1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật trong tiếng việt và tiếng nhật

103 78 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối Chiếu Đặc Điểm Ngôn Ngữ Của Thành Ngữ Có Yếu Tố Chỉ Thực Vật Trong Tiếng Việt Và Tiếng Nhật
Tác giả Dương Thảo Vy
Người hướng dẫn TS. Đào Thị Nga My
Trường học Đại Học Huế - Trường Đại Học Ngoại Ngữ
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luận văn này, trên cơ sở khảo sát, phân tích đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật trong tiếng Việt, làm tiền đề đối chiếu với tiếng Nhật thông qua phương pháp so

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

-

DƯƠNG THẢO VY

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

THỪA THIÊN HUẾ, 2021

Trang 2

HUE UNIVERSITY SCHOOL OF FOREIGN LANGUAGES

-

DUONG THAO VY

A CONTRASTIVE STUDY OF LINGUISTIC FEATURES OF IDIOMS CONTAINING WORDS DENOTING PLANTS IN

VIETNAMESE VERSUS JAPANESE

M.A THESIS CONTRASTIVE LINGUISTICS

CODE: 8222024

SUPERVISOR:

DAO THI NGA MY, Ph.D

THUA THIEN HUE, 2021

Trang 3

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

-

DƯƠNG THẢO VY

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

Trang 4

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Huế, ngày 02 tháng 8 năm 2021

Tác giả

Trang 5

ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Thành ngữ là một bộ phận đặc biệt trong ngôn ngữ của mỗi quốc gia Thành ngữ không chỉ đơn thuần được cấu thành từ từ, ngữ, câu mà trên hết chính là kết tinh của một nền văn hóa Thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Nhật đều thông qua ngôn ngữ mà thể hiện tâm tư, tình cảm, tư duy của con người về các sự vật hiện tượng, các kinh nghiệm sản xuất và hơn nữa là những quan niệm lịch sử văn hóa xã hội của một dân tộc Trong luận văn này, trên cơ

sở khảo sát, phân tích đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật trong tiếng Việt, làm tiền đề đối chiếu với tiếng Nhật thông qua phương pháp

so sánh, đối chiếu, luận văn đã làm rõ được những tương đồng cũng như những đặc trưng riêng biệt của mỗi ngôn ngữ về nhiều mặt cấu trúc, ngữ nghĩa Qua đó chỉ ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa của hai đất nước Từ kết quả đó, luận văn đã góp phần cho sự phát triển của lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và thành ngữ nói riêng, giúp người dịch thuật hiểu được những đặc điểm ngôn ngữ giống nhau và khác nhau của thành ngữ tiếng Nhật và tiếng Việt về mảng hình ảnh thực vật Luận văn được nghiên cứu bằng các phương pháp định tính, định lượng, khảo sát thống kê dựa trên nguồn ngữ liệu là từ điển thành ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật, phương pháp miêu tả,

so sánh, đối chiếu để đạt được những mục đích nghiên cứu đã đề ra

Trong chương 1, luận văn đã trình bày những cơ sở lý thuyết như định nghĩa về thành ngữ từ các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước, các vấn đề liên quan đến đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ như: đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa… làm cơ sở cho việc so sánh đối chiếu ở chương 3 Chương 2 chủ yếu tập trung nêu lên những phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn, khảo sát và thu thập những thành ngữ có yếu tố thực vật trong tiếng Việt và tiếng Nhật từ nguồn ngữ liệu đã chọn Chương 3 tập trung vào việc,

mô tả và phân tích đặc điểm ngôn ngữ như đặc điểm cấu trúc cú pháp, đặc điểm phong cách, đặc điểm ngữ nghĩa của các yếu tố chỉ thực vật trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật Trên cơ sở những kết quả có được từ chương 3, chương 4 tập trung vào thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu và lý giải những điểm tương đồng và dị biệt giữa các thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật tiếng Việt và tiếng Nhật Thông qua đó nêu ra được sự giống nhau và khác nhau của các đặc điểm ngôn ngữ giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật Trải dài suốt chương 4 là công trình điều tra nghiên cứu phân tích để đi đến kết luận thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật của Việt Nam và Nhật Bản có những nét tương đồng trên nhiều khía cạnh ngôn ngữ sẽ được trình bày cụ thể trong luận văn

Trang 6

iii

ABSTRACT

Idioms are a special part of the language of each country or nation Idioms are not just composed of words and sentences of a certain language which above all are the crystallization of a culture Idioms in both Vietnamese and Japanese are all through language that express people's thoughts, feelings and minds about things This thesis, drawing literally on a survey and analysis

of linguistic features of Vietnamese idioms with botanical elements, shall form the basis for comparison with Japanese idioms Similarly, through the method

of comparison and contrast, the thesis has clarified the similarities as well as the distinct features of each language in terms of structure and semantics From these results, the thesis has contributed to develop the history of language research in general and idioms in particular that help translators understand the similarities and differences of linguistics features of Japanese and Vietnamese idioms in plant images so that language teachers and learners understand more about the characteristics of languages and find more effective methods of teaching and learning languages The thesis is researched by qualitative, quantitative, statistical survey methods based on language resources as Vietnamese and Japanese idioms dictionaries, and descriptive, comparative and contrasting methods to achieve the goals mentioned

In chapter 1, the thesis has presented theoretical foundations such as the definition of idioms issues related to such linguistic characteristics of the idioms as structural characteristics and semantic characteristic which are seen

as the basis for comparing and contrasting in Chapter 3 Chapter 2 mainly focuses on stating the research methods used in the surveying and collecting idioms with botanical elements in Vietnamese and Japanese from selected language resources Chapter 3 describing and analyzing linguistic features such as syntactic structure, rhetorical devices, and semantic features of botanical elements in Vietnamese and Japanese idioms On the basis of the results obtained from Chapter 3 and Chapter 4, it is focused on statistics, analysis, comparison, contrast and explanation of similarities and differences between Vietnamese and English idioms with botanical elements through which highlights the similarities and differences of linguistic features between Vietnamese and Japanese idioms and points out the similarities and differences in the cultures of both countries An investigation and analysis work covered throughout chapter 4 is to come to the conclusion that idioms with botanical elements of Vietnam and Japan have similarities in many linguistic aspects will be given in the thesis in detail

Trang 7

iv

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, em đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, quý Thầy Cô giáo và gia đình

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đào Thị Nga My – Giảng viên đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn

Em xin được gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong Trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế, những người đã dạy dỗ, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng, xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã luôn động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian qua

Huế, ngày 13/8/2021

Trang 8

v

DANH SÁCH BẢNG, HÌNH

Bảng 1.1 Tỉ lệ phân bố thành ngữ có cấu trúc là cụm từ/ cụm chủ vị

trong tiếng Việt và Tiếng Nhật 10

Bảng 1.2 Bảng thống kê các loài thực vật xuất hiện trong thành ngữ

tiếng Việt 20-21 Bảng 1.3 Bộ phận của thực vật được phản ánh trong thành ngữ tiếng Việt 22

Bảng 2.1 Số lần xuất hiện của các yếu tố chỉ thực vật trong thành ngữ

Hình 2.1 Biểu đồ tần suất xuất hiện của các yếu tố thực vật phổ biến

trong thành ngữ tiếng Việt 33 Hình 2.2 Bản đồ lúa Việt Nam 2007 33 Hình 2.3 Lược đồ nông nghiệp Việt Nam 34

Bảng 2.4 Tần suất xuất hiện của các yếu tố chỉ thực vật trong thành ngữ

Trang 10

vii

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Tóm tắt luận văn ii

Abstract iii

Lời cảm ơn iv

Danh sách bảng, hình v

Danh mục từ viết tắt vi

Mục lục vii

MỞ ĐẦU 1 1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa của đề tài 3

5 Bố cục của luận văn 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4 VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 4

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 5

2 Cơ sở lý thuyết 6

2.1 Thành ngữ và các đặc trưng thành ngữ 6

2.1.1 Khái niệm về thành ngữ 6

2.1.2 Đặc điểm của thành ngữ 10

2.1.3 Chức năng của thành ngữ 18

2.2 Khái niệm về thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật 18

2.2.1 Định nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật 18

2.2.2 Đặc điểm cơ bản của thành ngữ chứa yếu tố chỉ thực vật 19

2.2.3 Các yếu tố thực vật xuất hiện trong thành ngữ 20

Tiểu kết chương 1 23

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.1 Phương pháp nghiên cứu 24

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 24

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 24

Trang 11

viii

2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 25

2.2.1 Phương pháp khảo sát thống kê 25

2.2.2 Phương pháp phân tích thành tố ngữ nghĩa 40

2.2.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu đặc trưng ngôn ngữ 40

Tiểu kết chương 2 42

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA THÀNH NGỮ 43 CÓ YẾU TỐ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT 3.1 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ có yếu tố thực vật 43

3.1.1 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật tiếng Việt 43

3.1.2 Đặc điểm biện pháp tu từ của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật tiếng Việt 45

3.1.3 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ có yếu tố thực vật tiếng Nhật 48

3.1.4 Đặc điểm biện pháp tu từ của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật tiếng Nhật 51

3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố thực vật trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật 53

3.2.1 Tính đa nghĩa của các yếu tố thực vật trong thành ngữ Việt - Nhật 53

3.2.2 Thiên hướng nghĩa của các yếu tố thực vật trong thành ngữ Việt - Nhật 55

3.2.3 Liên tưởng nghĩa thành tố thực vật trong thành ngữ Việt - Nhật 60

Tiểu kết chương 3 62

CHƯƠNG 4: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 63 THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT 4.1 Những tương đồng và dị biệt của thành ngữ có yếu tố thực vật Việt - Nhật về sự xuất hiện của các yếu tố thực vật 63

