TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ Tên đề tài: Thử nghiệm trò chơi Scrabble trong hoạt động ngoại khóa để hỗ trợ việc ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng Anh c
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
Thời gian thực hiện: 12 tháng (01/2017-12/2017)
Thừa Thiên Huế, 12/2017
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Thừa Thiên Huế, 12/2017
Trang 3Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài :
Trang 4NTP: Nguyễn Tri Phương
KTT: kiểm tra trước
KTS: kiểm tra sau
Trang 5TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: Thử nghiệm trò chơi Scrabble trong hoạt động ngoại khóa để hỗ trợ việc ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng Anh cho học sinh lớp 7 tại trường THCS Nguyễn Chí Diểu và THCS Nguyễn Tri Phương ở Tp.Huế
Mã số: T2017-180-GD-NN
Chủ nhiệm đề tài: Đinh Công Thường ĐT.: 0973757133
E-mail: dinhcongthuongvn@gmail.com
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Trương Thị Xuân Huyền, Nguyễn Thị Nhất Vinh, Trần Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Thùy
Thời gian thực hiện: 12 tháng (01/2017-12/2017)
1 Mục tiêu: Xác định tác động của trò chơi Scrabble trong việc hỗ trợ học sinh lớp 7
ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng Anh Giới thiệu cho giáo viên và học sinh sử dụng trò
chơi Scrabble trong việc hỗ trợ ghi nhớ từ vựng tiếng Anh
2 Nội dung chính: Nghiên cứu này được thực hiện để thử nghiệm trò chơi Scrabble
trong hoạt động ngoại khóa cho học sinh lớp 7 tại trường THCS Nguyễn Chí Diểu và THCS Nguyễn Tri Phương trong việc hỗ trợ ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng Anh 20 học sinh/trường đã được tham gia trò chơi Scrabble 1 buổi/tuần và kéo dài trong 4 tháng Trong quá trình này, dữ liệu định lượng từ hai bài kiểm tra trước và sau thực nghiệm đã được thu thập và phân tích để đưa ra kết quả cuối cùng Từ việc phân tích
dữ liệu cho thấy trò chơi Scrabble giúp hỗ trợ việc ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng Anh
3 Kết quả chính đạt được
Giới thiệu cho giáo viên trường THCS Nguyễn Chí Diểu và THCS Nguyễn Tri Phương một công cụ đắc lực để giúp học sinh ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng Anh Học sinh tại hai ngôi trường này biết đến trò chơi Scrabble trong các hoạt động ngoại khóa
để vừa hỗ trợ việc học, vừa phục vụ cho nhu cầu giải trí
Trang 6
SUMMARY
Project Title: Using Scrabble to support English spelling for 7th grade students in Nguyen Chi Dieu Secondary School and Nguyen Tri Phuong Secondary School in Hue city
Code number: T2017-180-GD-NN
Coordinator: Dinh Cong Thuong
Implementing Institution: University of Foreign Languages, Hue University
Cooperating Institution(s): Truong Thi Xuan Huyen, Nguyen Thi Nhat Vinh, Tran My Hoa, Nguyen Thi Thuy
Duration: from 01/2017 to 12/2017
1 Objectives:
- Determine the impact of Scrabble in helping seventh graders remember spelling of English vocabulary
- Introduce teachers and students to use Scrabble in order to memorize English words
2 Main contents: This research was conducted to test Scrabble in extracurricular
activities for 7th grade students in Nguyen Chi Dieu Secondary School and Nguyen Tri Phuong Secondary School in support of English spelling Twenty students of each school participated in the Scrabble game one per week and lasted for four months In this process, quantitative data from pre- and post-test was collected and analyzed to produce the final results From data analysis, the Scrabble game improves Ẻnglish spelling for students
