), có thể thống kê phân loại âm tiết trên tổng số 7.137 thành ngữ tiếng Việt như sau:
Bảng 1.1: Bảng thống kê số lượng âm tiết thành ngữ tiếng Việt
2 4 âm tiết 4.926 69,02% Có kiêng có lành
3 5 âm tiết 528 7,4% Của người như của ta
4 6 âm tiết 732 10,26% Của bụt lại thiêu cho bụt
5 7 âm tiết 201 2,82% Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng
6 8 âm tiết 203 2,84% Cứu được một người phúc đẳng hà
sa
7 9 âm tiết 21 0,29% Đánh kẻ chạy đi ai đánh kẻ chạy lại
8 10 âm tiết 10 0,14% Không ai giàu ba họ, không ai khó
Trang 21Dựa vào bảng phân loại trên có thể thấy được thành ngữ có cấu tạo bởi 4
âm tiết chiếm ưu thế về số lượng, có tỉ lệ cao nhất 69,02%, tiếp theo là thành ngữ cấu tạo bởi 6 âm tiết chiếm tỉ lệ là 10,26% Những thành ngữ khác chiếm
tỉ lệ ít Điều này cho thấy, người Việt Nam rất thích dùng lối nói hài hòa, nhịp nhàng, cân đối về âm điệu
Trong quyển Thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang
đã chỉ ra ba đặc tính của thành ngữ tiếng Việt, bao gồm:
Đặc tính thứ nhất là “về mặt kết cấu hình thái, thành ngữ tiếng Việt phổ biến thuộc loại cụm từ cố định, cũng có thể có thành ngữ cố định cao, kết cấu
vững chắc, đạt mức một ngữ cú cố định.” Ví dụ: “Con có cha như nhà có
nóc”, “Con dại cái mang”, “Còn nước còn tát”… Như vậy, nếu chúng ta đem
thay đổi trật tự vị trí từ hay đổi từ khác mang ý nghĩa tương tự vào thì chắc chắn kết cấu sẽ bị phá vỡ, không còn nội dung ý nghĩa như ban đầu mà thành ngữ đó muốn diễn đạt nữa
Đặc tính thứ hai là “ngoài kết cấu hình thái, còn cần phải xem về mặt biểu hiện nghĩa của thành ngữ Mặt này rất phức tạp Chúng tôi cho rằng một
bộ phận thành ngữ tiếng Việt có tính đa nghĩa, nhưng trong đó nghĩa bóng có tầm quan trọng hơn cả… hi nói nghĩa bóng là nói chung nhiều phương thức biểu hiện nghĩa của thành ngữ, như: ẩn dụ, hoán dụ, khoa trương, so sánh, hình tượng…” Như vậy có thể thấy rằng, nghĩa bóng là một “đặc tính bản chất” của thành ngữ, cũng xem như nó là tiêu chí để quyết định cụm từ cố định nào
đó có phải là thành ngữ hay không, nhưng điều này không phải là yếu tố tiên quyết của thành ngữ, vì có một số thành ngữ vẫn tồn tại việc sử dụng nghĩa đen bên cạnh việc sử dụng nghĩa bóng, hiểu được nghĩa bóng trên cơ sở nhận
thức trực tiếp nghĩa cụ thể của từng thành tố Ví dụ: “Đen như cột nhà cháy”,
“Trắng như bông”,…
Đặc tính thứ ba là mặt ngữ pháp của thành ngữ “Khi thành ngữ là một cụm từ cố định có giá trị tương đương như một từ… hi thành ngữ được sử dụng như một mệnh đề, một ngữ cú cố định (ngắn gọn) nào đó trong câu phức
hợp, thì nó có giá trị như một cụm từ chủ vị” Ví dụ: “Ếch ngồi đáy giếng”,
“Chó ngáp phải ruồi”, … Những thành ngữ này, có cả thành phần chủ ngữ, vị
ngữ và tân ngữ cho nên nếu cho nó đứng độc lập thì nó sẽ như là một câu đơn, nhưng khi nó đứng trong một câu phức hợp thì nó như là một mệnh đề
Về cấu tạo, một số thành ngữ được cấu tạo theo quy tắc đối và điệp giữa
các thành tố Ví dụ: “Khôn sống mống chết”, “Khôn ba năm dại một giờ”,
“Học thầy không tầy học bạn”, … Trong thành ngữ “Khôn sống mống chết”,
“khôn” đối với “mống”, “sống” đối với “chết”; trong thành ngữ “Khôn ba
Trang 22năm dại một giờ”, “khôn” đối với “dại”; trong thành ngữ “Học thầy không tầy học bạn”, thành tố “học” được lặp lại, “thầy” đối với “bạn” Những
thành ngữ kiểu này có nghĩa biểu trưng nhờ phép ẩn dụ hóa nên có thể gọi là thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng
Có một số thành ngữ như: “Lanh chanh như hành không muối”, “Chậm
như sên”, “Chặt như nêm cối”, “Cứu hạn như cứu hỏa”, “Dụng binh như dụng hỏa”,… được cấu tạo theo kiểu so sánh, ví von, thường được gọi là
thành ngữ so sánh
Bên cạnh đó, còn có loại thành ngữ được tạo nên từ phương thức ghép từ,
ví dụ: “Đánh kẻ chạy đi ai đánh kẻ chạy lại”, “Đến chậm gậm xương”, “Hoa
mất nhị lấy gì mà thơm”,… những thành ngữ kiểu như trên rõ ràng là không
sử dụng ph p so sánh cũng không sử dụng ph p đối ứng, mà những thành ngữ này vốn được kết hợp với nhau thông thường trong tiếng Việt, loại thành ngữ này được gọi là thành ngữ thường, hay nói cách khác là thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
Thành ngữ tiếng án cũng đại đa số là thành ngữ được cấu tạo bởi 4 âm tiết, mặc dù những thành ngữ được cấu tạo bởi 3 hay 5, 6,7, 8… âm tiết cũng
có, nhưng có số lượng không nhiều, thành ngữ 4 âm tiết vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất Căn cứ vào kết quả thống kê phân loại theo âm tiết của các thành ngữ có trong quyển 成语大词典 (Đại từ điển thành ngữ tiếng Hán) (编委会, 2015)
với 11.223 thành ngữ tiếng án được chọn thể hiện qua bảng 1.2 thống kê số lượng và tỉ lệ dưới đây:
Bảng 1.2: Bảng thống kê số lượng âm tiết thành ngữ tiếng Hán
2 4 âm tiết 10.673 95,1% 拔苗助长 (Nóng vội chỉ dẫn đến hỏng
phải có kế hoạch chuẩn bị trước, mới
