Mô tả cấu trúc của câu bị động và đặc điểm ngữ dụng; sau đó sử dụng phương pháp so sánh- đối chiếu phân tích phương thức cấu trúc và ý nghĩa ngữ dụng của câu bị động trong tiếng Việt để
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
HUẾ, 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
MÃ SỐ: 8222024 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LIÊU LINH CHUYÊN
HUẾ, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Huế, ngày tháng năm
Trang 4TÓM TẮT
Câu bị động là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Luận văn đề cập tới các đặc điểm cú pháp và ngữ dụng của câu bị động trong tiếng
chiếu câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật Trên cơ sở đó, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ nhằm tránh sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong quá trình học ngoại ngữ, phục vụ cho việc giảng dạy và học tập giữa hai ngôn ngữ đạt hiệu quả cao nhất Để đạt được mục đích trên, luận văn đã tiến hành thống kê câu sử dụng cấu trúc bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật trên các trang báo điện tử tiếng Việt và tiếng Nhật Mô tả cấu trúc của câu bị động và đặc điểm ngữ dụng; sau đó sử dụng phương pháp so sánh- đối chiếu phân tích phương thức cấu trúc và ý nghĩa ngữ dụng của câu bị động trong tiếng Việt để đối chiếu với câu bị động trong tiếng Nhật nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt của hai ngôn ngữ Qua nghiên cứu, nhận thấy có sự tương đồng về cấu trúc và tần suất xuất hiện của các cấu trúc bị động trong hai ngôn ngữ Xét về mặt ngữ dụng, thông tin mới được thể hiện câu bị động tiếng Việt được biểu hiện ở phần vị ngữ, trong khi đó ở tiếng Nhật lại được thể hiện cả chủ ngữ lẫn vị ngữ Vì vậy, trong quá trình dạy và học tiếng Nhật , có thể sử dụng đặc điểm này để phân tích các loại câu, đặc biệt là phân tích sự khác nhau giữa câu có trợ từ wa は và ga が Ngoài ra, dựa vào đặc điểm này để lựa chọn cách dịch thuật hợp lí cho khi chuyển tải các văn bản từ tiếng Việt sang tiếng Nhật và ngược lại
Trang 5ABSTRACT
Passive sentence is a case that concerned many researchers The thesis deals with the syntactic and pragmatic features of the passive sentences in Vietnamese and Japanese The main purpose of the thesis is to compare and contrast passive sentences between Vietnamese and Japanese On that basis, pointing out the similarities and differences between the two languages to avoid the influence of the mother tongue in the process of learning a foreign language, for effective teaching and learning between the two languages To achieve that purpose, the dissertation has totalled up the sentences using passive structures on online newspapers in Vietnamese and Japanese Describe the structure of passive sentences and pragmatic characteristics; then use the compare and contrast method to analyze the structural modality and pragmatical meaning of the passive sentence in Vietnamese to compare with the passive sentence in Japanese to find out the similarities and differences in wording of two languages Through research, it is found that there are similarities in the structure and frequency of appearance of passive structures
in two languages In terms of pragmatics, new information of Vietnamese passive sentences is shown in the predicate section, while in Japanese, both the subject and the predicate are shown Therefore, in the teaching process, this feature can be used to analyze types of sentences, especially the differences between the sentences including auxiliaries wa は and ga が In addition, based on this feature to choose a suitable translation method for translating documents from Vietnamese into Japanese and the opposite way
Trang 6
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Liêu Linh Chuyên- người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy
Cô thuộc Phòng Đào tạo trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế đã tận tình giúp đỡ tôi Xin cảm ơn trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học Huế đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập Xin cảm ơn gia đình, lãnh đạo, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn
Trần Diễm Hà
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài 2
2.1 Tình hình nghiên cứu 2
2.1.1 Nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt 2
2.1.1.1 Quan điểm phủ định sự tồn tại câu bị động trong tiếng Việt 2
2.1.1.2 Quan điểm thừa nhận có câu bị động trong tiếng Việt 3
2.1.2 Nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Nhật 5
2.2 Tính mới của đề tài 6
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Câu hỏi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
6.1 Phương pháp chung 7
6.2 Phương pháp riêng 8
7 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1 Câu bị động 10
1.1.1 Câu bị động trong tiếng Việt 10
1.1.1.1 Sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt 10
1.1.1.2 Nhận diện câu bị động trong tiếng Việt 11
Trang 81.1.2 Câu bị động trong tiếng Nhật 12
1.1.2.1 Động từ bị động trong tiếng Nhật 12
1.1.2.2 Câu bị động trong tiếng Nhật 13
1.2 Các khái niệm về đặc điểm cú pháp 16
1.2.1 Cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt 16
1.2.1.1 Vị ngữ 17
1.2.1.2 Chủ ngữ 17
1.2.1.3 Các thành phần khác 17
1.2.1.4 Động từ ngoại động 18
1.2.2 Cấu trúc cú pháp câu tiếng Nhật 19
1.2.2.1 Chủ ngữ 19
1.2.2.2 Vị ngữ 19
1.2.2.3 Bổ ngữ 20
1.2.2.4 Trợ từ tham gia thành phần câu 20
1.3 Các khái niệm về đặc điểm ngữ dụng 21
1.3.1 Ngữ dụng 21
1.3.2 Ngữ cảnh 22
1.3.3 Lý thuyết hành động ngôn từ 23
1.3.4 Phân loại hành động tại lời 24
1.3.5 Tiền giả định và hàm ngôn 24
1.3.5.1 Tiền giả định 25
1.3.5.2 Hàm ngôn 25
1.3.6 Cấu trúc thông tin 25
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP VÀ NGỮ DỤNG CỦA CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT 28
2.1 Đặc điểm cú pháp của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật 28
2.1.1 Đặc điểm cú pháp của câu bị động trong tiếng Việt 28
2.1.1.1 Tần suất xuất hiện của các loại cấu trúc câu bị động trong tiếng Việt 28
