Chính vì thế, đề tài: “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của câu bị động trong tiếng Việt và Tiếng Hàn” đã được chọn để thực hiện nghiên cứu với mong muốn sẽ tìm ra những vấn đề sâu sắc, mới
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
-
DƯƠNG THẢO TIÊN
ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA
CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
HUẾ, 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
-
DƯƠNG THẢO TIÊN
ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA
CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
MÃ SỐ: 8222024
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TÌNH
HUẾ, 2020
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của câu bị động trong Tiếng Việt và Tiếng Hàn” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung của các câu trích dẫn được tìm hiểu và phân tích dựa trên các tài liệu tham khảo đáng tin cậy, kết quả được nêu trong luận văn đảm bảo tính trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Huế, ngày 05 tháng 11 năm 2020
Tác giả
Dương Thảo Tiên
Trang 4và ngoài nước về câu bị động đã đạt được những thành quả đáng kể Tuy nhiên các nghiên cứu liên quan đến câu bị động trong tiếng Việt có sự liên hệ
với tiếng Hàn cho người học thì vẫn còn khá ít Chính vì thế, đề tài: “Đối
chiếu đặc điểm ngôn ngữ của câu bị động trong tiếng Việt và Tiếng Hàn”
đã được chọn để thực hiện nghiên cứu với mong muốn sẽ tìm ra những vấn đề sâu sắc, mới mẻ hơn về câu bị động trong tiếng Việt và so sánh đối chiếu với câu bị động trong tiếng Hàn
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp miêu tả, phân loại và so sánh - đối chiếu Các câu bị động trong luận văn được trích dẫn từ 20 quyển sách giáo khoa, sách chuyên ngành, truyện ngắn trong tiếng Việt và tiếng Hàn để đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu Từ những câu trích dẫn đó, đề tài tiếp tục miêu tả cấu trúc cú pháp và phân loại chúng vào những tiểu loại khác nhau, sau đó so sánh - đối chiếu các đặc điểm tương đồng và dị biệt của câu bị động giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn
Kết quả cho thấy, câu bị động tiếng Việt và tiếng Hàn đều được chia ra
ba tiểu loại nhỏ Nhưng cấu trúc câu bị động của tiếng Việt đơn giản hơn tiếng Hàn rất nhiều vì tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, còn tiếng Hàn là loại ngôn ngữ chắp dính, biến hình Cho nên trong Tiếng Việt, câu bị động chỉ cần có thêm trợ động từ bị động “bị, được”, ba tiểu loại khác nhau của câu bị động chỉ dựa vào trật tự từ và sự thêm bớt các yếu tố trong câu; còn trong tiếng Hàn, câu bị động được chia thành ba loại, với ba dạng biến hình khác nhau của động từ Thêm nữa, điểm đặc biệt trong tiếng Hàn là trợ từ đứng sau các danh từ chỉ ra vai trò khác nhau của nó trong câu khiến cho câu bị động thêm phần phức tạp
Như vậy, việc nghiên cứu này sẽ giúp cho người học, người dịch thuật hiểu rõ hơn, có cái nhìn sâu rộng hơn về câu bị động và cách sử dụng câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn
Trang 5iii
ABSTRACT
Active and passive voice are two main structures of all existing spoken and written languages Depending on speaker purposes, language is used in a flexible and delicate way to fully convey information, thoughts, feelings, demands and literature, in which Passive voice is relatively difficult for foreign language learners because of their complex and diverse structure During the research process on passive voice, many domestic and foreign linguists has achieved remarkable results However, studies related to passive voice in Vietnamese that have a connection with Korean are still quite rare
Therefore, the topic: "Comparing the characteristics of passive voice in Vietnamese and Korean" has been chosen to conduct the study with the desire
of seeking new and profound problems about passive voice in Vietnamese and compare to it in Korean
This study uses a description, classification, and comparison method Passive voice sentences in this thesis are quoted from 20 textbooks, specialized books and short stories in Vietnamese and Korean to establish the objectivity in the research From those quotes, we continued to describe the syntactic structure and categorized them into different sub-categories, then compare between the similarities and differences of the passive voice in both languages
The results show that Vietnamese and Korean passive voice are divided into three sub-categories Nonetheless, the structure in Vietnamese is much simpler than Korean as it is an independent, non-transformation language, whereas Korean is connected and inflectional Therefore, in Vietnamese, the passive voice merely needs to add the passive verbs "bị and được" three different sub-types of the passive voice solely rely on word-order and the addition of elements in the sentence While in Korean, passive voice are divided into three categories, with three different inflective forms of verbs In addition, a special feature in Korean is that the adverb behind the nouns indicates its different roles in a sentence which complicates the passive voice
In conclusion, this study will help language learners and translators to have not only a better understanding but also a deeper view on the usage of passive voice in both Vietnamese and Korean
Trang 6iv
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Tình - Người đã định hướng, dẫn dắt và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quãng thời gian thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm, phân tích và xử lý tài liệu nhưng nhờ có sự hỗ trợ nhiệt tình, những nhận xét giá trị từ phía thầy giáo hướng dẫn nên tôi có thể hoàn thành luận văn theo đúng thời gian quy định với nội dung phù hợp
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn phòng Đào tạo, khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc đã luôn đồng hành, hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn Người viết đã có nhiều cố gắng nỗ lực để thực hiện luận văn một cách đầy đủ và hoàn chỉnh nhất Song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót
do thời gian nghiên cứu còn hạn chế Chính vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 11 năm 2020
Tác giả
Dương Thảo Tiên
Trang 7v
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Tóm tắt luận văn ii
Abstract iii
Lời cảm ơn iv
Mục lục v
Danh mục hình vii
Danh mục từ viết tắt viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu và tính mới của đề tài 1
2.1.Tình hình nghiên cứu 1
2.2.Tính mới của đề tài 3
3 Mục đích của đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Khái quát chung về Tiếng Việt và Tiếng Hàn 8
1.1.1 Khái quát chung về tiếng Việt 8
1.1.2 Khái quát chung về tiếng Hàn 9
1.2 Khái niệm và phân loại câu 10
1.2.1 Khái niệm câu 10
1.2.2 Các phương pháp phân loại câu 11
1.3 Câu bị động theo các nhà ngữ pháp Việt Nam và Hàn Quốc 14
1.3.1 Câu bị động theo các nhà ngữ pháp Việt Nam 14
1.3.2 Câu bị động theo các nhà ngữ pháp Hàn Quốc 21
1.4 Phân tích cấu trúc cú pháp của câu bị động 22
Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN 25
Trang 8vi
2.1 Đặc điểm ngôn ngữ của câu bị động trong Tiếng Việt 25
2.1.1 Cấu trúc cú pháp chung của câu bị động 25
2.1.2 Phân biệt trợ động từ bị động với động từ thực và động từ tình thái 27
2.1.3 Phân biệt câu bị động với câu trung tính 29
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ của câu bị động trong tiếng Hàn 31
2.2.1 Cấu trúc cú pháp chung của câu bị động 31
2.2.2 Các cấu trúc gây nhầm lẫn với cấu trúc bị động 40
2.2.3 Phân biệt câu bị động với các dạng câu khác 42
Tiểu kết chương 2 46
CHƯƠNG 3 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN 47
3.1 So sánh cấu trúc cú pháp của câu bị động 47
3.2 So sánh phương thức biểu hiện dạng bị động của câu 54
3.3 So sánh sắc thái biểu cảm trong câu bị động 60
3.3.1 Nét tương đồng về sắc thái biểu cảm 60
3.3.2 Nét dị biệt về sắc thái biểu cảm 61
3.4 So sánh ý nghĩa ngữ dụng của câu bị động 62
3.4.1 Nét tương đồng về ý nghĩa ngữ dụng 62
3.4.2 Nét dị biệt về ý nghĩa ngữ dụng 63
3.5 So sánh cách biến đổi từ câu chủ động sang câu bị động theo cấu trúc 2 66
3.5.1 Nét tương đồng về cách biến đổi từ câu chủ động sang câu bị động theo cấu trúc 2 66
3.5.2 Nét dị biệt về cách biến đổi từ câu chủ động sang câu bị động theo cấu trúc 2 67
Tiểu kết chương 3 70
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 76
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Cấu trúc cú pháp của câu chủ động (A) 23
Hình 1.2: Cấu trúc cú pháp của câu chủ động (B) 23
Hình 1.3: Cấu trúc cú pháp của câu bị động (C) 23
Hình 1.4: Cấu trúc cú pháp của câu bị động (D) 23
Hình 2.1: Cấu trúc cú pháp chung của câu bị động tiếng Việt 25
Hình 2.2: Đối chiếu câu trung tính, câu bị động, câu chủ động 30
Hình 2.3: Cấu trúc cú pháp chung của câu bị động Tiếng Hàn 30
Hình 2.4: Phân biệt câu bị động với câu gây khiến 42
Hình 2.5: Phân biệt câu bị động với câu quá trình biến đổi 43
Hình 2.6: Phân biệt câu bị động với câu chỉ sự hoàn thành 44