Trang 23có thể thành công, nếu không sẽ thất bại)
工欲善其事必先利其器 (Muốn làm tốt một việc, cần phải chuẩn bị tốt các điều kiện)
以其人之道,还治其人之身 (Người
ta dùng thủ đoạn như thế nào đối với mình, thì mình cũng dùng thủ đoạn như thế để trừng trị lại)
只许州官放火,不许百姓点灯(Chỉ cho quan châu đốt lửa, không cho dân chúng thắp đèn)
各人自扫门前雪,莫管他人瓦上霜(Nên lo việc của mình, chớ lo việc người khác)
trong mọi hoàn cảnh của đời sống xã hội Ví dụ: “时不我待” (ý muốn nói đến
là thời gian không đợi chúng ta, cần phải quý trọng và tận dụng triệt để thời
gian), “事出有因” (ý nói là sự việc xảy ra luôn luôn có nguyên do), hay như
mới có thể nhìn rõ được bản chất của con người), …
Đặc điểm thứ hai là thành tố và trật tự kết cấu của thành ngữ không thể thay đổi tùy ý được, cũng không thể tùy tiện thêm bớt thành tố trong thành ngữ, điều này là bởi vì thành ngữ được hình thành và sử dụng lâu đời, là sản phẩm ước định mà thành, được định hình với hình thức quy tắc cố định, vì thế
nó không được tùy tiện thay đổi Nếu có sự thay đổi tùy tiện thì ngôn ngữ sẽ bị hỗn loạn, và nếu thay đổi về quan hệ kết cấu và thành tố trong thành ngữ thì
cũng gây nên sự hỗn loạn về mặt nghĩa từ Ví dụ: “贪小失大” không thể thay
đổi trật tự kết cấu thành “失大贪小”, lại càng không thể thêm thành tố như
Trang 24“贪小而失大” được; cũng hay như “天理昭昭”, nếu như thay đổi kết cấu
thành “昭昭天理” thì hoàn toàn không đúng với ngôn ngữ mà nó biểu đạt và
đương nhiên nghĩa của từ sẽ bị hỗn loạn
Đặc điểm thứ ba là thành ngữ có tính chỉnh thể hóa có nghĩa là ý nghĩa của từ và thành ngữ phải giống nhau, phần lớn không phải ý nghĩa của thành ngữ đơn giản rõ ràng, mà nhìn từ ý nghĩa chỉnh thể khái quát để có sự biểu đạt riêng, có nghĩa là thông qua ý nghĩa của mặt từ để hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa
của thành ngữ Ví dụ: “狐假虎威” ý nghĩa thể hiện là “hồ ly giả mượn uy thế
của hổ”, nhưng hàm nghĩa thực tế lại là “ỷ vào quyền thế của người khác để đi
ức hiếp người”
1.2.3 Văn hóa giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam
Muốn tìm hiểu một loại ngôn ngữ nào đó và quy luật phát triển của nó, thì phải tìm hiểu, nghiên cứu đến lịch sử phát triển xã hội, đặc biệt là lịch sử sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ này của quần chúng nhân dân Ngôn ngữ là nơi lưu giữ và thể hiện rõ nhất đặc điểm của nền văn hóa dân tộc Ngôn ngữ lưu giữ và giữ gìn văn hóa bằng lời nói và chữ viết, thông qua ngôn ngữ mà con người có thể tư duy, đúc kết kinh nghiệm, sáng tạo cái mới, phát triển văn hóa Công việc nghiên cứu ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau cần phải liên hệ đến lịch sử của các dân tộc khác nhau, như vậy nghiên cứu thành ngữ cũng cần phải xuất phát từ lịch sử của các dân tộc khác nhau, liên hệ chặt chẽ với thói quen sống, phong tục tập quán, phát triển văn hóa, quan niệm thẩm mỹ của họ… Thành ngữ có thể được xem như là một tấm gương, phản ánh rõ nét nhất n t đặc sắc của từng dân tộc hay nền văn hóa đó
Mỗi dân tộc có bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh địa lý, đời sống kinh tế, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, trạng thái tâm lý, quan niệm giá trị… khác nhau thì ngôn ngữ của dân tộc đó cũng mang n t đặc sắc riêng Thành ngữ với tư cách là “hóa thạch sống” của văn hóa ngôn ngữ tất nhiên sẽ mang
n t đặc sắc dân tộc rõ ràng
Không một thành ngữ nào lại có thể vượt ra khỏi không gian và thời gian
mà lại không gắn với những điều kiện lịch sử văn hóa của một xã hội, một cộng đồng người nhất định Trong kho tàng văn hóa được hình thành qua quá trình tích lũy lâu dài của mỗi dân tộc đều ẩn chứa thói quen tư duy, phương thức sống, kinh nghiệm lao động, phong tục tập quán, quan niệm thẩm mỹ, lịch sử phát triển, tín ngưỡng tôn giáo… độc đáo riêng biệt của mỗi dân tộc, tất cả đều có thể được phản ánh trong thành ngữ của mỗi dân tộc Có thể thấy được rằng, thành ngữ mang nội hàm văn hóa dân tộc phong phú Dân tộc Việt
và dân tộc án đều mang những n t đặc sắc dân tộc khác nhau nên thành ngữ
Trang 25tiếng Việt và thành ngữ tiếng án cũng mang nội hàm văn hóa khác nhau Trung Quốc và Việt Nam là hai dân tộc có sự tiếp xúc và giao thoa văn hóa từ bao đời nay, đều có nền văn hóa truyền thống lâu đời với nhiều nét tương đồng như đều thuộc nền văn minh lúa nước, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên, đạo Phật được truyền bá rộng rãi trong nước…, cho nên có thể nói rằng
về mặt văn hóa cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Văn hóa Việt Nam cũng mang ảnh hưởng của văn hóa Trung oa cho nên lối sống và một số tập tục ở Việt Nam khá giống của Trung Quốc Tiêu biểu là về mặt giáo dục, sự ảnh hưởng về mặt giáo dục của văn hóa Trung oa có mối liên quan mật thiết với sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và Đạo giáo ở Việt Nam