2.1.1.2 Cấu trúc cú pháp của các câu bị động trong tiếng Việt 29
Trang 92.1.2 Đặc điểm cú pháp của câu bị động trong tiếng Nhật 35
2.1.2.1 Tần suất xuất hiện của các loại cấu trúc câu bị động trong tiếng Nhật 35
2.1.2.2 Cấu trúc cú pháp của các câu bị động trong tiếng Nhật 36
2.2 Đặc điểm ngữ dụng của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật 40 2.2.1 Ngữ dụng của câu bị động trong tiếng Việt 40
2.2.2 Ngữ dụng của câu bị động trong tiếng Nhật 41
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP VÀ NGỮ DỤNG CỦA CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT 44
3.1 Sự giống nhau 44
3.1.1 Về đặc điểm cú pháp 44
3.1.1.1 Về các cấu trúc câu 44
3.1.1.2 Về thành phần cấu trúc câu 45
3.1.2 Về ngữ dụng 47
3.2 Sự khác nhau 48
3.2.1 Về đặc điểm cú pháp 48
3.2.1.1 Về các cấu trúc câu 48
3.2.1.2 Về thành phần cấu trúc 49
3.2.2 Về ngữ dụng 51
KẾT LUẬN 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Tần suất xuất hiện câu bị động tiếng Việt theo cấu trúc 28
Bảng 2.2: Thành phần cấu tạo chủ ngữ câu bị động tiếng Việt 29
Bảng 2.3: Thành phần cấu tạo vị ngữ câu bị động tiếng Việt 32
Bảng 2.4: Tần suất xuất hiện bị và được 34
Bảng 2.5: Tần suất xuất hiện câu bị động tiếng Nhật theo cấu trúc 36
Bảng 2.6: Thống kê chủ ngữ trong câu bị động tiếng Nhật 37
Bảng 2.7: Thống kê cấu tạo của chủ ngữ câu bị động tiếng Nhật 37
Bảng 2.8: Thông tin mới của câu bị động trong tiếng Việt 40
Bảng 2.9: Thông tin mới trong câu bị động tiếng Nhật 41
Bảng 3.1: So sánh đặc điểm chủ ngữ câu bị động tiếng Việt và tiếng Nhật 45
Bảng 3.2: So sánh về thành phần vị ngữ trong tiếng Việt và tiếng Nhật 46
Bảng 3.3: So sánh cách thành phần khác của câu bị động 47
Bảng 3.4: Thông tin mới của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật 47
Trang 11MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây, mối quan hệ Việt Nam- Nhật Bản phát triển, số lượng người có sự quan tâm tới tiếng Nhật cũng như văn hóa Nhật Bản tăng lên Bên cạnh đó, các nhà đầu tư Nhật Bản có xu hướng thay đổi thị trường sang các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Quan hệ hữu nghị tốt, cơ hội việc làm tăng cao là những lí do chính khiến số lượng người học tiếng Nhật ngày càng tăng Cùng với nhu cầu học tiếng Nhật tăng cao dẫn đến việc nghiên cứu, so sánh ngôn ngữ là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm và trở nên cần thiết
Tiếng Nhật được xem là một ngôn ngữ tương đối khó đối với người học nói chung và người học Việt Nam nói riêng Cái khó thường được nhắc tới là
sự phức tạp của hệ thống văn tự và các lớp từ vựng có nguồn gốc khác nhau,
sự rắc rối của những quy tắc ngữ pháp do đặc điểm loại hình chắp dính tạo nên
và sự chặt chẽ về ngữ dụng Trong những cái khó được người học nhắc tới có câu bị động Trong cuộc sống thường ngày, con người thường sử dụng câu bị động khi chịu tác động từ một đối tượng nào đó gây ra phiền hà cho bản thân Ngoài ra, còn sử dụng câu bị động khi không rõ đối tượng là tác nhân thực hiện hành động đó Đặc điểm của tiếng Nhật là thường tỉnh lược chủ ngữ hoặc đối tượng đã được nhắc tới từ trước trong văn bản Chính vì điều này gây ra không ít khó khăn cho người học
Cho tới nay, đã có không ít công trình nghiên cứu ở các bậc khác nhau
về các vấn đề của ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản…góp phần hỗ trợ cho quá trình học tập và giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về câu bị động tiếng Nhật còn dừng lại ở việc phân tích cấu trúc hay khảo sát khả năng tiếp thu của người học đối với loại câu này
Với những lí do nêu trên, cho thấy rằng việc nghiên cứu một cách toàn diện về cấu trúc và ngữ dụng của loại câu này trong tiếng Nhật là cần thiết Bên cạnh đó, việc so sánh với câu bị động trong tiếng Việt để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về cú pháp và ngữ dụng của loại câu này trong hai
ngôn ngữ cũng là một vấn đề cần thiết Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Đối
chiếu đặc điểm cú pháp và ngữ dụng câu bị động tiếng Việt và tiếng Nhật”
làm đề tài luận văn của mình
Hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp ích cho việc dạy và
Trang 122.1.1 Nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, vấn đề bị động nói chung và câu bị động nói riêng rất được quan tâm và có nhiều ý kiến khác nhau Các nghiên cứu chủ yếu đi vào phân tích quan điểm có hay không có sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt Nhìn chung, có thể quy các ý kiến thành hai quan điểm phủ nhận và thừa nhận sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt
2.1.1.1 Quan điểm phủ định sự tồn tại câu bị động trong tiếng Việt
Dựa vào tiêu chí hình thái học, một số nhà nghiên cứu nước ngoài cũng như Việt Nam có xu hướng cho rằng tiếng Việt thuộc loại hình đơn lập cho nên động từ không có các chỉ tố về ngôi, thời, thức, dạng…như ở ngôn ngữ biến hình nên không có câu bị động
Ch.N.Li và S.A Thompson (1976) đưa ra luận điểm về sự đối lập giữa hai loại hình ngôn ngữ “thiên chủ đề” và “thiên chủ ngữ” Các tác giả này cho rằng cấu trúc bị động phổ biến trong các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, còn ở những ngôn ngữ thiên chủ đề thì bị động thường ít gặp hoặc vắng mặt Một số tác giả dựa vào đặc điểm tiếng Việt là ngôn ngữ thiên chủ đề để khẳng định tiếng Việt không có câu bị động
Dựa vào ý kiến của Ch.N Li và S.A Thompson, Cao Xuân Hạo (2001) cũng cho rằng tiếng Việt không có thái bị động, do đó không có câu bị động Theo tác giả, tiếng Anh và các thứ tiếng châu Âu khác là những ngôn ngữ
“thiên chủ ngữ”, còn tiếng Việt có đầy đủ thuộc tính của một ngôn ngữ “thiên chủ đề”, vì vậy không có cấu trúc bị động
Theo Nguyễn Thị Ảnh (2000), thái bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp được biểu đạt bằng các phương tiện hình thái học bắt buộc tuyệt đối chỉ có ở ngôn ngữ “thiên chủ ngữ” Trong khi đó, tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên chủ đề thì ý nghĩa bị động không có hình thức biểu đạt riêng như thế
Tác giả đưa ra kết luận rằng bị và được là những vị từ ngoại động chính danh
chứ không phải là các hư từ đánh dấu thái bị động
Những tác giả ủng hộ quan điểm tiếng Việt không có dạng bị động hay
Trang 13câu bị động còn dựa trên quan niệm rằng các động từ bị và được là những
động từ ngoại động chính danh, nên không thể coi chúng là dấu hiệu ngữ pháp
biểu hiện quan hệ bị động Nguyễn Kim Thản (1977) cho rằng động từ bị và
được là những động từ độc lập đóng vai trò chính trong bộ phận vị ngữ của
câu, không phải là hư từ biểu thị dạng bị động của động từ Về ý nghĩa, được
có nghĩa như tiếp nhận hoặc chịu đựng một cách thích thú, còn bị biểu thị ý
nghĩa chịu đựng một sự không may, hay cũng có thể nói rằng biểu thị trạng
thái rủi ro của chủ thể Về đặc điểm ngữ pháp, bị và được còn được dùng như
một thực từ chân chính, có khả năng kết hợp rất phong phú Nói cách khác, Nguyễn Kim Thản cho rằng động từ tiếng Việt không có dạng bị động và
không công nhận bị/ được là dấu hiệu của dạng bị động của động từ tiếng Việt
Quan điểm của Nguyễn Kim Thản được Nguyễn Minh Thuyết (1998) ủng hộ và làm sáng tỏ thêm Tuy không thừa nhận tiếng Việt có dạng bị động, nhưng cả hai tác giả nà đều cho rằng tiếng Việt có cách biểu hiện ý nghĩa bị động riêng của mình Nguyễn Kim Thản cho rằng tiếng Việt biểu hiện ý nghĩa
bị động bằng cấu trúc cú pháp, trong khi đó Nguyễn Minh Thuyết cho rằng biểu hiện bằng phương thức từ vựng
Đinh Văn Đức (2001) xếp động từ bị và được vào nhóm các động từ tình
thái ngữ pháp, chưa được xem là hư từ thực sự Ở hai động từ này, các ý nghĩa
từ vựng là rất ít, chúng đã được ngữ pháp hoá nhưng lại chưa trở thành hư từ thực sự
2.1.1.2 Quan điểm thừa nhận có câu bị động trong tiếng Việt
Trái ngược với quan điểm trên, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng tiếng Việt vẫn tồn tại cấu trúc bị động hay câu bị động mặc dù không có phạm trù bị động với tư cách là một phạm trù hình thái học
Nguyễn Phú Phong (1976) thừa nhận bị động là một phạm trù ngữ pháp tách biệt trong tiếng Việt Ông biện luận rằng có thể xác lập một cặp câu chủ động- bị động tiếng Việt tương ứng về mặt chuyển dịch với cặp câu chủ động-
bị động trong tiếng Pháp, và chỉ rõ mối quan hệ hình thức giữa các thành phần
của mỗi cặp câu trong thuật ngữ chung Ông cũng cho được, bị, do là những
trợ từ bị động
Hoàng Trọng Phiến (1980) quan niệm trong tiếng Việt, phương thức đối lập bị động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần tuý mà bằng con đường từ vựng- ngữ pháp
Trang 14Lê Xuân Thại (1989) cũng có quan điểm tương tự khi cho rằng tiếng Việt không có các câu bị động hoàn toàn như câu bị động trong các ngôn ngữ châu Âu nhưng cũng có loại câu có thể gọi là câu bị động với những đặc điểm sau:
- Chủ ngữ của câu biểu thị đối tượng hành dộng chứ không phải là chủ thể hành động
- Vị ngữ của câu bị động do các động từ bị, được đảm nhận
Nguyễn Hồng Cổn và Bùi Thị Diễn (2004) tập trung điểm lại một số lý thuyết liên quan đến các dạng bị động và câu bị động trong các lí thuyết ngữ pháp và bàn thêm về câu bị động trong tiếng Việt Qua các lí thuyết trên khẳng định tiếng Việt vẫn có câu bị động và cấu trúc bị động
Ngoài các nghiên cứu xung quanh hai quan điểm trên thì có một vài tác giả nghiên cứu về nghĩa bị động, dạng câu bị động trong tiếng Việt
Nguyễn Hoàng Tuấn (2006) nêu lên những tiền đề lý thuyết về câu bị động; những chỉ tố của câu bị động và nghĩa bị động; những cách khác để diễn đạt nghĩa bị động trong tiếng Việt và một số nội dung khác
Nguyễn Mạnh Tiến (2016) tập trung trao đổi về câu bị động có dạng N-V trong Tiếng Việt, kiểu câu gồm hai thành tố chính: một danh từ (cụm danh từ)
về nghĩa biểu hay nghĩa sâu chỉ đối thể hoạt động (được kí hiệu là N) và một động từ ngoại hướng (được kí hiệu là V)
Có thể thấy rằng, các nghiên cứu về từ câu bị động trong tiếng Việt khá ít, chỉ chủ yếu tập trung bàn luận đến sự tồn tại của câu bị động hay Bên cạnh những nghiên cứu phân tích quan điểm hay nêu lên những lí thuyết liên quan, một số nhà nghiên cứu tập trung đối chiếu câu bị động trong tiếng Việt và các ngôn ngữ khác nhằm phục vụ cho việc dịch thuật hay giảng dạy ngoại ngữ: Đinh Hồng Vân (2006) tập trung nghiên cứu vào dạng bị động trong
Trang 15tiếng Pháp, việc chuyển dịch cấu trúc bị động tiếng Pháp qua tiếng Việt Ngoài
ra, nghiên cứu còn chỉ ra thực trạng sử dụng dạng bị động ở người Việt Nam học tiếng Pháp
Đàm Ích Hoa (2010), nghiên cứu đối chiếu câu bị động tiếng Hán và tiếng Việt, tìm hiểu các vấn đề: Nhận diện câu bị động trong tiếng Hán và tiếng Việt; sự tương đồng và khác biệt của câu bị động trong tiếng Hán và tiếng Việt
2.1.2 Nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Nhật
So với tiếng Việt, các công trình nghiên cứu về câu bị động hay cấu trúc
bị động trong tiếng Nhật khá phong phú Các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích cấu trúc câu bị động, khả năng giải thích đối với các cấu trúc này cũng như khả năng tiếp thu của người học đối với câu bị động tiếng Nhật Bên cạnh đó, cũng có những nghiên cứu so sánh đối chiếu câu bị động tiếng Nhật với tiếng Việt, tiếng Trung, tiếng Anh…
Tác giả Zhang Su 張蘇(2013) với bài viết 中国語母語話者による日本
Prototyte để tìm hiểu việc tiếp thu câu bị động tiếng Nhật của người Trung Quốc học tiếng Nhật Tác giả phân câu bị động tiếng Nhật thành bốn cấu trúc, tiến hành khảo sát người học tiếp thu bốn cấu trúc theo trật tự nào thông qua test phán đoán ngữ pháp và test viết câu Qua kết quả nghiên cứu, cho thấy quá trình tiếp thu câu bị động của người học như sau: có đối ứng với câu bị động gián tiếp > câu bị động > câu bị động gián tiếp > câu bị động gián tiếp không có đối ứng Bên cạnh đó, còn thể hiện việc quá trình học tập này được giải thích bằng lí thuyết Prototyte
Wang Yashin 王亜新 (2016) tìm hiểu những điểu khác nhau và giống nhau trong câu bị động tiếng Nhật và tiếng Trung Thông qua khảo sát ngữ liệu, đưa ra kết luận câu bị động trong tiếng Nhật được sử dụng rộng rãi hơn
so với câu bị động trong tiếng Trung
Lưu Ngân Tú Uyên (2018) tập trung nghiên cứu đối chiếu đặc điểm biểu hiện bị động trong tiếng Nhật và tiếng Việt, thể hiện những khó khăn trong quá việc tiếp thu câu bị động của người Việt học tiếng Nhật Tiến hành điều tra ý thức lựa chọn câu chủ động và bị động của người học, từ đó làm rõ khuynh hướng sử dụng của người học
Kaga Nobuhiro 加賀 信広(2018) khảo sát câu trúc tổng hợp của câu bị
Trang 16động tiếng Nhật Dựa trên giả thuyết câu bị động của tiếng Nhật do tác giả nghiên cứu vào năm 2017, tiến hành bàn luận về ba hiện tượng liên quan đến câu bị động là hậu tố rare(~られ)của động từ bị động, sase (~させ) của sai khiến(使役), hậu tố -tai(~たい), -garu ( ~がる) Từ đó, làm rõ khả năng giải thích rõ ràng, thống nhất một số vấn đề liên quan các hiện tượng nêu trên
học là người Trung Quốc thông qua điều tra corpus và sách giáo khoa tiếng Nhật Tác giả tiến hành điều tra việc sử dụng câu bị động ở corpus hội thoại tự nhiên và ở sách giáo khoa tiếng Nhật được phát hành ở Trung Quốc, từ đó đưa
ra đề xuất về phương pháp hướng dẫn câu bị động cho người Trung Quốc Như vậy, có thể thấy các nghiên cứu của về câu bị động của tiếng Nhật tập trung vào việc khảo sát cách sử dụng câu của người học, hoặc đối chiếu câu bị động trong tiếng Nhật với các ngôn ngữ khác
2.2 Tính mới của đề tài
Những đề tài nghiên cứu đã mở rộng ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu nói chung Thông qua tình hình nghiên cứu câu bị động ở hai ngôn ngữ được nêu ở trên, có thể thấy rằng chưa có nhiều nghiên cứu về việc đối chiếu giữa câu bị động tiếng Việt và tiếng Nhật Thêm nữa việc đối chiếu câu bị động trong tiếng Nhật và tiếng Việt tồn tại không ít những điểm tương đồng và khác biệt mà chưa có nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề này Vì vậy, từ những lý do trên, việc tiến hành thực hiện đề tài này sẽ tìm ra những vấn đề sâu sắc, mới mẻ hơn về câu bị động trong tiếng Việt có sự
so sánh đối chiếu với tiếng Nhật
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của luận văn là so sánh đối chiếu câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật Trên cơ sở đó, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ nhằm tránh sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong quá trình học ngoại ngữ Qua đó, phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và dịch thuật giữa hai ngôn ngữ đạt hiệu quả cao hơn
Việc nghiên cứu đối chiếu câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ về được về đặc điểm văn hóa cũng mỗi dân tộc mà còn giúp chúng ta hiểu được sự khác biệt trọng việc sử dụng câu bị
Trang 17động Điều này giúp ích cho việc giao lưu và phát triển văn hóa giữa hai đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm cú pháp và ngữ dụng câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát đặc cú pháp và đặc điểm ngữ dụng của câu bị động trong các bài báo điện tử tiếng Việt và tiếng Nhật, cụ thể như sau: Đối với tiếng Việt, khảo sát 180 bài báo điện tử ở mục thời sự của báo điện tử Dân trí (https://dantri.com.vn) và mục tin tức sự kiện của báo điện tử Vnexpress (https://vnexpress.net) trong thời gian từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020 Đối với tiếng Nhật, khảo sát 199 bài báo điện tử ở mục トップ ở báo điện tử Asahi (https://www.asahi.com) và ニュース báo điện tử Yomiuri (https://www.yomiuri.co.jp) cùng thời gian nêu trên Để phù hợp với đề tài, luận văn chỉ khảo sát những bài báo điện tử tiếng Việt và tiếng Nhật không dựa trên nguồn thông tin lược dịch từ báo nước ngoài Từ đó lấy
ra 300 câu bị động tiếng Nhật và 300 câu bị động tiếng Nhật để tiến hành nghiên cứu
5 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên phạm vi nghiên cứu nêu trên, kết quả của luận văn nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu như sau:
1 Câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật có đặc điểm cú pháp và đặc điểm ngữ dụng như thế nào?
2 Sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm cú pháp và ngữ dụng của câu bị động trong tiếng Nhật và tiếng Việt là gì?
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Đối chiếu đặc điểm cú pháp và đặc điểm ngữ dụng câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật”, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng như sau:
6.1 Phương pháp chung
Đọc và thống kê đơn vị câu sử dụng cấu trúc bị động trong tiếng Việt và
Trang 18Phương pháp so sánh- đối chiếu: phân tích phương thức cấu trúc và ý nghĩa ngữ dụng của câu bị động trong tiếng Việt để đối chiếu với câu bị động trong tiếng Nhật nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt của hai ngôn ngữ
Bên cạnh những phương pháp trên, luận văn sử dụng thủ pháp thống kê nhằm bổ sung cho những kết luận có tính định lượng
7 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Câu bị động
1.1.1 Câu bị động trong tiếng Việt
1.1.2 Câu bị động trong tiếng Nhật
1.2 Các khái niệm về đặc điểm cú pháp
1.3 Các khái niệm về đặc điểm ngữ dụng
Tiểu kết
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP VÀ NGỮ DỤNG CỦA CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT
2.1 Đặc điểm cú pháp của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật
2.1.1 Đặc điểm cú pháp của câu bị động trong tiếng Việt
2.1.2 Đặc điểm cú pháp của câu bị động trong tiếng Nhật
2.2 Đặc điểm ngữ dụng của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật
2.2.1 Ngữ dụng của câu bị động trong tiếng Việt
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Câu bị động
1.1.1 Câu bị động trong tiếng Việt
1.1.1.1 Sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt
Các quan điểm về câu bị động trong tiếng Việt xoay quanh hai quan điểm chính là thừa nhận hoặc phủ định sự tồn tại của câu bị động Dựa vào lịch sử nghiên cứu câu bị động tiếng Việt, các tác giả thường đưa ra những ý kiến sau đây để đánh giá có câu bị động hay không:
Thứ nhất, vì tiếng Việt không có phạm trù hình thái học nên không có cấu trúc bị động Về ý kiến này, nhiều tác giả đã đề cập rằng không nên đồng nhất dạng bị động với tư cách là phạm trù hình thái học với cấu trúc bị động Các tác giả Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Thuận đã có đề
cập đến ý kiến này Theo Nguyễn Kim Thản (1977) [tr 214-215] “phạm trù
dạng không tồn tại ở các động từ tiếng Việt Ý nghĩa bị động của câu nói được biểu thị bằng những phương tiện từ vựng học hay bằng những cấu trúc cú pháp” Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Thuận (2000) cho rằng dạng bị động
trong tiếng Việt không phải là dạng của động từ mà là dạng của một kiến trúc riêng với những đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa xác định Theo Nguyễn Hồng Cổn (2004), các câu bị động trong các ngôn ngữ khác nhau cho thấy dạng của động từ chỉ là một trong nhiều phương thức mã hoá về mặt hình thái-
cú pháp, các bình diện ngữ nghĩa- chức năng khác nhau của phạm trù bị động Nếu tuyệt đối hoá hình thái học thì phạm trù bị động trong tiếng Anh hay tiếng Pháp cũng không đáp ứng đủ tiêu chí Vì vậy, tiếng Việt không có phạm trù hình thái học nên không có cấu trúc bị động không có nghĩa tiếng Việt không
có cấu trúc bị động hay câu bị động xét trên phương diện cú pháp
Thứ hai, vì tiếng Việt là một ngôn ngữ “thiên chủ đề” nên không có cấu trúc bị động, hoặc bị động không phải là hiện tượng cú pháp cần xem xét Về
ý kiến này, Ch.N.Li và S.A Thompson (1976) đưa ra luận điểm về sự đối lập giữa hai loại hình ngôn ngữ “thiên chủ đề” và “thiên chủ ngữ”, cho rằng cấu trúc bị động phổ biết trong các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, còn ở những ngôn ngữ thiên chủ đề thì bị động thường ít gặp hoặc vắng mặt Tuy nhiên, các tác giả này không hoàn toàn loại trừ sự có mặt của hiện tượng bị động trong các ngôn ngữ thiên chủ đề mà chỉ cho rằng nó không phải là phạm trù bị động điển hình
Trang 21như trong các ngôn ngữ Ấn Âu
Thứ ba, được và bị không phải là hư từ mà là động từ tình thái nên không thể là dấu hiệu đánh dấu câu bị động Về ý kiến này, nhiều tác giả như đã công nhận rằng bị và được không phải là hư từ có chức năng đánh dấu quan hệ bị động mà là có vai trò ngữ pháp như là một động từ tình thái, thậm chí là một
động từ thực làm trung tâm của bị ngữ Bị và được dù có đóng vai trò là trung
tâm ngữ pháp của vị ngữ thì cũng không có nghĩa các từ này không thể hành chức như một dấu hiệu đánh dấu quan hệ bị động Xét trong tiếng Anh có trợ
động từ trong vị ngữ bị động to be, tiếng Pháp có etre Xét về mặt ý nghĩa, to
be không có giá trị trọng việc hình thành nghĩa trạng thái bị động vốn do hình thái của động từ Xét về phương diện ngữ pháp, trợ động từ to be không có gì
khác biệt với một vị từ thực làm trung tâm vị ngữ Mặc dù vậy to be vẫn hoạt
động như một chỉ tố bị động trong tiếng Anh
Từ những luận điểm trên, có thể nói đến sự có mặt của câu bị động trong tiếng Việt
1.1.1.2 Nhận diện câu bị động trong tiếng Việt
Cũng giống như những ngôn ngữ khác, câu bị động trong tiếng Việt được coi là quan hệ cải biến với câu chủ động tương ứng Tuy nhiên, không phải câu chủ động nào cũng có thể chuyển thành câu bị động
Theo Nguyễn Hồng Cổn (2004) và Diệp Quang Ban (2000), xét về mặt hình thức, câu bị động trong tiếng Việt cần thoả mãn tất cả các điều kiện sau: chủ ngữ bị động là bổ ngữ của câu chủ động tương ứng; vị ngữ của câu bị
động được tạo thành từ vị ngữ của câu bị động tương ứng bằng cách thêm bị hoặc được trước động từ ngoại động; bổ ngữ của câu bị động chính là chủ ngữ
của câu chủ động tương ứng Bổ ngữ này thường được tỉnh lược trong câu bị động không có tác thể Nếu không bị tỉnh lược, có thể chuyển vị trí trước động
từ (trong câu bị động có bổ ngữ tác thể không có giới từ) hoặc ở vị trí sau
động từ với điều kiện phải thêm giới từ bởi (trong câu bị động các tác thể bổ
ngữ giới từ)
Những điều kiện trên phải được thoả mãn đồng thời, những câu có chứa
từ bị hoặc được mà không đáp ứng tất cả những điều kiện trên thì không thuộc
phạm trù câu bị động Có thể khái quát quá trình chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động như sau:
Câu chủ động: N1 V N2
+ Câu bị động phi tác thể: N2 bị/được V
Trang 22+ Câu bị động có bổ ngữ tác thể không giới từ: N2 bị/được N1 V
+ Câu bị động có bổ ngữ tác thể có giới từ: N2 bị/được V bởi N1
Ví dụ: Màu cỏ úa đen đang được đẩy lùi bởi các dòng chữ xanh đen (5)
1.1.2 Câu bị động trong tiếng Nhật
1.1.2.1 Động từ bị động trong tiếng Nhật
Với đặc điểm là ngôn ngữ chấp dính, bị động được coi là phạm trù ngữ
pháp trong tiếng Nhật Ở các ngôn ngữ chấp dính, để biểu thị phạm trù ngữ
pháp thường biến đổi một phần động từ để tại ra các chỉ tố về thời, thức,
dạng…Trong tiếng Nhật, động từ được chia thành 3 nhóm và có đặc điểm như
sau:
- Động từ ngũ đoạn (động từ nhóm 1): động từ có nguyên âm phần cuối từ
biến đổi thành năm đoạn
Ví dụ: kaku(かく), hanasu(はなす), nomu(のむ), morau (もらう) (7)
- Động từ nhất đoạn (động từ nhóm 2): động từ không có sự biến đổi nguyên
âm phần cuối từ
- Động từ bất quy tắc (động từ nhóm 3): có 2 động từ chính là kuru (来る) và
suru (する)
Để biến đổi động từ thành động từ dạng bị động, cần biến đổi như sau:
- Động từ ngũ đoạn: đổi âm /u/ tận cùng của động từ dạng từ điển sang âm /a/
rồi gắn thêm reru 「れる」
Trang 23来る → 来られる
する → される
1.1.2.2 Câu bị động trong tiếng Nhật
Câu bị động trong tiếng Nhật là câu diễn tả sự việc từ phía nhận được hành động từ người khác, động từ chính là động từ ở dạng bị động Các nhà nghiên cứu Nhật Bản với quan điểm khác nhau có nhiều cách phân loại câu bị động tiếng Nhật
Theo Suzuki (1972), câu bị động tiếng Nhật được phân thành 4 loại Loại thứ nhất là 直接対象の受身 (bị động đối tượng trực tiếp), được hiểu là câu bị động của đối tượng trực tiếp Trong câu này, chủ ngữ chịu tác động trực tiếp từ đối tượng với cấu trúc tương đương là N1 が N2 に V られる
Sachiko bị Niro đánh
Loại câu bị động thứ hai là 相手の受身 (bị động đối phương) Chủ ngữ của loại câu này chịu tác động gián tiếp từ đối tượng, thông qua tân ngữ được nêu trong câu Cấu trúc của loại câu này là N1 が N2 に N3 を V られる
Hanako được/bị Taro dạy tính toán cho
Loại câu thứ ba là 持ち主の受身 (câu bị động chủ sở hữu) Chủ ngữ của câu này chịu tác động của đối tượng lên một đồ vật thuộc sở hữu của mình Cấu trúc của loại câu này là N1 が N2 に N3 を V られる trong đó N3 là vật sở hữu của N1
Taro bị con sóc lấy mất ví
Loại câu thứ tư là 第三者の受身 (bị động ngôi thứ ba) Cấu trúc của loại câu này là N1 が N2 に N3 を V られる
Chúng tôi bị đứa con trai nhà bên bật máy nghe nhạc cả đêm
Trang 24Cây baton được đưa từ người chạy thứ nhất cho người chạy thứ hai
Loại câu thứ hai là 間接対象の受身 (bị động của đối tượng gián tiếp) Cấu trúc của loại câu thứ hai là N1 が N2 に N3 を V られる
Người chạy thứ hai được đưa cây ba-ton từ người chạy thứ nhất
Loại câu thứ ba là 持ち主の受身 (bị động chủ sở hữu) Loại câu này giống loại câu thứ ba của phân loại Suzuki Chủ ngữ của câu này chịu tác động của đối tượng lên một đồ vật thuộc sở hữu của mình Cấu trúc của loại câu thứ ba
là N1 が N2 に N3 を V られる trong đó N3 là vật sỡ hữu của N
Hanako bị con sóc lấy mất ví
Loại câu thứ tư là 第三者の受身 (bị động ngôi thứ ba) Cấu trúc của loại câu
Chúng tôi bị trẻ con/đứa con vặn/ quay cần câu cá
Ngoài ra, Takanashi cũng cho rằng 第三者の受身 (câu bị động ngôi thứ ba) hay còn gọi là めいわくの受身 (bị động phiền phức) là cấu trúc diễn tả việc ngôi thứ ba nhận sự phiền phức, rắc rối trong đó ngôi thứ ba là chủ ngữ vốn không phải là thành phần tác động trong câu gốc
Theo Teramura (1982), dựa vào chủ ngữ của câu bị động chịu ảnh hương trực tiếp hay chịu ảnh hưởng gián tiếp của động từ được thể hiện bởi 述語動
Trang 25tiếp và câu bị động gián tiếp
tượng được nêu trong câu Cấu trúc của loại câu này là N1 が(N2 に) V ら
Naotaka được bà nuôi dạy
tượng thông qua danh từ được nêu trong câu Cấu trúc của loại câu thứ hai này
là N1 が N2 に N3 を V られる
Hoàng tử Arthur đã bị vua Rabik giết chết bố mẹ
Ngoài ra, Nita (2009), dựa vào việc yếu tố cấu thành của câu gốc được biểu hiểu là chủ ngữ của câu bị động, phân chia câu bị động trong tiếng Nhật thành 3 loại như sau:
tiếp từ đối tượng Cấu trúc của loại câu thứ nhất là N1 が N2 に V られる
Yohei bị Hiroshi đánh
của đối tượng lên một đồ vật thuộc sở hữu của mình Cấu trúc của loại câu thứ hai là N1 が N2 に N3 を V られる trong đó N3 thuộc sỡ hữu của N1
Taro bị Hiroshi đánh vào đầu
N2 に N3 を V られる
Tôi bị mưa rơi
Như vậy, tuỳ vào các nhà nghiên cứu với quan điểm khác nhau mà có
Trang 26nhiều cách phân loại câu bị động tiếng Nhật khác nhau Tuy nhiên, xét về mặt cấu trúc, trong các cách phân loại trên đều xuất hiện ba cấu trúc câu bị động là
N が V られる, N1 が N2 に V られる và N1 が N2 に N3 を V られる
Theo Jamassy (2008), câu bị động tiếng Nhật có 3 cấu trúc như sau:
Loại thứ nhất là N が V られる (N bị /được V) Vì chủ thể của hành động không thể xác định được nên thường không được nêu ra trong câu Loại câu này thường được sử dụng trong câu miêu tả sự việc, các câu thông tin
Ví dụ:この地方では主に赤いワインが作られている。 (24)
Ở vùng này chủ yếu rượu vang đỏ được sản xuất
Loại câu thứ hai là N1 が N2 に V られる (N1 được/ bị N2 thực hiện V) Chủ thể của động tác được diễn đạt bằng trợ từ N に, N によって hoặc N から Trong cấu trúc này, động từ gốc có thể là nội động từ hoặc ngoại động từ
Loại câu thứ ba là N1 が N2 に N3 を V られる (N1 bị/ được N2 thực hiện V vào N3), trong đó N3 thuộc sở hữu của N1 hoặc N3 là đối tượng bị/ được N2 thực hiện V vào
Taro bị Hiroshi đánh vào đầu
1.2 Các khái niệm về đặc điểm cú pháp
1.2.1 Cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt
Tuỳ thuộc vào quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau mà thành phần cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt được phân loại khác nhau Theo Nguyễn Văn Hiệp (2009), cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt bao gồm chủ ngữ, vị ngữ và
bổ ngữ
Trang 27bằng các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ, các yếu tố này trong một câu kết hợp với nhau làm thành cấu trúc cú pháp của câu Theo đó, câu được chia thành vị
tố, chủ ngữ, tân ngữ, đề ngữ, gia ngữ Như vậy, nhìn chung câu tiếng Việt đều
có chủ ngữ, vị ngữ và một số thành phần khác như tân ngữ, bổ ngữ… Để phân tích và thấy rõ được cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt cũng như các đặc điểm giống và khác nhau với câu tiếng Nhật, luận văn phân chia cấu trúc câu thành chủ ngữ, vị ngữ và các thành phần khác
1.2.1.1 Vị ngữ
Vị ngữ là yếu tố chính của câu, về phương diện nghĩa và phương diện cú pháp Về phương diện nghĩa, vị ngữ nêu đặc trưng hoặc quan hệ của sự thể được nói đến trong câu Về cú pháp, ngoài chủ ngữ, các yếu tố cú pháp khác trong câu cũng quay quần xung quanh vị ngữ Trong tiếng Việt, vị ngữ có thể
do một từ hoặc một cụm từ làm thành, cũng có khi do một dãy động từ, một dãy tính từ hoặc một câu bị bao (cụm chủ vị) đảm nhiệm Xét với hình thức
của câu bị động được nêu ở mục 1.1.1.2 thì có thể thấy rằng vị ngữ câu bị
động tiếng Nhật sẽ được cấu tạo từ động từ, dãy động từ hoặc câu
Trong ví dụ (26) vị ngữ “ngồi xem báo đằng kia” có phần chính là một dãy động từ “ngồi xem”
Trong ví dụ (27) vị ngữ “được nhà trường khen” có phần chính là một cụm chủ- vị, trong đó “nhà trường” là chủ ngữ và “khen” là vị ngữ
1.2.1.2 Chủ ngữ
Chủ ngữ là một trong những thành phần câu gây tranh cãi nhất, xét về phương diện quan niệm và cách nhận diện Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chủ ngữ là thành phần nằm đầu câu như Diệp Quang Ban, Nguyễn Kim Thản… Chủ ngữ là thành tố nòng cốt của câu, có quan hệ chặt chẽ với vị ngữ
về mặt nghĩa, trực tiếp đứng trước vị ngữ
1.2.1.3 Các thành phần khác
(1) Tân ngữ và tân ngữ gián tiếp
Tân ngữ (hay còn gọi bổ ngữ trực tiếp) là yếu tố do ý nghĩa của vị tố ấn định theo quan hệ chuyển tác Quan hệ chuyển tác là thứ quan hệ chuyển tác động do thực thể ở chủ ngữ tạo ra trong hành động ở vị tố đến thực thể nêu ở
Trang 28tân ngữ Tân ngữ là yếu tố chỉ thực thể chỉ chịu sự tác động của hành động ở
vị tố Về mặt vị trí, tân ngữ đứng sau động từ trong tiếng Việt
Tân ngữ gián tiếp (hay còn gọi là bổ ngữ gián tiếp) cũng là yếu tố do ý nghĩa của vị tố ấn định theo quan hệ chuyển tác, là yếu tố chỉ thực thể nhận vật trao do nghĩa của động từ ấn định Tương tự như với tân ngữ về mặt vị trí, tân ngữ gián tiếp cũng nằm sau động từ chuyển tác Tân ngữ và tân ngữ gián tiếp
có thể đổi vị trí cho nhau
(2) Bổ ngữ
Bổ ngữ là thành phần phụ đứng trước hoặc sau động từ hoặc tính tình để
bổ nghĩa cho động từ hay tính từ đó, góp phần tạo thành cụm động từ hoặc cụm tính từ
(3) Đề ngữ
Đề ngữ là yếu tố nêu lên đề tài của sự thể được nói đến trong câu, nhưng không phải là chủ ngữ Về mặt vị trí, đề ngữ thường đứng trước chủ ngữ, ít khi đứng sau chủ ngữ Chức năng nghĩa chung của đề ngữ là nêu đề tài, có thể cụ thể hoá bằng đích thể, tiếp thể… trong những trường hợp có thể
(4) Trạng ngữ
Trạng ngữ là thành phần phụ của câu, bổ sung cho thành phần nòng cổ của câu Trạng ngữ thường là những từ chỉ địa điểm, thời gian, nơi chốn, mục đích, phương tiện… Trạng ngữ có thể là một từ, một ngữ hoặc một cụm chủ vị
Ví dụ: Mấy năm ở Sài Gòn, y đã cố tạo cho y một cá tính khác hẳn cá tính của
Bà Hai cười bằng cái thứ tiếng cười nằng nặc mỡ (Nam Cao) (Trạng
1.2.1.4 Động từ ngoại động
Căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau mà động từ trong tiếng Việt được phân thành nhiều loại khác nhau Theo Lê A (2015), dựa vào khả năng hoạt động độc lập, động từ được chia thành hai loại là động từ không độc lập và động từ độc lập, trong đó động từ độc lập bao gồm nội động từ vào ngoại động từ
tác động đến một đối tượng nào đó Ngoại động từ thường đòi hỏi thành tố
phụ sau trực tiếp chỉ đối tượng tác động Ví dụ: đẩy xe, đánh giặc…
Trang 29Căn cứ vào ý nghĩa và khả năng chi phối các thành tố phụ sau, có thể chia thành các nhóm nhỏ:
Nhóm động từ chỉ tác động: chỉ hành động tác động vào đối tượng làm hình
thành, hay hủy diệt đối tượng hoặc làm biến đổi đối tượng Ví dụ: đóng vở,
nấu cơm…
Nhóm động từ chỉ sự di chuyển đối tượng trong không gian Ví dụ: kéo thuyền,
ném đá…
Nhóm động từ chỉ hoạt động phát nhận Ví dụ: mượn sách, vay tiền…
Nhóm động từ chỉ hoạt động nối kết các đối tượng Ví dụ: buộc, nối, pha, liên
kết…
Nhóm động từ chỉ hoạt động cảm giác trí giác, nhận thức, nói năng Ví du: biết,
nghĩ, nói, thấy, phát biểu…
Việc phân loại các nhóm tiểu động từ nêu trên chỉ mang tính tương đối Trong hoạt động, động từ có thể chuyển tiểu loại, chuyển nhóm, khi đó, ý nghĩa khả năng chi phố thành tố phụ của động từ sẽ thay đổi
1.2.2 Cấu trúc cú pháp câu tiếng Nhật
Dựa vào các nhà nghiên cứu khác nhau, có nhiều cách để phân loại các thành phần cú pháp câu tiếng Nhật Nhìn chung, câu tiếng Nhật sẽ bao gồm các thành phần là chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trợ từ
(Vị ấy là ông Yamamoto Ông Yamamoto cũng là người Nhật.)
Ngoài ra, trong câu tiếng Nhật thường có xu hướng lược bỏ chủ ngữ
1.2.2.2 Vị ngữ
Vị ngữ đóng vai trò giải thích về chủ ngữ trong câu Vị ngữ có thể đi với trợ từ “no”の + trợ động từ “desu”です để biểu thị khẳng định hoặc đi với trợ
Trang 30từ “kara”(hoặc danh từ hình thức “tame”ため “wake”わけ) + “desu”です để
chỉ nguyên nhân, lý do v.v…Trong câu bị động, vị ngữ là động từ bị động
1.2.2.3 Bổ ngữ
Thành phần phụ trong câu, phụ thuộc về ngữ pháp vào danh từ và có
chức năng nêu thuộc tính, đặc trưng của sự vật, hiện tượng v.v…Bổ ngữ trong
câu tiếng Nhật có thể là danh từ, tính từ, động từ, trạng từ, thậm chí có thể là
một câu đơn, một cụm chủ vị, v.v…
Ví dụ: 新鮮な材料が豊富に手に入る日本では、 (31)
Bổ ngữ
Bổ ngữ đi trước danh từ Nihon(日本)+ trợ từ “dewa”( では) làm bổ ngữ =
tương đương với bổ ngữ đi trước danh từ hình thức “koto” làm chủ ngữ
Ví dụ: 生かすことが/料理の基本なのである。 (32)
chủ ngữ vị ngữ
Trong câu (30) chủ ngữ được cấu tạo từ động từ 生かす đi kèm với こと
“koto” Việc sử dụng động từ kết hợp với こと“koto” là hình thức danh từ hoá
động từ trong tiếng Nhật
Bổ ngữ thường là một câu đơn gồm có cụm chủ vị (chủ ngữ và vị ngữ)
hoặc là một cụm động tân (động từ và tân ngữ) hoặc cụm động bổ (động từ và
Trang 31Một thành phần khác trong câu tham gia cấu tạo trong câu tiếng Nhật là trợ từ Tuỳ vào từng trợ từ khác nhau mà có chức năng khác nhau Trợ từ ga”(
Nhưng không phải tất cả các thành phần câu đi với trợ từ が/は/も trong mọi trường hợp đều xác định chủ ngữ
Đối với trợ từ が“ga” thường là thành phần chủ đề của vị ngữ
Bởi vì thành phần đi với trợ từ が“ga” phải là chủ đề của thành phần vị ngữ, nếu như thành phần đi với trợ từ “ga” là đối tượng của thành phần vị ngữ thì trường hợp này trợ từ “ga” xác định bổ ngữ
chủ ngữ (chủ đề) vị ngữ
Tỉnh Aomori và tỉnh Nagano rất nổi tiếng là đất trồng táo
Trợ từ が“ga” trong ví dụ (34) có vai trò xác định chủ đề, chủ ngữ trong câu Trong câu này, chủ đề trùng với chủ ngữ
Tôi thích du lịch
Ở ví dụ (35), trợ từ が“ga” đứng sau danh từ 旅行 “ryoko” (du lịch) Trong câu này chủ đề của câu được xác định đứng trước trợ từ は “wa” Còn phần đứng trước trợ từ が“ga” đóng vai trò là bổ ngữ trong câu
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập trong khi đó tiếng Việt được biết tới là một ngôn ngữ chắp dính Chính vì vậy, cấu trúc cú pháp câu của hai ngôn ngữ này sẽ có nhiều đặc điểm khác nhau Do đó, việc phân loại các thành phần câu
sẽ có nhiều quan điểm khác nhau Để có thể so sánh đối chiếu giữa cấu trúc cú pháp câu bị động trong hai ngôn ngữ, luận văn lựa chọn phân chia thành các phần bao gồm chủ ngữ, vị ngữ và các thành phần khác
1.3 Các khái niệm về đặc điểm ngữ dụng
1.3.1 Ngữ dụng
Hiện nay, ngữ dụng học đã trở thành một ngành nghiên cứu rộng rãi trong nghiên cứu ngôn ngữ học Tuy nhiên, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học vẫn chưa được thống nhất khiến cho có nhiều định nghĩa
Trang 32khác nhau về lĩnh vực này Theo Yule Goerge (1996) cho rằng ngữ dụng học
là sự nghiên cứu về những mối liên hệ giữa các hình thái ngôn ngữ và người
sử dụng các hình thái đó Theo đó, ngữ dụng học liên quan đến việc nghiên cứu về ý nghĩa với tư cách là cái được thông báo bởi người nói (hay người viết)
và được hiểu bởi người nghe (hay người đọc) Kết quả là ngữ dụng học làm việc nhiều với sự phân tích cái mà người ta muốn nói qua các phát ngôn, hơn
là với cái mà bản thân các từ hay các cụm từ trong các phát ngôn đó có thể nói lên
Trên cơ sở đó, trong luận văn này, đặc trưng ngữ dụng được hiểu là những đặc điểm về nội dung được truyền đạt qua các phát ngôn trong ý đồ của người nói (người viết) và trong sự tiếp nhận của người nghe (người đọc)
Bàn về ngữ dụng học, các nhà ngôn ngữ thường nhắc đến một số lý thuyết tiêu biểu như lý thuyết hành vi ngôn ngữ, lí thuyết hội thoại, lý thuyết lập luận… Hơn nữa, gắn với các lí thuyết này là những định đề, luận điểm về lịch sự và giao tiếp, phân tích diễn ngôn, hiển ngôn và hàm ngôn, tiền giả định,
từ chỉ xuất, ngữ cảnh v.v Việc có thể vận dụng hết được tất cả những lí thuyết và nội dung nghiên cứu của ngữ dụng học vào trong văn là một điều khó khả thi Luận văn chỉ trình bày những khái niệm cũng như nội dung lí thuyết chính liên quan tới câu bị động ở bình diện ngữ dụng
1.3.2 Ngữ cảnh
Ngữ cảnh là một loại môi trường phi ngôn ngữ trong đó có ngôn ngữ được sử dụng Ngữ cảnh của phát ngôn sẽ bao gồm không chỉ cái văn cảnh (co-text) liên quan (tức cái ngôn bản chung quanh có liên quan), mà còn có cả đặc trưng liên quan của tình huống phát ngôn
Theo Đỗ Hữu Châu (2009), ngữ cảnh là bao gồm những hợp phần gồm nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài hiển ngôn Trong đó, hiện thực ngoài hiển ngôn bao gồm tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hoá, trừ nhân vật giao tiếp, có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng không được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dung ngôn ngữ để tạo ra các lời nói Các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân – là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau
Các nhà ngôn ngữ còn phân loại ngữ cảnh thành hai loại là ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hoá
Trang 33Ngữ cảnh tình huống (ngữ cảnh hẹp) là ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, của một văn bản, của một trường hợp cụ thể của ngôn ngữ Ngữ cảnh tình huống có thể bao gồm sự hiểu biết về người nói và người nghe, về
sự hiểu biết về vị trí, thời gian và không gian, sự hiểu biết về phép xã giao trong xã hội và sự hiểu biết về nội dung giao tiếp và bối cảnh giao tiếp Bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của người nói và người nghe về tất cả những quy ước, các niềm tin và tiền đề được coi là đương nhiên của các thành viên trong cộng đồng của người nói và người nghe
Ngữ cảnh văn hoá (ngữ cảnh rộng) là ngữ cảnh của ngôn ngữ với tư cách
là một hệ thống, bao gồm hàng loạt nhân tố văn hóa như phong tục tập quán, chuẩn tắc, hành vi, quan niệm giá trị, sự kiện lịch sử, những tri thức về tự nhiên và xã hội, về chính trị và kinh tế
1.3.3 Lý thuyết hành động ngôn từ
Lý thuyết hành động ngôn từ là một trong những lý thuyết quan trọng trong ngữ dụng học Lý thuyết này được J.Austin (1962) đề xuất và sau đó được J.Searle (1969) phát triển thêm, dựa trên nguyên tắc cơ bản mà ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành động Trong bất kì trường hợp này, hành động giao tiếp bằng ngôn ngữ đều bao gồm ba loại hành động liên quan đến nhau là: Hành động tạo lời (locutionary act), hành động tại lời (iilucutionary act), hành động mượn lời (perlocutionnary act)
Hành động tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ
âm, lời, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các phát ngôn này được
"văn bản hoá", có thể là được người phát thông tin hoặc các nhà văn, nhà báo, nhà ngôn ngữ học ghi lại thành văn bản và có thể quan sát được bằng mắt Hiệu quả của hành vi tạo lời là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Ví
dụ về hành động tại lời: hành vi hỏi, hành vi yêu cầu, hành vi ra lệnh, hành vi
nắm được ngôn ngữ, không chỉ có nghĩa là nắm được âm, từ ngữ, câu của ngôn ngữ đó mà còn là nắm được những quy tắc điều khiển các hành động tại lời trong ngôn ngữ đó, có nghĩa là biết các quy tắc để “hỏi”, “hứa hẹn” sao cho đúng lúc, đúng chỗ cho thích hợp với ngữ cảnh, với người được hỏi
Hành động tại lời là những hành vi như hỏi, trả lời, ra lệnh, yêu cầu…mà người phát ngôn muốn thể hiện chúng ngay trong lời nói Khi thực hiện một
Trang 34hành, sẽ có hai loại hiệu quả khác nhau Một là giá trị tự tại của hành động tạo lời, nằm ngoài ý định riêng của người nói Hai là hiệu quả mà người nói chủ ý gây ra đối với người nghe Trong một tình huống cụ thể, qua một cung cách nói năng khi thực hiện một hành động tại lời, người nói có thể nhằm một mục đích, một mục tiêu nào đó cần đạt được Loại hiệu quả này của một hành động tại lời được gọi là hành động mượn lời
Hành động mượn lời là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói Ví dụ, trong lớp học sinh đang nói chuyện ầm ĩ Một học sinh nói: “Giáo viên đến rồi” thì các
em khác sẽ ngưng nói chuyện và quay về vị trí của mình Hành động ngưng nói chuyện, quay về vị trí của mình thuộc hành động mượn lời Đích của hành động tại lời có thể là hiệu quả mượn lời cũng có thể là không phải Ở ví dụ trên, hiệu quả thuộc đích của hành động tại lời
1.3.4 Phân loại hành động tại lời
Ngữ dụng học tập trung nghiên cứu vào hành động tại lời Searle chỉ ra
11 tiêu chí phân loại hành động ngôn ngữ nhưng tác giả chỉ dùng 4 trong 11 tiêu chí để phân lập 5 loại hành động tại lời Năm loại hành động tại lời được Searle phân loại là:
Biểu hiện (representatives) (còn gọi là trình bày, khảo nghiệm, thông tin miêu tả, xác tín) Lớp này gồm các hành vi như: kể, tự sự, miêu tả, mách, tường thuật, báo cáo, thuyết minh, lập biên bản, tường trình, tố cáo, khai, khai báo
Điều khiển (directives) (còn goi là chi phối) Các hành vi thuộc lớp này là: ra lệnh, sai, sai khiến, bảo, yêu cầu, đề nghị, xin phép, cho phép, chỉ, khuyên, chỉ thị, kiến nghị, khuyến nghị, chỉ định, hỏi, tra
Kết ước (commissives) (còn gọi là Cam kết) Các hành vi thuộc lớp này là: hứa, cam đoan, cam kết, hẹn, giao ước, bảo đảm, thỏa thuận, thề
Biểu cảm (expressives) Các hành vi thuộc lớp này là: cảm thán, than thở, thán phục, trầm trồ, cảm ơn, xin lỗi, ân hận, lấy làm tiếc, khen chê Tuyên bố (declarations) Các hành vi thuộc lớp này là: tuyên bố, tuyên
án, buộc tội, kết tội, từ chức, khai trừ
1.3.5 Tiền giả định và hàm ngôn