1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về chiến lược ghi chép note taking nhằm cải thiện kỹ năng nghe của sinh viên năm 3 khoa tiếng anh trường đại học ngoại ngữ đại học huế

58 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về chiến lược ghi chép (Note Taking) nhằm cải thiện kỹ năng nghe của sinh viên năm 3 khoa tiếng anh trường đại học ngoại ngữ đại học huế
Tác giả Nguyễn Phan Thục Nhi
Người hướng dẫn Đặng Thị Cẩm Tú
Trường học Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
Chuyên ngành Ngôn ngữ và Văn hóa
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ cấp cơ sở
Năm xuất bản 2020
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 867,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì lẽ đó, nghiên cứu này được thực hiện với mục đích tìm hiểu những khó khăn trong quá trình học nghe của sinh viên năm ba khoa Tiếng Anh, trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Huế và

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

THỰC HIỆN NĂM 2019

NGHIÊN CỨU VỀ CHIẾN LƯỢC GHI CHÉP (NOTE-TAKING)

NHẰM CẢI THIỆN KỸ NĂNG NGHE CỦA SINH VIÊN NĂM 3 KHOA TIẾNG ANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HUẾ

Mã số: T2019-249-GD-NN Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Phan Thục Nhi

Đơn vị: Khoa tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Giảng viên hướng dẫn: Đặng Thị Cẩm Tú

Thời gian thực hiện: 1/2019 – 3/2020

HUẾ, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

THỰC HIỆN NĂM 2019

NGHIÊN CỨU VỀ CHIẾN LƯỢC GHI CHÉP (NOTE-TAKING)

NHẰM CẢI THIỆN KỸ NĂNG NGHE CỦA SINH VIÊN NĂM 3 KHOA TIẾNG ANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HUẾ

Mã số: T2019-249-GD-NN

Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài

Trang 3

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU VỀ CHIẾN LƯỢC GHI CHÉP (NOTE-TAKING)

NHẰM CẢI THIỆN KỸ NĂNG NGHE CỦA SINH VIÊN NĂM 3 KHOA TIẾNG ANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HUẾ

Mã số: T2019-249-GD-NN

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Phan Thục Nhi

Số điện thoại liên lạc: 0799072369

Email: thnhi274@gmail.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Cá nhân phối hợp thực hiện: Nguyễn Phước Bảo Châu

Thời gian thực hiện: 1/2019 – 3/2020

Trang 4

Tổng hợp các nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nhằm tạo cơ sở lý luận vững chắc và rút ra các điểm chưa được khai thác kỹ mà nghiên cứu này sẽ đề cập và giải quyết

Đưa ra số liệu và thông tin đã được xử lý kèm theo bình luận và nhận xét nhằm cung cấp thông tin thực trạng và kết luận, đề xuất liên quan trực tiếp đến mục tiêu của đề tài

3 Kết quả đạt được

Rút ra được các khó khăn và nguồn gốc của các khó khăn mà sinh viên năm 3, khoa Tiếng Anh, Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Huế thường gặp phải Từ đây, cung cấp tóm gọn các đề xuất và giải pháp nhằm khắc phục các khó khăn, góp phần giúp việc học của sinh viên nói riêng và việc giáo dục của nhà trường nói chung có những thay đổi phù hợp và diễn ra hiệu quả hơn

Trang 5

Host Institution: University of Foreign Languages, Hue University

Collaborator(s): Nguyen Phuoc Bao Chau

Duration: 1/2019 – 3/2020

Objectives

Finding out what difficulties students face and the causes of difficulties in listening skills

as well as applying note-taking strategies Suggestin a number of suitable options and solutions to help overcome the difficulties of students

Main Contents

General introduction, stating necessary concepts related to the topic to provide a scientific basis for research

Synthesis of published research in and out of the country related to the topic to create

a solid theoretical basis and draw the points that have not been thoroughly exploited that this research will mention and solve

Trang 6

Providing data and information that has been processed together with comments to provide status information and conclusions and suggestions directly related to the objectives of the topic

Trang 7

MỤC LỤC

Tóm tắt kết quả nghiên cứu i

Summary iii

Mục lục v

Danh mục bảng biểu vii

Danh mục chữ viết tắt viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài trong và ngoài nước 1

Tính cấp thiết của đề tài 2

Mục tiêu của đề tài 2

Câu hỏi nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1.1 Các khái niệm và định nghĩa 4

1.1.1 Định nghĩa Nghe chủ động/lắng nghe (Listen): 4

1.1.2 Sự khác nhau giữa Nghe thụ động (Hear) và Nghe chủ động (Listen): 5 1.1.3 Định nghĩa Nghe hiểu (Listening comprehension): 6

1.1.4 Kỹ năng Nghe (Listening skills) trong quá trình học tập ngoại ngữ: 7

1.1.5 Định nghĩa Chiến lược ghi chép (Note-taking): 7

1.1.6 Tầm quan trọng của Chiến lược ghi chép (Note-taking): 8

1.2 Cơ sở lý thuyết và các mô hình nghiên cứu thực nghiệm: 9

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới: 9

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước: 16

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

Trang 8

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Khách thể nghiên cứu 19

2.3 Mô tả học phần Nghe 5 19

2.3.1 Mục tiêu môn học 19

2.3.2 Tài liệu học tập 19

2.4 Phương pháp nghiên cứu 20

2.4.1 Bảng hỏi 20

2.4.2 Phỏng vấn 21

2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 21

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

3.1 Khó khăn của sinh viên năm 3 khoa Tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ Huế trong việc áp dụng chiến lược ghi chép (note-taking) vào kỹ năng Nghe 22

3.2 Lý do dẫn đến những khó khăn trong việc áp dụng chiến lược ghi chép (note-taking) vào kỹ năng Nghe của sinh viên năm 3 khoa Tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế là gì? 26

3.3 Sinh viên năm 3 khoa Tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế đưa ra những đề xuất gì nhằm cải thiện kỹ năng Nghe? 32

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT 34

4.1 Đề xuất cho sinh viên 34

4.2 Đề xuất cho giảng viên 35

4.3 Đề xuất cho nhà trường và khoa 35

KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

PHẦN PHỤ LỤC 43

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Biểu đồ 2 Khó khăn khi phải dịch bài nghe từ tiếng Anh sang tiếng Việt 23 Biểu đồ 3 Khó khăn khi gặp phải những cụm từ mới 23 Biểu đồ 4 Thời gian trung bình một bài nghe trên lớp 24

Biểu đồ 6 Lý do dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng chiến lược ghi chép ở

kỹ năng Nghe của sinh viên

26

Biểu đồ 7 Thiết bị nghe trong quá trình học học phần Nghe 5 27 Biểu đồ 8 Chất lượng âm thanh thiết bị giảng dạy 27