1.2.3.1 Giáo dục là gì?
Giáo dục nói chung là một cách tiếp thu về tri thức, thói quen, phong tục tập quán và những kỹ năng được lưu truyền qua các thế hệ thông qua các hình thức giảng dạy, truyền thụ kiến thức Theo nghĩa hẹp, giáo dục chỉ giáo dục trường học Theo nghĩa rộng thì giáo dục chỉ những hoạt động xã hội thực tiễn ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con người
Giáo dục là một lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nhân loại Giáo dục chính là một hiện tượng xã hội, diễn ra quá trình trao truyền tri thức, kinh nghiệm giữa con người với con người thông qua ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệu khác nhằm kế thừa và duy trì sự tồn tại, tiến hóa và phát triển của nhân loại
Chúng ta cần phải chú ý đến đặc điểm là giáo dục diễn ra thường xuyên, liên tục và ở mọi môi trường hoạt động của con người trong gia đình, nơi làm việc, trong các trường lớp, trong quan hệ xã hội
Như vậy, giáo dục do mỗi người tự tìm hiểu và học hỏi, cũng có thể do người khác hướng dẫn Nói như vậy, những trải nghiệm mà cá nhân con người
có được cùng các suy nghĩ, hành động và sự cảm nhận sẽ được coi là giáo dục
Trong Giáo trình giáo dục học đại cương, tác giả Hà Thị Đức đã chỉ ra rằng: “Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt của loài người, một hiện
tượng có mục đích và chỉ xã hội loài người mới có” (Hà Thị Đức, 2019, trang 5)
Theo nhà triết học, nhà tâm lý học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ John Dewey thì lại cho rằng giáo dục là: khả năng của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội Xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy Như vậy theo quan điểm của ông John Dewey, ông đã đề cập đến việc truyền dạy, nhưng mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục là dạy dỗ
Trang 26Giáo dục bao gồm những chức năng cơ bản sau đây:
- Chức năng quan trọng nhất của giáo dục chính là thúc đẩy cá nhân phát triển, bao gồm xã hội hóa và cá tính hóa cả cá nhân
- Chức năng xã hội của giáo dục là bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, phục vụ cho sự phát triển chính trị, kinh tế của đất nước
- Chức năng sâu xa nhất của giáo dục chính là ảnh hưởng đến sự phát triển văn hóa, giáo dục không chỉ chuyển tải văn hóa mà bên cạnh đó cần phải thỏa mãn sự tiếp diễn và đổi mới của bản thân văn hóa
1.2.3.2 Văn hóa giáo dục của Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những quốc gia có lịch sử lâu đời trên thế giới, với hơn 5000 năm lịch sử Trong lịch sử tồn tại lâu đời, Trung Quốc hình thành nên nền văn hóa truyền thống phản ánh n t đặc sắc dân tộc của Trung Quốc, lấy văn hóa Nho gia làm chủ thể Văn hóa truyền thống có ảnh hưởng to lớn đối với nền giáo dục của Trung Quốc, hình thành nên truyền thống giáo dục và chế độ giáo dục độc đáo của Trung Quốc Truyền bá kế thừa văn hóa là chức năng chính của giáo dục, văn hóa truyền thống được truyền bá và kế thừa trong quá trình giáo dục Giáo dục hiện đại của Trung Quốc trên cơ sở của giáo dục truyền thống Trung Quốc, căn cứ vào nhu cầu của xã hội, không ngừng hoàn thiện, phát triển và biến hóa, làm cho nền văn hóa truyền thống được kế thừa và phát triển
Trung Quốc từ lâu coi trọng giáo dục, coi giáo dục là mạch máu sinh tồn của dân tộc, ổn định đất nước, coi trọng việc bồi dưỡng tình cảm yêu nước, lấy
lý luận đạo đức làm hạt nhân, chú trọng nâng cao việc tu dưỡng bản thân, giáo dục đạo đức từ đó mà trở thành mắt xích quan trọng liên kết cá nhân, gia đình, gia tộc và đất nước lại với nhau Mục đích của giáo dục là để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Lấy tư tưởng “hài hòa” làm chủ, làm nổi bật tác dụng
“trật tự” trong giáo dục gia đình Gia đình là đơn vị cơ bản cấu thành xã hội,
sự phức tạp đa dạng của xã hội là do tính đa dạng của gia đình cấu tạo thành, cho nên nền giáo dục thời xưa muốn điều hòa tính đa dạng của gia đình, làm cho xã hội phát triển ổn định
Tinh hoa của tư tưởng giáo dục truyền thống Trung Quốc, quan trọng nhất là lý tưởng đạo đức “Con người đều có thể trở thành thánh hiền” của
Khổng Tử, khai sáng nên quan niệm giáo dục bình dân “有教无类” (Giáo dục
không phân nghèo hèn, cao thấp) Vì thế, toàn dân tộc dâng cao tinh thần giáo dục, tôn sư trọng giáo dục, kỳ vọng giáo dục cao đối với con cái hình thành nên diện mạo tinh thần đặc biệt của xã hội Nho giáo Nền giáo dục Nho học đề
Trang 27cao giá trị đạo đức, nhấn mạnh trách nhiệm của người học với bản thân, gia đình và xã hội Với chế độ khoa cử nổi tiếng, hơn 1000 năm trước đã xác lập nên quy tắc ưu tiên của tri thức, căn cứ vào trình độ giáo dục, trình độ học vấn của người đó mà phân địa vị xã hội của người đó, phân phối tài nguyên xã hội Điểm hạn chế của giáo dục truyền thống cũng rất nhiều, như chính trị hóa và lí luận hóa, lấy việc thi cử làm trung tâm, phương pháp giáo dục học thuộc, sao chép một cách cứng nhắc, ít chú trọng phát triển kỹ năng phân tích sáng tạo của người học, giáo dục xa rời với đời sống xã hội Năm 1960, Mao Trạch Đông đã kịch liệt phê phán tệ nạn giáo dục truyền thống, tập trung vào phương pháp dạy học, chế độ thi cử, mối quan hệ thầy trò , hoàn toàn không hài lòng phương pháp dạy học cũ, chủ trương ít nhưng đặc sắc, gợi mở, giảm nhẹ gánh nặng cho người học, bảo đảm sức khỏe
Năm 1978, Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, tập trung vào bốn hiện đại hóa trong công nghiệp, nông nghiệp, khoa học – công nghệ
và quốc phòng Lúc đó, nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục không phải là hiện đại hóa mà là khôi phục tổ chức và hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân Đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX, cải cách kinh tế thành công với bước chuyển sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tốc độ tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện Giáo dục lúc bấy giờ đối diện với yêu cầu phải cải cách nhằm đáp ứng các yêu cầu về con người và nhân lực của nền kinh tế - xã hội đang chuyển đổi