3 Results obtained:Introduction to teachers Nguyen Chi Dieu Secondary School and Nguyen Tri Phuong Secondary School a powerful tool to help students remember the spelling of English vocabulary.Students at these two schools know about Scrabble in extracurricular activities to support learning and entertainment
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1 Chính tả và đặc điểm của chuẩn chính tả 4
2 Từ vựng 4
4 Cấu tạo của từ 5
5 Trò chơi trong giảng dạy 6
6 Sử dụng trò chơi Scrabble trong việc học từ vựng 8
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
A Đối tượng nghiên cứu 9
B Thời gian và địa điểm nghiên cứu 9
C Công cụ nghiên cứu 9
D Phương pháp thu thập dữ liệu 9
E Phương pháp phân tích dữ liệu 10
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 11
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT VÀ KIỂN NGHỊ 13
A KẾT LUẬN 13
B ĐỀ XUẤT 13
C KIẾN NGHỊ 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
PHỤ LỤC 15
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế toàn cầu hóa ngày nay, tầm quan trọng của tiếng Anh không thể phủ nhận vì nó được dùng phổ biến ở mọi nơi trên thế giới Đặc biệt đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, tiếng Anh đã được giảng dạy từ rất sớm cũng như nhiều học sinh đã nhận thức được tầm quan trọng của nó vì những lý do như tìm được một công việc chất lượng cao, giao tiếp với thế giới bên ngoài, tiếp cận những nguồn khoa học mà mình đang theo đuổi
Nhà ngôn ngữ học Wilkins đã nói rằng: “Không có từ vựng, không một thông tin nào
có thể được truyền đạt cả” (Wilkins, 1992) Vì thế, có thể xem từ vựng như các tế bào nhỏ hình thành nên khả năng sử dụng ngoại ngữ của học sinh
Một nghiên cứu được tiến hành bởi Louisa Moats đã phát hiện ra rằng sự cải thiện chính tả sẽ dẫn đến khả năng đọc được cải thiện đọc (Moats, 2005), vì nó giúp học sinh hiểu về hệ thống từ vựng được sử dụng trong việc đọc Tuy nhiên, sự cải thiện khả năng đọc không sẽ dẫn đến sự cải thiện chính tả Giả thiết này được chứng minh bởi một nhóm các nhà nghiên cứu ở Houston đã theo dõi học sinh từ lớp một đến lớp bốn Kết quả cho thấy sinh có năng lực đọc ở mức trung bình, nhưng khả năng chính
tả lại giảm
Nhà nghiên cứu tâm lý học người Đức Ebbinghous đã chứng minh rằng bộ não con người sau khi tiếp nhận thông tin sẽ bắt đầu quá trình quên lãng (Ebbinghaus, 1987) Quá trình quên lãng này bắt đầu từ phút thứ 10 trở đi sau khi học, sau 20 phút não người chỉ nhớ 58% lượng thông tin vừa học, sau một tiếng nhớ 44%, chín tiếng nhớ 36%, sau một ngày nhớ 33%, sau hai ngày nhớ 28% và cuối cùng sau một tháng chỉ nhớ khoảng 20% Học sinh có thể gặp khó khăn trong việc ghi nhớ chính tả từ vựng, bởi tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ Hơn nữa ngôn ngữ học sinh sử dụng để giao tiếp hàng ngày lại là tiếng Việt Vì vậy, giáo viên cần áp dụng một số biện pháp để hỗ trợ học sinh ghi nhớ chính tả từ vựng mà không làm học sinh nhàm chán giúp học sinh ưa thích việc học tiếng Anh hơn
Những bài nghiên cứu của Dương Ngọc Châu đã nêu rõ vai trò của trò chơi trong việc nâng cao khả năng ghi nhớ từ vựng tiếng Anh cho học sinh (Châu, 2012) Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần chọn trò chơi phù hợp cho cả mục đích học và giải trí? Một số học
Trang 9giả đã chứng minh trò chơi Scrabble giúp cải thiện từ vựng tiếng Anh trên ba phương diện: ghi nhớ, phát âm và chính tả Giả thiết này đã được chứng minh bởi nghiên cứu
của Diah (Diah, 2013) sau khi thực nghiệm trò chơi này với 40 học sinh lớp 4 ở trường