Biểu đồ 10 Mức độ cần thiết của chiến lược ghi chép 28

Biểu đồ 13 Số lần nghe/1 bài khi luyện tập ở nhà 30 Biểu đồ 14 Số lần nghe/1 bài khi luyện tập ở lớp 30

Biểu đồ 16 Thời gian phân bổ cho chiến lược ghi chép 32 Biểu đồ 17 Chiến lược ghi chép khó áp dụng thành thạo 32

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

EFL : Tiếng Anh là ngoại ngữ

ESL : Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai

IELTS : Hệ thống Kiểm tra Anh ngữ Quốc tế

L2 : Ngôn ngữ thứ hai

LMD : Hệ thống cử nhân – thạc sĩ – tiến s

NY : Thành phố New York

OUP : Nhà xuất bản Đại học Oxford

SIGCHI : Nhóm quan tâm đặc biệt về tương tác giữa con người và máy tính TESOL : Dạy tiếng Anh cho người sử dụng các ngôn ngữ khác (không phải

là tiếng Anh) TOEFL : Bài kiểm tra năng lực tiếng Anh Quốc tế

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài trong và ngoài nước

Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, việc học ngoại ngữ ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt

là tiếng Anh – ngôn ngữ toàn cầu và phổ biến nhất trên toàn thế giới Tiếng Anh đã trở thành một môn học bắt buộc tại Việt Nam, từ bậc mẫu giáo cho đến bậc đại học Chính vì thế mà chúng ta có thể thấy được rằng năng lực ngoại ngữ của học sinh và sinh viên ngày càng được nâng cao

Trong quá trình học tiếng Anh, người học hầu hết gặp phải nhiều khó khăn liên quan đến cả bốn kỹ năng Nghe, nói, đọc, viết Trong bốn kỹ năng, phấn lớn người học, đặc biệt

là sinh viên Việt Nam có nhiều trở ngại đối với kỹ năng Nghe nhất Có thể nói rằng kỹ năng Nghe đóng vai trò rất quan trọng trong việc giao tiếp và phát triển khả năng cảm thụ ngôn ngữ Tiến sĩ Mendelsohn (1998) từ Khoa ngôn ngữ, văn học và ngôn ngữ học, Đại học York chỉ ra rằng trong tổng số thời gian dùng cho việc giao tiếp, nghe chiếm từ 40 – 50%, nói từ 25-30%, đọc từ 11 – 16% và thời gian dùng để viết chỉ chiếm 9% Đối với người học ngoại ngữ, việc nghe tốt rất có lợi trong việc nâng cao kỹ năng phát âm và tự tin trong giao tiếp Ngoài ra, nghe tốt sẽ giúp cho vốn từ vựng, ngữ pháp và cấu trúc câu của người học ngoại ngữ được củng cố và trở nên phong phú hơn, từ đó cải thiện được các kỹ năng khác như nói, đọc và viết

Việc học cũng như giảng dạy các kỹ năng Nghe, nói, đọc, viết trong tiếng Anh vẫn còn chưa được phân bổ phù hợp và còn nhiều hạn chế Thực trạng giáo viên các cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông chỉ chú trọng đến việc giảng dạy kỹ năng đọc, viết mà thường bỏ qua hay ít quan tâm đến các kỹ năng Nghe, nói vẫn còn diễn ra khá nhiều Trong nghiên cứu của Dương Thị Anh (2013), một trong những lý do của việc này

là vì một vài trường học chỉ coi ngoại ngữ như một môn học để lấy kiến thức chứ không chú trọng việc rèn luyện kỹ năng, quá chú trọng đến giảng dạy ngữ pháp hơn là khả năng

sử dụng ngôn ngữ Việc dạy và học chủ yếu phục vụ vào công tác thi cử, trong đó có các

kỳ thi cuối cấp, thi vào đại học vẫn chỉ tập trung vào ngữ pháp Điều này dẫn đến việc học

Trang 12

sinh, sinh viên - kể cả những sinh viên học ngành Ngôn ngữ Anh - thường gặp khó khăn trong việc học và thực hành hai kỹ năng này, đặc biệt đối với kỹ năng Nghe, khi nhiều nghiên cứu cho biết rằng rất nhiều sinh viên gặp trở ngại khi tiếp cận với kỹ năng này

Tính cấp thiết của đề tài

Có nhiều nguyên nhân làm người học nhận thấy khó khăn khi học nghe, một trong những nguyên nhân cơ bản là kỹ năng Nghe thường không được chú trọng trong quá trình học tiếng Anh ở trường trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông Các sinh viên năm thứ ba khoa Tiếng Anh ở trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Huế cũng gặp nhiều khó khăn trong việc học nghe Qua khảo sát cũng như qua thống kê điểm tổng kết học phần, các bài kiểm tra kỹ năng Nghe tiếng Anh giữa kì và cuối kì thường thấp hơn điểm của các kỹ năng Nói, Đọc và Viết Chính vì lẽ đó, nghiên cứu này được thực hiện với mục đích tìm hiểu những khó khăn trong quá trình học nghe của sinh viên năm ba khoa Tiếng Anh, trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Huế và những giải pháp mà họ đã dùng để cải thiện kỹ năng Nghe Hơn thế nữa, nghiên cứu này được thực hiện sẽ rất hữu ích cho giáo viên, cũng như các bạn sinh viên trong việc tìm ra một phương pháp hiệu quả cho việc học nghe và tham khảo những phương pháp nghe hiệu quả mà các sinh viên khác đã áp dụng thành công

Việc sinh viên chuyên ngữ, cụ thể là sinh viên năm 3 ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế vẫn chưa chú trọng đến kỹ năng Nghe so với những kỹ năng thực hành tiếng khác khiến cho việc giao tiếp tiếng Anh vẫn còn rất nhiều hạn chế Qua kết quả khảo sát sinh viên năm 3 ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế, các bài kiểm tra môn nghe tiếng Anh thường thấp hơn điểm của các thực hành tiếng khác như nói, đọc và viết

Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích tìm hiểu những khó khăn trong quá trình học nghe của sinh viên năm 3 ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế

và việc áp dụng chiến lược ghi chép (note-taking) như một công cụ hỗ trợ trong việc học tập và thực hành kỹ năng Nghe

Trang 13

Câu hỏi nghiên cứu

Sinh viên năm 3 khoa Tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ Huế gặp phải những khó khăn nào trong việc áp dụng chiến lược ghi chép (note-taking) vào kỹ năng Nghe?

Lý do dẫn đến những khó khăn trong việc áp dụng chiến lược ghi chép (note-taking) vào kỹ năng Nghe của sinh viên năm 3 khoa Tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế là gì?

Sinh viên năm 3 khoa Tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế đưa ra những đề xuất gì nhằm cải thiện kỹ năng Nghe?