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, con người luôn sử dụng ngôn ngữ như là một phương tiện để giao tiếp, thỏa mãn tất cả các nhu cầu bản thân Khi muốn trao đổi thông tin, truyền đạt những suy nghĩ, tình cảm, nhu cầu khác nhau thì không gì ngoài ngôn ngữ có thể biểu đạt một cách chính xác và đầy đủ nội dung muốn truyền tải Với xu thế giao lưu hội nhập trên toàn thế giới thì ngoại ngữ đóng một vai trò vô cùng quan thiết, nó là công cụ giao tiếp phổ biến giữa những người không cùng tiếng mẹ đẻ trên nhiều lĩnh vực khác nhau như ngoại giao, kinh tế, an ninh, quốc phòng Ngoài ra, ngôn ngữ còn là một thành tố của văn hóa và lịch sử vì nó phản ánh thói quen sử dụng của con người và lý do hình thành ngôn ngữ
Tuy hai đất nước Việt Nam và Hàn Quốc cách xa nhau về địa lý, khác nhau về ngôn ngữ nhưng cả hai có nhiều điểm tương đồng về văn hóa xã hội Chính vì thế mà cách sử dụng ngôn ngữ cũng có một số điểm tương đồng, nó được thể hiện rõ trong việc sử dụng câu bị động
Trong giao tiếp hàng ngày, câu bị động được sử dụng một cách thường xuyên và theo thói quen tự nhiên của con người, tuy nhiên việc sử dụng câu bị động như thế nào cho đúng với hoàn cảnh vẫn còn là câu hỏi khó đối với người học, người dịch thuật
Nhận thấy được những khó khăn vừa nêu, đề tài “Đối chiếu đặc điểm
ngôn ngữ của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn” đã được chọn để
thực hiện luận văn này Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn này có thể giúp ích cho việc dạy và học tiếng Hàn cũng như tiếng Việt, đồng thời phục vụ cho công việc dịch thuật tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngược lại
2 Tình hình nghiên cứu và tính mới của đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Câu bị động được sử dụng phổ biến rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày,
cả dưới dạng thức nói và viết Vì thế mà câu bị động là đối tượng nghiên cứu của không ít các nhà ngôn ngữ học, giáo viên, sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ
Tuy nhiên, từ trước đến nay, các nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt không nhiều, việc so sánh đối chiếu câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn lại càng hiếm Các công trình nghiên cứu lớn như: Luận văn tiến sĩ “Câu
bị động tiếng Anh và các phương thức dịch sang tiếng Việt” của tác giả Hoàng
Trang 122
Công Bình (năm 2015), kết quả của luận án là làm rõ đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của câu bị động tiếng Anh, chỉ ra các phương thức dịch các câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt và giúp cho những nghiên cứu tiếp theo có thêm cơ
sở lý thuyết về dịch thuật Luận văn tiến sĩ “Dạng bị động trong Tiếng Pháp và những phương thức biểu đạt tương đương trong tiếng Việt” của tác giả Đinh Hồng Vân (năm 2006), phân tích một cách cụ thể các vấn đề về cấu trúc, ý nghĩa và vai trò của dạng bị động trong tiếng Pháp, làm rõ những nét tương đồng và dị biệt trong cách diễn đạt ý nghĩa bị động trong hai ngôn ngữ, nâng cao khả năng ứng dụng ngôn ngữ vào thực tiễn Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu đối chiếu câu bị động tiếng Hán và tiếng Việt” của tác giả Đàm Ích Hoa (năm 2009), tập trung tìm hiểu các vấn đề như nhận diện câu bị động trong tiếng Trung và tiếng Việt, sau đó đối chiếu sự tương đồng và khác biệt của câu bị động trong tiếng Trung và tiếng Việt
Bên cạnh những công trình lớn còn có những bài báo khoa học, tạp chí, bài viết nghiên cứu về câu bị động như:
“Dạng bị động và các vấn đề câu bị động trong tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Hồng Cổn và Bùi Thị Diên được đăng ở tạp chí ngôn ngữ số 8 năm
2004 “Vai trò của “được”, “bị” trong câu bị động tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Minh Thuyết được đăng trong Viện Ngôn ngữ học năm 1986 “ Câu chuyển tác bị động từ góc nhìn của tính chuyển tác và sự tri nhận” của tác giả Dương Hữu Biên được đăng ở Tạp chí khoa học Đà Lạt tập 6 số 1 năm 2016
“Các phương thức chuyển dịch câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt” của tác giả Bùi Thị Diên được đăng ở tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội tập
21 số 3 năm 2005
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các nghiên cứu ở nước ngoài cũng quan tâm đến đề tài này như:
Luận văn tiến sĩ “한국어 피동사, 피동문 연구” (Nghiên cứu động từ bị động, câu bị động trong tiếng Hàn) của tác giả 김영일 (Kim Yeong Il) năm
2019, nghiên cứu về hình thức và đặc tính của câu bị động có động từ bị động, đặc trưng của chủ ngữ hành vi xuất hiện trong câu bị động Nhằm phân biệt các dạng câu bị động điển hình với dạng không điển hình và làm rõ các loại hình, đặc trưng cụ thể theo ý nghĩa của các dạng câu bị động trong tiếng Hàn Luận văn tiến sĩ “한국어 피동문의 역사적 연구” (Nghiên cứu lịch sử của câu bị động tiếng Hàn) của tác giả 백채원 (Baek Chae Won) năm 2017, điều tra một cách tổng hợp đặc trưng cú pháp, ý nghĩa của câu bị động và đặc trưng hình thái của bị động từ với đối tượng là câu bị động của tiếng Hàn trung đại và tiếng Hàn cận đại
Trang 133
Luận văn thạc sĩ “한중 피동문 대비와 학습 방안 연구” (Nghiên cứu đối chiếu của bị động Hàn - Trung và phương án học tập) của tác giả 왕차오 (Wang Cha O) năm 2013, nghiên cứu về các dạng câu bị động trong tiếng Hàn, các dạng câu bị động trong tiếng Trung, điểm tương đồng và dị biệt của câu bị động trong hai ngôn ngữ Hàn - Trung Mục đích của luận văn này là đưa vào thực tiễn giáo dục ngoại ngữ, tránh xuất hiện những lỗi sai khi người học muốn sử dụng câu bị động và người học có thể sở hữu kiến thức cụ thể hơn, hiểu sâu hơn về các biểu hiện bị động trong tiếng Hàn và tiếng Trung
Luận văn thạc sĩ “한국어 교재 피동사 목록의 적절성 연구” (Nghiên cứu tính phù hợp của phụ lục bị động từ trong giáo trình tiếng Hàn) của tác giả 이채은 (Lee Chae Eun) năm 2018, đưa ra tính nhất quán của danh mục động từ bị động và giáo trình tiếng Hàn, tính trùng lặp của phụ lục bị động từ trong mỗi giáo trình tiếng Hàn Mục đích thực hiện đề tài này là điều tra tính phù hợp của phụ lục bị động từ của giáo trình tiếng Hàn, sau đó đưa ra phương pháp tiếp cận mới trong giáo dục bị động từ hiện nay Để làm được điều đó, luận văn này đã thiết lập phụ lục bị động từ thích hợp trong giáo dục tiếng Hàn với tiêu chuẩn phát triển nội dung từ vựng trong giáo dục tiếng Hàn và phân tích đối chiếu tài liệu hội thoại trong các giáo trình đó
2.2 Tính mới của đề tài
Hoạt động nghiên cứu của nhiều tác giả cả trong và ngoài nước về câu bị động đã đạt được những thành quả đáng kể Tuy nhiên các nghiên cứu liên quan đến câu bị động trong tiếng Việt có sự liên hệ với tiếng Hàn cho người học thì vẫn còn khá ít Thêm nữa việc so sánh đối chiếu câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn tồn tại không ít những vấn đề cần phải chú trọng Từ những lý do trên, nghiên cứu này được tiến hành với mong muốn sẽ tìm ra những vấn đề sâu sắc, mới mẻ hơn về câu bị động trong tiếng Việt và so sánh đối chiếu với câu bị động trong tiếng Hàn
3 Mục đích của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở giới thiệu và phân tích về câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn, nghiên cứu sẽ đối chiếu, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó giúp người học nhận thức quá trình học ngoại ngữ (tiếng Hàn) không ảnh hưởng một cách rập khuôn với tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt), đồng thời giúp cho quá trình học ngoại ngữ cũng như trong công tác dịch thuật giữa hai ngôn ngữ Việt - Hàn trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn
Trang 144
Nghiên cứu đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn sẽ là đề tài giúp người học hiểu rõ hơn về đặc trưng ngôn ngữ của mỗi dân tộc, cách sử dụng câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn
- Thu thập, mô tả và phân loại các dạng câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn; đồng thời phân biệt cấu trúc bị động với các cấu trúc tương đương khác
- Đối chiếu các đặc điểm ngôn ngữ của câu bị động giữa tiếng Việt và tiếng Hàn
3.3 Ý nghĩa nghiên cứu
Việc thu thập, miêu tả, phân loại, đối chiếu các dữ liệu sẽ giúp chúng ta biết được chúng có cấu trúc như thế nào, cách thức cấu tạo dạng bị động, phương thức biểu hiện dạng bị động, cách biểu thị ý nghĩa dạng thức thì, sắc thái biểu cảm, ý nghĩa dụng học của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn Ngoài ra, việc đối chiếu câu bị động của hai ngôn ngữ Việt - Hàn còn giúp người học có thể hiểu rõ và vận dụng một cách có hiệu quả trong giao tiếp hàng ngày hoặc trình bày văn bản
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chủ yếu là cấu trúc cú pháp câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát khoảng 200 câu bị động ở các giáo trình, tác phẩm văn học để đưa ra phân tích, giải thích, làm rõ vấn đề cần giải quyết
4.3 Phương pháp nghiên cứu
4.3.1 Các nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ
Theo Ngôn ngữ học đối chiếu (Bùi Mạnh Hùng, 2008), quá trình nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau đây Nguyên tắc 1: Bảo đảm các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải được miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc trước khi tiến hành đối chiếu để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng
Nguyên tắc 2: Việc nghiên cứu đối chiếu không thể chỉ chú ý đến các phương tiện ngôn ngữ một cách tách biệt mà phải đặt trong hệ thống
Nguyên tắc 3: Phải xem xét các phương tiện đối chiếu không chỉ trong
hệ thống ngôn ngữ mà còn trong hoạt động giao tiếp
Trang 154.3.2 Phương pháp nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ
4.3.2.1 Khái quát
Trong ngôn ngữ học, phương pháp so sánh cũng là một thuật ngữ rộng hơn phương pháp đối chiếu, vì phương pháp đối chiếu là một kiểu riêng của phương pháp so sánh Tuy nhiên, đối chiếu khác với những kiểu so sánh khác không phải ở chỗ có ngôn ngữ được lấy làm chuẩn hay không, mà mối quan
hệ giữa các ngôn ngữ được chọn làm đối tượng so sánh và mục đích của sự so sánh
+ Đối chiếu các quy tắc tương đương, như quy tắc bị động hóa, đảo trật
tự trong kết cấu nghi vấn, đồng hóa, dị hóa ngữ âm
4.3.2.3 Các bước phân tích đối chiếu
- Bước 1 là miêu tả Tất cả các nghiên cứu đối chiếu đều đặt trên cơ sở miêu tả những cáu liên quan trong ngôn ngữ đối chiếu
Tùy vào trường hợp cụ thể mà người nghiên cứu đối chiếu có thể sử dụng kết quả miêu tả của người khác và chỉ trình bày lại dưới hình thức phù hợp với mục đích đối chiếu của riêng mình hay sử dụng kết quả miêu tả do mình tự xác lập
Khi sử dụng các nguồn ngữ liệu cần lưu ý những điểm sau:
+ Đối với những ngữ liệu gồm các văn bản tương đương dịch, cần dùng những bản dịch của các tác giả có uy tín Chỉ có nhứng bản dịch “trung thành” với văn bản gốc mới cung cấp cho ta những phương tiện ngôn ngữ tương
Trang 166
đương đích thực trong hai ngôn ngữ
+ Đối với từ điển song ngữ, do phải giải thích nghĩa và cách dùng của một số lượng lớn các đơn vị từ vựng nên những thông tin về điểm giống và khác nhau của những đơn vị được coi là tương đương trong hai ngôn ngữ thường không đủ chi tiết và sâu sắc, đáp ứng yêu cầu của nghiên cứu đối chiếu Ngữ liệu về câu trong từ điển thường đáng tin cậy hơn, nhưng số lượng lại tương đối hạn chế
+ Đối với thông tin viên người bản ngữ hay sách ngữ pháp miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu, cần cẩn trọng với sự chủ quan hay định kiến Ngữ liệu do người bản ngữ cung cấp có tính chất cá nhân rõ nét Còn ngữ pháp trong các cuốn sách ngữ pháp cũng chủ yếu minh họa cho một lí thuyết cụ thể + Khi hiện tượng ngôn ngữ cần miêu tả đòi hỏi ngữ liệu từ lời nói hằng ngày thì ngữ liệu này phải được lấy trong môi trường giao tiếp tự nhiên, vì có như vậy thì người nghiên cứu mới có được thứ ngữ liệu “thuần khiết”, “ không pha trộn”
+ Ngoài yêu cầu về chất lượng, ngữ liệu dùng để miêu tả còn phải đủ rộng và đa dạng
- Bước 2 là xác định những cái có thể đối chiếu được với nhau Việc này thường dựa trước hết vào khả năng suy xét có tính chất trực giác của người nghiên cứu Năng lực song ngữ sẽ cho phép người nghiên cứu xác định yếu tố
X nào đó trong ngôn ngữ này có tương đương với yếu tố Y trong ngôn ngữ khác hay không Nếu hai ngôn ngữ tương đương nhau thì có thể so sánh được
- Bước 3 là đối chiếu Đây là bước quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu đối chiếu
4.3.2.4 Những tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ
- Nghiên cứu đối chiếu hai (hay nhiều) chiều xem xét các hiện tượng được so sánh giữa hai hay nhiều ngôn ngữ trong mối quan hệ qua lại trên một
cơ sở đối chiếu, dựa trên một tính chất nhất định Trong đối chiếu hai chiều, khi sử dụng tính chất cần chú ý các phương tiện ngôn ngữ thường đa chiều Cho nên, trong giới hạn của một nghĩa khác của các phương tiện ngôn ngữ không thuộc tính chất đang xét thì không được đề cập đến
- Nghiên cứu đối chiếu một chiếu xem xét ý nghĩa phương tiện nào đó trong ngôn ngữ này và xác định những phương tiện biểu hiện ý nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ khác Có thể bắt đầu từ việc miêu tả các hình thức trong ngôn ngữ thứ nhất rồi đối chiếu với cái tương đương trong ngôn ngữ thứ hai hoặc ngược lại Đây là cách tiếp cận một chiều vì khi đối chiếu người nghiên cứu phải chọn một ngôn ngữ làm điểm xuất phát và một ngôn ngữ làm đích Việc chọn ngôn ngữ nào làm điểm xuất phát và ngôn ngữ nào làm ngôn ngữ
Trang 17- Phương pháp thu thập ngữ liệu:
Ngữ liệu là 200 câu bị động tiếng Việt và tiếng Hàn được lấy từ 20
quyển sách giáo khoa, sách chuyên ngành ngôn ngữ của các nhà xuất bản uy tín như Nhà xuất bản Giáo dục Việt nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Nhà xuất bản trẻ, truyện ngắn của các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Nhật Ánh, Nam Cao, Nguyên Hồng, Kim Hye Jung, nhà xuất bản sách uy tín
- Phương pháp miêu tả:
Dựa trên cơ sở các ngữ liệu thu thập được, luận văn sẽ tiến hành miêu tả ngữ liệu đó theo các hướng như sau:
+ Mô tả cấu trúc cú pháp câu bị động
+ Mô tả hình thức biểu hiện dạng bị động
+ Mô tả sắc thái biểu cảm của câu bị động
+ Mô tả ý nghĩa ngữ dụng
+ Mô tả cách biến đổi của theo cấu trúc
- Phương pháp phân loại:
Dựa trên những tiêu chí cụ thể như cấu trúc cú pháp, dạng bị động, sắc thái biểu cảm, ý nghĩa ngữ dụng để phân loại các ngữ liệu thu thập được
- Phương pháp so sánh đối chiếu:
Trên những dữ liệu đã mô tả và phân loại, luận văn tiến hành đối chiếu song song những điểm tương đồng và dị biệt theo các tiêu chí như đã nêu ở trên của câu bị động trong hai ngôn ngữ Việt - Hàn đồng thời thấy được sự giống và khác nhau về đặc trưng ngôn ngữ của người Việt và người Hàn
5 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được phân bố thành các chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn
Trang 188
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái quát chung về Tiếng Việt và Tiếng Hàn
1.1.1 Khái quát chung về tiếng Việt
Theo Dẫn luận Ngôn ngữ học (Nguyễn Thiện Giáp, 1998), tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập Đặc điểm chính của loại hình này là:
- Từ không biến đổi hình thái
Hình thái của từ tự nó không chỉ ra mối quan hệ giữa các từ ở trong câu, không chỉ ra chức năng cú pháp của các từ Qua hình thái, tất cả các từ dường như không có quan hệ với nhau, chúng thường đứng ở trong câu tương tự như đứng biệt lập một mình Chính xuất phát từ đặc điểm này mà người ta gọi loại hình này là "đơn lập"
- Quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị chủ yếu bằng hư
Trong các ngôn ngữ này, các từ đơn tiết làm thành hạt nhân cơ bản của
từ vựng Phần lớn những đơn vị được gọi là từ ghép, từ phái sinh được cấu tạo
từ các từ đơn tiết này Vì thế, ranh giới các âm tiết thường trùng với ranh giới các hình vị, hình vị không phân biệt với từ và do đó ranh giới giữa đơn vị gọi
là từ ghép và cụm từ cũng khó phân biệt
- Những từ có ý nghĩa đối tượng, tính chất, hành động… không phân biệt
với nhau về mặt cấu trúc Tất cả đều được diễn đạt bằng các từ không biến đổi
Ví dụ:
cưa - dụng cụ để xẻ gỗ
cưa - hành động xẻ gỗ
Chính vì vậy, một số nhà ngôn ngữ học cho rằng trong các ngôn ngữ đơn
lập không có cái gọi là "các từ loại"
Trang 191.1.2 Khái quát chung về tiếng Hàn
Tiếng Hàn là ngôn ngữ chắp dính Đặc điểm chính của loại hình này là:
- Sử dụng rộng rãi các phụ tố để cấu tạo từ và biểu thị những mối quan
hệ khác nhau Nhưng khác với các ngôn ngữ hoà kết, hình vị trong các ngôn ngữ chắp dính có tính độc lập lớn và mối liên hệ giữa các hình vị không chặt chẽ Chính tố có thể hoạt động độc lập
- Từ biến đổi hình thái
Hình thái của từ chỉ ra mối quan hệ giữa các từ ở trong câu, chỉ ra chức năng cú pháp của các từ Qua hình thái, tất cả các từ trong câu dường như có quan hệ chặt chẽ với nhau Chính xuất phát từ đặc điểm này mà người ta gọi loại hình này là "chắp dính" Mỗi phụ tố trong các ngôn ngữ chắp dính chỉ biểu thị một ý nghĩa ngữ pháp, ngược lại, mỗi ý nghĩa ngữ pháp chỉ được biểu thị bằng một phụ tố [quan hệ 1–1]
Trang 20- Những từ có ý nghĩa đối tượng, tính chất, hành động… phân biệt với
nhau về mặt cấu trúc Tất cả đều được diễn đạt bằng các từ biến đổi hình thái
1.2 Khái niệm và phân loại câu
1.2.1 Khái niệm câu
Vấn đề định nghĩa câu và phân loại câu có khá nhiều quan điểm khác nhau từ các nhà ngữ pháp Việt Nam và Hàn Quốc, phụ thuộc vào góc nhìn của nhà nghiên cứu, vào mục đích nghiên cứu và giảng dạy cũng như học tập ngữ pháp Dưới đây là một số định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
Theo Diệp Quang Ban: “Câu (hay cú) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu
trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một
Trang 2111
sự thể (hay một sự việc)” (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 2005, tr.17)
Theo Nguyễn Thiện Giáp “Câu là đơn vị nhỏ nhất có khả năng thông
báo một sự việc, một ý kiến, một tình cảm hoặc một cảm xúc” (Dẫn luận ngôn
ngữ học, Nxb Giáo dục, tái bản năm 2010, tr.66)
Ngoài ra, Diệp Quang Ban dựa vào bốn tiêu chí: hình thức, nội dung,
chức năng và lĩnh vực nghiên cứu đã nêu lên định nghĩa về câu như sau: “Câu
là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ.”