Trên cơ sở kế thừa truyền thống giáo dục ưu tú, điều quan trọng là khôi phục tính nhân văn của giáo dục, tức là “nhân tính hóa” của giáo dục Từ đó đặt việc rèn luyện nhân cách, bồi dưỡng đạo đức, truyền bá và kế thừa văn hóa vào địa vị trung tâm của giáo dục, khôi phục giáo dục với tôn chỉ cơ bản
là trồng người, giáo dục con người
Trung Quốc với tư cách là một thành viên của quả địa cầu, đương nhiên cũng phải hội nhập vào dòng chủ lưu của nền văn minh thế giới Mặt khác, nền văn minh của mỗi khu vực, dân tộc quốc gia trong quá trình hiện đại hóa của mình, chỉ có thể xuất phát từ lịch sử và truyền thống vốn có cùng với sự chuyển hóa thêm Nền giáo dục hiện đại phát triển theo phương hướng “dân tộc hóa”, thứ nhất là kế thừa và phát huy nền văn minh truyền thống, trí tuệ truyền thống; thứ hai là tiếp thu tri thức, kinh nghiệm, trí tuệ mang tính địa phương, tính dân tộc, tùy từng hoàn cảnh, trường hợp cụ thể mà dung hòa, biến hóa sử dụng văn hóa ngoại lai, sáng tạo nên thực tiễn mới
Nhìn chung, hiện nay giáo dục Trung Quốc rất toàn diện, tích cực đầu tư vào giáo dục – đào tạo để xây dựng một nguồn nhân lực chất lượng cao phục
Trang 28vụ cho sự phát triển của quốc gia Bên cạnh đó, cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Trung Quốc luôn coi giáo dục đào tạo là nhiệm vụ cần đầu tư trước hết nếu muốn có cơ hội cạnh tranh với các siêu cường trên toàn cầu
1.2.3.3 Văn hóa giáo dục của Việt Nam
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, cùng với sự tồn tại và phát triển của dân tộc, giáo dục đã tồn tại, phát triển và luôn luôn đóng vai trò quan trọng, được xem như trụ cột cơ bản của việc xây dựng và vun đắp cho nền văn hiến lâu đời của đất nước
Đất nước Việt Nam trải qua các thời kỳ: thời tiền sử, thời trước Bắc thuộc, thời Bắc thuộc, thời độc lập trung đại và cận đại, thời Pháp thuộc và thời độc lập
tự do hiện tại, nền giáo dục đã từng phải chứng kiến và trải qua bao thăng trầm với những âm mưu xâm lược và đồng hóa của các thế lực phong kiến, thực dân, nhưng những truyền thống dân tộc tốt đẹp vẫn luôn luôn được lưu giữ, tiếp tục tiếp thu có chọn lọc những gì đặc sắc nhất của các nền văn minh nhân loại, nhu cầu hiện đại hóa để từ đó hình thành nên nền giáo dục đào tạo nguồn nhân lực vừa đáp ứng được công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, vừa có khả năng hội nhập trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của Việt Nam
Đối với đất nước Việt Nam hiện nay, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu chính là phát triển kinh tế, mà đó phải là sự phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, phát triển trên nền tảng xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
Năm 1945, cùng với thắng lợi về chính trị, dân tộc ta đã hoàn toàn xóa bỏ nền giáo dục hủ lậu, quỷ quyệt của thực dân Pháp Chế độ mới ra đời, thiết lập nên một nền cộng hòa dân chủ, theo đó nền văn hóa giáo dục cũng được thiết lập Tiêu biểu cho hệ thống quan điểm tư tưởng về văn hóa giáo dục - bộ phận quan trọng trong vấn đề xây dựng nhân tố con người đó là tư tưởng Hồ Chí Minh Sau khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã ra sức nghiên cứu, phân tích sâu sắc nền giáo dục phong kiến và thực dân, chuẩn bị tư tưởng cho một nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập, đó sẽ là một nền giáo dục “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” với mục tiêu thực hiện ba chức năng chính là: Giáo dục để mở mang dân trí, nâng cao kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp, những phẩm chất trong sáng và phong cách lành mạnh cho nhân dân; Giáo dục để đào tạo con người có ích cho xã hội Học để làm việc, làm người Giáo dục để đào tạo những con người mới vừa có đức vừa có tài, những công dân biết làm chủ để đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong sự nghiệp cách mạng thì việc xây dựng con người là chiến lược mang tính quyết định, trong
Trang 29sự nghiệp xây dựng con người thì chiến lược giáo dục được đặt lên hàng đầu,
và trung tâm chiến lược giáo dục là xây dựng và hoàn thiện con người Người coi trọng cả tài lẫn đức, tài đức kết hợp chặt chẽ với nhau và phải lấy đức làm gốc, với tư tưởng “Có tài phải có đức, có tài mà không có đức thì tham ô hủ hóa có hại cho nước Có đức mà không có tài như ông bụt ngồi trong chùa không giúp được ai”
Công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhân cách của con người mới phát triển toàn diện thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục, tư tưởng đó của
Hồ Chí Minh là tài sản vô cùng quý báu đã được Đảng và Nhà nước kế thừa, vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo trong giai đoạn hội nhập và phát triển cùng thế giới hiện nay
Giáo dục trong thời đại nào cũng vậy, cũng mang chức năng truyền tải đạo lý, giáo dục, hình thành nên nhân cách con người và hoàn thiện các phẩm chất tri thức đáp ứng cho nhu cầu của xã hội Nội hàm của giáo dục đã là văn hóa, được chọn lọc và tiếp thu từ tri thức nhân loại và truyền thống dân tộc, giáo dục cũng chính là bảo tồn văn hóa và bồi đắp văn hóa, tạo nên nền văn hóa của đất nước, dân tộc
Tiểu kết
Dựa vào quan điểm về thành ngữ của các nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước, nội dung Chương I đã đưa ra được những khái niệm tổng quan nhất những lý luận về thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt, cũng như những vấn đề liên quan đến thành ngữ như: phân loại và đặc điểm của thành ngữ Từ đó làm