Trang 14

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm và định nghĩa

1.1.1 Định nghĩa Nghe chủ động/lắng nghe (Listen):

Trong thực tế, không có thống nhất nào về một định nghĩa giữa các học giả hay các nhà nghiên cứu nên việc định nghĩa lắng nghe không phải là một vấn đề dễ dàng Trong

đó, Scarcella và Oxford (1992) đã định nghĩa việc lắng nghe là: “Một quá trình tập trung, tiếp nhận và làm cho một kích thích âm thanh mang ý nghĩa”

Hơn nữa, Hirsch (1986) chỉ ra rằng việc phân tích các định nghĩa về lắng nghe cho

ra ít nhất mười khái niệm thành phần khác nhau, cụ thể là: nghe, giải thích, hiểu, gán nghĩa, hành động cho kích thích âm thanh, tiếp nhận một cách có chọn lọc, ghi nhớ, cố ý tham gia vào các kích thích âm thanh, phân tích thông tin được trình bày và sử dụng các kinh nghiệm trong quá khứ như một bộ lọc của thông tin mới Hơn nữa, Rost (2009), nói thêm rằng lắng nghe là một trong những từ chúng ta sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà không mấy khi suy nghĩ kỹ về ý nghĩa của nó Tuy nhiên, kỹ năng Nghe là một khả năng tinh thần tích cực và quan trọng Nó cũng là một trong những phương tiện thiết yếu giúp chúng ta hiểu thế giới xung quanh và là một trong những thành phần, điều kiện tiên quyết trong việc thiết lập giao tiếp thành công

Devito (2000) đã chỉ ra rằng lắng nghe trong tiếng Anh là viết tắt của:

L (Look): nhìn vào những người nói chuyện với bạn để thu hút họ thông qua giao

tiếp tốt bằng mắt

I (Inquire): là viết tắt của yêu cầu Thật tốt khi đặt các câu hỏi như “ai?”, “cái gì?”,

“tại sao?”, “khi nào?” và “cách nào?”

S (Summarize): tóm tắt những gì bạn đã hiểu từ những gì người khác đang nói và

sử dụng các phép diễn giải

T (Take notes): ghi chép

Trang 15

E (Encourage): khuyến khích người nói nói nhiều hơn

N (Naturalize): tự nhiên hóa cảm giác của bạn Giữ tính khách quan và tránh thiên

vị

Có nhiều kiểu nghe khác nhau, Bennett (2014) trong bài báo của mình chủ đề “5 kiểu nghe để trở thành một người nghe thành thạo” đã khẳng định với mỗi tình huống khác nhau, ta lại có một kiểu nghe khác nhau 5 kiểu nghe đó là:

• Nghe phân biệt (Discriminative listening)

• Nghe hiểu (Comprehensive listening)

• Lắng nghe và thấu hiểu người nói (Relationship listening)

• Nghe để đánh giá (Critical listening)

• Nghe để thưởng thức (Appreciative listening)

1.1.2 Sự khác nhau giữa Nghe thụ động (Hear) và Nghe chủ động (Listen):

Hellesving (2015) đã tuyên bố rằng nghe thụ động và nghe chủ động hay còn gọi là lắng nghe có ý nghĩa tương đối khác nhau Nghe thụ động là việc nghe mà không cần nỗ lực nhận thức; một người có thể nghe tiếng ai đó nói mà không nghe hiểu họ đã nói gì Nghe thụ động chỉ được xác định qua phép đo vật lý của sóng âm thanh được truyền đến tai và vào não nơi chúng được xử lý thành thông tin âm thanh Hơn nữa, việc nghe thụ động xảy ra ngay cả khi con người không có nhận thức hay đồng ý cho nó xảy ra, ví dụ khi một người đang ngủ Mặt khác, nghe chủ động hay lắng nghe là một lựa chọn có ý thức đòi hỏi sự chú ý và tập trung của con người Nó vượt xa quá trình nghe thụ động của người nghe, có nghĩa là người nghe chú ý đến những từ đang được nói, có thể ảnh hưởng đến chất lượng kỹ năng Nghe của bạn Tất cả điều đó dẫn đến một ý tưởng, rằng hầu hết mọi người

có xu hướng cảm thấy khó để lắng nghe hơn là khó để nghe thụ động

Trong nghiên cứu này, kỹ năng Nghe chủ động (listen) sẽ được tập trung phân tích

và là một trong hai đối tượng nghiên cứu bên cạnh chiến lược ghi chép (note-taking)

Trang 16

1.1.3 Định nghĩa Nghe hiểu (Listening comprehension):

Thuật ngữ “hiểu” được định nghĩa bởi Rost (2002) như là “quá trình làm cho ngôn ngữ liên kết đến các khái niệm trong bộ nhớ của một người và các mối tương quan trong thế giới thực.” (p 53) Ngoài ra, người ta chỉ ra rằng sự hiểu biết thường được coi là mục tiêu hàng đầu của kỹ năng Nghe, ưu tiên cao nhất của người nghe và đôi khi là mục đích của việc lắng nghe Cùng quan điểm với các ý kiến của Rost, Lynch (1996) chia sẻ, đối với người học ngôn ngữ, việc hiểu rõ và đầy đủ đóng một vai trò nhất định trong quá trình tiếp thu thông tin; cụ thể hơn, hiểu được coi là một lộ trình tiềm năng và quan trọng để tiến bộ trong ngoại ngữ Vì vậy, để có được một bài nghe thành công không đồng nghĩa với việc người nghe phải hiểu từng từ một, mà họ phải xây dựng đủ ý nghĩa, hệ thống kiến thức để thỏa mãn mục đích của họ - lắng nghe

Trên thực tế, theo Nunan (1989), khi người học nghe chủ động từ một nguồn âm thanh, họ ghi nhớ ý nghĩa của thông tin, dữ liệu nghe được, chứ không phải là các hình thức đã được mã hóa, tức là chỉ nghe mà không có bất kỳ sự chọn lọc hay phản hồi nào

Từ đây, có một ví dụ được chỉ ra bởi Anderson và Lynch (1988) rằng người nghe nhạc không phải là một máy thu âm hoặc một con vẹt được đào tạo, mà họ có xu hướng chọn lọc về những gì họ thấy thú vị hoặc quan trọng hoặc toàn diện nhất trong bất kỳ thông tin

cụ thể nào

Mục tiêu chính của nghe hiểu tất nhiên là để hiểu thông điệp mà nguồn thông tin cung cấp Trên thực tế, nhiều người có xu hướng diễn giải cùng một thông tin nghe được theo những cách khác nhau, tùy thuộc vào vốn hiểu biết cá nhân và xã hội của họ

Nghe hiểu đòi hỏi tập trung vào thông điệp và nguồn của thông điệp, và nó liên quan đến ba yếu tố này (Bennett, 2014):