(Ngữ pháp tiếng Việt - tập 2, Nxb Giáo dục, tái bản năm 2012, tr.106)
1.2.2 Các phương pháp phân loại câu
1.2.2.1 Phân loại câu theo cấu tạo
Mặc dù có rất nhiều nhà ngữ pháp quan niệm khác nhau về phân loại câu theo cấu trúc cú pháp nhưng luận văn chỉ dựa vào quan điểm của Diệp Quang Ban trong Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt (theo định hướng ngữ pháp chức năng), Tập Hai: Phần Câu 2008, NXB Giáo dục Theo Diệp Quang Ban (sách
đã dẫn 2008, tr.10-77), câu được chia thành: câu đơn, câu phức,câu ghép
(1) Câu đơn được xây dựng trên cơ sở một cấu trúc chủ - vị hay còn gọi
là cấu trúc cơ sở hay nòng cốt câu mà phần vị ngữ được hiểu là gồm vị tố (về
từ loại trong tiếng Việt có thể là động từ, tính từ, danh từ) và bổ ngữ (nếu có) Câu đơn có thể có thành phần trạng ngữ chỉ thời gian, không gian đi kèm với cấu trúc cơ sở tạo thành cấu trúc cú pháp của câu đơn
Câu đơn có thể chia thành:
(1.1) Câu đơn hai thành phần bình thường (là câu đơn có đủ cả chủ ngữ
và vị ngữ, và có thể không có trạng ngữ)
Ví dụ:
Cấu trúc cơ sở của câu
Trạng ngữ
(TrN)
Chủ ngữ (CN)
Vị ngữ (VN)
Bổ ngữ (BN) Cấu trúc cú pháp của câu
(1.2) Câu đơn một thành phần (là câu đơn chỉ có một bộ phận vị ngữ,
câu đơn không chủ ngữ)
Ví dụ:
+ Trên bàn có hai loại hoa (câu vị ngữ - động từ, không chủ ngữ)
+ Bom tạ (câu vị ngữ - danh từ, không chủ ngữ)
Trang 22+ Tiếng hát ngừng Cả tiếng cười (ø) (Nam Cao)
(2) Câu phức có hai hoặc hơn hai cụm chủ - vị nhưng trong số đó chỉ có
một cụm chủ - vị “nằm ngoài cùng” bao hàm các cụm chủ - vị còn lại, các cụm chủ - vị còn lại được coi là bị bao hàm trong cụm chủ - vị nằm ngoài cùng đó
+ Thuyền được (người lái) đẩy ra xa
(2.7) Câu phức có yếu tố phụ miêu tả của danh từ là cụm chủ - vị
Ví dụ:
+ Con mèo Giáp mua chạy mất rồi
(3) Câu ghép là câu chứa hai hoặc hơn hai cụm chủ - vị, trong số đó
không cụm chủ - vị nào bao hàm cụm chủ - vị nào
(3.1) Câu ghép chính phụ
Ví dụ:
+ Nhờ thời tiết tốt mà mùa màng bội thu
+ Nếu mai trời không mưa, mình sẽ đến cậu chơi
Trang 2313
(3.2) Câu ghép đẳng lập
Ví dụ:
+ Một người đọc và ba người ghi
+ Họ vừa đi vừa hát
+ Trời quang mây, trăng trong và lạnh
(3.3) Câu ghép chứa lời dẫn
Ví dụ:
+ Giáp nói (rằng): “Mai tôi đi Đà Lạt”
+ Giáp nói rằng mai anh ấy đi Đà Lạt
1.2.2.2 Phân loại câu theo mục đích phát ngôn
Theo Diệp Quang Ban (sách đã dẫn 2008, tr.112-116), câu xét theo mục đích nói được chia thành 4 kiểu câu như sau: câu trình bày (câu tường thuật), câu nghi vấn, câu cầu khiến (câu mệnh lệnh), câu cảm thán
(1) Câu tường thuật là câu có chức năng diễn giải, diễn đạt niềm tin của
người nói, được dùng để kể, mô tả một vật, việc, hiện tượng, để nhận định, xác nhận, dùng trong quá trình suy nghĩ
Ví dụ:
+ Con đi (ạ)
+ Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta (Hồ Chí Minh)
(2) Câu nghi vấn là câu có chức năng hỏi, tức là người nói muốn người
nghe cung cấp cho mình điều mà mình chưa biết hoặc còn hoài nghi
Ví dụ:
+ Ai ngồi đằng kia vậy?
+ Có Giáp ở nhà không đấy?
+ Giáp chưa đến?
(3) Câu cầu khiến có chức năng điều khiển, tức là người nói muốn nghe
thực hiện việc được nêu lên trong câu (nội dung lệnh) trong tương lai
Ví dụ:
+ Anh hãy ngồi xuống đây đã!
(4) Câu cảm thán có chức năng diễn đạt một mức độ nhất định của cảm
xúc, tâm trạng khác thường, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với vật, việc, hiện tượng được nêu ra trong câu với tư cách là nguyên nhân của sự cảm thán
Ví dụ:
+ Chán ơi là chán!
+ Vinh quang thay các vị anh hùng dân tộc!