cơ sở lý luận cho việc phân tích và đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt cho các chương sau
Các học giả Trung Quốc đã đưa ra những khái niệm cơ bản về thành ngữ, cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất, mà chỉ mang ý nghĩa tương đối mà thôi Tuy nhiên, xét về góc độ nhìn nhận chung, chúng ta có thể thấy được thành ngữ tiếng Hán là một cụm từ mang kết cấu cố định, chặt chẽ, không thể tách rời hay thay đổi trật tự từ trong cụm từ đó, thành ngữ tiếng Hán phần lớn có 4 âm tiết
Các nhà ngôn ngữ học Việt nam vẫn chưa có sự thống nhất về cách diễn đạt, nhưng về quan điểm thì cơ bản thống nhất Qua đó có thể định nghĩa thành ngữ như sau: thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu ổn định, chặt chẽ, chúng không thể tách rời nhau, là những cụm từ cố định có sẵn trong ngôn ngữ, thường mang một ý nghĩa nhất định, dùng để gọi tên sự vật, trạng thái, tính chất, hành động
Trang 30Liên quan đến việc nghiên cứu thành ngữ, chương I cũng đã nêu ra các công trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt Ngoài
ra, còn có các công trình nghiên cứu đối sánh giữa thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt Mặc dù, trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và so sánh thành ngữ tiếng Hán với thành ngữ tiếng Việt nhưng chủ yếu là các đề tài thành ngữ liên quan đến “nước”, thành ngữ chỉ con số, thành ngữ chỉ thực vật, động vật, loài vật hay chỉ nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ nói chung Cho nên, thông qua việc nghiên cứu đề tài “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt” sẽ giúp độc giả hiểu sâu hơn về văn hóa giáo dục, hiểu biết thêm thành ngữ liên quan đến giáo dục
Trang 31CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thành ngữ là một sản phẩm tinh thần có liên quan đến ngôn từ, là những lời ăn tiếng nói gắn với quá trình phát triển dân tộc Bên trong nó bao gồm cả những yếu tố ngôn ngữ, những yếu tố văn hóa, phong tục, tâm thức và hàng loạt những quan niệm nhân sinh của chủ nhân sáng tạo và sử dụng nó
Để thực hiện tốt quá trình nghiên cứu của mình, việc chọn một loạt các thành ngữ mà trong đó có một thành tố cấu tạo hình thức như là một cái cớ, một dấu hiệu thể hiện đặc điểm cấu tạo và những đặc trưng tâm lý, văn hóa truyền thống dân tộc để thể nghiệm một cách tiếp cận thành ngữ - cách tiếp cận ngôn ngữ văn hóa Loại thành ngữ được lựa chọn là thành ngữ liên quan đến giáo dục Theo tiêu chí này, dựa vào quyển 成语大词典 (Đại từ điển
thành ngữ tiếng Hán) của 编委会 và quyển Từ điển thành ngữ Việt Nam của
Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn hang, & Phan Xuân Thành, luận văn đã thống
kê được 302 thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và 292 thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Việt
Với đề tài luận văn này, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra gồm những vấn đề sau:
- Phân loại thành ngữ về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt
- Dựa theo cơ sở phân loại đó, triệt để khai thác logic hình thức và ngữ nghĩa của thành ngữ để miêu tả đặc điểm về hình thức, đặc điểm về ngữ nghĩa của loại thành ngữ này một cách hệ thống và rõ ràng
- Thông qua thành ngữ, tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu biểu tượng mang tính dân tộc trong tư duy và tâm thức của người bản ngữ
Với những nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra ở trên, luận văn tiến hành thu thập ngữ liệu liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài như tài liệu về giáo dục, tài liệu về ngôn ngữ và văn hóa của hai đất nước Trung Quốc và Việt Nam Sau đó sẽ sử dụng các thủ pháp và phương pháp nghiên cứu sau đây:
2.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Thống kê được sử dụng để thống kê số lượng thành ngữ có liên quan đến giáo dục Luận văn tiến hành thống kê những thành ngữ tiếng Hán có nội dung liên quan đến giáo dục trong成语大词典 (Đại từ điển thành ngữ tiếng Hán),
xuất bản năm 2015 của tác giả Bianweihui - 编委会, Nhà xuất bản 北京:商务印书馆
Trang 32Về phần thành ngữ tiếng Việt, tiến hành thống kê những thành ngữ tiếng
Việt liên quan đến giáo dục trong quyển Từ điển thành ngữ Việt Nam của
Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn hang, & Phan Xuân Thành, xuất bản năm 1993, Nhà xuất bản Văn óa à Nội
Để đạt được mục đích của đề tài luận văn “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt”, nhằm tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ liên quan đến giáo dục, quan điểm,
tư tưởng về giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam, quan điểm và tư tưởng đó được thể hiện như thế nào trong thành ngữ liên quan đến giáo dục, trước hết tiến hành phân loại thành ngữ liên quan đến giáo dục Những thành ngữ này chủ yếu dựa vào ngữ nghĩa của thành ngữ để phân loại, bao gồm các loại sau:
2.1.1 Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường
Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường, bao gồm những từ về học, dạy, về người thầy Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường trong tiếng Hán thống kê được 46 thành ngữ Những từ liên quan đến học đường xuất hiện trong thành ngữ gồm: “学”, “问”, “知”, “教”
Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường trong tiếng Việt thống kê được 18 thành ngữ Trong đó, có những từ liên quan đến học đường gồm:
“ ọc”, “Biết”
2.1.2 Thành ngữ liên quan đến giáo dục gia đình
Thành ngữ có ý nghĩa liên quan đến giáo dục gia đình, bao gồm những từ chỉ mối quan hệ các thành viên trong gia đình và phương pháp giáo dục con cái Dựa vào quyển 成语大词典 (Đại từ điển thành ngữ tiếng Hán), tiến
hành thống kê được 302 thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán, thông qua quá trình khảo sát phân loại có 21 thành ngữ liên quan đến giáo dục gia đình Do đặc điểm của thành ngữ là ý nghĩa mang tính chỉnh thể, cho nên chỉ có một số thành ngữ có những từ liên quan đến gia đình, như: “父”,