• Từ vựng: số lượng từ vựng (Lexis), xác định khả năng hiểu thông điệp

• Tập trung: sự tò mò, thích thú và năng lượng cần để tập trung

• Trí nhớ: Vì ta không thể xử lý thông tin mà không sử dụng trí nhớ của mình vì vậy trí nhớ rất quan trọng trong việc nghe hiểu

Trang 17

1.1.4 Kỹ năng Nghe (Listening skills) trong quá trình học tập ngoại ngữ:

Theo Renukadevi (2014), nghe có một vị trí quan trọng trong học tập vì nó là một trong bốn kỹ năng chính trong việc tiếp thu ngôn ngữ Mặc dù các kỹ năng khác như đọc, nói và viết là rất cần thiết để phát triển sự thành thạo ngôn ngữ, nhưng việc lắng nghe đóng góp chủ yếu cho ngôn ngữ chuyên môn Lắng nghe đánh thức nhận thức về ngôn ngữ vì

nó là một kỹ năng tiếp nhận đầu tiên phát triển trong một con người Học cách lắng nghe ngôn ngữ mục tiêu giúp cải thiện khả năng ngôn ngữ một cách đáng kể Âm thanh, nhịp điệu, ngữ điệu và trọng âm của ngôn ngữ chỉ có thể được điều chỉnh hoàn hảo thông qua việc nghe Để hiểu các sắc thái trong một ngôn ngữ cụ thể, người ta phải có khả năng lắng nghe Khi chúng ta hiểu ngôn ngữ nói bằng cách lắng nghe, việc cải thiện các kỹ năng khác

và sự tự tin sẽ trở nên dễ dàng hơn

Khác với việc là hình thức giao tiếp chính, lắng nghe giúp người học ngôn ngữ hiểu được vẻ đẹp của ngôn ngữ Đặc biệt về mặt giảng dạy ngôn ngữ giao tiếp, người ta nói rằng nền tảng của năng lực giao tiếp là lắng nghe vì nó cung cấp đầu vào âm thanh và cho phép người học tương tác trong giao tiếp nói và do đó việc học ngôn ngữ chủ yếu phụ thuộc vào việc nghe Do đó, việc lắng nghe tạo cơ sở cụ thể cho việc thành thạo ngôn ngữ hoàn chỉnh

1.1.5 Định nghĩa Chiến lược ghi chép (Note-taking):

Ghi chép là một quá trình diễn ra cùng lúc với quá trình nghe Theo những gì đã và đang nghe, người ghi chép cần phải ghi lại các thông tin mấu chốt theo cách riêng của họ nhằm hỗ trợ cho não bộ không phải ghi nhớ quá nhiều thông tin cùng một lúc Boran và Yi (2012) tin rằng ghi chép có hiệu quả bao gồm bốn kỹ năng, đó là lắng nghe, xử lý thông tin, ghi lại nội dung thông tin dưới dạng văn bản và rà soát lại thông tin đã được ghi Nguồn

dữ liệu, thông tin rất đa dạng, có thể là một cuộc đối thoại trực tiếp, một chương trình truyền hình hay ngay cả một đoạn bài hát mà trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ nghiên cứu về chiến lược ghi chép trong quá trình nghe hiểu các đoạn hội thoại đã được thu âm lại được phát ra thông qua thiết bị âm thanh nhất định

Theo Richard (2019), ghi chép là thực hành ghi lại hoặc thu lại các ý chính của nguồn thông tin Ghi chép là một phần quan trọng trong quá trình nghiên cứu Trong quá

Trang 18

trình học tập, chiến lược ghi chép đóng vai trò như là công cụ hỗ trợ học tập, được người học sử dụng trong các bài giảng hoặc thảo luận trên lớp, trong khi đó, các ghi chép được thực hiện trong một cuộc phỏng vấn có thể cung cấp tài liệu cho một bài tiểu luận, bài viết hoặc sách Ngoài ra, Pauk và Ross (1974) khẳng định ghi chép không chỉ đơn giản là viết nguệch ngoạc hoặc đánh dấu những thứ đúng với sở thích của người nghe

Tóm lại, chiến lược ghi chép là việc viết tắt và ghi lại những gì đã nghe được, đọc được, tiếp nhận được Những bản ghi chép ấy không chỉ dừng lại ở việc ghi chép đủ các ý

mà các ý đó phải được ghi chép có chọn lọc, súc tích, ngắn gọn, và được trình bày một cách rõ ràng, có hệ thống Bản ghi chép phản ánh sự tập trung cũng như sự thông hiểu thông tin được tiếp nhận, sự cẩn thận của người ghi chép Như vậy, có thể nói chiến lược ghi chép là một trong những kỹ năng quan trọng mà sinh viên, đặc biệt là sinh viên chuyên ngành tiếng Anh cần được học và hướng dẫn cẩn thận

Theo Nguyễn Thị Thu Huyền (2017), có rất nhiều chiến lược ghi chép được sử dụng giúp cho việc lưu lại thông tin đạt hiệu quả, có thể kể đến một số chiến lược như:

• Phương pháp Cornell (Cornell method)

• Phương pháp sơ đồ (Mapping method)

• Phương pháp biểu đồ (Charting method)

• Phương pháp dàn ý (Outlining method)

1.1.6 Tầm quan trọng của Chiến lược ghi chép (Note-taking):

Bởi trong thực tế, ta sẽ không bao giờ có thể nghe lại một bài nói chuyện hoặc một bài thuyết trình nên ghi chép cho phép ta lưu giữ và ghi lại dữ liệu, từ đó có thể sử dụng sau này Một vấn đề nữa mà sinh viên gặp phải trong quá trình nghe hiểu là họ sẽ dễ quên những gì họ nghe được Nhiều người học ngôn ngữ đã đề cập rằng khi nghe, họ có thể theo dõi người nói mà không hiểu những gì họ nghe được; do đó, họ không thể ghi chép và trả lời các câu hỏi nhưng khi đã đọc và hiểu các đoạn văn được ghi chép lại, họ có thể trả lời mọi câu hỏi (Lin, 2006) Việc luyện tập thành thạo chiến lược này sẽ giúp ích đáng kể trong quá trình học tập không chỉ riêng các học phần Nghe mà còn tất cả các học phần ngôn ngữ khác

Trang 19

Có thể kể đến các tác dụng tích cực của chiến lược ghi chép đối với người dùng như sau:

• Chiến lược ghi chép giúp tăng cường khả năng tập trung của người học, đặc biệt trong lúc lắng nghe để tiếp nhận thông tin, người học cần có sự tập trung cao độ

để vừa nghe, vừa xử lý thông tin nghe được thành ngôn ngữ riêng của bản thân

để hiểu và ghi chép được nhanh hơn, điều này đặc biệt quan trọng đối với việc nghe một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ, cụ thể ở đây là Tiếng Anh