Trang 2414
1.3 Câu bị động theo các nhà ngữ pháp Việt Nam và Hàn Quốc
1.3.1 Câu bị động theo các nhà ngữ pháp Việt Nam
Theo báo cáo “Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt” (Nguyễn Hồng Cổn-Bùi Thị Diên, 2004), từ trước đến nay, dạng bị động và câu bị động trong tiếng Việt là một vấn đề gây nhiều sự tranh cãi nhất trong giới Việt ngữ học Mặc dù hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng tiếng Việt không có dạng bị động với tư cách là một phạm trù hình thái học như trong các ngôn ngữ châu Âu, nhưng ý kiến của họ lại khác nhau khi nói đến sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt Chúng ta có thể quy các ý kiến khác nhau về hai quan niệm: phủ nhận và thừa nhận sự có mặt của câu bị động trong tiếng Việt
(1) Quan niệm cho rằng tiếng Việt không có câu bị động
Một số nhà nghiên cứu (G Cardier, M.B Emeneau, Trần Trọng Kim ) cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, phân tích tính, động từ tiếng Việt không có các chỉ tố đánh dấu về ngôi, thời, thức, dạng , nên không tồn tại câu bị động như các ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hàn ) Để chuyển được một câu từ dạng chủ động sang dạng bị động thì các ngôn ngữ biến hình phải dùng đến sự biến đổi hình thái của động
từ Tiếng Việt vốn là một ngôn ngữ không có hiện tượng biến hình từ nên không thể đáp ứng được tiêu chí hình thái học khắt khe này của dạng bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp Cùng chủ trương không có sự đối lập của dạng chủ động và bị động trong các ngôn ngữ này, L.C Thompson (1965: 217) cũng cho rằng những cấu trúc có “được” và “bị” chỉ là sự chuyển dịch tương đương từ những cấu trúc bị động trong ngôn ngữ Châu Âu L.C Thompson gọi đó là cách diễn đạt bị động logic chứ không coi chúng là một phạm trù ngữ pháp tách biệt Ngoài tiêu chí hình thái học một số tác giả còn dựa vào đặc điểm tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên chủ đề chứ không phải thiên chủ ngữ để phủ nhận sự có mặt của phạm trù bị động trong tiếng Việt
Họ cho rằng trong các ngôn ngữ thiên chủ đề thì không thể xuất hiện bị động bởi bị động là đặc trưng của các ngôn ngữ thiên chủ ngữ Ý kiến này xuất phát
từ luận điểm của Ch.N Li và S.A Thompson (1976) về sự đối lập giữa hai loại hình ngôn ngữ “thiên chủ ngữ” và “thiên chủ đề” Các tác giả này cho rằng cấu trúc bị động rất phổ biến trong các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, còn ở những ngôn ngữ thiên chủ đề thì bị động thường vắng mặt hoặc ít gặp Nếu xuất hiện, nó thường mang một nghĩa đặc biệt, giống như bị động nghịch cảnh (adversity) trong tiếng Nhật Dựa vào ý kiến của Ch.N Li và S.A Thompson (1976) một số tác giả (Nguyễn Thị Ảnh 2000, Cao Xuân Hạo 2001) cũng cho
Trang 2515
rằng tiếng Việt không có thái bị động, do đó không có câu bị động Theo các tác giả, tiếng Anh và các thứ tiếng Châu Âu khác là những ngôn ngữ "thiên chủ ngữ", còn tiếng Việt có đủ những thuộc tính của một ngôn ngữ "thiên chủ đề", vì thế rất khó có thể có cấu trúc bị động Những tác giả ủng hộ quan điểm tiếng Việt không có dạng bị động và câu bị động còn dựa trên quan niệm rằng các động từ “bị” và “được” là những động từ ngoại động chính danh, nên không thể coi chúng là dấu hiệu ngữ pháp biểu hiện quan hệ bị động Nguyễn Kim Thản (1977) cho rằng các động từ “bị”, “được” là những động từ độc lập đóng vai trò chính trong bộ phận vị ngữ của câu chứ không phải là hư từ biểu thị dạng bị động của động từ Về ý nghĩa, “được” có nghĩa như tiếp nhận hoặc chịu đựng một cách thích thú, còn “bị” biểu thị ý nghĩa chịu đựng một sự không may (chết, thất bại, v.v.) hay cũng có thể nói rằng biểu thị trạng thái rủi
ro của chủ thể Về đặc điểm ngữ pháp, khác với “bị” và “được” trong tiếng Hán hiện đại, “bị” và “được” trong tiếng Việt vẫn còn được dùng như một thực từ chân chính, có khả năng kết hợp rất phong phú Từ đó, Nguyễn Kim Thản đã đi đến kết luận rằng: “Trong tiếng Việt hiện đại, xét về mặt lịch sử cũng như thực tế thì ý nghĩa của những động từ này (bị và được) vẫn giữ nguyên vẹn trong mỗi trường hợp, đặc điểm ngữ pháp của nó trước sau vẫn là đặc điểm của một động từ độc lập chứ không phải là đặc điểm của một hư từ, còn những thành phần đứng sau nó đều là bổ ngữ của nó cả.” Nói cách khác Nguyễn Kim Thản không công nhận “bị/ được” là dấu hiệu của dạng bị động của động từ tiếng Việt và động từ tiếng Việt không có dạng bị động Quan điểm của Nguyễn Kim Thản đuợc Nguyễn Minh Thuyết (1986, 1998) ủng hộ
và làm sáng rõ thêm Tuy nhiên, dù không thừa nhận tiếng Việt có dạng bị động như các ngôn ngữ châu Âu, nhưng cả hai tác giả đều cho rằng tiếng Việt
có cách biểu hiện ý nghĩa bị động riêng của mình, đó là cách biểu hiện bằng cấu trúc cú pháp (Nguyễn Kim Thản) hay phương tiện từ vựng (Nguyễn Minh Thuyết) Theo Nguyễn Thị Ảnh (2000), thái bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp được biểu đạt bằng các phương tiện hình thái học bắt buộc tuyệt đối chỉ có ở các ngôn ngữ “thiên chủ ngữ”, còn tiếng Việt là một ngôn ngữ
“thiên chủ đề” thì ý nghĩa bị động không có một hình thức biểu đạt riêng như thế Để khẳng định tiếng Việt không có thái bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp, tác giả đã đưa ra nhiều ví dụ chứng minh rằng “được, bị” là những vị từ ngoại động chính danh chứ không phải là các hư từ đánh dấu (thái
bị động) Quan niệm này cũng nhận được sự đồng tình của Cao Xuân Hạo (2002)
Trang 2616
(2) Quan niệm thừa nhận tiếng Việt có câu bị động
Ngược với quan niệm trên, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng trong tiếng Việt mặc dù không có phạm trù bị động với tư cách là một phạm trù hình thái học nhưng vẫn có cấu trúc bị động hay câu bị động Nguyễn Phú Phong (1976) thừa nhận "bị động" như là một phạm trù ngữ pháp tách biệt trong tiếng Việt Ông biện luận rằng có thể xác lập một cặp câu chủ động - bị động tiếng Việt tương ứng về mặt chuyển dịch với cặp câu chủ động - bị động trong tiếng Pháp, và chỉ rõ mối quan hệ hình thức giữa các thành phần của mỗi cặp câu trong những thuật ngữ chung Ông cũng cho được, bị, do là những trợ
từ bị động Hoàng Trọng Phiến (1980) quan niệm “trong tiếng Việt phương thức đối lập bị động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần tuý mà bằng con đường từ vựng - ngữ pháp” Theo tác giả, quan hệ cú pháp trong câu bị động tiếng Việt được biểu hiện như sau:
- Bổ ngữ đối tượng trong câu chủ động trở thành chủ ngữ trong câu bị động tương ứng
- Vị ngữ bao gồm các từ bị, được, do kèm theo động từ ngoại động
- Chủ thể ở câu chủ động không bắt buộc phải xuất hiện trong câu bị động tương ứng
Theo đó, tiếng Việt có các dạng biến đổi câu bị động từ câu chủ động dưới đây:
(a) Mẹ chiều con gái
→ (a’) Con gái được mẹ chiều
(b) Mẹ tặng con gái quyển sách
→ (b’) Con gái được mẹ tặng quyển sách
→ (b’’) Quyển sách được (do) mẹ tặng con gái
(c) Thầy bảo các em làm việc này
→ (c’) Các em làm việc này do thầy bảo
(Hoàng Trọng Phiến 1980: 166 – 167)
Lê Xuân Thại (1989) cũng tán đồng một quan điểm tương tự, khi cho rằng tiếng Việt mặc dù không có các câu bị động hoàn toàn giống như câu bị động trong các ngôn ngữ châu Âu nhưng cũng có loại câu có thể gọi là câu bị động với những đặc điểm sau:
- Chủ ngữ của câu biểu thị đối tượng hành động chứ không phải là chủ thể hành động
- Vị ngữ của câu do các động từ bị, được đảm nhận
- Sau vị ngữ thường là một cụm chủ - vị
Ví dụ:
+ Em học sinh này được cô giáo khen
+ Thành phố Vinh bị máy bay giặc tàn phá
Trang 2717
Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Thuận (2000) cũng bênh vực cho sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt Theo hai tác giả, dạng (thái) bị động trong tiếng Việt không phải là dạng của động từ mà là dạng của một kiến trúc riêng với những đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa xác định Các tác giả lập luận rằng động từ trong tiếng Việt không biến hình từ, mà phạm trù dạng bị động theo cách hiểu của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Ấn - Âu thì gắn liền với dạng thức biến hình của động từ trong các ngôn ngữ có biến hình từ Kết luận hiển nhiên
là động từ tiếng Việt, nếu theo cách nhìn hình thái học đó, thì không thể có dạng
bị động Tuy nhiên, các tác giả lưu ý rằng việc xem xét dạng bị động như vậy mới chỉ là kết luận về hình thái của động từ, chứ không phải nói về phạm trù ý nghĩa của thái bị động và cách biểu hiện ngữ pháp tính của nó trong tiếng Việt Phạm trù dạng bị động của tiếng Việt theo họ vẫn có đủ tư cách một phạm trù ngữ pháp với điều kiện "bắt buộc" của ngữ pháp là sự có mặt của ý nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện (đánh dấu) bằng phương tiện hình thức theo lối ngữ pháp, nghĩa là hoặc bằng phụ tố, hoặc bằng hư từ, trật tự từ hay các phương thức ngữ pháp khác, và những phương thức ngữ pháp đó có thể được dùng tách riêng hoặc dùng phối hợp với nhau Theo đó, các tác giả đã xác định đặc điểm của kết cấu bị động tiếng Việt như sau:
- Phương thức ngữ pháp thích hợp với việc diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp bị động trong tiếng Việt là hư từ và trật tự từ
- Tính chất của động từ tham gia kết cấu bị động là động từ ngoại động và
có quan hệ nghĩa với thực thể nêu ở danh từ làm chủ ngữ của toàn câu, đứng trước từ bị, được
- Cấu trúc nghĩa của câu bị động:
+ Các vai nghĩa có khả năng tham gia vào chức vụ chủ ngữ ngữ pháp của câu bị động là thể đối tượng, thể tiếp nhận, thể đích, thể được lợi, thể bị hại, thể vị trí