SD Negeri Doplang và nghiên cứu của Gilang (Gilang, 2016) sau khi thực nghiệm với học sinh lớp 10 tại SMA N 2 Purworejo Trong bài nghiên cứu này, người viết muốn
thử nghiệm trò chơi Scrabble trong hoạt động ngoại khóa để hỗ trợ việc ghi nhớ chính
tả từ vựng tiếng Anh cho học sinh Cụ thể là học sinh lớp 7 trường THCS Nguyễn Chí Diểu và THCS Nguyễn Tri Phương
Hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ giúp cho giáo viên có được một công cụ mới trong việc hỗ trợ học sinh ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng anh trong các hoạt động ngoại khóa Người viết cũng mong muốn rằng học sinh sẽ biết đến trò chơi này như là một công cụ hữu dụng cho học tập môn tiếng Anh cũng như giải trí
2 Tính cấp thiết của đề tài
Một vài cách học sinh đang sử dụng để ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng Anh là viết đi viết lại từ đó nhiều lần, đọc đi đọc lại nhiều lần, chép lên giấy ghi nhớ dán trên tường Đây là những cách học đơn điệu nhàm chán, mất nhiều thời gian và khó gây được sự hào hứng học tập cho học sinh Hơn nữa, nếu không được thực hành, thì học sinh sẽ rất dễ quên những gì vừa mới học Do đó yêu cầu có một phương pháp khác thú vị và hữu hiệu hơn giúp học sinh ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng Anh
Tôi may mắn được cô Judith người Anh đến TP Huế công tác và giới thiệu về trò chơi Scrabble Được hướng dẫn hơn một năm tại Huế, tham gia khóa huấn luyện và thi đấu cuộc thi Scrabble ở Malaysia vào tháng 4/2016, tôi nhận thấy trò chơi mang lại nhiều lợi ích như tính toán nhanh (phép nhân và phép cộng), kỹ năng phán đoán để đưa ra quyết định, kỹ năng làm việc nhóm, mở rộng vốn từ vựng… Một trong những lợi ích lớn nhất mà trò chơi mang lại là giúp ghi nhớ chính tả từ vựng tiếng Anh Chính vì vậy, tôi đã chọn trò chơi này để hỗ trợ cho thực trạng của học sinh THCS như đã nêu trên
Scrabble chưa từng được phổ biến trong các trường học tại Việt Nam, trong khi đó nó
đã được phổ biến ở các nước phát triển như Mỹ, Canada… Tại Mỹ có khoảng một triệu người chơi Scrabble đang là học sinh sinh viên tại hơn 20.000 trường học Ở Việt Nam nói chung và TP Huế nói riêng, chỉ có một vài câu lạc bộ Scrabble đang hoạt động ở các trung tâm Anh ngữ Vì vậy, tôi mong muốn đưa trò chơi này phổ biến rộng
Trang 10rãi tại các trường THCS, từ đó thành lập nên các câu lạc bộ Scrabble trên địa bàn TP Huế
Tôi không áp dụng trò chơi này vào đối tượng học sinh tiểu học vì ở lứa tuổi này chỉ yêu cầu các em làm quen với các từ tiếng Anh đơn giản, không bắt lỗi với chính tả từ vựng Tôi áp dụng với ho ̣c sinh THCS vì đặc thù ở cấp này các em cần lưu ý chính xác
của ngôn ngữ (ở đây là chính tả), mô ̣t sự khác biê ̣t lớn so với thời kỳ bắt đầu làm quen
vớ i ngoa ̣i ngữ ở cấp tiểu ho ̣c
Học sinh lớp 6 được học các giáo trình không nhất quán tùy vào trường mà các em
học (Let’s Go, Let’s Learn English, Family and Friends, Family and Friends Special Edition ), nên lượng từ vựng học được của các em sẽ không giống nhau Vì vậy tôi
Đối với học sinh lớp 7, các em đã được học chung một giáo trình là Tiếng Anh 6 (tập
1, tập 2) và Tiếng Anh 7 (tập 1) Do vậy lượng từ vựng mà các em được học là như
nhau Khi đó, thực nghiệm trên đối tượng này sẽ mang tính khách quan cao
Một ván chơi Scrabble trung bình kéo dài khoảng 50 phút nên không thể áp dụng vào tiết học của học sinh hiện nay là 45 phút Ngoài ra Scrabble còn mang tính chất “gây nghiện”, sau khi kết thúc một ván chơi học sinh thường có xu hướng chơi tiếp lần 2, lần 3 Do vậy ứng dụng vào hoạt động ngoại khóa (hay các câu lạc bộ trong nhà trường) là phù hợp nhất