• Chiến lược ghi chép còn hình thành cho người học một thói quen ghi nhanh và

có hệ thống Khi luyện tập chiến lược này thường xuyên, khả năng ghi chép của người học sẽ dần được cải thiện từ tốc độ đến chất lượng của bản ghi chép Bởi qua quá trình luyện tập, một hệ thống quy tắc ghi chép riêng sẽ được mỗi người học hình thành nhằm đảm bảo mình không bỏ lỡ bất cứ thông tin quan trọng nào suốt quá trình nghe

• Ngoài việc lưu trữ thông tin, ghi chép cũng giúp người học ghi nhớ thông tin một cách tự nhiên, bởi ghi một lần là học một lần Đến khi cần ôn tập hoặc kiểm tra lại, người học sẽ dễ dàng nhớ những gì mình đã nghe hơn

• Như đã nói ở trên, chiến lược ghi chép còn giúp người học phát triển toàn bộ đồng đều các kỹ năng ngôn ngữ, không chỉ riêng kỹ năng Nghe mà còn 3 kỹ năng còn lại là nói, đọc và viết

1.2 Cơ sở lý thuyết và các mô hình nghiên cứu thực nghiệm:

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:

Từ trước đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới liên quan đến chiến lược ghi chép và ảnh hưởng của chiến lược ghi chép đối với kỹ năng Nghe của sinh viên ngoại ngữ, cụ thể là sinh viên khoa Tiếng Anh ở các trường Đại học Asl và Kheirzadeh (2016) trong một nghiên cứu về tác dụng của chiến lược ghi chép và khả năng làm việc của não

bộ lên kết quả của việc nghe hiểu của sinh viên ngoại ngữ ở I-ran cho rằng ghi chép như là một chiến lược hữu ích để giúp học sinh chú ý và duy trì bài giảng học thuật Họ còn khẳng định chiến lược ghi chép đã được xác định là có ý nghĩa trong các tổ chức giáo dục, đặc

Trang 20

biệt là trong các trường cao đẳng và đại học Hơn nữa, một nghiên cứu về tác dụng của chiến lược ghi chép đối với việc nghe bài giảng của Kim (2004) đã trích dẫn lời của Ferris

và Tagg (1996) rằng việc nghe hiểu và ghi nhớ nội dung bài giảng sẽ trở nên rắc rối và khó khăn khi sinh viên nghe một bài giảng mà không cần ghi chép Tương tự, Ching Ko (2007) trong nghiên cứu của mình với 15 sinh viên học tiếng Anh như ngoại ngữ đã phát hiện ra rằng việc ghi chép không làm học sinh mất tập trung trong quá trình lắng nghe; mà đúng hơn, nó đã giúp họ chú ý hơn đến đoạn văn cần nghe Ông kết luận rằng với sự trợ giúp của ghi chép, sinh viên có thể cải thiện hiệu suất nghe của mình thông qua cả việc tăng cường ghi nhớ, ôn tập và chú ý hơn đến đoạn văn cần nghe Do đó, điều quan trọng đối với sinh viên là học cách sử dụng chiến lược ghi chép trong trường học và ngay cả trong công việc hay cuộc sống để nắm bắt và xử lý thông tin một cách hiệu quả hơn

1.2.1.1 Hình thức thực hiện kiểm tra kỹ năng Nghe và hiệu quả của chiến lược ghi chép:

Theo Carrell, Dunkel và Mollaun (2004), câu trả lời của sinh viên cho câu hỏi về việc sử dụng chiến lược ghi chép cho thấy rằng nó có tác động tích cực đến sinh viên Hơn nữa, ghi chép giúp sinh viên hiểu bài giảng được trình bày trên lớp Trong hầu hết các hoạt động nghe học thuật, sinh viên được phép ghi chép khi nghe một bài giảng và trả lời các câu hỏi cùng một lúc (ví dụ: học tiếng Anh như ngoại ngữ, bài kiểm tra IELTS) hoặc sử dụng ghi chép như một thước đo khả năng nghe (ví dụ: Bài kiểm tra tiếng Anh nghề nghiệp – Occupational English Test); do đó, việc điều tra mối quan hệ giữa việc ghi chép của người học tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai và kiểm tra kết quả của họ là cần thiết (ví dụ: các nghiên cứu của Carrell, 2007; Carrell, Dunkel, & Mollaun, 2004; Hale & Courtney, 1994) Tóm lại, các nghiên cứu kể trên chỉ tập trung vào nhận mạnh tầm quan trọng của việc ghi chép đối với việc nghe bài giảng với chỉ một lần nghe duy nhất, ngoài ra, việc ghi chép thông qua nghe các đoạn ghi âm hoặc tương tự như vậy lại có ít tác động hơn

Cụ thể là, Piolat, Olive và Kellogg (2005) đã kiểm tra sự tương tác giữa ghi chép và

bộ nhớ làm việc Trong nghiên cứu của họ, những người tham gia ghi chép nhanh hơn bằng tiếng Pháp (ngôn ngữ mẹ đẻ) so với ngôn ngữ thứ hai (Tiếng Anh) khi nghe văn bản tiếng Anh Nó chỉ ra rằng việc nghe các văn bản ngôn ngữ thứ hai và ghi chép cần nhiều nỗ lực

Trang 21

nhận thức hơn là ghi chép từ các văn bản ngôn ngữ thứ nhất, do tải trọng nhận thức tăng thêm trong ngôn ngữ thứ hai Thêm vào đó, một nghiên cứu của Liu Boran và Hu Yi (2012)

từ trường Đại học Ngoại Ngữ Bắc Kinh đã có một phát hiện nổi bật là mức độ thành thạo ngôn ngữ là một yếu tố riêng biệt ảnh hưởng đến việc ghi chép đối với khả năng nghe hiểu

Vì đối với những người học tiếng Anh là ngoại ngữ ở trình độ tiền trung cấp intermediate) hoặc thấp hơn, có một khoảng cách giữa những gì họ muốn đạt được và những gì họ thực sự có thể đạt được, vì vậy hiệu quả của việc ghi chép không được phát