“母”, “子”, “家”
Trong tiếng Việt, dựa vào quyển Từ điển thành ngữ Việt Nam, thống kê
được 292 thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Việt, trong đó có 40 thành ngữ liên quan đến giáo dục gia đình Có một số thành ngữ có sự xuất hiện của các từ liên quan đến gia đình, như: “Cha”, “Mẹ”, “Vợ”, “Chồng”,
“Con”, “Anh”, “Chị”
2.1.3 Thành ngữ liên quan đến giáo dục xã hội
Thành ngữ liên quan đến giáo dục xã hội, bao gồm những thành ngữ về
Trang 33đạo đức hay những thành ngữ chỉ về kinh nghiệm sống Thành ngữ liên quan đến giáo dục xã hội trong tiếng Hán có 235 thành ngữ Những từ liên quan đến giáo dục đạo đức xã hội gồm có: “仁”(nhân), “礼 (lễ), “义”(nghĩa), “智”(trí), “信”(tín), “敬”(kính), “知足”(tri túc), “忠”(trung)
Thành ngữ liên quan đến giáo dục xã hội trong tiếng Việt có 234 thành ngữ Ý nghĩa của những thành ngữ này giáo dục đạo đức theo chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam là “cần, kiệm, liêm, chính, yêu thương con người”, những thành ngữ liên quan đến giáo dục đạo đức xã hội phân theo các chuẩn mực đó dựa vào ý nghĩa mà nó thể hiện
2.2 Phương pháp Phân tích
Phương pháp phân tích là một phương pháp được sử dụng nhiều trong nghiên cứu ngôn ngữ học Do đó, luận văn tiến hành phân tích đặc điểm của thành ngữ liên quan đến giáo dục tiếng Hán và tiếng Việt Thông qua phương pháp phân tích này, tiến hành liệt kê kết hợp với những ví dụ về từng loại thành ngữ, rồi kết hợp giữa phân tích đặc điểm và liệt kê thành ngữ Liệt kê là bước ban đầu, làm cơ sở cho nghiên cứu Phân tích là từ bên ngoài đến bên trong, tìm ra mối tương quan của thành ngữ liên quan đến giáo dục của hai ngôn ngữ Hán và Việt
Đề tài dựa trên kết quả số liệu thành ngữ đã thống kê phân loại được, các nhóm từ sử dụng mang tính đặc trưng cho từng loại thành ngữ liên quan đến giáo dục, để tiến hành phân tích các đặc điểm của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trên cơ sở phân tích đặc điểm hình thức và đặc điểm về ngữ nghĩa của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt, tiến hành đi sâu phân tích tư tưởng giáo dục và nội hàm văn hóa của hai dân tộc Hán và dân tộc Việt
2.3 Phương pháp iêu tả:
Phương pháp miêu tả là vận dụng những thủ pháp nghiên cứu để thể hiện đặc tính của ngôn ngữ, là phương pháp rất cần thiết trong quá trình nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp này để tiến hành miêu tả đặc điểm về hình thức, đặc điểm về ngữ nghĩa của loại thành ngữ này một cách hệ thống và rõ ràng
2.4 Phương pháp So sánh – đối chiếu
So sánh chủ yếu dùng để tiến hành so sánh các loại thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt, giúp người học thấy rõ hơn sự
Trang 34chênh lệch về số lượng của mỗi loại thành ngữ, qua đó tìm hiểu thêm các vấn
đề liên quan đến quan niệm của người Trung Quốc về giáo dục
Sau đó tiến hành đối chiếu về mặt ngôn ngữ, bao gồm:
- Phương diện hình thức số lượng âm tiết cấu tạo nên thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt Qua việc đối chiếu có thể thấy được n t tương đồng và khác biệt về số lượng âm tiết cấu tạo nên thành ngữ trong cả hai ngôn ngữ
- Phương diện đặc điểm ngữ nghĩa, giữa thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt có nhiều n t tương đồng trong việc sử dụng thành ngữ, bao gồm yếu tố cách nhìn nhận, góc độ quan sát các sự vật hiện tượng thể hiện qua thành ngữ giáo dục Sự tương đồng về ngữ nghĩa do yếu tố vay mượn từ thành ngữ tiếng Hán tạo nên sự giống nhau về ngữ nghĩa, kết cấu Những hình ảnh sử dụng trong thành ngữ của cả hai đất nước cũng có n t tương đồng, tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều sự khác biệt, do hoàn cảnh tâm lý xã hội và truyền thống lịch sử văn hóa khác nhau của hai đất nước Trung Quốc và Việt Nam, đã tạo nên n t đặc sắc riêng của mỗi dân tộc Từ đó tạo nên sự khác biệt về mặt nội hàm văn hóa của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trang 35CHƯƠNG 3 THÀNH NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC TRONG TIẾNG
HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
Ngôn ngữ là hệ thống biểu đạt và giao tiếp của một dân tộc Vì mỗi dân tộc đều có những đặc trưng lịch sử, văn minh, văn hóa, khí hậu riêng nên có những lời ăn tiếng nói rất riêng Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ chứa đựng văn hóa của một dân tộc đậm nét Tuy nhiên, giữa các dân tộc vẫn tồn tại những sự giống nhau trong cách biểu đạt Tìm hiểu đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa của thành ngữ liên quan đến giáo dục, quan điểm, tư tưởng về giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam, quan điểm và tư tưởng đó được thể hiện như thế nào trong thành ngữ liên quan đến giáo dục, qua đó phân tích nội hàm văn hóa thể hiện trong những thành ngữ đó, sẽ cho ta thấy được n t tương đồng và khác biệt về đặc điểm và nội hàm văn hóa của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt
Thành ngữ liên quan đến giáo dục trong nghiên cứu của luận văn này được phân thành ba loại Việc phân loại thành ngữ liên quan đến giáo dục chủ yếu dựa vào ngữ nghĩa của thành ngữ, bao gồm:
- Thành ngữ có ý nghĩa liên quan đến giáo dục gia đình, bao gồm những
từ chỉ mối quan hệ các thành viên trong gia đình và phương pháp giáo dục con cái
- Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường, bao gồm những từ về học, dạy, về người thầy
- Thành ngữ liên quan đến giáo dục xã hội, bao gồm những từ về đạo đức hay những từ chỉ về kinh nghiệm sống
3.1 Thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán và tiếng Việt