3 Mục tiêu của đề tài
Xác định tác động của trò chơi Scrabble trong việc hỗ trợ học sinh lớp 7 ghi nhớ chính
Trang 11CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Chính tả và đặc điểm của chuẩn chính tả
Theo nhà ngôn ngữ học Mai Ngọc Chừ, “chính tả là sự chuẩn hoá hình thức chữ viết của ngôn ngữ Đó là một hệ thống các quy tắc về cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu, lối viết hoa.” (Mai Ngọc Chừ, 1997)
Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối của nó Đặc điểm này đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Chữ viết có thể chưa hợp lí nhưng khi đã được thừa nhận là chuẩn chính tả thì người cầm bút không được tự ý viết khác đi Ai cũng biết rằng viết "ghế", "ghen" không hợp lí và tiết kiệm bằng "gế",
"gen" nhưng chỉ có cách viết thứ nhất mới được coi là đúng chính tả Vì vậy nói đến chuẩn chính tả là nói đến tính chất pháp lệnh Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lí – không hợp lí, hay – dở mà chỉ có sự phân biệt đúng – sai, không lỗi – lỗi Đối với chính
tả, yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất, thống nhất trong mọi văn bản, mọi người, mọi địa phương
Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối cho nên nó ít bị thay đổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (như chuẩn ngữ âm, chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ pháp) Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định, tính chất cố hữu khá rõ Sự tồn tại nhất nhất hàng thế kỉ của nó đã tạo nên ấn tượng về một cái gì "bất di bất dịch", một tâm
lí rất bảo thủ Chính vì thế mặc dù biết rằng cách viết "iên ngỉ" hợp lí hơn nhưng đối với chúng ta nó rất "gai mắt", khó chịu vì trái với cách viết từ bao đời nay Mặt khác, do tính chất "trường tồn" này mà chính tả thường lạc hậu so với sự phát triển của ngữ âm Sự mâu thuẫn giữa ngữ âm "hiện đại" và chính tả "cổ hủ" là một trong những nguyên nhân chính làm cho chính tả trở nên rắc rối
Ngữ âm phát triển, chính tả không thể giữ mãi tính chất cố hữu của mình mà dần dần cũng có một sự biến động nhất định Do đó, bên cạnh chuẩn mực chính tả hiện có lại có thể xuất hiện một cách viết mới tồn tại song song với nó, ví dụ: "phẩm zá", "anh zũng" bên cạnh "phẩm giá", "anh dũng", "trau dồi" bên cạnh "trau giồi", "dòng nước" bên cạnh
"giòng nước", v.v
2 Từ vựng
Từ vựng là kho từ, vốn từ của một ngôn ngữ gồm các từ và các đơn vị tương đương với
từ (Mai Ngọc Chừ, 1997) Từ vựng là một hệ thống hữu hạn, là một bộ phận quan trọng của hệ thống ngôn ngữ, phát triển liên tục cùng với sự phát triển của xã hội Mỗi từ trong
Trang 12hệ thống bao giờ cũng đối lập với các từ còn lại, đồng thời chỉ có giá trị khi được xét trong mối tương quan với các từ khác trong hệ thống
Từ là đơn vị ngôn ngữ độc lập, có sẵn, là chỉnh thể gồm hai mặt âm và nghĩa Tính độc lập và sẵn có của từ thể hiện ở chỗ từ được toàn xã hội chấp nhận và sử dụng chứ không phải lâm thời được tạo nên trong quá trình giao tiếp Nhà, xe, tập, viết, xe đạp, hoa hồng trong tiếng Việt, hay worker, beautiful, book, chair trong tiếng Anh là tên gọi các sự vật, tính chất tồn tại sẵn trong óc của từng người bản ngữ; khi cần sử dụng, chỉ việc lựa chọn và nhặt ra Chúng khác với những tổ hợp tự do như nhà rất đẹp ấy, cô ấy hiền very beautiful, the beautiful house Ðây là những đơn vị lâm thời được tạo nên trong lúc nói năng và sẽ bị tháo rời ngay sau khi giao tiếp kết thúc Còn nói chỉnh thể gồm hai mặt của
từ là muốn nhấn mạnh tính hoàn chỉnh của nó về cấu trúc hình thái và ý nghĩa cho dù nó
có cấu tạo nội bộ
Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu Hình vị cũng là đơn vị nhỏ nhất có âm, có nghĩa nhưng không được sử dụng độc lập để tạo câu, chúng chỉ là các đơn vị được dùng để cấu tạo nên
từ Các thành ngữ, quán ngữ như nước đổ lá khoai, chuột chạy cùng sào, mẹ tròn con vuông, nói nào ngay trong tiếng Việt, to get into a raw (bị khiển trách), as good as good (thật sự tốt) trong tiếng Anh cũng có tính độc lập, sẵn có, cũng có tính bắt buộc, tính hoàn chỉnh hai mặt (âm - nghĩa), cũng có thể tham gia trực tiếp tạo câu như từ nhưng lại
do các từ cấu tạo nên; vì vậy chúng được coi là các đơn vị tương đương với từ
Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, của ngôn ngữ Từ vựng là tập hợp toàn bộ các từ và các đơn vị tương đương: các thành ngữ, quán ngữ Thành ngữ, quán ngữ do các từ cấu tạo nên, do đó từ là đơn vị cơ bản của từ vựng Ðể tạo nên các câu nói, lời nói, người ta phải lựa chọn, kết hợp các đơn vị từ vựng, trong đó từ là đơn vị cơ bản nên từ cũng là đơn vị
cơ bản của ngôn ngữ
4 Cấu tạo của từ
Các nhà ngôn ngữ học đã sớm nhận thấy trong rất nhiều từ còn có thành tố tuy không độc lập nhưng vừa có âm vừa có nghĩa nhỏ hơn Trong tiếng Anh, mỗi từ blackboard, underground, boatman đều gồm hai yếu tố vừa có âm vừa có nghĩa từ vựng, mỗi từ blackness, colorless, assimilation đều gồm hai loại yếu tố, trong đó, một loại vừa có âm vừa có nghĩa từ vựng, một loại có âm và có nghĩa ngữ pháp - loại ý nghĩa thể hiện nhận thức của người nói với thực tế được đề cập trong thành tố kia Chúng là các đơn vị ngôn ngữ có nghĩa nhỏ nhất nhưng không độc lập, chúng chỉ là các thành tố cấu tạo từ và được gọi là các hình vị Hình vị gồm hai mặt âm - nghĩa từ vựng được gọi là hình vị thực, hình
Trang 13vị gồm hai mặt âm - nghĩa ngữ pháp được gọi là hình vị hư (Từ và từ vựng) Dưới dây là các dạng thức của từ xét về mặt cấu tạo hình thái
a Từ đơn Ðó là các từ chỉ có một thành tố cấu tạo; không ai có thể phân xuất nó thành các yếu tố vừa có âm vừa có nghĩa nhỏ hơn Từ đơn chính là từ chỉ bao gồm một hình vị Các từ một tiếng trong tiếng Việt; các từ book, sit, agree, small, two, he, very trong tiếng Anh; các từ cahier, crayon, beau, deux, nous, beaucoup trong tiếng Pháp đều là các từ một hình vị
b Từ phức Ðó là các từ có từ hai thành tố cấu tạo từ trở lên Những từ loại này bao gồm
ba dạng chủ yếu: từ phái sinh, từ ghép, từ láy
- Từ phái sinh: Ðó là các từ gồm hình vị căn tố kết hợp với một hoặc vài hình vị phụ tố Nhìn chung, dạng thức này không có trong tiếng Việt Thí dụ như trong tiếng Anh:
Boarder: người ăn cơm tháng, sinh viên nội trú, khách đi tàu
Boarding: việc lót ván, đóng bìa, việc ăn cơm tháng, việc lên tàu
Boatful: vật được chở trong thuyền, thuyền (đầy)
Disagreeables: những điều khó chịu Disappointedly: chán ngán, thất vọng
- Từ ghép nghĩa: Ðó là các từ có được do sự kết hợp của hai căn tố, có nguồn gốc là từ dơn Dạng thức từ này có nhiều trong các ngôn ngữ Thí dụ:
Trong tiếng Việt: gàn dở, xe cộ, tóc tai, ăn nói, sân bay, xe lửa, đầu gối
Trong tiếng Anh: first-day, first-foot, fishpot, fishplate, fishwife
- Từ láy âm: Ðây cũng là một dạng thức phái sinh của từ nhưng cơ sở của sự phái sinh này là sự láy lại bộ phận hoặc toàn bộ hình vị về mặt ngữ âm Thí dụ: lẳng lơ, vui vui, nhỏ nhoi, nhỏ nhẻ, bệu bạo
5 Trò chơi trong giảng dạy
Giảng dạy ngày nay đã thay đổi rất nhiều trong những năm qua Trước đây, người học thụ động và chỉ biết lắng nghe giảng viên dạy trong lớp học, nhưng ngày nay người học