(Pre-huy đầy đủ

1.2.1.2 Chất lượng bản ghi chép:

Theo Song (2012), các tài liệu được xem xét đến nay cho thấy việc ghi chép theo định dạng dàn ý (Outlining) có thể có tác động thuận lợi đến chất lượng bản ghi chép của sinh viên và sự thể hiện của họ đối với các bài tập nghe hiểu nhất định Cụ thể hơn, trong một nghiên cứu về nội dung ghi chép của người làm bài kiểm tra học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, Cushing (1991) đã báo cáo rằng những người học có trình độ cao đã sử dụng tốt hơn các ghi chép theo dàn ý đã được soạn trước đó so với những người học có trình độ thấp và 40% học sinh có trình độ thấp đã viết sai hoặc thông tin không đầy đủ làm cho bản ghi chép có nhiều lỗ hổng Điều này cho thấy rằng hiệu quả của định dạng bản ghi chép có thể có mối liên hệ với năng lực ngôn ngữ mục tiêu của người học mà cụ thể ở đây là tiếng Anh Kết quả nghiên cứu của Song (2012) cho thấy, các ghi chép hiệu quả được đặc trưng bởi sự tổ chức rõ ràng, nghĩa là phân định thứ bậc hay mức độ quan trọng giữa các ý tưởng chính và phụ (William & Eggert, 2002) Cushing (1991) báo cáo rằng các sinh viên học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai có trình độ thấp không phân biệt được thông tin liên quan

và không liên quan, điều này cho thấy những người học như vậy sẽ gặp khó khăn trong việc tổ chức bản ghi chép của họ Ngoài ra, Tsai (2004) phát hiện ra rằng việc tổ chức các ghi chép là một trong những yếu tố đánh giá quan trọng bậc nhất và cũng là yếu tố giúp dự đoán trước năng lực của người nghe

Cushing (1991) cung cấp các đề xuất cho các phân tích định tính trong tương lai của các ghi chép Bà đề nghị rằng các nghiên cứu trong tương lai về nội dung của các ghi chép

Trang 22

nên bao gồm phân tích các yếu tố: (a) nội dung (ý chính, chi tiết quan trọng, đề cập đến mối liên hệ giữa các ý tưởng và có hay không có các thông tin không quan trọng hay các

từ không liên quan từ bài giảng) ; (b) tổ chức (các chiến lược hoặc tổ chức cấp vĩ mô cho thấy việc triển khai các ý tưởng trong toàn văn bản, cũng như các chiến lược hoặc tổ chức cấp vi mô đề xuất mối quan hệ giữa các ý tưởng và chi tiết chính; và (c) hiệu quả ghi nhận (các quy tắc viết tắt, ký hiệu, diễn giải được hiểu so với nguyên văn, cụm từ then chốt so với câu hoàn chỉnh); và (d) cấu trúc của văn bản) Một nghiên cứu về chức năng mã hóa bằng cách sử dụng các quy tắc về ký hiệu và viết tắt của riêng mỗi người và chức năng lưu trữ ngoài việc ghi chép lại đoạn văn được Liu (2001) thực hiện, cụ thể ở đây là ba nhóm sinh viên học tiếng Anh như ngoại ngữ ở Trung Quốc, tóm tắt nghiên cứu gồm có: Nhóm đầu tiên không được phép ghi chép; nhóm thứ hai được phép ghi chép nhưng không được phép xem lại các ghi chép (chỉ chức năng mã hóa ghi chép); nhóm thứ ba được phép ghi chép và xem lại các ghi chép sau đó (chức năng mã hóa ghi chép và lưu trữ ngoài) Tất cả

ba nhóm được đánh giá về hiệu suất ngay sau khi nghe và ghi chép cũng như sau khi nghe

và ghi chép một khoảng thời gian nhất định trong các bài kiểm tra trắc nghiệm nghe hiểu thông tin bao quát (general information) và nghe hiểu thông tinh chính (specific information) Kết quả cho thấy hiệu quả đáng kể cho việc xem xét các ghi chép đối với việc nhận biết thông tin chính ở cả hai thử nghiệm, nhưng không có tác dụng đáng kể trong việc nhận biết thông tin bao quát ở cả hai thử nghiệm Một nghiên cứu tiếp theo được báo cáo trong cùng nghiên cứu trên của Liu (2001) đã điều tra mối quan hệ giữa ba đặc điểm định tính các ghi chép của sinh viên Trung Quốc bao gồm: số lượng từ mang nội dung bài nghe (content words), số từ được đánh vần đầy đủ (fully-spelt words) và số ký hiệu (notations) đối với hiệu suất kiểm tra Liu tìm thấy mối tương quan tích cực đáng kể giữa

số lượng từ mang nội dung bài nghe và thông tin chính về đoạn văn (trái ngược với thông tin chung), cũng như mối tương quan tiêu cực đáng kể giữa số lượng từ được đánh vần đầy

đủ và thông tin chính của đoạn văn (trái ngược với thông tin chung) Ông kết luận rằng người học nên được khuyến khích để ghi chép lại nhiều từ mang nội dung hơn khi được yêu cầu nhớ lại thông tin chính, và đó có thể là một nguyên nhân khiến việc đánh vần và viết từng từ một cách chính xác không còn được chú trọng

Trang 23

Theo Carrell (2007), những người ghi chép nghe ngôn ngữ thứ hai có xu hướng ghi lại nguyên văn các từ mang nội dung mà không viết tắt hoặc kí hiệu và hầu như không diễn giải lại theo cách hiểu của mình Nếu họ cố gắng tổ chức các ghi chép của mình theo cách riêng, thay vì sử dụng sơ đồ, thụt lề hoặc các chỉ số trực quan khác của việc tổ chức bản ghi chép thì họ có xu hướng chỉ sử dụng các mũi tên để liên kết các nội dung Họ ít khi liệt

kê, nhưng cố gắng làm nổi bật thông tin được nhấn mạnh bằng cách gạch chân các từ cụ thể hoặc sử dụng các vòng tròn hoặc khung hình vuông xung quanh các từ cụ thể đó Bằng cách so sánh các cách ghi chép khác nhau và các hiệu suất kiểm tra, Carrell đã xác định một số chiến lược ghi chép quan trọng Ông tin rằng việc sử dụng các từ mang nội dung từ đoạn văn, cho dù viết đầy đủ chính tả hoặc viết tắt hoặc ký hiệu, cũng đều là một chiến lược ghi chép Ông cũng lập luận rằng mối quan hệ đáng kể giữa số lượng câu trả lời kiểm tra được tìm thấy trong các ghi chép và hiệu suất trong các nhiệm vụ đánh giá khác nhau cho thấy rằng những người có thể viết ra nhiều thông tin liên quan đến nhiệm vụ cũng là những người đạt điểm cao hơn trong các nhiệm vụ hay bài tập

1.2.1.3 Chất lượng bài nghe:

a Độ dài:

Nghiên cứu của Carrell và cộng sự (2002) về tầm ảnh hưởng của chiến lược ghi chép, độ dài và chủ đề bài giảng đối với kỹ năng Nghe của dự án TOEFL 2000 có đề cập rằng độ dài của văn bản đóng vai trò là dữ liệu đầu vào cho người nghe (người tham gia kiểm tra) Nó ảnh hưởng đến hình thức, nội dung và xây dựng tính hợp lệ của TOEFL trong mắt của cả người kiểm tra lẫn người tham gia kiểm tra Bằng trực giác, người ta sẽ mong đợi rằng việc ghi chép sẽ có lợi hơn khi nghe đoạn văn dài so với đoạn văn ngắn, vì thông tin có thể được lưu giữ trong các ghi chép Tuy nhiên, Carrell và cộng sự (2002) nhận thấy rằng điều này không hoàn toàn đúng; đối với cả những người có trình độ cao và thấp (trình