Ngôn ngữ là công cụ, phương tiện truyền tải của văn hóa, thành ngữ là sản phẩm tích lũy văn hóa của mỗi một dân tộc Thành ngữ thể hiện một cách tinh tế những n t đặc sắc của tâm tư, tình cảm cũng như tính cách của con người Trung Quốc và Việt Nam Thành ngữ là một cụm từ cố định phổ biến trong ngôn ngữ, có đặc điểm không thể thay đổi hay thêm bớt các thành phần tham gia cấu tạo nên nó, ý nghĩa mang tính chỉnh thể và thể hiện cả nghĩa đen
và nghĩa bóng Thành ngữ có kết cấu ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh được con người sử dụng trong hoạt động giao tiếp xã hội
Thành ngữ là sản phẩm của lao động sản xuất trong đời sống hằng ngày, phản ánh những đặc trưng tâm lý của từng dân tộc Có thể nói rằng thành ngữ
Trang 36là đơn vị ngôn ngữ ẩn chứa trong mình những đặc trưng văn hóa của một dân tộc Cho nên việc tìm hiểu nghiên cứu thành ngữ giúp ta không chỉ hiểu cặn kẽ hơn về một đơn vị đặc trưng của ngôn ngữ mà còn hiểu biết sâu sắc hơn về đặc trưng văn hóa của dân tộc đó
Thành ngữ liên quan đến giáo dục là những thành ngữ có nội dung liên quan đến hoạt động giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, bao gồm các thành ngữ chỉ cách thức và phương pháp đào tạo, các thành ngữ mang ý nghĩa khuyên nhủ, răn dạy, chỉ bảo kinh nghiệm sống được tích lũy từ lâu đời, được diễn ra trong nhiều môi trường khác nhau
Giáo dục là nền tảng quan trọng của xã hội, của mỗi dân tộc, của mỗi đất nước Một đất nước có nền giáo dục tốt thì đào tạo được càng nhiều nhân tố xã hội hội đủ cả tài lẫn đức để cung cấp nguồn nhân lực tốt, giúp phát triển kinh
tế và xã hội Giáo dục là một vấn đề rất cần thiết trong cuộc sống, đặc biệt trong thời đại hiện nay Bên cạnh việc giáo dục về văn hóa ở trường học, còn
có giáo dục về nhân cách, đạo đức ở gia đình, về đối nhân xử thế giữa con người với con người, cách tiếp cận hay cách xử lý các vấn đề thường gặp trong xã hội
3.1.1 Thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán
Các thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán thống kê từ quyển
chính để tiến hành phân loại thành ngữ và nghiên cứu đặc điểm về hình thức, ngữ nghĩa và nội hàm văn hóa của chúng
Thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán rất đa dạng, chiếm số
lượng là 302 thành ngữ, ví dụ: “拔苗助长” (Nóng vội chỉ dẫn đến hỏng việc);
bằng mình là chuyện mất mặt); “孟母三迁” (Mẹ của Mạnh Tử vì muốn có
được môi trường dạy con tốt mà chuyển nhà đến ba lần, chấp nhận cực khổ để con có môi trường tốt)…
3.1.1.1 Phân loại thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán
Luận văn này tiến hành phân loại thành ngữ liên quan đến giáo dục thành
ba loại chính: Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường, Thành ngữ liên quan đến giáo dục gia đình và Thành ngữ liên quan đến giáo dục xã hội
a Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường
Giáo dục học đường là chỉ hoạt động dạy và học được diễn ra trong môi trường trường học, bao gồm các đặc điểm như: có địa điểm tổ chức dạy và học
cố định, có thầy cô giáo dạy dỗ và có học sinh học tập với mục tiêu dạy học
Trang 37theo từng cấp học, từng độ tuổi, theo khung chương trình chung của ngành giáo dục đặt ra Cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội, giáo dục học đường ngày càng trở nên hoàn thiện Trường học không chỉ là nơi đào tạo kiến thức về văn hóa, mà còn là nơi nuôi dưỡng những thế hệ tương lai trở thành những nhân tố trọn vẹn về cả thể chất, trí tuệ, tinh thần và cảm xúc, nuôi dưỡng thế hệ tương lai sở hữu một nền tảng nội tại vững chãi, trở thành những con người biết cách sống, biết cách hành xử, quý trọng thầy cô, yêu mến bạn
bè, có khả năng tự học và yêu học hành Từ đó, các em sẽ là thế hệ góp phần tạo nên một xã hội hạnh phúc và thịnh vượng
Trong số 302 thành ngữ liên quan đến giáo dục thì thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường có 46 thành ngữ, chiếm 15,2% Ví dụ: “学无常师”
(Học hành không có thầy cố định, những người có học vấn, sở trường đều là thầy); “学以致用” (Học để ứng dụng); “不学无术” (Không có học vấn,
không có bản lĩnh)…
b Thành ngữ liên quan đến giáo dục gia đình
Bậc làm cha làm mẹ, ai cũng mong rằng con mình sẽ trở thành một người xuất sắc Đối với những người lần đầu làm cha mẹ, họ gặp rất nhiều vấn
đề trong việc giáo dục con cái Trong các gia đình của người Trung Quốc, “tài sản của ba mẹ chính là con cái”, cho nên họ ra sức chăm sóc, dạy dỗ con cái của mình
Gia đình ở bất cứ nơi nào trên thế giới luôn luôn là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người Đối với người Trung Quốc cũng vậy, họ quan niệm rằng giáo dục gia đình là sự giáo dục của phụ huynh mà đứng đầu là cha mẹ đối với con cái của họ, thông qua thực tế sinh hoạt gia đình, các hành động, lời nói có tác dụng làm gương đối với con cái của các thành viên trong gia đình Giáo dục gia đình từ lâu đã đóng vai trò quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc nhất trong cuộc đời của mỗi con người Giáo dục gia đình là một trong ba bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống giáo dục kết hợp giữa giáo dục học đường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, luôn luôn và sẽ ngày càng được coi trọng
Chính mức độ quan trọng của giáo dục gia đình, từ xa xưa, người dân Trung Quốc đã đúc kết được nhiều thành ngữ liên quan đến giáo dục gia đình Theo kết quả đã thống kê được số lượng thành ngữ liên quan đến giáo dục gia đình là 21 thành ngữ, chiếm 6.95% so với số lượng thành ngữ liên quan đến
giáo dục trong tiếng Hán Ví dụ: “并蒂芙蓉” (Vợ chồng yêu thương lẫn
nhau); “父慈子孝” (Cha mẹ nhân từ con cái hiếu thuận); “骨肉相连” Nói
đến mối quan hệ máu mủ ruột thịt khắng khít, không thể tách rời…
Trang 38c Thành ngữ liên quan đến giáo dục xã hội