+ Loại hình sự thể của câu bị động là hành động với hai đặc trưng [+động] và [+chủ ý]
- Xét về mặt cú pháp, câu bị động là câu có hai kết cấu chủ - vị, kiểu: C -
V [C - V]
Tóm lại, theo hai tác giả dạng bị động trong tiếng Việt không phải là dạng của động từ, mà là dạng của một kiến trúc riêng với những đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa xác định
Khi được hỏi Tiếng Việt có câu bị động không? Để chứng minh sự tồn tại của cấu trúc bị động trong tiếng Việt cần làm rõ ba loại ý kiến sau đây:
- Tiếng Việt không có các phạm trù hình thái học do đó không có cấu trúc
bị động
Trang 2818
- Tiếng Việt là một ngôn ngữ “thiên chủ đề” nên không có cấu trúc “bị động”, hoặc bị động không phải là hiện tượng cú pháp cần xem xét
- Được/ bị không phải là hư từ (trợ động từ), mà có vai trò như các động
từ tình thái hay động từ thực nên không thể là dấu hiệu đánh dấu quan hệ bị động
Về loại ý kiến thứ nhất, chúng tôi đã trình bày rõ trong các mục trước rằng không nên đồng nhất “dạng bị động” với tư cách là một phạm trù hình thái học với cấu trúc bị động Ý kiến này cũng đã được nhiều tác giả đề cập đến từ những góc độ khác nhau (Nguyễn Kim Thản 1977, Hoàng Trọng Phiến
1980, Lê Xuân Thại 1989, Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Thuận 2000) Các chứng cứ về câu bị động trong các ngôn ngữ khác cũng cho thấy, dạng của động từ chỉ là một trong nhiều phương thức mã hoá về mặt hình thái - cú pháp các bình diện ngữ nghĩa - chức năng khác nhau của phạm trù bị động Nếu tuyệt đối hoá tiêu chí hình thái học, thì ngay cả trong những ngôn ngữ như tiếng Anh hay tiếng Pháp, phạm trù bị động cũng không đáp ứng đầy đủ tiêu chí khắt khe này Vì vậy có thể kết luận rằng việc tiếng Việt không biểu hiện ý nghĩa bị động bằng các phương tiện hình thái học, và vì vậy không có dạng bị động như một phạm trù hình thái học, không có nghĩa là tiếng Việt không có cấu trúc bị động hay câu bị động, xét trên phương diện cú pháp
Về loại ý kiến thứ hai cho rằng tiếng Việt là ngôn ngữ “thiên chủ đề” và (chứ không phải "thiên chủ ngữ") do đó không có cấu trúc bị động, chúng tôi thấy cần thiết phải thảo luận thêm Trước hết, cần phải nhắc lại ý kiến của Li
và Thompson rằng hai chức năng chủ đề (topic: cái mà câu đề cập đến ) và chủ ngữ (subject: chủ thể của hành động hay quan hệ do vị ngữ biểu thị) không hề loại trừ nhau theo kiểu "trong các ngôn ngữ thiên chủ đề người ta không nhận diện được chủ ngữ, hay các ngôn ngữ thiên chủ ngữ thì không có chủ đề", cũng như không hề loại trừ nhau trong phần lớn các trường hợp phân tích cấu trúc câu Thực sự, thì ngay trong một ngôn ngữ được coi là "thiên chủ đề" điển hình như tiếng Hán, sự miêu tả của Li và Thompson trong một công trình sau
đó (1981) cũng cho thấy các câu có chủ ngữ (trùng hoặc không trùng với chủ đề) vẫn chiếm ưu thế so với các câu chỉ có chủ đề (mà không có chủ ngữ), trong đó đa số các câu có chủ ngữ trùng với chủ đề Nếu vận dụng cả hai chức năng chủ đề và chủ ngữ theo cách hiểu của Li và Thompson vào việc phân tích cấu trúc câu tiếng Việt, chúng ta cũng sẽ thấy các câu có chủ ngữ trùng với chủ đề sẽ chiếm một tỷ lệ không nhỏ (đặc biệt là với trường hợp có vị ngữ là một động từ ngoại động) Một khi sự có mặt của chủ ngữ vẫn phổ biến như vậy, và phần lớn các cấu trúc ngoại động vẫn có chủ ngữ (có thể trùng hay không trùng với chủ đề) thì không có lý gì hiện tượng bị động lại không có
Trang 2919
mặt hoặc không đáng được chú ý Hơn nữa, cũng cần lưu ý rằng Ch N Li và
S A Thompson không hoàn toàn loại trừ sự có mặt của hiện tượng bị động trong các ngôn ngữ thiên chủ đề mà chỉ cho rằng nó không phải là phạm trù bị động điển hình, tức không phải là phạm trù bị động "thuần tuý hình thái" như trong các ngôn ngữ Ấn Âu Do đặc trưng loại hình của tiếng Việt, các hiện tượng ngữ pháp nói chung và phạm trù bị động nói riêng không có dấu hiệu hình thức rõ ràng như trong các ngôn ngữ biến hình Trong một công trình nghiên cứu của mình, Dyvik (1984) đã đi đến kết luận rằng, nếu thừa nhận
"chủ ngữ" như một phạm trù ngữ pháp trong tiếng Việt thì chúng ta thấy rằng
nó không rõ ràng bằng chủ ngữ trong các ngôn ngữ châu Âu Nghĩa là các thuộc tính ngữ pháp cho phép chúng ta tách được chủ ngữ ra trừu tượng hơn Tương tự như chủ ngữ, "bị động" cũng chỉ được tách ra nhờ những tiêu chí khá "trừu tượng" Nói cách khác, cả “chủ ngữ” và “bị động” đều xuất hiện trong tiếng Việt tuy rằng chúng không được rõ ràng như các phạm trù tương tự trong các ngôn ngữ châu Âu
Về loại ý kiến thứ ba đề cập đến vai trò ngữ pháp và ý nghĩa của hai từ
“được” và “bị”, chúng tôi cho rằng việc các từ này đóng vai trò quan trọng về mặt ngữ pháp và phần nào còn ý nghĩa từ vựng không hề loại trừ chức năng là phương tiện đánh dấu quan hệ bị động của chúng, nếu nhìn nhận vấn đề dưới góc độ ngữ pháp hoá
- Về mặt ngữ pháp, bằng nhiều lập luận khác nhau, Nguyễn Kim Thản (1977), Nguyễn Minh Thuyết (1976), Nguyễn Thị Ảnh (2000) và Cao Xuân Hạo (2001) cho rằng “được/ bị” không phải là hư từ có chức năng đánh dấu quan hệ bị động mà có vai trò ngữ pháp như một động từ tình thái, thậm chí là một động từ thực làm trung tâm của vị ngữ Ngược lại, Dyvik (1984) đã cố gắng chứng minh rằng hai từ được và bị đang mất dần vai trò trung tâm để trở thành một trợ động từ có chức năng bị động hoá trên con đường ngữ pháp hoá Đồng ý với kiến giải của Dyvik, nhưng chúng tôi cho rằng, thậm chí nếu
“được/ bị” vẫn đóng vai trò là trung tâm ngữ pháp của vị ngữ như đã được một
số tác giả chứng minh, thì điều đó cũng không hề ngăn cản các từ này hành chức như một dấu hiệu đánh dấu quan hệ bị động
- Về mặt ngữ nghĩa, quả thật các từ “được/ bị” vẫn còn mang ý nghĩa
“ hưởng thụ” hay “chịu đựng” Tuy nhiên ngay cả đặc tính ngữ nghĩa này cũng không ngăn cản khả năng làm chỉ tố đánh dấu quan hệ bị động nếu ta đặt
“được/ bị” trong bối cảnh của quá trình ngữ pháp hoá Trong bài viết “Quá trình hình thành thế đối lập giữa ba từ "được, bị, phải” Nguyễn Tài Cẩn (1978)
đã cho rằng "bị" đã chuyển từ cương vị một hình vị sang cương vị một từ, chuyển từ địa hạt từ vựng sang địa hạt ngữ pháp, vì thế việc "bị" có thể chuyển
Trang 3020
từ mô hình cấu tạo từ sang mô hình cấu tạo từ tổ là một việc làm không có gì khó khăn lắm Đinh Văn Đức (1986: 118 - 119) đã giải thích rõ thêm về quá trình ngữ pháp hoá của các từ bị/được và mối quan hệ giữa ý nghĩa ngữ pháp
bị động và ý nghĩa tình thái của các từ này như sau: “Trong số các động từ tiếng Việt có một nhóm những động từ kiểu như: cần, muốn, có thể, toan, định, dám, bị, được, rõ ràng là những động từ trống nghĩa Ở chúng các ý nghĩa từ vựng là rất ít, chúng đã được ngữ pháp hoá nhưng lại chưa trở thành những hư
từ thật sự, những động từ này có nội hàm rất hẹp nên ngoại diên phải rộng - chúng luôn luôn có thành tố phụ đi kèm Trong khi diễn đạt các ý nghĩa: yêu cầu (cần), khả năng (có thể), ý định (toan, định, dám), nguyện vọng (mong, muốn), quan hệ bị động (bị, được) các động từ này được sử dụng hoàn toàn theo cách đánh giá của người nói đối với thực tại Đó là một quan hệ thể hiện nhận thức chủ quan khi ta nói: "Tôi được khen" hay "Tôi bị phạt" thì các từ
“được, bị” một mặt là phương tiện diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp bị động nhưng bị động ở đây có thể được hiểu theo sắc thái “may” “rủi”, mà “may” hay “rủi” là theo nhận thức và đánh giá của người nói Do đó “bị” và “được” cũng lâm thời trở thành những từ tình thái ” Chúng tôi cho rằng việc các từ “được”, “bị” trong khi hành chức như những hư từ vẫn còn giữ lại những nét nghĩa từ vựng ban đầu là một hiện tượng bình thường của quá trình ngữ pháp hoá Hiện tượng này có thể được giải thích bằng nguyên tắc lưu dấu vết (Persistence), một nguyên tắc của quá trình ngữ pháp hoá, do Hopper (1991) đề xuất, như sau: "Khi một dạng thức trải qua quá trình ngữ pháp hoá từ một dạng thức từ vựng thành một dạng thức ngữ pháp thì trong chừng mực các thuộc tính ngữ pháp mà nó có được, có thể thấy dấu vết của ý nghĩa từ vựng ban đầu, những thuộc tính từ vựng còn lưu dấu vết này có thể được phản ánh trong những hạn chế về khả năng kết hợp ngữ pháp của nó” (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp 2001)
Những phân tích trên đây cho thấy, không có gì đáng ngạc nhiên nếu như hai từ “bị” và “được” trong khi đóng vai trò như là các trợ động từ biểu thị quan hệ bị động, vẫn có thái độ cú pháp như một vị từ thực (làm trung tâm của
vị ngữ) và vẫn lưu giữ nghĩa từ vựng ban đầu của chúng (bị mang nét nghĩa chịu thiệt và được mang nét nghĩa hưởng lợi)
Rõ ràng, việc tiếng Việt dùng các vị từ tình thái “được/bị” trong chức năng là các trợ động từ biểu hiện ý nghĩa bị động không phải là một ngoại lệ
Từ những luận điểm trên đây, chúng tôi nhận thấy rằng: Xét về mặt lý luận cũng như tư liệu thực tế, chúng ta có đủ cơ sở để nói đến sự có mặt của các câu bị động trong tiếng Việt
Trang 3121
1.3.2 Câu bị động theo các nhà ngữ pháp Hàn Quốc
Câu bị động cũng được khá nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Hàn Quốc định nghĩa như sau:
(1) 남기심ㆍ고영근 (Nam Gi Sim - Go Yeong Geun, 2011: tr.304-305) định nghĩa về câu bị động như sau: “어떤 행위나 동작이, 주어로 나타내어진 인물이나 사물이 제 힘으로 행하는 것이 아니라 남의 행동에 의해서 되는 것을 피동이라 하고, 이러한 피동의 표현법을 문법적으로 피동법이라 한다 피동에 대해 남의 동작이나 행위를 입어서 되는 것이 아니라 스스로의 힘으로 행하는 행위나 동작을 능동이라 한다.”