độ trên và dưới mức phân chia trung bình theo chuẩn của tổ chức TOEFL) Ghi chép không

có ảnh hưởng gì đáng kể đến hiệu suất trên các đoạn nghe dài (~ 5 phút), ngược lại, việc ghi chép lại có tác động tích cực đối với các đoạn nghe ngắn hơn (~ 2,5 phút) Điều quan

Trang 24

trọng cần lưu ý là mặc dù kết quả này có ý nghĩa về mặt số liệu thống kê nhưng mức độ ảnh hưởng của kết quả này là khá yếu

Zhou và Guo (2007) trong nghiên cứu của họ đã thảo luận về mối quan hệ giữa ghi chép và độ dài đoạn văn và từ đó rút ra kết luận về vai trò tích cực của việc ghi chép trong việc nghe hiểu các đoạn văn: đoạn văn càng dài thì vai trò của việc ghi chép càng lớn Ngoài ra, hai tác giả cũng tuyên bố rằng việc ghi chép là hữu ích hơn trong việc trả lời các câu hỏi yêu cầu thông tin chung so với các câu hỏi yêu cầu thông tin chính, một kết luận đối lập với Liu (2001) Cùng quan điểm với Liu, Carrell, Dunkel và Mollaun (2004) cũng kết luận rằng người học thể hiện tốt nhất khi được phép ghi chép trong lúc nghe các đoạn ngắn và kém hơn khi không được phép ghi chép trên các đoạn ngắn, còn đối với việc nghe các đoạn văn dài, bất kể việc ghi chép có được phép hay không thì kết quả của người học cũng không cao

b Tốc độ:

Trong nghiên cứu luận án của mình về tác dụng của việc ghi chép và tốc độ nói trong đoạn văn ghi âm đối với khả năng hiểu người học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, Lin (2006) đã xem xét tác động của việc ghi chép đối với việc hiểu các đoạn nghe ngôn ngữ thứ hai được trình bày ở tốc độ nói nhanh (180 wpm) và chậm hơn (120 wpm) Những người tham gia nghe các đoạn văn tiếng Anh được cung cấp với tốc độ nói nhanh hoặc chậm trong điều kiện cho phép ghi chép và không được ghi chép Mặc dù việc ghi chép không ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất tổng thể đối với các câu hỏi dạng trắc nghiệm, nhưng các phân tích hồi quy riêng cho từng tốc độ nói đã nhận thấy rằng ghi chép là một yếu tố dự báo có ý nghĩa thống kê đối với các đoạn nghe có tốc độ nhanh và ngược lại đối với các đoạn nghe có tốc đọ chậm hơn Kết quả này hơi khó diễn giải, vì một số sinh viên trong điều kiện cho phép ghi chép đã ghi chép ít hơn hoặc thậm chí không có ghi chép nào cho các đoạn nghe có tốc độ nói nhanh hơn

1.2.1.4 Yếu tố ngoại ngữ trong bài nghe:

a Từ vựng

Trang 25

Phần lớn người học phải đối mặt với một vấn đề thực sự liên quan đến những từ không quen thuộc, bao gồm cả biệt ngữ và thành ngữ Ngoài ra, một vấn đề khác khiến người học bối rối là khi các từ có nhiều hơn một nghĩa và cách sử dụng khác nhau Teng (2016) trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiến thức về từ vựng và kỹ năng Nghe hiểu học thuật đã kết luận rằng bề rộng và độ sâu của kiến thức về từ vựng có mối tương quan tích cực và đáng kể với khả năng nghe hiểu học thuật Hai khía cạnh của kiến thức về

từ vựng này cùng nhau chiếm 78% tổng phương sai cho thành công của việc nghe hiểu Đây là bằng chứng cho thấy cả bề rộng và độ sâu của kiến thức từ vựng là những yếu tố quan trọng để nghe hiểu học thuật thành công Vì vậy, giả định được đặt ra từ đầu nghiên cứu rằng sự kết hợp tương quan giữa bề rộng và độ sâu của kiến thức về từ vựng sẽ cải thiện đáng kể khả năng nghe hiểu Hơn nữa, Teng (2016) còn có một kết luận về vốn từ vựng rằng việc có vốn từ vựng giàu có sẽ cung cấp cho người học một nguồn phạm vi từ vựng lớn trong các đoạn bản đề bài và nguồn phạm vi từ vựng lớn đó sẽ có ích rất nhiều cho việc nghe hiểu thành công Do đó, có vẻ hợp lý khi cho rằng một người học cần một vốn hiểu biết từ vựng nhất định để xử lý các đoạn nói một cách hiệu quả; cũng có vẻ hợp

lý khi giả định rằng một phạm vi từ vựng nhất định của các đoạn văn đề bài có thể tạo điều kiện cho người học có thể tư duy theo ngữ cảnh đoạn văn và suy ra nghĩa của các từ chưa biết

b Năng lực người nghe:

Bởi vì kỹ năng viết chỉ hoạt động ở một phần rất nhỏ của tốc độ đoạn nghe (tốc độ viết là 0,2 đến 0,3 từ/giây và nói là 2 đến 3 từ/giây), vì vậy ghi chú cho thấy đã tạo áp lực thời gian đáng kể (Piolat, Olive, & Kellogg, 2005) Trong một nghiên cứu, những người tham gia đã ghi chú nhanh hơn (tính theo thời gian phản ứng) bằng ngôn ngữ thứ nhất – ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng Pháp) so với ngôn ngữ thứ hai (tiếng Anh) khi nghe đoạn văn tiếng Anh (Barbier & Piolat, 2005; được mô tả trong Piolat, 2005) Điều này cho thấy rằng việc ghi chú trong khi nghe một đoạn được trình bày bằng ngôn ngữ thứ hai đòi hỏi nhiều nỗ lực nhận thức hơn là ghi chú một đoạn ngôn ngữ thứ nhất do nhu cầu nhận thức bổ sung khi làm việc bằng ngôn ngữ thứ hai Tuy nhiên, mặc dù Dunkel (1989) đã báo cáo về ảnh

Trang 26

hưởng đáng kể đến dung lượng bộ nhớ não bộ đối với việc ôn tập hay nhắc lại thông tin,

họ không tìm thấy sự mỗi liên kết tương tác đáng kể nào giữa dung lượng bộ nhớ não bộ

và ghi chú Trong một nghiên cứu về ghi chú với người học tiếng Anh là ngoại ngữ (EFL) tại Đài Loan, Lin (2006) cũng nhận thấy dung lượng bộ nhớ não bộ là một yếu tố dự báo quan trọng về khả năng nghe hiểu tổng thể, trong khi việc ghi chú thì không Tuy nhiên, đối với các đoạn chỉ được nghe một lần, có thể có một số lợi ích cần lưu ý, vì việc ghi chú cho phép người nghe nắm bắt được các mẩu thông tin nhỏ trong đoạn văn (Chaudron, Loschky và Cook, 1994; Lin, 2006), và người nghe ngôn ngữ thứ hai có thể giảm tải thông tin từ đoạn văn vào ghi chép của họ thay vì phải ghi nhớ tất cả thông tin từ một bài thuyết trình

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:

Ngoài các nghiên cứu ngoài nước, ở Việt Nam cũng có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến chiến lược ghi chép và ảnh hưởng của chiến lược ghi chép đối với kỹ năng Nghe của sinh viên ngoại ngữ Có thể nói rằng kỹ năng Nghe là một trong những kỹ năng quan trọng

và cần thiết đối với việc học ngoại ngữ, theo tác giả Nguyễn Thanh Tâm (2013), kỹ năng này có tác động rất tích cực đến các kỹ năng khác như Nói, Đọc, Viết, giúp người học luyện phát âm và mở mang vốn từ vựng

Tuy nhiên ở Việt Nam, kỹ năng này gần như bị bỏ qua ở các cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, dẫn đến việc sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ, cụ thể là ngôn ngữ Anh, cảm thấy khó khăn trong việc tiếp cận kỹ năng này vì không có một phương pháp học đúng đắn và dành quá ít thời gian cho việc học kỹ năng này

Vì vấn đề đó mà hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu được triển khai nhằm nâng cao tầm quan trọng của kỹ năng Nghe, khảo sát những khó khăn mà sinh viên gặp phải khi học

kỹ năng Nghe và đưa ra những phương pháp hữu ích để có thể áp dụng vào kỹ năng này Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thanh Tâm (2013), Nguyễn Ngọc Quyền

và Thái Công Dân (2018), có thể tóm gọn lại những khó khăn trong việc học kỹ năng Nghe

mà người học ngoại ngữ, cụ thể là sinh viên chuyên ngành tiếng Anh thường gặp phải đó là: (1) Không nhận ra các âm tiếng Anh, (2) Hạn chế về vốn từ vựng, (3) Thiếu tập trung

Trang 27

khi nghe, (4) Khó có thể nắm bắt ý chính của bài nghe, (5) Cần nghe nhiều lần và (6) Không theo kịp tốc độ của người nói Ngoài ra còn có các yếu tố phát sinh từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến khả năng nghe như tiếng ồn xung quanh khiến người nghe bị phân tâm và chất lượng kém của băng, đĩa, các thiết bị phát khiến người nghe không thể nghe rõ âm thanh được phát ra

Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chiến lược ghi chép là một công

cụ hữu ích để hỗ trợ sinh viên trong việc học kỹ năng Nghe Tác giả Nguyễn Thanh Tâm (2013) đã nhắc đến phương pháp ghi chép như một công cụ để có thể ghi nhớ hết những thông tin quan trọng trong bài, và cần phải bố trí phần ghi chép một cách hợp lý Tác giả

đã chỉ ra những giải pháp để có thể nắm được các ý chính của bài nghe bằng cách: (1) Phân biệt thông tin cần nghe (relevant points) với những thông tin còn lại (irrelevant information) bằng cách tận dụng những câu hỏi và chỉ dẫn trước bài nghe để có thể suy đoán thông tin cần nắm bắt và chủ đề của bài nghe, từ có có thể chuẩn bị trước về vốn từ và một số cấu trúc câu cần thiết, (2) Suy luận ý chính của bài nghe qua những từ ngữ quan trọng, người nghe nên dựa vào một số dấu hiệu ngôn từ (discourse markers) này để nắm bắt được ý chính của bài nghe

Bên cạnh đó, một nghiên cứu khác của tác giả Trịnh Vinh Hiển (2015) chỉ ra rằng trong những bài nghe dài, người nghe cần phải có kỹ năng ghi chép, việc ghi chép được xem là công cụ đắc lực nhất cho sinh viên khi phải đối mặt với một bài nghe dài, tác giả cũng nhấn mạnh rằng phương pháp này sẽ giúp sinh viên ghi nhớ được những ý chính và thông tin quan trọng thật chính xác và đề cập đến một vài cách để sử dụng phương pháp này hiệu quả như khi ghi chép, sinh viên chỉ nên ghi những ý trọng điểm và nên sử dụng một hệ thống ký hiệu của riêng mình Theo tác giả, ghi chú hiệu quả đòi hỏi người nghe phải ghi lại thông tin một cách nhanh chóng Để làm được điều này, người ghi chú tốt không nên viết ra từng từ hoặc cố gắng ghi chú thành từng câu mà thay vào đó sử dụng khả năng tốc ký và chỉ viết các từ và cụm từ chính

Từ những nghiên cứu đã được thực hiện trên, kỹ năng Nghe nói chung và chiến lược ghi chép nói riêng là những yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc học ngoại ngữ Đặc biệt,

Trang 28

nếu chiến lược ghi chép được người học rèn luyện thành thạo, các kỹ năng ngoại ngữ khác

có thể cũng sẽ được hỗ trợ cải thiện thuận lợi hơn Ngoài ra, các nghiên cứu trên chủ yếu được thực hiện ở nước ngoài, môi trường giáo dục và trình độ trung bình của người học cũng phần nào khác biệt so với môi trường và học sinh Việt Nam, cụ thể trong nghiên cứu này là sinh viên năm 3 khoa Tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế Trong khi đó, ở Việt Nam nói chung và đối với sinh viên khoa Tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế nói riêng, hầu như ít có nghiên cứu nào được thực hiện liên quan đến chiến lược ghi chép trong kỹ năng Nghe Vì vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung nghiên cứu

về những khó khăn trong quá trình học nghe và sử dụng chiến lược ghi chép của sinh viên năm 3 khoa Tiếng Anh trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế và những nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó, từ đó đề xuất những giải pháp giúp khắc phục các khó khăn nhằm cải thiện kỹ năng Nghe của sinh viên

Trang 29

CHƯƠNG 2:

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc sử dụng chiến lược ghi chép (note-taking) trong kỹ năng Nghe của sinh viên năm 3

Thái độ, chuyên cần: Trong quá trình học, sinh viên phải dự lớp đầy đủ, tham gia tích cực các hoạt động như thảo luận, góp ý xây dựng bài, hoàn thành những bài thực hành, nộp bài theo yêu cầu của giáo viên

2.3.2 Tài liệu học tập

- Tài liệu bắt buộc:

Ngày đăng: 30/08/2023, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w