4.1.1 Điểm tương đồng 63

4.1.2 Nét dị biệt 65

4.2 Những tương đồng và dị biệt về tần suất xuất hiện thực vật trong thành ngữ có yếu tố thực vật Việt - Nhật 70

4.2.1 Điểm tương đồng 71

Trang 12

ix

4.2.2 Nét dị biệt 73

4.3 Những tương đồng và dị biệt về cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ có yếu tố thực vật Việt - Nhật 74

4.3.1 Điểm tương đồng 74

4.3.2 Nét dị biệt 76

4.4 Những tương đồng và dị biệt về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố thực vật Việt - Nhật 77

4.4.1 Điểm tương đồng và dị biệt về tính đa nghĩa của thành ngữ có yếu tố thực vật Việt - Nhật 77

4.4.2 Điểm tương đồng và dị biệt về khuynh hướng nghĩa của yếu tố thực vật trong thành ngữ Việt - Nhật 78

4.4.3 Điểm tương đồng và dị biệt về liên tưởng nghĩa của yếu tố thực vật trong thành ngữ Việt - Nhật 80

Tiểu kết chương 4 84

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 13

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt” - Nguyễn Thiện Giáp (Dẫn luận ngôn ngữ học Nxb Giáo dục 1998) Mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đều

sở hữu một hệ thống ngôn ngữ mang đậm bản sắc và thể hiện văn hóa của chính quốc gia đó Ngôn ngữ không chỉ là tiếng nói mà còn là phương tiện để biểu đạt tâm tư tình cảm, những nét văn hóa trong đời sống tinh thần của mỗi con người thông qua nhiều phương thức khác nhau như: thơ, truyện, tiểu thuyết, bút ký… Trong đó loại hình gần gũi, tuy ngắn gọn nhưng lại mang

nhiều trường nghĩa sâu sắc đó chính là thành ngữ

Thành ngữ chính là tập hợp của những từ ngữ cố định, quen dùng và thường thông qua một số phép chuyển nghĩa như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa để tạo nên một nghĩa hoàn chỉnh hơn từ nghĩa gốc của những từ tạo ra nó Những

từ ngữ cố định đó thường đến từ những hình tượng bình dị và gần gũi, gắn bó

mật thiết với đời sống của mỗi con người

Với tư cách là một sản phẩm tinh thần có liên quan đến ngôn ngữ, kho tàng thành ngữ cũng được phát triển và làm đầy qua quá trình sinh hoạt và giao tiếp trong cộng đồng hằng ngày Cũng chính từ đặc điểm phản ánh đậm nét đời sống tinh thần cũng như đặc trưng văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ mà việc tìm hiểu và nghiên cứu một ngôn ngữ nói chung cũng phải gắn liền với việc tìm hiểu và nghiên cứu về thành ngữ của ngôn ngữ đó Việc sử dụng thành thạo, chính xác thành ngữ chính là kết quả của việc nghiên cứu và nắm bắt thông thạo ngôn ngữ đó Chính vì lý do trên mà thành ngữ trở thành một phạm vi nghiên cứu hấp dẫn, thú vị và nhận được nhiều sự chú ý đặc biệt của giới nghiên cứu ngôn ngữ cũng như những người học, quan tâm và yêu mến ngôn ngữ Ngôn

ngữ học so sánh đối chiếu cũng không nằm ngoài quan điểm trên

Từ vô vàn chất liệu tạo nên thành ngữ, nổi bật là chất liệu mang tâm hồn, cảm xúc và tinh thần như hình ảnh những con vật gần gũi với đời sống, các bộ phận cơ thể người mang tính gợi hình gợi tả cao thì thực vật cũng là một trong những chất liệu đa dạng mà khả năng diễn đạt của nó cũng không hề thua kém những yếu tố giàu cảm xúc kia Với đặc điểm nêu trên, “thực vật” trong thành ngữ trở thành một vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu trong quá trình học,

sử dụng ngôn ngữ nói chung và thành ngữ nói riêng Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết các nhà nghiên cứu thường tập trung khai thác hình tượng động vật, các bộ phận cơ thể người, hình tượng người phụ nữ trong thành ngữ nhưng lại

có rất ít công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài thực vật Vì thế, việc đưa ra nhiều thành quả nghiên cứu liên quan đến thực vật là mục tiêu cấp thiết để bổ sung thêm nguồn ngữ liệu cho quá trình dạy và học cũng như nghiên cứu ngôn

ngữ sau này

Trang 14

2

Với quá trình học tập và nghiên cứu tiếng Nhật trong nhiều năm, bên cạnh đối tượng nghiên cứu chính là Thành ngữ tiếng Việt, nghiên cứu chọn sử dụng Thành ngữ tiếng Nhật là đối tượng để so sánh đối chiếu Nghiên cứu này

sẽ tập trung khai thác và nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ thực vật trong thành ngữ tiếng Việt và đối chiếu với tiếng Nhật đồng thời chỉ

ra tác dụng của những từ ngữ thực vật trong việc cấu thành cũng như biểu đạt

ý nghĩa của thành ngữ Bên cạnh đó, việc thực vật - loài sinh vật vô tri không

có suy nghĩ, không biểu đạt được cảm xúc này liệu có đặc điểm ngữ nghĩa đa dạng phong phú như chất liệu động vật, con người hay không? Từ những vấn

đề cấp thiết đó thúc đẩy việc thực hiện đề tài nghiên cứu này

Ngoài ra, bằng việc so sánh đối chiếu này chúng ta có thể nhận thấy được sự giống nhau không chỉ về mặt ngôn ngữ mà còn về những quan niệm sống, tín ngưỡng, tôn giáo và mối liên hệ về lịch sử văn hóa, xã hội, thế giới quan, nhân sinh quan, sự giao thoa văn hóa giữa các nước trong cùng một khu vực Đồng thời, việc nghiên cứu thành công các nét dị biệt sẽ chỉ ra được

những phân nhánh phát triển riêng biệt mang đậm dấu ấn của mỗi quốc gia

Trên hết, dựa trên sự đúc kết tinh hoa trong thành ngữ, nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này đưa các nước đến gần nhau nhiều hơn Đặc biệt là khu vực Đông Nam Á nói riêng và Châu Á nói chung - khu vực nhiệt đới gió mùa với đặc điểm chung là sự đa dạng của thảm thực vật Việc tận dụng ưu điểm của đất nước trở thành một nguồn ứng dụng cao trong ngôn ngữ cũng là mục tiêu

để tiến hành nghiên cứu đề tài này

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu và nghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật trong Tiếng Việt – tiếng Nhật, luận văn tập trung so sánh, đối chiếu để chỉ ra được những đặc điểm tương đồng, dị biệt về đặc điểm ngôn ngữ giữa chúng Từ đó, góp phần vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu nghiên cứu thành ngữ, vận dụng thành ngữ vào cuộc sống cũng như công việc hàng ngày Trên hết là có thể vận dụng để phục vụ cho công việc liên quan

đến ngôn ngữ như giảng dạy hay dịch thuật

Hiện nay, thành ngữ được mọi người biết đến như là một yếu tố ngôn ngữ được tạo thành và lưu giữ từ ngàn xưa cho đến ngày nay, nhưng rất ít đối tượng có thể ghi nhớ, vận dụng một cách thành thạo thành ngữ phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu ngôn ngữ của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn chỉ giới hạn tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật trong tiếng Việt bao gồm các yếu tố thực

Trang 15

Utaguchi)

4 Ý nghĩa của đề tài

- Về ý nghĩa lý luận: hiểu sâu hơn về đặc điểm ngữ dụng, các điểm tương đồng và dị biệt của các yếu tố thực vật trong thành ngữ cũng như nắm vững

hơn về từ vựng trong tiếng Nhật

- Về ý nghĩa thực tiễn: kết quả của nghiên cứu này sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về sau Giúp cho việc ứng dụng thành ngữ trở nên phổ biến hơn Giúp cho việc dạy và học ngoại ngữ tốt hơn, hiểu sâu

hơn về các yếu tố văn hóa đi kèm với việc sử dụng ngôn ngữ

5 Bố cục của luận văn

Tuy chỉ nghiên cứu một bộ phận của thành ngữ tiếng Việt, nhưng để tạo

cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề mà nội dung luận văn yêu cầu, nghiên cứu vẫn phải bắt đầu từ việc tìm hiểu thành ngữ nói chung, sau đó mới

đi vào từng khía cạnh của đề tài Nội dung đầu tiên cung cấp cái nhìn tổng quan về thành ngữ có yếu tố thực vật trong tiếng Việt và tiếng Nhật (chương 1) Phần chủ yếu của luận văn nằm ở chương 3 và 4: đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ có yếu tố thực vật tiếng Việt - tiếng Nhật Ở chương này, ngoài việc thống kê, luận văn tiến hành miêu tả đặc điểm ngôn ngữ của một số từ ngữ chỉ thực vật có tần số xuất hiện cao trong thành ngữ tiếng Việt, miêu tả ngữ nghĩa các từ chỉ thực vật, phân tích mối quan hệ giữa các thành tố chỉ thực vật trong một thành ngữ Đồng thời luận văn cũng dành một phần để trình bày về thành ngữ so sánh ẩn dụ chứa thành tố thực vật Luận văn cũng chú ý việc so sánh đối chiếu với thành ngữ tiếng Nhật trên cơ sở những số liệu thu thập được Trong nghiên cứu này có 89 trang chính văn, 02 trang danh mục tài liệu tham khảo

Trang 16

4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thành ngữ không phải là một đề tài mới mẻ

Ở Việt Nam cũng như nước ngoài trong giai đoạn hiện nay, đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ phân tích, so sánh, đối chiếu về lĩnh vực này Tiêu biểu có thể

kể đến các nhà nghiên cứu trong nước như Nguyễn Như Ý (1996), Vũ Quang Hào (1995), Nguyễn Thiện Giáp (2008), Hoàng Văn Hành (2008), Nguyễn Thị Hồng Thu (2006), Ngô Minh Thủy (2006), Cùng với đó là những nhà nghiên cứu nước ngoài như Galperin (1981), Daiji Shinraishi (白石大二) (1950), Akira Nakamura (中村明)(1985), Yoshiyuki Morita (森田良行) (1994)… Điều đó cho ta thấy được sự quan tâm từ rất sớm của các nhà nghiên cứu Hiện nay, không khó để có thể tìm gặp các bài báo viết, báo điện tử, giáo

trình, khóa luận, luận văn hay luận án đề cập và nghiên cứu về vấn đề này

Trong xu thế hội nhập và phát triển mà nhu cầu học ngoại ngữ trở thành một nhu cầu tất yếu của con người, xã hội đã đưa ra nhiều yêu cầu cấp bách

đòi hỏi giới nghiên cứu phải giải quyết

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ như nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và phát triển, các vấn đề về ngữ nghĩa hoặc các bình diện về văn hóa của thành ngữ, tiêu biểu như các tác giả: Nguyễn Đức Dân (1986), Hoàng Văn Hành (1987), Phan Xuân Thành (1990,

1992, 1995), Nguyễn Như Ý (1992), Nguyễn Văn Khang (1994), v.v…

Hướng nghiên cứu mới nhất là tiếp cận thành ngữ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận Trong công trình “Đặc trưng Văn hóa Dân tộc của ngôn ngữ và tư duy”, Nguyễn Đức Tồn (2006) đã nghiên cứu về “Đặc trưng tư duy của người Việt qua ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ” và rút ra kết luận ẩn

dụ tri nhận trong thành ngữ tiếng Việt thuộc tiểu loại ẩn dụ cấu trúc Vì vậy, tác giả cho rằng khi xét ẩn dụ cấu trúc của một thành ngữ chính là xét ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ, cũng tức là xét mối quan hệ giữa nguồn và đích quy

chiếu của ẩn dụ cấu trúc trong thành ngữ

Mặt khác, nghiên cứu thành ngữ còn được đặt dưới góc độ hình thái cấu trúc, ngữ nghĩa rằng thành ngữ có hình thái cấu trúc cố định và ổn định, nó được cấu tạo bởi thành phần trung tâm và thành phần phụ trước sau Thành ngữ có trường nghĩa đa dạng và phong phú bởi nó mang nhiều tầng nghĩa ẩn chứa đằng sau các từ ngữ thành phần Có thể nhắc đến một số công trình như:

“Thành ngữ trong tiếng Việt” (Hoàng Văn Hành, 1987); “Đặc điểm hình thái

Trang 17

5

và ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh tiếng Việt (so sánh với thành ngữ so sánh tiếng Anh) (Lâm Bá Sĩ, 2002); “So sánh cấu trúc - chức năng của thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt” (Hoàng Diệu Minh, 2002) Hay tác giả Ngô Minh Thủy (2006) đã nghiên cứu về “Đặc điểm thành ngữ tiếng Nhật (trong sự so sánh với thành ngữ tiếng Việt)” chỉ ra rằng “thành ngữ trong tiếng Nhật cũng có số lượng tương đối lớn và cũng như nhiều ngôn ngữ khác, thành ngữ tiếng Nhật

chứa đựng nhiều đặc trưng văn hóa dân tộc của đất nước Nhật Bản”

Bên cạnh đó, các thành tố chỉ thiên nhiên, con người trong thành ngữ cũng là những đối tượng nghiên cứu thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu Như tác giả Trịnh Cẩm Lan (1995) khi nghiên cứu “Đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa và những giá trị biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt trên cứ liệu thành ngữ có yếu tố cấu tạo là tên gọi động vật” đã nghiên cứu đối tượng là thành tố động vật trong thành ngữ nhưng chưa đi vào miêu tả cụ thể các nghĩa khác nhau Đến tác giả Nguyễn Thúy Khanh trong “Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt - tiếng Nga” (luận án phó tiến sĩ, 1996), đã đi vào nghiên cứu khá sâu ngữ nghĩa tên gọi động vật trong tiếng Việt và có đề cập đến một phần “ý nghĩa biểu trưng” của các thành

ngữ so sánh tên gọi động vật

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

- Trong Tiếng Anh, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về

Trang 18

6

Đề cập đến thành ngữ có cấu tạo bởi các cụm chính phụ và cụm chủ vị Loại cụm chính phụ được xác định bởi từ loại của thành tố trung tâm, có các công trình tiêu biểu: 大坪喜子 (1985) “名詞慣用句─特に隠喩的慣用句に

つい て─”; 白石大二 (1977) “慣用句とその種類─高田与清… Ngoài ra còn nghiên cứu về các thành tố trong thành ngữ như công trình 有薗智美 (2013) “行為のフレームに基づく「目」、「耳」、「鼻」の意味拡張─知覚行為か ら高次認識行為へ─” có nhắc đến một phần các thành tố “mắt”,

“tai”, “mũi” xuất hiện trong thành ngữ và những ý nghĩa biểu đạt của nó Tuy nhiên, trong giới hạn tìm hiểu của mình, nghiên cứu chưa tìm thấy luận văn, luận án nào thực hiện việc so sánh đối chiếu thành ngữ chứa thành tố chỉ thực vật trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật Các nghiên cứu từ trước đến nay, việc so sánh đối chiếu thành ngữ Việt - Nhật thường được đặt dưới góc độ nhìn nhận các yếu tố bộ phận cơ thể con người, động vật, những tài liệu so sánh thành ngữ Việt - Nhật hiện nay chủ yếu là các tài liệu từ điển, sách dịch học tiếng, sách ngữ pháp Chính vì vậy, việc nghiên cứu và chỉ ra những điểm tương đồng, dị biệt của yếu tố thực vật trong thành ngữ giữa hai ngôn ngữ là một vấn đề hoàn toàn mới, chưa có tác giả nào trước đây đi vào nghiên cứu so

của các nhà ngôn ngữ học về định nghĩa thành ngữ

Trong cuốn “Về ranh giới thành ngữ, tục ngữ”, Ngôn ngữ số 3/1972, tác giả Nguyễn Văn Mệnh (1972) có viết: “Thành ngữ là đơn vị có nội dung giới thiệu, miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách, một trạng thái Về

mặt hình thức, tuyệt đại đa số chúng là những cụm từ cố định”

Cũng đồng quan điểm với Nguyễn Văn Mệnh, Đái Xuân Ninh (1986) cũng có nhận định: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các yếu tố cấu tạo đã mất tính độc lập ở cái mức độ nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối

vững chắc”

Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm”, trong “Từ vựng học tiếng

Việt”, NXB Giáo dục (2005)

Trang 19

7

Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” (2006), NXB Đà Nẵng, tác giả Hoàng Phê cho rằng: “Thành ngữ là tập hợp cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên

nó”

Có thể nhận thấy những nhận định trên thuộc về quan điểm coi thành

ngữ là một đơn vị cố định về cấu trúc và có nghĩa hoàn chỉnh

Bên cạnh đó cũng có những nhận định khác về thành ngữ là đơn vị của

ngôn ngữ và văn hóa hay về mặt ngữ âm của thành ngữ

Tác giả Nguyễn Công Đức (1995) đại diện cho khuynh hướng này đã định nghĩa như sau: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh, gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả, bóng bẩy; có hiệu năng trong giao tiếp và là đơn vị ngôn

ngữ văn hóa”

Tác giả Nguyễn Đức Dân (1986) cũng có nhận xét về đặc tính văn hóa dân tộc của thành ngữ: “Thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy nghĩ đặc thù dân tộc, phản ánh khái niệm, hiện

tượng”

Ngoài ra còn có quan điểm chú trọng đến mặt sử dụng của thành ngữ:

“Thành ngữ là những cụm từ cố định, thường có vần điệu, được sử dụng rộng rãi trong đời sống hằng ngày, trong đó nghĩa không giải thích đơn giản bằng ý

nghĩa của các từ cấu tạo nên nó”

Hoàng Văn Hành (1987) cho rằng: “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa được sử

dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là khẩu ngữ”

Nói tóm lại, từ trước đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thành ngữ Kế thừa những thành quả nghiên cứu của các học giả đi

trước, nghiên cứu chỉ ra quan niệm:

Thành ngữ là những ngữ cố định được dùng để định danh cho các sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động; có cấu trúc hình thái ổn định Thành ngữ có nội dung và hình thức khá hoàn chỉnh Nghĩa của thành ngữ có tính hình tượng, tính gợi cảm, tính biểu trưng hóa và hàm súc, bóng bẩy Thành ngữ là

đơn vị ngôn ngữ văn hóa, thường có vần điệu, có phong cách khẩu ngữ

Với những định nghĩa trong tiếng Việt, thì trong tiếng Nhật cũng tồn tại nhiều cụm từ liên quan đến khái niệm này như 故事、成句、熟語…) Tuy nhiên vẫn còn một số thắc mắc chưa giải quyết được hoặc là mâu thuẫn lẫn nhau về quan điểm của các nhà nghiên cứu Để dung hòa được quan điểm của các nhà nghiên cứu về thành ngữ, các đơn vị mang tính thành ngữ được hệ thống hóa trong sơ đồ sau:

Trang 20

8

慣用的な表現 (“Quán dụng biểu hiện” = Các cách diễn đạt mang tính thành ngữ)

慣用語 慣用句 ことわざ‐格言

(Quán dụng ngữ) (Quán dụng cú) (Tục ngữ - Cách ngôn)

Các đơn vị mang tính thành ngữ trong tiếng Nhật

Tuy vậy, dựa theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy, trong tiếng Nhật cũng có sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ như tiếng Việt nên tên gọi ことわざ tương đương với định nghĩa tục ngữ trong tiếng Việt Chính

vì thế, 慣用句 ‐ Kanyouku hay 慣用語 ‐ Kanyougo có xu hướng lấy làm tên gọi chính thức của thành ngữ tiếng Nhật Với các tên gọi này của thành ngữ có một số định nghĩa như:

二つ以上の単語が必ず同じような結びつきをするもの、また結合して全体が独特の意味を表す言い回しなど。慣用語、イディオム 国語大辞典 (1981)

(Tạm dịch: Theo Đại từ điển quốc ngữ (1981): Thành ngữ là cụm kết hợp

2 hay nhiều từ có kết cấu giống nhau để thể hiện 1 nghĩa chung duy nhất) 二つ以上の連結使用が固定しており、全体の意味は構成語の意味の総和から出てこないもの。国広哲弥 1985

(Tạm dịch: Thành ngữ là một ngữ cố định cấu thành từ 2 từ trở lên, trong

đó nghĩa của thành ngữ không đến từ nghĩa riêng của các từ cấu thành Kunihiro Tetsuya 1985)

慣用句とは、当言語においては構成要素の単語の意味が失われ、表現全体 で一つの意味を表す固定的な結合語である。 慣用句は、二つ以上の語彙から成るが、文の中で一 つの単位として扱われている。Mamatov (1991)

(Tạm dịch: Thành ngữ là một ngữ cố định trong đó nghĩa của các từ đơn cấu thành bị mất đi và biểu hiện nghĩa chung cho cả một cụm từ Thành ngữ

có cấu tạo từ 2 từ trở lên nhưng được xem là 1 đơn vị từ ngữ trong câu Theo Mamatov (1991))

慣用句とは、二語以上の単語が固く結びつき、全く異なる意味を持つものを指し、言語学的にはイディオムと呼ばれる。慣用句は、会話や文章上で定型句として用いられる『使い方の分かる類語例解辞典』小学館 (1994)

Trang 21

9

(Tạm dịch: Thành ngữ là một kiểu câu đơn gồm hai thành phần trở lên và

có sự gắn kết chặt chẽ, nó diễn đạt ý hoàn toàn khác so với nghĩa của từng thành phần Về mặt ngôn ngữ nó được gọi là Idiom - thành ngữ Thành ngữ được sử dụng như một cụm cố định trong hội thoại hay văn chương Theo

cuốn “Tsukaikatano wakaru ruigoretsukai jiten”, NXB Shougakukan năm 1994)

複数の語の連結使用が固定しており、全体の意味は、個々の構成語がその連結の一部でない時に持つ意味の総和から導き出せな いもの。籾山洋介 1997

(Tạm dịch: Thành ngữ là một cụm cố định tạo thành từ sự kết hợp của nhiều từ Nghĩa của thành ngữ không đến từ những nghĩa của các từ đơn khi

nó đứng độc lập Theo Momiyama Yousuke 1997)

Còn trong 日本語表現∙文型辞典 2002 (Từ điển mẫu câu tiếng Nhật xuất bản năm 2002), Thành ngữ lại được định nghĩa một cách cụ thể hơn như sau:

各語の総和では説明しにくい固有の意味を構成するという点で、意味的には一語であり、かつ、接合部にほかの要素を挿入することを許すという点で、文法的には一語でない、文節以上の分以下のまとまりを慣用句という。

(Tạm dịch: Thành ngữ là một tập hợp nhiều từ Về mặt ngữ nghĩa nó là 1 cụm từ có ý nghĩa riêng mà khó có thể giải thích bằng nghĩa độc lập của các từ tạo thành nên nó Nhưng về mặt ngữ pháp nó lại không phải là 1 cụm từ bởi

nó được tạo thành từ nhiều yếu tố khác nhau kết hợp)

Tóm lại, theo như những định nghĩa nói trên của các nhà ngôn ngữ học trong nước cũng như nước ngoài, ta có thể thấy rằng mỗi nhà ngôn ngữ học đều đưa ra một nhận định riêng về thành ngữ nhưng chúng lại không mang ý nghĩa trái ngược hay phủ định lẫn nhau Ngược lại, chúng còn bổ sung cho nhau trên cơ sở đi đến một định nghĩa chi tiết và hoàn thiện nhất về thành ngữ Nhìn chung khi đề cập đến khái niệm thành ngữ, các nhà ngôn ngữ học đều nhấn mạnh 2 yếu tố là tính cố định về cấu tạo ngôn ngữ và ý nghĩa hình tượng Như vậy, từ những luận điểm nêu trên, nghiên cứu này tạm đi đến kết luận chung về thành ngữ: là một đơn vị từ ngữ có sẵn, được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội Thành ngữ là một cụm từ tương đối cố định và có một ý nghĩa tổng quát riêng không được giải thích từ nghĩa đen của các từ cấu thành Thành ngữ thực hiện chức năng định danh trong câu và là một bộ phần cấu tạo câu Đây sẽ là cơ sở cho việc phân tích ngữ liệu trong quá trình thực hiện đề tài này

Trang 22

cố định”, tác giả Đỗ Thị Thu Hương (2012) viết: “Dựa vào hình thức có thể phân chia thành ngữ thành hai loại: Thành ngữ có kết cấu chủ vị hay liên hợp chủ vị (tan cửa nát nhà, liễu yếu đào tơ…), và thành ngữ có kết cấu cụm từ (tay búp măng, chạy long tóc gáy…)

Theo tác giả Ngô Minh Thủy (2006) cũng cho rằng có thể chia thành ngữ thành 2 loại theo cấu tạo như bảng 1.1:

Bảng 1.1 Tỉ lệ phân bố thành ngữ có cấu trúc là cụm từ/ cụm chủ vị trong

tiếng Việt và Tiếng Nhật

STT Nhóm thành ngữ Tiếng Việt Tiếng Nhật

Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

1 Thành ngữ có cấu trúc là cụm từ 3092 95,82% 1667 83,3%

2 Thành ngữ có cấu trúc là cụm chủ vị 135 4,18% 334 16,69%

Tổng 3227 100% 2001 100% Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, nghiên cứu chỉ tập trung đến đối tượng thành ngữ có cấu tạo là cụm từ mà cụ thể là cụm chính phụ - cụm từ mang nhiều đặc trưng của ngữ pháp tiếng Việt

Trong thành ngữ có cấu tạo là cụm chính phụ, xét từ góc độ các thành tố chính của thành ngữ ta có thể chia thành 3 nhóm:

- Cấu tạo cụm danh từ (Thành ngữ - danh ngữ)

Thành ngữ có cấu tạo cụm danh từ cấu tạo với thành phần chính là danh

từ và các cụm từ phụ bổ sung nghĩa cho danh từ đó

Cụm danh từ đầy đủ có kết cấu ổn định gồm 3 phần:

Phần phụ trước + Danh từ trung tâm + Phần phụ sau

Trong đó, Phần phụ trước và phần phụ sau bao gồm tối đa 3 định tố

Tuy nhiên cũng có trường hợp cụm danh từ không đầy đủ như thiếu phần phụ trước hoặc phần phụ sau

Ví dụ: “Đồng tiền bát gạo”, “Dưa khú bầu già”,…

- Cấu trúc cụm động từ (Thành ngữ - động ngữ )

Cụm động từ là loại cụm chính phụ, trong đó thành tố trung tâm là động

từ còn các thành tố phụ có chức năng bổ sung ý nghĩa về cách thức, mức độ, thời gian, địa điểm… cho động từ trung tâm đó

Giống như cụm danh từ, cụm động từ cũng gồm ba phần, được kết hợp

ổn định với nhau theo thứ tự:

phần phụ trước + trung tâm + phần phụ sau

Trong đó trung tâm có thể là 1 động từ, cũng có thể là một vài động từ

Trang 23

Với cấu tạo tương tự như 2 loại nêu trên, cụm tính từ cũng có loại cụm tính từ đầy đủ và cụm tính từ khuyết (thiếu 1 trong 2 thành phần phụ)

phần phụ trước + trung tâm + phần phụ sau

Ví dụ: “ Héo như dưa”, “ Mỏng như lá lúa”……

Về phía thành ngữ tiếng Nhật, Tác giả Koike Seiji có viết trong “Sự phân loại của thành ngữ và các ứng dụng của nó” như sau:

慣用句は、中心となる語の品詞により次のように分類される。 名詞慣用句 (“雨後の筍”、“草莽の臣”…)

Cần lưu ý rằng về bản chất ngôn ngữ, tiếng Nhật là ngôn ngữ chắp dính, khác với tiếng Nhật là ngôn ngữ đơn lập Việc xác định thành phần trung tâm không chỉ dựa vào hình thức ngữ pháp mà còn dựa vào vai trò của thành phần

đó trong câu

- Thành ngữ danh từ

Thành ngữ có cấu tạo cụm danh từ cấu tạo với thành phần chính là danh

từ và các cụm từ phụ bổ sung nghĩa cho danh từ đó

Khác với cụm danh từ trong tiếng Việt có danh từ trung tâm đa số nằm đầu câu thì trong tiếng Nhật, danh từ trung tâm có thể nằm trước hoặc sau do khác biệt về loại hình ngôn ngữ (Tiếng Nhật là ngôn ngữ chắp dính)

Ví dụ: “雨後の筍”, “花争い”

- Thành ngữ động từ

Là loại thành ngữ được cấu tạo từ thành tố trung tâm là động từ còn các thành tố phụ có chức năng bổ sung ý nghĩa cho động từ trung tâm đó Cũng như Thành ngữ danh từ, Thành ngữ động từ trong tiếng Nhật cũng có sự khác biệt so với tiếng Việt Trong tiếng Việt động từ trung tâm có thể nằm đầu câu nhưng trong tiếng Nhật nó bắt buộc phải nằm ở vị trí sau

Trang 24

12

Ví dụ: “葦灰飛ぶ” (Tro lau sậy bay), “ 雀の糠喜び” (Vui như chim

sẻ gặp cám gạo)

- Thành ngữ tính từ

Là loại thành ngữ có thành tố trung tâm là tính từ còn các thành tố phụ

có chức năng bổ sung nghĩa về đặc điểm tính chất, mức độ… của tính từ trung tâm đó

Ví dụ: “蓼食う虫も好き好き” (thích côn trùng ăn rau răm)、“根が深

い” (rễ sâu)…

Tóm lại, về mặt cấu trúc thành ngữ có tính cố định, ổn định, chặt chẽ Tuy nhiên, tính ổn định này của thành ngữ không phải là bất biến, bất di bất dịch

Ngoài ra do sự khác biệt giữa 2 loại hình ngôn ngữ: Tiếng Việt - ngôn ngữ đơn lập và Tiếng Nhật - ngôn ngữ chắp dính mà ở cấu tạo của thành ngữ cũng có những sự khác biệt nhất định

2.1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa

Thành ngữ có cấu trúc tương đối ổn định và thống nhất về mặt ý nghĩa Nghĩa của thành ngữ không được giải thích bằng nghĩa đen của những từ cấu thành nên nó

Nhờ vào tính chất cố định, ổn định và chặt chẽ mà thành ngữ được sử dụng trong hoạt động giao tiếp tương đương như từ Chính vì thế thành ngữ cũng mang những đặc điểm ngữ nghĩa tương đương như từ

a Nội dung ngữ nghĩa của từ

Nghĩa của từ là những liên hệ được xác lập trong mối quan hệ giữa những cái mà từ chỉ ra (hoặc những cái mà từ làm tín hiệu) Vì vậy nghĩa của

từ cũng không phải chỉ là 1 thành phần một kiểu loại mà liên quan đến vô vàn các yếu tố khác nhau

Theo Mai Ngọc Chừ (1997), khi nói về nghĩa của từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa sau đây:

- Nghĩa biểu vật: Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc

tính, hành động…) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động… đó, người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thần, thiên đường, địa ngục…

Tác giả Nguyễn Đức Dân cũng có nhận xét: “Thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy nghĩ đặc thù dân tộc, phản ánh khái niệm, hiện tượng” Chính vì thể thành ngữ cũng mang nghĩa biểu vật tức phản ảnh những sự vật hiện tượng trong đời sống hằng ngày

Trang 25

13

- Nghĩa biểu niệm: Là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm - nếu

chúng ta không cần phân biệt nghiêm ngặt mấy tên gọi này) Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người)

Thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong hoạt động giao tiếp hằng ngày của con người, con người lắng nghe tiếp nhận thành ngữ từ đó nó hình thành nghĩa biểu niệm trong quá trình nhận thức về nghĩa chủng loại của sự vật Ngoài hai thành phần nghĩa trên đây, khi xác định nghĩa của từ, người ta còn phân biệt hai thành phần nghĩa nữa Đó là nghĩa ngữ dụng và nghĩa cấu trúc

- Nghĩa ngữ dụng: còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ, là

mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói

Con người sử dụng thành ngữ trong đời sống để thông qua đó gửi gắm tâm tư nguyện vọng, cảm xúc và ý niệm của bản thân Vì thế nghĩa ngữ dụng của thành ngữ thể hiện tính đa dạng và phong phú về mọi mặt của cuộc sống

Nó thể hiện sự thái độ, đánh giá, tán dương, phê phán… của con người đối với

sự vật, sự việc hiện tượng… được nói đến

- Nghĩa cấu trúc: là mối quan hệ giữa từ với các từ khác trong hệ thống

từ vựng Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị và trục ngữ đoạn Quan hệ trên trục đối vị cho ta xác định được giá trị của từ, khu biệt từ này với từ khác, còn quan hệ trên trục ngữ đoạn cho ta xác định được ngữ trị - khả năng kết hợp - của từ

- Nghĩa biểu trưng

Trong hệ thống ngôn ngữ, bộ phận mang ý nghĩa biểu trưng đậm nét nhất chính là các thành ngữ Như chúng ta biết, nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên mà ngụ ý điều gì đó suy ra từ chúng Đó là nghĩa bóng hay nghĩa biểu trưng Nghĩa biểu trưng này được hình thành dựa vào quan hệ tương đồng (ẩn dụ, so sánh) hoặc quan hệ tương cận (hoán dụ) Tính biểu trưng của hình ảnh, của sự vật, sự việc được miêu tả trong thành ngữ, ở những mức độ khác nhau có liên quan đến các hiện tượng trong đời sống xã hội, trong lịch sử, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của mỗi dân tộc Đúng như E.M Veresagin và V.G Kostomarov nhận xét: “Các thành ngữ là các đơn vị phản ánh rất rõ sắc thái văn hoá dân tộc thông qua cách biểu đạt bằng ngôn ngữ” Mỗi ngôn ngữ sẽ có cách lựa chọn riêng các thành tố để tổ chức thành loại đơn vị có tính hình tượng Thông qua đó, người ta có thể nhận

ra thói quen, tập quán, tâm lí và các hành vi điển hình của một dân tộc

Như vậy, các từ ngữ với nghĩa gốc có thể làm cơ sở tạo nên một nghĩa phái sinh được gọi là tính biểu tượng Các nghĩa phái sinh (thông qua ẩn dụ, hoán dụ) được tạo ra trên cơ sở nghĩa gốc theo cách này hay cách khác được coi là nghĩa biểu tượng

Trang 26

14

Ngoài các nhóm nghĩa nêu trên, thành ngữ còn có một số đặc tính như:

- Tính hình tượng: tính hình tượng là kết quả hình thành từ tính biểu

trưng của thành ngữ Do đó thành ngữ với cấu trúc cố định ngắn gọn nhưng lại mang đến những hiệu quả giao tiếp cao, giàu tính biểu đạt, triết lý, khơi gợi sự suy ngẫm từ người nghe

Thành ngữ mang tính hình tượng nên chúng có một ý nghĩa riêng, bao quát chứ không đơn thuần là nghĩa chắp ghép của các từ bộ phận tạo thành

- Tính văn hóa (ngữ nghĩa văn hóa)

Có thể nói ý nghĩa của từ là kết quả phản ánh hiện thực, nhưng là sự phản ánh đặc biệt quá ý thức của con người với tư cách là đại diện của một cộng đồng văn hóa - ngôn ngữ nhất định Như vậy có thể thấy, ngữ nghĩa của các từ trong các ngôn ngữ có đặc điểm chung nào đó Song bên cạnh đó, trong các từ còn có yếu tố của riêng một nền văn hóa nhất định Nghĩa là nó mang những thông tin đặc trưng về điều kiện địa lí, tự nhiên, về lịch sử, kinh tế, nghệ thuật, sinh hoạt trong đời sống của dân tộc bản ngữ, về cơ cấu xã hội, kinh nghiệm và những đặc điểm khác của dân tộc ấy

Đúng như các nhà nghiên cứu Nga đã nhận xét: “Mặc dù là quy luật chung phản ánh hiện thực khách quan của những người bản ngữ thuộc ngôn ngữ (văn hóa) khác nhau, trong hệ thống ý nghĩa không thể không phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc của hành động được tiến hành bằng công cụ của sự giao tiếp Bởi ngôn ngữ có chức năng: “là hình thức tồn tại của kinh nghiệm lịch sử xã hội,

mà mỗi dân tộc có kinh nghiệm lịch sử xã hội riêng của mình nên tất yếu rằng trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ có cả thành tố văn hóa - lịch sử

Thành ngữ chính là một trong những đơn vị ngôn ngữ biểu hiện tính văn hóa ấy rõ rệt nhất Với nội dung phản ánh sự vật hiện tượng trong đời sống hằng ngày, Thành ngữ là một kho tàng văn hóa dân tộc thể hiện qua ngôn ngữ với nội dung đa dạng phong phú và mang đậm bản sắc riêng của mỗi dân tộc

Ví dụ: “Chiêm hoa ngâu đi đâu không gặt” (kinh nghiệm trồng lúa của nhân dân ta từ ngày xưa)

b Nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ngữ

Nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ngữ luôn gắn liền với nhau Có thể nói, hiện tượng đa lớp nghĩa của từ, của câu đã trở thành 1 nghệ thuật trong ngôn ngữ tiếng Việt Theo tác giả Nguyễn Như Ý (1996), nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ngữ được định nghĩa như sau:

- Nghĩa đen: nghĩa từ vựng của từ theo đúng nghĩa của nó; còn gọi là

nghĩa trực tiếp, khác với nghĩa bóng - nghĩa ẩn dụ, bóng bẩy và cũng khác với sắc thái cảm xúc biểu cảm đi kèm theo nó Nghĩa đen đồng thời cũng là nghĩa ban đầu, nghĩa xuất phát không có căn cứ, không có lí do

Trang 27

15

- Nghĩa bóng: là nghĩa phái sinh, nghĩa thứ yếu của từ, bắt nguồn từ

nghĩa đen hoặc một nghĩa bóng khác nhờ kết quả của việc sử dụng từ có ý thức trong lời nói để biểu thị một sự vật không phải là một vật qui chiếu tự nhiên, thường xuyên Một từ có nghĩa bóng khi nó định danh sự vật không phải trực tiếp mà qua một sự vật khác theo các phép ẩn dụ, hoán dụ hay cải dung Như vậy, nghĩa bóng là nghĩa có căn cứ, có lí do

c Đặc điểm trường nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật

Dựa trên quan niệm trường nghĩa là trường liên tưởng, nghiên cứu tiến hành phân loại thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật dựa trên nghĩa bóng của chúng khiến ta liên tưởng đến một số hiện tượng, vấn đề trong đời sống xã hội Nói cách khác chính là mượn những yếu tố đặc điểm của thực vật được nhắc đến để kể chuyện con người, phản ánh sự vật, sự việc hay hiện tượng Ví dụ mượn tính chất của cây cỏ để nêu nhận định về sự vật hiện tượng, vị của các loài trái cây để nêu cái may rủi, chuyện buồn vui trong cuộc sống

Bên cạnh thành ngữ tiếng Việt, về ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Nhật, tác giả Nakami Yamaguchi có viết:

慣用句は、句全体で固定した意味を表しているのであるから言い誤ってはならない。

慣用句の表す意味は、その多くが比喩的なものである。「蛙の子は蛙」という慣用句で、「子供は親以上にはなれない」といった比喩的な意味を、「あごが干上がる」で、「収入がとだえて食べられなくなる」といった比喩的な意味を表すというぐあいである。

慣用句は、見方を変えれば、現在まで残ることなく 1 回限りで消えてしまった他の表現に比べて、長い年月に耐ええた卓越した表現であるともいえる。このような表現には、その民族の長い間の知恵や発想が如実に表されている。.”(小池清治 (1984) )

Tạm dịch: Không nên nói nhầm thành ngữ bởi vì đây là một cụm từ cố định thể hiên một ý nghĩa hoàn chỉnh của cụm từ đó Nhiều ý nghĩa của thành ngữ là từ ẩn dụ Ví dụ như: “Con ếch là con của con ếch” có ý nghĩa ẩn dụ là

“con không thể hơn cha mẹ”, hoặc “Chiếc cằm khô nứt” có nghĩa ẩn dụ là

“không có tiền thì cũng chẳng có ăn”

Ở một góc nhìn khác, thành ngữ có thể coi là cách diễn đạt trường tồn qua nhiều năm so với các cách nói khác chỉ biến mất và không còn tồn tại cho đến ngày nay nữa Những cách diễn đạt như thế cũng thể hiện trí tuệ và tư tưởng lâu đời của người dân vùng đó”

Từ nhận định trên ta có thể thấy rằng, cũng giống như tiếng Việt, thành ngữ tiếng Nhật cũng sẽ có nghĩa đen nghĩa bóng, nghĩa biểu vật biểu tượng, và

Trang 28

16

tính văn hóa dân tộc trong đó Nghĩa của thành ngữ không được xác định từ nghĩa của các từ cấu thành mà là một nét nghĩa chung khác biệt

2.1.2.3 Đặc điểm về biện pháp tu từ

a Các loại thành ngữ dựa vào cấu tạo

Trong tiếng Việt như đã đề cập ở trên, các thành ngữ được xét theo nghĩa bóng của nó Nghĩa bóng có được do các phép chuyển nghĩa, tu từ như ẩn dụ, hoán dụ Từ đó tạo nên các loại thành ngữ khác nhau trong cả tiếng Việt và tiếng Nhật Theo Hoàng Văn Hoành (1987), dựa vào hình thái biểu trưng hóa

mà chia thành ngữ tiếng Việt thành hai loại:

của cấu trúc ngôn ngữ phép so sánh là At như B

Từ đó tạm gọi cấu trúc ngôn ngữ của phép so sánh là: At ss B Trong đó,

A là đối tượng so sánh, t là đặc tính, ss là từ ngữ chỉ so sánh: như, bằng, tựa,

tày, hơn, là… và B là đối tượng được so sánh

Từ mẫu tổng quát, ta có được 4 danh cụ thể cho cấu trúc này như sau:

+ At ss B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ có cấu trúc so sánh Trong

câu có đầy đủ cả hai đối tượng so sánh và tính chất so sánh Ví dụ: Chuyện nở

như ngô rang, mẹ già như chuối bà hương, tuổi già như trái chín cây…

+ A ss B: Đây là dạng so sánh không hiện diện đối tượng t là tính chất so

sánh Khi xuất hiện ở dạng này có nghĩa rằng tính chất của 2 đối tượng được

so sánh là tương đồng Ví dụ: Chữ như trấu trác, lòng bầu cũng như ruột bí,…

+ t ss B: Dạng này thành phần A không phải là 1 phần của thành ngữ

Tùy thuộc vào bối cảnh và hoạt động giao tiếp, thành ngữ này sẽ được nối

thêm với một A bên ngoài cho phù hợp Ví dụ: chát như sung, lớn như cây sào, ngọt như mía lùi,…

+ ss B: Kiểu này cũng tương tự như dạng phía trên là không có thành phần

A, còn thành phần t không nhất thiết phải xuất hiện nhưng ý nghĩa của thành

ngữ vẫn được tiếp thu trọn vẹn Ví dụ: Hơn thóc nhọc xay, hơn cơm rẻ gạo…

- Thành ngữ ẩn dụ hóa

Thành ngữ ẩn dụ hóa là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một

sự vật hiện tượng nhưng ý nghĩa được biểu hiện một cách ẩn dụ

Thành ngữ ẩn dụ hóa trong tiếng Việt có 2 dạng: thành ngữ ẩn dụ nhân cách và thành ngữ ẩn dụ vật hóa Cấu trúc bề mặt của các thành ngữ loại này

Trang 29

17

thường không phản ánh nghĩa đích thực của chúng Đó chỉ là cơ sở để nhận ra một nghĩa “sơ khởi” nào đó Trên cơ sở đó người ta mới suy ngẫm, rút ra và

hiểu được nghĩa đích thực của thành ngữ

Ví dụ: Thành ngữ “Bèo hợp mây tan” Nghĩa của câu thành ngữ này trên

từng từ ngữ là hình ảnh “Bèo” và “Mây” đều là 2 thứ nhẹ tênh trôi dạt, chuyện hợp hay tan không thể biết trước Từ đó rút ra một ý nghĩa sâu xa hơn ví von

sự gặp gỡ, biệt ly là chuyện không thể biết trước được

Bên cạnh đó, trong tiếng Nhật, theo tác giả Koike Seiji: thành ngữ cũng

được chia làm 2 loại tương tự như tiếng Việt: (小池清治 (1985) tr90)

慣用句をレトリックの観点から分類すると、直喩的慣用句と隠喩的慣用句・反復慣用句に分類される。(Tạm dịch: Khi thành ngữ được phân loại theo quan điểm tu từ, chúng được chia làm 2 loại là: thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ - thành ngữ lặp lại)

- 直喩的慣用句:比喩指標が明示される慣用句。比喩指標で下位分類すると次のようになる。

+ Dấu hiệu so sánh là 「よう」(you):

+ Dấu hiệu so sánh là 「ごとし」(gotoshi):

+ Dấu hiệu so sánh là 「はかり・ほど」(bakari/hodo):

- Thành ngữ ẩn dụ: có so sánh nhưng không có dấu hiệu rõ ràng trong câu + Thêm vào từ 「思い」

+ Các loại khác

Từ những quan điểm nêu trên ta có thể thấy rằng, tuy nền tảng phân loại thành ngữ của mỗi ngôn ngữ là khác nhau nhưng cả thành ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật để được chia làm 2 loại là: Thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ

b Đặc điểm biện pháp tu từ của thành ngữ

Biện pháp tu từ của thành ngữ đến từ các biện pháp tu từ được sử dụng trong thành ngữ Nó không chỉ mang lại tính gợi hình gợi tả cao, mà còn làm đậm nét thêm ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ

Trang 30

18

Biện pháp tu từ chính là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ mà cụ thể ở đây là thành ngữ trong một ngữ cảnh nhất định Ngoài các biện pháp tu từ thường gặp như ẩn dụ, so sánh tu từ, nhân hóa, hoán dụ, thành ngữ còn sử dụng các biện pháp ngoa dụ, phúng dụ…

Như vậy, khi nhắc đến biện pháp tu từ của thành ngữ là nhắc đến tính nghệ thuật của thành ngữ đó Sử dụng biện pháp tu từ là một cách làm cho câu văn ngắn gọn súc tích nhưng vẫn hàm chứa được ý nghĩa sâu sắc Chính vì thế thành ngữ không chỉ được sử dụng trong lối sống hằng ngày với các hoạt động giao tiếp thông thường mà còn được ứng dụng trong văn chương, thơ ca để làm phong phú thêm màu sắc cho ngôn từ nhưng vẫn đảm bảo được tính ngắn gọn nhưng cô đọng của văn chương

2.1.3 Chức năng của thành ngữ

Theo tác giả Hoàng Phê (2006), Thành ngữ ngắn gọn, hàm súc, có tính hình tượng, tính biểu cảm cao nên được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói cũng như sáng tác thơ ca văn học tiếng Việt

Theo tác giả Kazuhiko Takagi, 慣用句は、会話や文章上で定型句として用いられる。(thành ngữ với vai trò là những ngữ cố định được sử dụng rộng rãi trong hội thoại hằng ngày cũng như trong văn chương.) (高木一彦 (1974))

Thông qua việc sử dụng thành ngữ vào đời sống cũng như văn chương, các hoạt động giao tiếp không chỉ dừng lại ở mức truyền đạt thông tin mà hơn thế, thành ngữ giúp cho việc này đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều Thêm vào đó, như đã nêu ở phần trước, với kết cấu đa dạng kết hợp với nhiều biện pháp tu

từ tăng sức gợi hình gợi tả và đầy tính nghệ thuật, thành ngữ làm phong phú thêm các lối nói, lối diễn đạt trong tiếng Việt góp phần đa dạng hóa văn phong tiếng Việt

Ngoài ra, Thành ngữ được sử dụng tương đương với từ nên nó hoàn toàn

có thể thay thế chức năng của từ trong câu Với cấu tạo cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ nó hoàn toàn có thể đảm nhận các vai trò này trong câu trong cả tiếng Việt và tiếng Nhật

2.2 Khái niệm về thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật

2.2.1 Định nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật

Thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật là thành ngữ có đầy đủ các yếu tố về cấu tạo từ, ngữ nghĩa của một thành ngữ và có chứa ít nhất một yếu tố thực vật

Ví dụ: Liễu yếu đào tơ, gió heo may mía trèo lên ngọn…

Theo kết quả điều tra trong nghiên cứu: “Thế giới thực vật trong hệ thống thành ngữ tiếng Việt” của tác giả Đỗ Thị Thu Hương ta có được số liệu

như sau:

Trang 31

19

+ Cây lương thực (129 gồm chung và các loại cụ thể: cơm, gạo, nếp, tẻ,

trấu, thóc, ngô, khoai)

+ Rau ăn lá: Dưa (5); Muống (4); Cần (2); Rau má (2)…

+ Rau ăn quả: Sung (8); Ớt (5); Mướp (4); Chanh (4); Chuối (4); Khế

(3); cà (3); bầu bí (2);…

+ Rau ăn củ: Hành (4); Hẹ (2); Tỏi (2); Môn (2); Sen (2)…

+ Trái cây: Quýt (5) bao gồm chung và các loại cụ thể: Cam (2); Mận

(2); Đào (2); Mít (2)…

+ Các loại cây khác: (72)

Từ số liệu trên ta có thể thấy thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật cũng chiếm một số lượng không hề nhỏ trong Hệ thống thành ngữ Việt Nam Theo nghiên cứu của 2 tác giả Phan Thị Ngân Hà và Trần Đặng Phúc về “Hình ảnh động vật trong thành ngữ Nhật - Việt” và luận văn Tiến sĩ của tác giả Ngô Minh Thủy về “Đặc điểm của thành ngữ tiếng Nhật (liên hệ với tiếng Việt)” đều chỉ ra rằng các thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật đứng thứ 4 trong tỷ lệ phân bố thành ngữ sau các thành ngữ chỉ bộ phần cơ thể người, chỉ số và động vật) Tuy nhiên từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như các tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu các đối tượng nêu trên vì vậy thành ngữ chỉ

thực vật rất có giá trị trong phân tích và nghiên cứu

Chính từ những lý do trên việc tiến hành thống kê - khảo sát để tìm ra

đặc điểm ngôn ngữ văn hóa của thành ngữ việt và Nhật là hoàn toàn có cơ sở

2.2.2 Đặc điểm cơ bản của thành ngữ chứa yếu tố chỉ thực vật

Như đã nêu ở trên, Thành ngữ có rất nhiều đặc điểm về cấu tạo, cú pháp, ngữ nghĩa, chức năng Thành ngữ có chứa yếu tố chỉ thực vật cũng là một bộ phần trong thành ngữ vậy nên nó có tất cả các đặc điểm cơ bản của một thành ngữ

Thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật của cả tiếng Việt và tiếng Nhật là một cụm từ cố định, có thể là cụm danh từ, cụm động từ hoặc cụm tính từ, cụm cú pháp chính phụ, được sử dụng tương đương như một từ, có thể thay thế cho chức năng của từ trong câu và trở thành một thành phần của câu

Ví dụ: Thành ngữ “Ngọt như mía lùi” - để chỉ những điều ngọt ngào Ta

có thể vận dụng vào cách nói như sau: “Lời mẹ ru ngọt như mía lùi” thay cho câu nói bình thường “Lời mẹ ru ngọt ngào”

Thành ngữ là một kết cấu ổn định và bền vững Mối liện hệ giữa các từ với nhau là chặt chẽ trong việc liên kết tạo ra nghĩa chung của thành ngữ Vì vậy khó có thể thay thế, thêm bớt những yếu tố khác vào trong thành ngữ

Ví dụ: “Liễu yếu đào tơ”: không thể thay thế lại là “Liễu yếu táo tơ” và

cũng không thể đổi thành “Đào tơ liễu yếu”

Trang 32

20

Thành ngữ với nhiều biện pháp tu từ tuy ngắn gọn súc tích nhưng lại có giá trị truyền đạt cao Hơn nữa khi sử dụng thành ngữ trong giao tiếp hoặc trong văn chương, người nghe sẽ có cái nhìn sâu rộng hơn về vấn đề được nói đến chứ không đơn thuần chỉ hiểu theo nghĩa từ vựng vốn có của nó Ngoài ra,

sử dụng thành ngữ còn tăng khả năng biểu cảm, tăng sức gợi hình gợi tả, làm cho câu nói hay tác phẩm văn chương thêm lôi cuốn và sinh động

Ví dụ: Thành ngữ “雉の草が暮れ”: “Gà rừng nấp sau đám cỏ”

- Bằng thủ pháp tương phản xây dựng 2 hình ảnh đối lập: gà rừng - động vật to lớn, đám cỏ - lưa thưa nhỏ bé, thành ngữ này biểu thị một sự việc dù có

cố gắng che giấu thì cũng chỉ giấu được một phần mà thôi

- Sử dụng cách nói này vừa đánh giá sự việc hay nhắc nhở một cách nhẹ nhàng, tế nhị hơn vừa làm tăng khả năng truyền đạt cho câu văn

2.2.3 Các yếu tố thực vật xuất hiện trong thành ngữ

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Thu Hương (2017), ta có

Bảng 1.2 thống kê tên gọi thực vật như sau:

Bảng 1.2 Bảng thống kê các loài thực vật xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt

STT Nhóm Tên gọi thực vật thành ngữ Số lượng Tỉ lệ % Ví dụ

1 Cây lương thực

Lúa (thóc, gạo, nếp,

tẻ, rơm, rạ, trấu, cám, cơm)

120 43.17

Mỏng như lá lúa, Bắn như vãi trấu, Lép như trấu, Nát như cám; Đỏ như râu ngô; Coi người như rơm; Hiền như

muống sống lại ôm

đoảng như canh cần nấu suông; cơm sung cháo dền…

Trang 33

cả cụm; Nước chảy bèo trôi; Sào sậy chống bè lim; Tím như quả bồ quân; Ngồi như bụt mọc; Rách như tổ đỉa

Trang 34

22

Tuy nhiên, không chỉ sử dụng tên gọi các loài thực vật làm chất liệu biểu trưng mà ngay cả các bộ phận của chúng cũng được phản ánh trong thành ngữ tiếng Việt Bảng 1.3 thống kê cho thấy, có các bộ phận của thực vật sau được

sử dụng làm chất liệu cấu tạo nên thành ngữ tiếng Việt

Bảng 1.3 Bộ phận của thực vật được phản ánh trong thành ngữ tiếng Việt

rõ hơn về bản sắc văn hóa dân tộc trong thành ngữ tiếng Việt Đồng thời, cũng thấy được tư duy liên tưởng cụ thể, sắc bén của con người Việt Nam

Như vậy, dựa trên những kết quả mà nghiên cứu này mang lại, trong luận văn lần này nghiên cứu lấy đó làm nền tảng cơ sở cho việc khảo sát điều tra các thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật trong tiếng Việt và tiếng Nhật cũng như phân tích các đối tượng này

Trang 35

23

Tiểu kết

Trong chương một, nghiên cứu đã trình bày một số định nghĩa về thành ngữ của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước, và một số vấn đề liên quan đến thành ngữ như đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa…Qua đó,

nghiên cứu này rút ra được các vấn đề như sau:

Thành ngữ là một cụm từ có cấu tạo tương đối cố định, có chức năng

định danh như từ và đảm nhận vai trò tương đương với từ trong câu

Thành ngữ có một nghĩa riêng mà nghĩa đó không được giải thích bằng nghĩa đen của các từ cấu thành nên nó Nghĩa của thành ngữ phải được nhìn

nhận dưới nghĩa bóng và được thể hiện bằng nhiều biện pháp tu từ khác nhau

Thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động giao tiếp của đời sống xã hội Bằng cách sử dụng thành ngữ hiệu quả giao tiếp được nâng cao hơn, tăng khả năng biểu đạt và tăng sức gợi hình gợi cảm cho lời nói cũng như

văn chương

Thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật là một bộ phận quan trọng trong kho tàng thành ngữ Nó có đầy đủ các yếu tố của một thành ngữ Đặc biệt việc sử dụng hình ảnh thực vật vào lối diễn đạt của thành ngữ là một điểm nổi bật của

Từ những nội dung đã trình bày ở trên, nghiên cứu đã xây dựng nền tảng

lý luận cho chương 3 và chương 4 trong việc chỉ ra điểm tương đồng và dị biệt

về đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật giữa tiếng Việt và tiếng Nhật bằng phương pháp khảo sát, phân tích số lượng các đối tượng thành

ngữ liên quan

Trang 36

24

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu

Từ vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, Luận văn sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để làm rõ đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ có yếu tố thực vật tiếng Việt và tiếng Nhật

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Theo Marshall và Rossman (1998): Nghiên cứu định tính là một dạng nghiên cứu được tạo thành từ các phương pháp kỹ thuật chuyên môn được sử dụng để tìm hiểu sâu về các phản ứng từ trong suy nghĩ và tình cảm của con người Nghiên cứu định tính là một phương pháp điều tra được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau, không những trong khoa học xã hội

mà còn trong nghiên cứu kinh tế Mục đích của nghiên cứu định tính nhằm tìm kiếm sự hiểu biết sâu sắc về hành vi của con người và lý do chi phối hành vi như vậy Nghiên cứu định tính điều tra lý do tại sao và làm như thế nào của việc ra quyết định, không chỉ là những gì, mà còn ở đâu, khi nào Nghiên cứu định tính đưa ra các kết luận tổng quát hơn là các kết luận cụ thể: Nghiên cứu định tính là loại hình nghiên cứu nhằm mô tả sự vật hiện tượng mà không quan tâm đến sự biến thiên của đối tượng nghiên cứu và không nhằm lượng hóa sự biến thiên này Luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính để thông qua việc nghiên cứu các thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật tiếng Việt và tiếng Nhật nghiên cứu và để chỉ ra những tương đồng và dị biệt không những trong đặc điểm ngôn ngữ mà còn trong lối suy nghĩ, tư duy văn hóa của 2 đất nước

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Theo Ehrenberg (1994): Nghiên cứu định lượng thường được sử dụng để kiểm định lý thuyết dựa vào cách tiếp cận suy diễn Theo Daniel Muijs (2004): Nghiên cứu định lượng là phương pháp giải thích hiện tượng thông qua phân tích thống kê với dữ liệu định lượng thu thập được Nghiên cứu định lượng là loại hình nghiên cứu mà ta muốn lượng hóa sự biến thiên của đối tượng nghiên cứu và công cụ thống kê, mô hình hóa được sử dụng cho việc lượng hóa các thông tin của nghiên cứu định lượng

Các phương pháp định lượng bao gồm các quy trình thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, giải thích và viết kết quả nghiên cứu Các phương pháp này liên quan đến sự xác định mẫu, chiến lược điều tra, thu thập dữ liệu, phân tích

dữ liệu, trình bày kết quả nghiên cứu, thảo luận kết quả và viết công trình nghiên cứu Nghiên cứu định lượng phù hợp với các nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng một kết quả nào đó Cách tiếp cận định lượng thực hiện khi cần kiểm định các giả thuyết khác nhau và một lý thuyết nào đó

Trang 37

25

2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.2.1 Phương pháp khảo sát thống kê

Để nghiên cứu đối chiếu về một thành phần của ngôn ngữ mà cụ thể trong luận văn này đối tượng nghiên cứu là thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật trong tiếng Việt và tiếng Nhật, phương pháp khảo sát thống kê được áp dụng liên quan đến khảo sát các yếu tố chỉ thực vật trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật

Về tiêu chí chọn nguồn ngữ liệu, do luận văn tập trung nghiên cứu về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật nên việc đảm bảo tính chính xác về mặt ngữ nghĩa là vô cùng quan trọng Vì thế luận văn đã lựa chọn các cuốn từ điển thành ngữ của 2 nước làm nguồn ngữ liệu

Phạm vi khảo sát của nghiên cứu là từ: “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam”, nhà xuất bản Văn hoá (2000) của nhóm ba tác giả Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào đối với tiếng Việt Về tiếng Nhật nghiên cứu lựa chọn: “慣用句・故事ことわざ辞典” (Từ điển thành ngữ tục ngữ Nhật Bản), NXB 成美

堂 (2014) của tác giả 謡口 明 (Hajime Utaguchi)

2.2.1.1 Những yếu tố thực vật xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt

Như chúng ta đã biết thành ngữ vốn phản ánh đời sống sinh hoạt của con người thông qua những hình ảnh giản dị và gần gũi trong đời sống hằng ngày

Đa số các chất liệu này đều đến từ các tầng lớp lao động với công việc đồng áng quanh năm Họ quan sát và nhận thấy những đặc điểm nổi bật của loài cây này loài hoa kia giống với một sự vật, hiện tượng nào đó rồi vận dụng vào cách nói của mình làm cho việc giao tiếp trở nên sinh động hàm súc hơn Ví

dụ như: “hoa sen” là loài hoa mang một vẻ đẹp thanh cao và tinh khiết Tuy sinh trưởng trong đầm đầy bùn đen nhưng hoa sen mọc lên như một vì sao tỏa sáng mang vẻ đẹp tuyệt vời Hình ảnh này được con người sử dụng trong câu thành ngữ “Bút trổ hoa sen”, ngụ ý về những người có tài văn hay chữ tốt, mỗi

từ viết ra tựa như hoa sen nở trên giấy vậy Ở đây hình ảnh thực vật được sử dụng với nghĩa tích cực, dùng đặc trưng của hoa sen để ví von với tài văn chương của con người Hay như “cam, quýt” là 2 loại quả họ hàng với nhau, đều thuộc chi cam chanh Từ tính chất gần gũi đó, người ta vận dụng vào thành ngữ “Quýt làm cam chịu” ngụ ý chỉ lỗi lầm do kẻ này gây ra nhưng những người gần gũi khác phải oan uổng gánh chịu hậu quả “Cam, quýt” ở đây lại được sử dụng với nghĩa tiêu cực, chỉ những mối quan hệ không mang

lại kết quả tốt đẹp cũng như khi nhìn nhận và đánh giá một sự việc

Qua đó ta có thể thấy rằng, những hình ảnh thực vật thân quen gần gũi trong đời sống lại trở thành chất liệu quý giá cho thành ngữ nói riêng và ngôn ngữ nói chung Người ta quan sát những thực vật xung quanh, ghi nhận những

Trang 38

26

đặc điểm nổi bật của nó để từ đó vận dụng vào giao tiếp một cách linh hoạt dưới góc độ hài hước dí dỏm hoặc bày tỏ ý kiến, khen chê Tùy vào đặc tính cũng như đối tượng được đề cập mà yếu tố thực vật đó được dùng với nghĩa tích cực hay tiêu cực, đôi khi chịu sự ảnh hưởng của văn hóa lịch sử và định

kiến của mỗi dân tộc

Vì những lý do trên, Khảo sát các yếu tố chỉ thực vật trong thành ngữ sẽ

mang đến một cái nhìn cụ thể hơn về đặc điểm ngôn ngữ của các thành ngữ đó

Đầu tiên về yếu tố thực vật, dựa trên kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Thu Hương (2017) với đề tài: “Thế giới thực vật trong hệ thống thành ngữ tiếng Việt” để xác định các yếu tố thực vật trong thành ngữ bao gồm: tất cả tên riêng của các loài thực vật và các từ chỉ bộ phận của chúng Trong đó nghiên cứu đặc biệt lưu ý đến trường hợp các từ “cơm”, “nếp”, “tẻ”, “thóc”… tuy không đáp ứng được định nghĩa về thực vật nhưng được xem là các phiên bản xuất hiện khác của cây lúa như ở bảng 1.3 Do đó nghiên cứu này cũng xem sự xuất hiện của các yếu tố trên là thực vật và khảo sát thống kê chúng Ngoài ra, cũng theo kết quả nghiên cứu trên yếu tố thực vật còn xuất hiện dưới dạng các

bộ phận của loài nên các từ ngữ chỉ bộ phận của thực vật như chồi, rễ…cũng

được lựa chọn trong khảo sát này

Thông qua việc khảo sát từ: “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” nhà xuất bản Văn hoá (2000) của nhóm ba tác giả Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào, nghiên cứu đã thống kê được 1203 câu thành ngữ chỉ thực vật,

gồm 65 loài

Về tiêu chí chọn lựa, nghiên cứu dựa trên 1203 thành ngữ chỉ thực vật đã sàng lọc, trong một thành ngữ lại có thể có từ một đến một vài loài thực vật

xuất hiện, vậy mỗi lần xuất hiện trong câu được tính một lần cho từng loài

Về tiêu chí phân nhóm: các loài thực vật cùng chi, họ có tần suất ít sẽ được chia cùng một nhóm như “cam, quýt” Các loại cây, hoa, quả, củ có tần suất xuất hiện lớn tuy nhiên số lần xuất hiện của mỗi cá thể riêng là không nhiều sẽ được nhóm chung với nhau và cử 1 loài đại diện, ví dụ: Cây (bồ quân, vông, si, đa, dương) Tiếp theo là các loài thực vật có nhiều tên gọi khác nhau cũng được xếp vào nhóm chung Ví dụ: “Đậu - đỗ”…Cuối cùng là nhóm các bộ phận của thực

vật sẽ được xếp chung với nhau trong nhóm như: “Rễ, nhị, nhụy, chồi, nụ”

Tất cả các yếu tố thực vật sau khi thống kê được liệt kê trong Bảng 2.1 (theo thứ từ ABC) đi kèm với số lần xuất hiện của mỗi loài:

Bảng 2.1 Số lần xuất hiện của các yếu tố chỉ thực vật trong thành ngữ tiếng Việt

Trang 39

12 Cây (Cây nói chung và các loài: Bồ quân; vông;

17 Cỏ (Cỏ nói chung và loài: gà, gấu; mần) 44

18 Củ (Củ nói chung và các loại: súng; tam thất;

nghệ; ấu; tía; nâu; tỏi; nhân sâm; dền) 29

43 Quả (Quả, trái nói chung và các loài: vả; gấc;

45 Rau (Rau nói chung và các loài: khoai; má; 90

Trang 40

54 Hạt (Hạt, hột nói chung và các loài: thị; cải; tiêu; đậu) 53

55 Hoa (Hoa, bông nói chung và các loại: ngâu; sói;

Kết quả khảo sát này có sự khác biệt so với kết quả nghiên cứu của tác giả

Đỗ Thị Liên Hương (2017) do sự khác nhau về nguồn tài liệu, phương pháp thống kê phân loại Tuy nhiên dù là có sự khác biệt về số lượng nhưng tần suất thì tương đối giống nhau, tần suất xuất hiện của các loài cây lương thực vẫn đứng đầu tần suất sử dụng các yếu tố thực vật trong thành ngữ tiếng Việt

2.2.1.2 Những yếu tố thực vật xuất hiện trong thành ngữ tiếng Nhật

Tuy Nhật Bản và Việt Nam cùng là các quốc gia nằm ở Châu Á, nhưng giữa 2 đất nước này lại có sự khác biệt về địa lý khí hậu Nằm ở Đông Nam Á tiếp giáp cả biển và đất liền cùng với khí hậu nhiệt đới gió mùa, có ánh nắng chan hòa lượng mưa dồi dào và độ ẩm cao, Việt Nam có đầy đủ các điều kiện

để phát triển mạnh hệ sinh thái rừng, kinh tế nông nghiệp lúa nước và hệ thống cây trái dồi dào Ngược lại, Nhật Bản là một quốc đảo với 4 mặt giáp biển, khí hậu ôn đới có mưa và tuyết rơi dày đặc vào mùa đông giúp đất nước này phát triển mạnh hơn về cây công nghiệp Bên cạnh đó mặc dù lương thực chính vẫn

là lúa gạo nhưng nền nông nghiệp lúa nước ở đây không phát triển mạnh như Việt Nam Chính từ điều này đã tác động mạnh mẽ đến tư duy của cả hai dân tộc và thành ngữ cũng một phần phản ánh điều đó Bên cạnh những loại cây phổ biến, thân thuộc và gần gũi như: Lúa, khoai, tre… mỗi quốc gia đều có

Ngày đăng: 30/08/2023, 18:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w