(Tạm dịch: Bị động là hành động hay hành vi nào đó không phải do người hoặc vật làm chủ ngữ thực hiện mà được thực hiện bởi người khác, biểu hiện của bị động này bằng ngữ pháp được gọi là ngữ pháp bị động Còn hành động hay hành vi mà thực hiện bởi chính bản thân mình chứ không nhận hành động, hành vi từ người khác thì được gọi là chủ động.)
(2) 이주행 (Lee Ju Haeng, 2000: tr.261) định nghĩa về câu bị động như sau: “피동이란 어떤 주체의 동작이나 상태의 변화가 다른 행위자에 의하여 이루어짐을 나타내는 문법 범주로 정의하였다.”
(Tạm dịch: Bị động là phạm trù ngữ pháp thể hiện sự biến hóa của hành động hay trạng thái của chủ thể nào đó được tạo ra dựa vào người thực hiện hành vi khác.)
(3) 이익섭 (Lee Ik Seop, 2004: tr.264) định nghĩa về câu bị động như sau: “피동은 동작주(agent)의 동작이 미치던 경험주 (patient)가 주어가
되어 그 경험주의 시각으로 표현되는 행위를 나타내는 범주라고 기술하였다.”
(Tạm dịch: Bị động là phạm vi thể hiện bị thể chịu ảnh hưởng bởi hành động của chủ thể và trở thành chủ ngữ của câu Hành vi đó được biểu hiện theo góc nhìn của bị thể đó.)
(4) 송창선 (Song Chang Seon, 2010)과 국립국어원 (Viện Ngôn ngữ Hàn Quốc quốc gia, 2005) định nghĩa về câu bị động như sau: “피동은
Trang 3222
주어가 스스로 행동하지 않고 남에 의해 움직이게 되는 것이라고 비슷하게 정의하였다 피동을 의미하는 문장을 만드는 방법은 피동법이라고 한다.”
(Tạm dịch: Bị động được định nghĩa giống với việc chủ ngữ không tự thực hiện hành động mà được thực hiện bởi người khác Ngữ pháp tạo ra câu
có ý nghĩa bị động được gọi là ngữ pháp bị động.)
(5) 권재일 (Gwon Jae Il, 2013) định nghĩa về câu bị động như sau:
“피동법이 능동 구문의 주어를 다른 문장 성분으로 격을 이동시키고 새로운 주어를 선택하는 과정이라고 기술한 바 있다.”
(Tạm dịch: Ngữ pháp bị động miêu tả đó là quá trình chuyển chủ ngữ của câu chủ động thành một thành phần khác của câu và chọn ra một chủ ngữ mới.) Mỗi học giả Hàn Quốc có những định nghĩa khác nhau nhưng chúng ta có thể nhận thấy rằng họ có một điểm chung là chủ thể – làm chủ ngữ trong câu chủ động có thể thực hiện hành vi bằng chính bản thân mình nhưng trái lại chủ ngữ của câu bị động không thể thực hiện hành động bằng chính bản thân của mình mà phụ thuộc vào sức lực của người khác hoặc tác động bên ngoài
Với những nhận định về câu bị động như thế này, các nhà ngôn ngữ học người Hàn công nhận chủ ngữ của câu bị động có thể trùng với chủ thể trong câu bị động với điều kiện chủ thể đó không tự thực hiện hành động mà chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài nên hành động có sự biến hóa, thay đổi Còn trong tiếng Việt, người ta không công nhận đây là câu bị động
1.4 Phân tích cấu trúc cú pháp của câu bị động
Các kiểu cấu trúc cú pháp của một câu được tạo thành bởi cách tổ chức các chức năng cú pháp (các thành phần câu theo một cách gọi khác) bên trong câu,
và các chức năng này do mối quan hệ giữa vị tố và các yếu tố đi cùng quyết định Các chức năng cú pháp gồm có chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, tân ngữ gián tiếp, bổ ngữ, đề ngữ, gia ngữ Như vậy, việc phân tích cú pháp của một câu bao gồm việc xác định chức năng cú pháp các yếu tố của câu trong mối quan
hệ với vị tố
Phân tích các câu tiếng Việt trong Hình 1.1 – 1.4, chúng ta thấy rằng một
sự việc có thể được diễn đạt bằng nhiều câu với các kiểu cấu trúc cú pháp khác nhau Các kiểu cấu trúc cú pháp khác nhau này một mặt do cấu tạo của ngôn ngữ cụ thể cho phép, mặt khác, phần nào do cách nhìn sự việc của người nói quyết định
Trang 3323
Hình 1.1: Cấu trúc cú pháp của câu chủ động (A)
Hình 1.2: Cấu trúc cú pháp của câu chủ động (B)
Hình 1.3: Cấu trúc cú pháp của câu bị động (C)
Hình 1.4: Cấu trúc cú pháp của câu bị động (D)
Chú thích cho ví dụ (C) (D): Câu chứa chủ ngữ 2 và vị ngữ 2 là câu phức thành phần bổ ngữ
Chủ ngữ 1
(CN1)
Trợ động từ bị động (TĐTBĐ)
Chủ ngữ 2 (CN2)
Vị ngữ 2 (VN2)
Tân ngữ (TN)
Vị ngữ 1 (VN1)
Vị ngữ 1
Trang 3424
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã điểm qua một số nghiên cứu chính ở Việt Nam và Hàn Quốc về khái niệm câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn Trên cơ sở đó, luận văn đã xác lập cơ sở lý thuyết đại cương liên quan câu, phân loại câu theo cấu trúc cú pháp chủ vị, theo mục đích giao tiếp, theo cấu trúc cú pháp Phần cơ sơ lý luận về câu bị động theo quan điểm của các nhà ngữ pháp Việt Nam và Hàn Quốc cũng đã được giới thiệu làm chỗ dựa lý luận cho việc mô tả và đối chiếu chủ yếu về cấu trúc ngữ pháp của câu bị động ở các chương sau Trong chương 2, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích, mô tả đặc
điểm cấu trúc của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Hàn theo ngữ liệu
được thu thập từ sách giáo khoa, truyện ngắn của Việt Nam và Hàn Quốc
Trang 3525
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÂU BỊ ĐỘNG
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN
2.1 Đặc điểm ngôn ngữ của câu bị động trong Tiếng Việt
2.1.1 Cấu trúc cú pháp chung của câu bị động
Tiếng Việt là loại ngôn ngữ không biến hình nên cấu trúc cú pháp của câu bị động sẽ phụ thuộc vào hư từ và trật tự từ Với hai phương thức ngữ pháp này dạng bị động của câu tiếng Việt được xác định bằng một số yếu tố hữu hạn có quan hệ cấu trúc khá chặt chẽ làm thành ba điều kiện cần và đủ cho việc tạo nên một kiến trúc bị động ổn định:
- Chủ ngữ 1 bị động, về mặt nghĩa, nó chịu ảnh hưởng của động từ chuyển tác trong câu bị bao hàm Đây là điều kiện cần để phân biệt nó với chủ ngữ chủ động
- Câu bị động có mặt trợ động từ bị động (hay tác tố bị động): “bị” hay
“được” Đây là điều kiện cần để phân biệt câu bị động với câu trung tính
- Vị ngữ 1 là một câu bị bao hàm (giáng cấp), trong đó có chủ ngữ chủ động (có thể vắng mặt) và vị ngữ 2 là động từ chuyển tác; thực thể nêu ở chủ ngữ chủ động của câu bị bao hàm không trùng với thực thể nêu ở chủ ngữ bị động của câu
Điều kiện hai thực thể này không trùng nhau là điều kiện cần để phân biệt “bị,
được” - trợ động từ bị động với “bị, được” - động từ tình thái (Câu bị động
thuộc kiểu câu phức thành phần bổ ngữ: câu có chứa câu bị bao hàm.)