Giáo dục xã hội, theo nghĩa rộng là chỉ hoạt động giáo dục xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của con người, được tiến hành cùng với giáo dục học đường và giáo dục gia đình; theo nghĩa hẹp là chỉ các loại hoạt động giáo dục về văn hóa, tri thức đời sống của các cơ quan giáo dục văn hóa
xã hội dành cho thanh thiếu niên và quần chúng nhân dân
Ở Trung Quốc, chức năng giáo dục sớm nhất trong lịch sử giáo dục chính là được thực hiện thông qua giáo dục xã hội Vào thời kỳ xã hội nguyên thủy, gia đình vẫn chưa được hình thành, giáo dục lớp trẻ do các thành viên của xã hội thị tộc thông qua các hành động dùng ngôn ngữ và hành vi tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình lao động cộng đồng, trong đời sống xã hội thường ngày, hoặc là do những người lớn tuổi có kinh nghiệm tiến hành truyền dạy một số phương thức kinh nghiệm trong sinh hoạt và sản xuất đơn giản cho lớp trẻ Những kinh nghiệm sống, những quan niệm về đạo đức nhân cách được tích lũy lâu đời từ thế hệ này sang thế hệ khác, đúc kết thành những thành ngữ mang yếu tố giáo dục, rèn luyện nhân cách, đạo đức cho con người
là mỗi nhân tố thực thể của xã hội
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, việc giáo dục về đạo đức hay giáo dục về kinh nghiệm sống càng đóng vai trò quan trọng Bồi dưỡng, đào tạo những con người vừa có tài vừa có đức, phục vụ cho công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước, đưa đất nước tiến ra hòa nhập với thế giới, là một nhiệm vụ quan trọng đặt ra của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
Thành ngữ liên quan đến giáo dục xã hội được thống kê từ quyển 成语大
词典 (Đại từ điển thành ngữ tiếng Hán) với số lượng 235 thành ngữ, chiếm số
lượng lớn nhất trong tổng số thành ngữ liên quan đến giáo dục (77,85%) Ví
dụ: “经一事,长一智” (Bản thân trải qua một việc gì đó, có thể tăng thêm
một phần kiến thức về mặt đó); “敬老慈幼” (Kính lão yêu trẻ); “敬老怜贫” ( ính lão yêu thương kẻ yếu)…
3.1.1.2 Đặc điểm của thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán
a Đặc điểm về hình thức
Dựa vào số lượng thống kê 302 thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán, tiến hành thống kê phân loại số lượng âm tiết để thấy rõ tỉ lệ về số
âm tiết của các thành ngữ Qua đó, chúng ta sẽ thấy được các thành ngữ có số
âm tiết chẵn hay lẻ chiếm tỉ lệ cao trong hệ thống thành ngữ này
Trang 39Bảng 3.1: Bảng thống kê số lượng âm tiết thành ngữ liên quan đến giáo dục
trong tiếng Hán
1 4 âm tiết 213 70,53% 孺子可教 (Trẻ nhỏ dễ dạy)
bằng cha)
玉不琢,不成器 (Con người phải được rèn luyện đến nơi đến chốn mới nên người)
người khác mọi lúc mọi nơi)
兵来将挡,水来土按 (Căn cứ tình hình cụ thể mà quyết định đối sách)
凡 事 预 则 立 ,不 预 则废 (Làm việc gì phải có kế hoạch chuẩn bị trước, mới có thể thành công, nếu không sẽ thất bại)
救人一命,胜造七级浮屠 (Cứu tính mạng con người, công đức vô lượng, hơn xây tòa tháp 7 tầng)
Dựa vào bảng thống kê trên chúng ta có thể thấy được rằng, trong tổng
số 302 thành ngữ liên quan đến giáo dục trong tiếng Hán, số lượng thành ngữ
do 4 âm tiết cấu tạo thành là 213 câu, chiếm tỉ lệ cao nhất (70.53%), ví dụ:
bước); “本性难移” (Bản tính khó thay đổi được); “兵无常胜” (Làm việc
cũng có khi sai lầm)… Thành ngữ có số âm tiết chiếm tỉ lệ khá cao, đứng sau
4 âm tiết là thành ngữ do 8 âm tiết cấu tạo thành gồm có 37 câu, chiếm tỉ lệ
12,25%, ví dụ: “读书百遍,其义自见” (Đọc lui đọc tới đến nỗi thuộc làu, ý
nghĩa của nó tự sẽ rõ ràng); “十年树木,百年树人” (Bồi dưỡng nhân tài cần
thời gian dài, có kế hoạch lâu dài và không phải là việc dễ dàng); “不经一事,
nghiệm có thể làm cho con người tăng thêm tri thức)… Tỉ lệ thành ngữ có số
Trang 40lượng âm tiết là 6 âm tiết cũng khá cao với 18 thành ngữ, chiếm tỉ lệ 5.96%, ví
dụ: “家丑不可外扬” (Việc không tốt trong nhà đừng đem nói ra ngoài); “出
mà vẫn giữ được phẩm chất thuần khiết, không bị nhiễm thói xấu); “打蛇打七
Qua phân tích ở trên, có thể thấy được điều đáng chú ý là những thành ngữ
có 4 âm tiết, 6 âm tiết, 8 âm tiết chiếm ưu thế về số lượng hơn Như vậy, người Trung Quốc rất thích dùng lối nói cân đối nhịp nhàng và hài hòa về âm điệu
b Đặc điểm ngữ nghĩa
Thành ngữ là bông hoa kỳ diệu trong dòng phát triển lịch sử của Trung Quốc, nó thấm sâu vào mảnh đất văn hóa phong phú và đậm đà bản sắc của dân tộc Trung Hoa Với âm điệu hài hòa, hình thức đơn giản, ngắn gọn mà súc tích, dễ nhớ Nội dung ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Hán rất phong phú đa dạng, mang nhiều ý nghĩa và nội hàm văn hóa ở trong đó
Thành ngữ liên quan đến giáo dục trong giới hạn đề tài luận văn này được phân thành ba loại chính: Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường, thành ngữ liên quan đến giáo dục gia đình và thành ngữ liên quan đến giáo dục
xã hội
Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường
Thành ngữ liên quan đến giáo dục học đường có thể phân thành hai loại như sau: thành ngữ chỉ phương pháp học tập và thành ngữ chỉ phương pháp dạy học, cụ thể như sau:
- Thành ngữ chỉ phương pháp học tập:
Trung Quốc là quốc gia có truyền thống học tập từ lâu đời, người Trung Quốc có truyền thống rất chú trọng vào việc học, siêng năng chăm chỉ, họ quan niệm rằng “书山有路勤为径,学海无涯苦做舟” (Siêng năng là con đường dẫn đến ngọn núi tri thức, chăm chỉ là con thuyền đến biển học hỏi), chăm chỉ là điều kiện tiên quyết đi đến thành công Họ tìm tòi, học hỏi sử dụng các cách học, phương pháp học khác nhau để tiếp thu kiến thức
Học tập không chỉ đơn thuần là quá trình chúng ta rèn luyện, tiếp thu tri thức mà còn là vấn đề rèn luyện đạo đức, nhân cách Con người với tư cách là một cá thể của xã hội, ngoài tài ra phải hội đủ cả đức Học tập để tiếp thu, rèn luyện về nhân cách sống, trau dồi những chuẩn mực đạo đức Phương pháp học tập là thông qua thực tiễn học tập, từ đó rút ra phương pháp học tập để có thể nhanh nắm bắt kiến thức Không có bất cứ một phương pháp học tập cố