Chúng ta có thể hình dung cấu trúc cú pháp chung của câu bị động tiếng Việt
như hình dưới đây
câu bị động
CN2 (Chủ động)
VN2 Động từ chuyển tác (ĐTCT)
Bổ ngữ (BN) (và TN)
Hình 2.1: Cấu trúc cú pháp chung của câu bị động tiếng Việt
Chính vì vậy, câu bị động trong tiếng Việt tồn tại những loại cấu trúc cú pháp cơ bản sau:
Ví dụ:
Đạt đau khổ nhìn tờ bạc bị cướp
[1, tr.59]
Trang 36bởi, vì, do,tại
CN2 (Chủ động)
Ví dụ:
Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời: Vì có ai nấu cho ăn đâu? Mà còn ai nấu cho
mà ăn nữa! Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà”
[2, tr.38]
Ống chân, mông đít, sống lưng, bả vai, và hai cánh tay tôi như bị vặt ra
từng miếng thịt bởi những đầu thước kẻ
VN1 (ĐTCT)
Ví dụ:
Một đằng tức tối căm hờn thấy kẻ khác có lỗi được tha thứ, một đằng ghê
tởm ruồng bỏ thằng bạn ngỗ ngược bị người trên trừng phạt
[3, tr.112]
Trang 3727
Hộp nữ trang của hồi môn đó của má thu hút tôi suốt thời thơ dại, khiến
có lúc tôi mò mẩm lục lọi, bởi với tôi nó quá quan trọng và quá bí ẩn, rồi có
lần má bắt gặp, tôi bị má đập cho một trận nhớ đời
[5, tr.49]
Có những năm vất vả, giữa năm mua được bộ đồ mới, trẻ con luôn được
người lớn dặn dò để dành mặc Tết
[5, tr.157]
Lúc đó, Ondal cũng cưỡi con ngựa đã được công chúa huấn luyện trong
thời gian qua đến nơi săn
2.1.2 Phân biệt trợ động từ bị động với động từ thực và động từ tình thái
Để xác định được câu bị động trong tiếng Việt, một vấn đề được quan
tâm nhiều là vấn đề ranh giới giữa trợ động từ bị động “bị, được”, động từ thực “bị, được” và động từ tình thái “bị, được”
Sau đây là những điều kiện sử dụng của động từ thực “bị, được” và động
từ tình thái “bị, được”, thể hiện ở chức năng cú pháp và chu cảnh cú pháp
riêng biệt trong cách dùng hai loại từ này
2.1.2.1 Chức năng và chu cảnh cú pháp của động từ thực “bị, được”
Với tư cách một thực từ, tức là từ mang ý nghĩa từ vựng đầy đủ, các từ
“bị, được” dễ dàng làm vị ngữ và có chu cảnh cú pháp sau đây:
Bổ ngữ là một danh từ (cụm danh từ)
Ví dụ (bổ ngữ được gạch chân):
Nó không ngờ nhờ ông anh "thiệt" của nó mà thằng Quân được điểm 8,
lại còn được cô giáo khen hết lời
[1, tr.13]
Các giáo viên sẽ được thù lao một cách xứng đáng hơn
[2, tr.53]
Nâng niu cái hi vọng được quần áo đẹp và nhiều tiền ăn quà trong óc,
tôi vui vẻ đi học, em Quế tôi ríu rít đem cỗ chuyền cho chị em đi chơi
[3, tr.66]
Trang 3828
Bổ ngữ là một câu bị bao hàm (giáng cấp), với hai điều kiện:
+ Chủ ngữ 1 (của toàn câu) không chịu tác động của vị ngữ 2 trong câu
bị bao hàm Vị ngữ 2 (của câu bị bao hàm) có thể là động từ chuyển tác hoặc
2.1.2.2 Chức năng và chu cảnh cú pháp của động từ tình thái “bị, được”
Các động từ tình thái đích thực có nét chung là chúng đứng trước một động từ khác có chủ ngữ là thực thể trùng với thực thể ở chủ ngữ của câu, tức
là hai chủ thể này đồng chiếu
Động từ đứng sau có thể là động từ chuyển tác hoặc động từ không
chuyển tác, hoặc có thể là tính từ hay có khi là một quan hệ từ Hai trường hợp cuối cùng này là nét riêng của tiếng Việt, gắn với các đặc điểm về cách dùng
tính từ và quan hệ từ làm vị ngữ không cần có mặt trợ động từ “là”
Chức năng của động từ tình thái trong câu diễn đạt tính tình thái mong muốn/ được phép/ bắt buộc sẽ nằm trong phần tình thái tính của câu chứ không giữ vai trò vị ngữ diễn đạt sự thể như động từ thực từ Hai động từ tình
thái “bị, được” cũng vậy Mặt khác, hai động từ tình thái này không thực hiện chức năng biến câu thành câu bị động như trợ động từ bị động
Ví dụ
Ngay từ hồi còn bé cỏn con, Thứ đã được thấy bà ngoại y, mỗi lần đi
nộp thuế về, nghẹn ngào: Cha mẹ nó, nó bóp hầu, bóp cổ người ta Thuế nhà mình mà nó tính hai chục bạc! Nó lấy một mà hai… ở cái làng này mà thấp cổ,
bé miệng thì ức thật, chúng nó không còn để cho người ta sống
[2, tr.57]
Y được nghe đủ thứ chuyện về cái anh chàng đốn mạt, làm nô lệ cho nhà
vợ ấy
[2, tr.61]
Trang 3929
Lũ em như lúc nhúc rất đông, không được đi học, không được mặc,
thường thường không đủ cả ăn, gầy guộc, rách rưới, bẩn thỉu, tục tĩu và xấc láo, cãi đánh nhau suốt ngày chí chóe
[2, tr.69]
Mày bị quỳ từ hôm thứ hai nhỉ?
[3, tr.113]
Bạn biết, nếu ghé qua nhà thím Năm, bạn sẽ được ăn món cá lóc nướng
trui mà năm nào anh con trai của thím tát ao bắt lên tộng vô lu để dành ăn Tết, bạn đưa cay với dĩa dưa chua gồm có gừng, ớt, củ hành, củ kiệu ngon nhất xứ của chị con dâu thím Năm học được từ má chồng cộng thêm cái sáng tạo của người đi sau
Trong các ví dụ trên, chủ ngữ 2 của từ đứng sau bị, được (tức là các từ:
thấy, nghe, đi học, mặc, quỳ, ăn, ốm, điên) cũng là chủ ngữ 1 của câu (đứng ở
đầu câu)
2.1.3 Phân biệt câu bị động với câu trung tính
Câu bị động cần được phân biệt với câu trung tính Câu trung tính là câu
có vị ngữ do một động từ chuyển tác đảm nhiệm, nhưng chủ ngữ của vị ngữ không phải là một động thể chủ động (thực thể tạo hành động nêu ở vị ngữ),
mà là một thực thể chịu tác động của hành động ở vị ngữ Trong tiếng Việt, ngoài những điều kiện trên, câu trung tính không chứa trợ động từ tạo câu bị
động “được” hay “ bị” Câu trung tính thường được gộp chung với câu chủ
động
Ví dụ:
Lại còn tiền thu ở bốn lớp kia
[2, tr.51]
Biển vừa treo lên, có người qua đường xem, cười bảo: “Nhà này xưa
quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ phải để biển là cá "tươi"?”
[8, tr.124]
Bên ngoài, bữa sáng đã chuẩn bị xong và mọi người đang ngồi chờ
chúng ta ra
[12, tr.296]
Trang 4030
Các câu trung tính có thể đối chiếu được với các câu bị động và các câu
chủ động tương ứng như trong Hình 2.2 lấy ba câu trung tính trên làm cơ sở
đối chiếu
Câu trung tính
(A)
Câu bị động (B)
Câu chủ động (C) Biển vừa treo lên, có
người qua đường xem,
cười bảo: Nhà này xưa
quen bán cá ươn hay sao
mà bây giờ phải để biển
là cá "tươi"?
Biển vừa được treo
lên, có người qua đường
xem, cười bảo: Nhà này xưa quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ phải để biển là cá "tươi"?
Chủ nhà hàng vừa treo biển lên, có người
qua đường xem, cười bảo: Nhà này xưa quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ phải để biển là cá
Bên ngoài, bữa sáng
đã được chuẩn bị xong
và mọi người đang ngồi chờ chúng ta ra
Bên ngoài, họ đã
chuẩn bị bữa sáng xong
và mọi người đang ngồi chờ chúng ta ra
Hình 2.2: Đối chiếu câu trung tính, câu bị động, câu chủ động
Ta có thể ghi nhận điểm riêng của câu trung tính (điểm A), điểm khác nhau giữa câu trung tính với câu bị động (điểm B) và với câu có đề ngữ (điểm C) như sau:
- Câu trung tính là câu có vị ngữ là động từ chuyển tác, nhưng chủ ngữ không phải là yếu tố tạo ra hành động chuyển tác ở động từ mà là chịu tác động của động từ (như chủ ngữ ở câu bị động)
- Trong câu trung tính không có mặt trợ động từ “bị, được” (khác với
câu bị động)
- Trước vị ngữ - động từ chuyển tác ở câu trung tính không thể có một
chủ ngữ tác động Nếu chủ ngữ này xuất hiện thì câu đó sẽ là câu có đề ngữ
Thử so sánh hai câu sau đây: