1 ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ THỰC HIỆN NĂM 2018 KHẢO SÁT PHẢN HỒI CỦA SINH VIÊN KHOA TIẾNG TRUNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGO
Trang 11
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
THỰC HIỆN NĂM 2018
KHẢO SÁT PHẢN HỒI CỦA SINH VIÊN KHOA TIẾNG
TRUNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ, ĐẠI HỌC HUẾ VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ THUYẾT TRÌNH CÁC MÔN HỌC TIẾNG HÁN
Mã số: T2018-223-GD-NN
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Trà My
Giáo viên hướng dẫn: TS Liêu Linh Chuyên
Đơn vị: Khoa tiếng Trung Thời gian thực hiện: 12 tháng (1/2018-12/2018)
Huế, 12/2018
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Huế, 12/2018
Trang 3Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài : STT Họ và tên Đơn vị công tác và lĩnh vực chuyên môn
1 Nguyễn Thị Trà My Khoa tiếng Trung, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
2 Nguyễn Thị Thanh Tâm Khoa tiếng Trung, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
Trang 4DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 1: Thực trạng sử dụng phương pháp dạy và học “sinh viên tự thuyết trình bài học”
tại Khoa tiếng Trung, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế 15
Biểu đồ 2: Khả năng tiếp năng tiếp nhận kiến thức và ghi nhớ bài học qua phương pháp SVTTT so với cách dạy thông thường 16
Biểu đồ 3: PP SVTTT giúp các bạn sinh viên phát triển khả năng làm việc nhóm 17
Biểu đồ 4: PP SVTTT giúp sinh viên tăng khả năng tự học và tăng tính tích cực, chủ động 18
Biểu đồ 5: Sự tập trung nghe bài giảng từ các nhóm khác trong lớp của sinh viên 20
Biểu đồ 6: Một số mặt hạn chế khác của PP SVTTT 22
Biểu đồ 7: Mức độ hiểu nội dung bài giảng mà bạn mình thuyết trình 24
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PPDH : Phương pháp dạy học
PPD : Phương pháp dạy
PP : Phương pháp
SVTTT : Sinh viên tự thuyết trình
ĐHNN, ĐHH: Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Huế
Trang 6TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: KHẢO SÁT PHẢN HỒI CỦA SINH VIÊN KHOA TIẾNG TRUNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ, ĐẠI HỌC HUẾ VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ THUYẾT TRÌNH CÁC MÔN HỌC TIẾNG HÁN
Mã số: T2018-223-GD-NN
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Trà My
ĐT: 0368332216 E-mail: nguyenthitramy20121997@gmail.com
Cơ quan chủ trì đề tài: Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Tâm - Trường Đại học Ngoại
Ngữ
Thời gian thực hiện: 1/2018 – 12/2018
1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp dạy tổ chức hoạt động để sinh viên tự thuyết
trình bài học tại Khoa tiếng Trung, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
- Xác định những điểm hiệu quả và chưa hiểu quả của hoạt động sinh viên tự thuyết trình bài học
- Xác định nguyên nhân dẫn đến những điểm chưa phù hợp của phương pháp dạy và học sinh viên tự thuyết trình
- Đề xuất những những kiến nghị cho việc dạy và học phương pháp sinh viên tự thuyết trình
để phương pháp dạy đạt được hiệu quả tối ưu
2 Nội dung nghiên cứu của đề tài:
- Trình bày cơ sở lý luận và phương pháp dạy sinh viên thuyết trình bài học trong khoa tiếng
Trung, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
- Thu số liệu từ phiếu điều tra và phỏng vấn sinh viên để xác định tình hình sinh viên tham gia hoạt động tự thuyết trình tại khoa tiếng Trung Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế, từ đó phân tích đánh giá tính hiệu quả và nguyên nhân dẫn đến những điểm chưa hiệu quả của phương pháp dạy sinh viên tự thuyết trình
- Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất những kiến nghị cho giảng viên và sinh viên trong việc dạy và học phương pháp sinh viên tự thuyết trình một cách hiệu quả
Trang 73 Kết quả đạt được của đề tài
Khảo sát về phản hồi của sinh viên năm ba khoa tiếng Trung về hoạt động(PPD) sinh viên
tự thuyết trình các học phần tiếng Hán đã cho thấy rằng sinh viên có đánh giá cao về tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình (92,86%), ngoài ra sinh viên còn thừa nhận tính hiệu quả trên nhiều mặt của PPD này đồng thời chỉ ra những điểm chưa phù hợp của PPD khiến bản thân gặp khó khăn trong việc chuẩn bị bài giảng và tiếp thu kiến thức và đưa ra ý kiến cải thiện
Những khó khăn trong hoạt động tự thuyêt trình của sinh viên đã được nhóm nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân đến từ cả giảng viên và sinh viên, những nguyên nhân này bám sát với thực tiễn Sau cùng nhóm nghiên cứu từ những ý kiến của sinh viên đã đề xuất được những giải pháp sát với tinh hình sử dụng PPD tại khoa, những giải pháp này được đánh giá có tính ứng dụng cao
Trang 8Coordinator: Nguyen Thi Tra My
Implementing Institution: University of Foreign Languages, Hue University
Cooperating Institution(s): Nguyen Thi Thanh Tam - University of Foreign Languages, Hue University
- Determine the causes of inefficiency points of students' self-presentation teaching method
- Proposing recommendations for students' self-presentation activity so that this teaching method can achieve optimal results
- From the research results, the project proposes effective recommendations for teachers and students in “The students' self-presentation teaching method”
3 Results obtained:
Student's feedback survey of chinese department in hue uninversity of foreign languages regarding “the student presentation activities” chinese subjects has shown that students appreciate the importance of presentation skills (92.86%) In addition, students also
Trang 9acknowledge the effectiveness in many aspects of this teaching method and point out the inappropriate points of this teaching method that make it difficult for them to prepare the lesson and acquire knowledge and make suggestions for improvement
The difficulties in presentation activities of students have been pointed out by the research team from both teachers and students, which are closely related to reality After the research time, from the students' opinions, we proposed solutions close to the situation of using this teaching method, these solutions were evaluated with high applicability
Trang 10MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……….1
1 Lý do chọn đề tài ……….….……1
2 Mục đích của đề tài……… ….3
3 Câu hỏi nghiên cứu……….……… 3
NỘI DUNG……….4
Chương 1: Cơ sở lý luận………4
1.1 Phương pháp dạy học……….4
1.2 Phương pháp dạy học tích cực 5
1.3 Thuyết trình 7
1.3.1 Khái niệm thuyết trình 7
1.3.2 Tầm quan trọng của thuyết trình 8
1.4 Bài giảng điện tử 9
1.5 Phương pháp dạy và học sinh viên tự thuyết trình bài học 9
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu 11
2.1 Phạm vi ngiên cứu 11
2.2 Đối tượng nghiên cứu 11
2.3 Khách thể nghiên cứu 11
2.4 Phương pháp nghiên cứu .11
2.4.1 Phương pháp định lượng kết hợp định tính 11
2.4.2 Phương pháp điều tra 11
2.4.3 Phương pháp thống kê toán học 12
2.5 Công cụ nghiên cứu 12
2.6 Quá trình triển khai 12
2.6.1 Thuận lợi 13
2.6.2 Khó khăn 13
2.6.3 Các kết quả thực hiện được 13
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 14
Trang 113.1 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy và học “sinh viên tự thuyết trình bài học” tại Khoa
tiếng Trung, Trường ĐHNN, ĐHH 14
3.2 Tính hiệu quả của phương pháp dạy và học “sinh viên tự thuyết trình bài học” qua phản hồi của sinh viên năm 3 Khoa tiếng Trung, Trường ĐHNN, ĐHH 16
3.2.1.Hiệu quả 16
3.2.1.1 Khả năng tiếp nhận kiến thức và ghi nhớ thông qua môn học nhờ PP SVTTT 16
3.2.1.2 PP SVTTT giúp các bạn sinh viên phát triển khả năng làm việc nhóm 17
3.2.1.3 PP SVTTT giúp sinh viên tăng khả năng tự học và tăng tính tích cực, chủ động 18
3.2.1.4 PP SVTTT giúp sinh viên tăng sự tự tin và khả năng nói chuyện trước đám đông….18 3.2.1.5 PP SVTTT giúp sinh viên cảm thấy môn học thú vị và bớt nhàm chán hơn 19
3.1.2.6 PP SVTTT giúp nâng cao kỹ năng tin học của sinh viên 19
3.2.2.Chưa hiệu quả 20
3.2.2.1 PP SVTTT làm sinh viên thiếu hụt lượng kiến thức cần có của học phần 20
3.2.2.2 PP SVTTT làm sinh viên mất nhiều thời gian 20
3.2.2.3 Các phần thuyết trình của sinh viên không mang đến đủ kiến thức và kỹ năng mà cần đạt được trong các học phần 21
3.2.2.4 PP SVTTT làm chất lượng học tập cũng như lượng kiến thức của sinh viên sẽ giảm sút một cách rõ rệt 22
3.3 Nguyên nhân dẫn đến những điểm chưa hiệu quả khi sử dụng hoạt động sinh viên tự thuyết trình bài học tại Khoa tiếng Trung, Trường ĐHNN, ĐHH 23
3.3.1 Về phía giảng viên 23
3.3.1.1 PP SVTTT không hiệu quả cho các học phần mang tính chất trừu tượng lý thuyết 23
3.3.1.2 PP SVTTT không phù hợp cho sinh viên năm 1 23
3.3.1.3 Phần nhận xét của giảng viên không đủ để sinh viên nắm bắt bài học 23
3.3.2 Về phía sinh viên 24
3.3.2.1 Tồn đọng thái độ ngại thuyết trình 24
3.3.2.2 Sinh viên khó nắm bắt nội dung bài giảng mà bạn mình thuyết trình 24
3.3.2.3 Về phía sinh viên tham dự hoạt động tự thuyết trình: 25
3.3.3 Nguyên nhân khác 25
Chương 4: Đề xuất giải pháp 26
4.1 Những biện pháp giúp phát huy tính hiệu quả của PP SVTTT 26
Trang 124.2 Những biện pháp khác phục những điểm chưa hiệu quả của PP SVTTT 27
4.2.1 Về phía giảng viên 27
4.2.2 Về phía sinh viên 29
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30
1.Kết luận 30
2.Kiến nghị 31
2.1 Kiến nghị sử dụng kết quả nghiên cứu 31
2.2 Đánh giá tính khả thi 32
2.3 Hạn chế của đề tài 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC 35
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự
nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát huy tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ
năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng (Luật giáo dục
của nước Việt Nam, khoản 1b, điều 36)
Bàn về phương pháp giáo dục hiện đại, Nghị quyết trung ương 2 (Khóa VIII ) đã khẳng định việc đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương tiện hiện đại vào quá trình trình dạy học Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định : ” Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học ”
Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường cần được tiếp cận theo hướng đổi mới, và cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần đổi mới mục tiêu giáo dục Ngành giáo dục phải đào tạo ra một lớp người năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực, phục vụ đắc lực cho mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, quan niệm về việc dạy và học đã thay đổi Phải chuyển từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực Học không chỉ
để nắm lấy tri thức mà nắm cả phương pháp giành lấy tri thức ‘ nhiên, việc đổi mới phương pháp dạy và học không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền thống Đổi mới phương pháp cần
kế thừa và phát triển những mặt tích cực của hệ thống các PPDH đã quen thuộc, có sử dụng thêm các phương tiện, kĩ thuật phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học Thuyết trình nhóm là một PPDH quan trọng, có khả năng phát huy cao độ tính tích cực độc lập sáng tạo của người học, hình thành và rèn luyện cho họ năng lực hợp tác
Hiện tại ở bậc đại học Việt Nam là môi trường năng động, với đầy đủ phương tiện giảng dạy hiện đại luôn có sẵn, nội dung bài học luôn cần được tìm hiểu thêm qua các tài liệu ngoài
và ứng dụng thực tiễn Với điều kiện như vậy đã tạo cơ hội tối ưu cho sinh viên phát huy kỹ
Trang 142
năng thuyết trình Thuyết trình bằng giáo án điện tử là một trong những cách “trực quan sinh động” nhằm làm tăng hiệu quả học tập
Kỹ năng thuyết trình đóng vai trò quan trọng đối với sinh viên ngành ngôn ngữ nói chung
và tiếng Hán nói riêng Có tác động quan trọng đến việc sử dụng linh hoạt các kỹ năng thực hành tiếng như: Nghe – Nói – Đọc – Viết
Ở trường Đại học Ngoại ngữ nói chung và khoa tiếng Trung nói riêng, giảng viên thường để sinh viên chủ động thuyết trình bài học trước lớp, vừa rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng thực hành tiếng, kỹ năng nói, mạnh dạn trước đám đông, khả năng thể hiện quan điểm của bản thân, đây đúng là điều sinh viên còn yếu và thiếu hiện nay
Là một sinh viên năm 4 khoa tiếng Trung, bản thân tôi và các thành viên trong nhóm của mình đã trải qua nhiều học phần có hoạt động sinh viên tự thuyết trình bài học Mặc dù đây là một phương pháp dạy học tiên tiến và có nhiều lợi ích nhưng vẫn tồn tại nhiều điểm chưa phù hợp, cụ thể là cách sử dụng phương pháp học này trong các học phần tiếng Hán; Chúng tôi nhận thấy nếu quá lạm dụng phương pháp này và cách sử dụng không phù hợp thì sẽ gây ức chế cho người học, khả năng tiếp thu kiến thức bị hạn chế, dẫn đến tinh thần và kết quả học tập giảm sút
Đặc biệt là với nhiều học phần lý thuyết, giảng viên thường xuyên yêu cầu sinh viên thuyết trình trước lớp, mức độ yêu cầu thuyết trình của từng giảng viên khác nhau, mức độ giảng viên hướng dẫn sinh viên thuyết trình và đánh giá bài thuyết trình cũng khác nhau Nghiên cứu phản hồi của sinh viên về phương pháp này sẽ giúp chúng ta đánh giá được ưu nhược điểm của phương pháp Từ đó tìm ra nguyên nhân dẫn đến việc phương pháp dạy chưa đạt được hiệu quả cao; dựa vào đó đề xuất được các biện pháp nhằm mang lại hiệu quả tối ưu cho phương pháp dạy học này tại trường, nâng cao hiệu quả dạy và học của giảng viên và sinh
viên Đó chính là lí do để nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “ Khảo sát phản hồi của sinh viên
khoa tiếng Trung Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế về hoạt động tự thuyết trình các môn học tiếng Hán”
Trang 152.2 Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này bao gồm những mục sau đây :
- Khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp dạy tổ chức hoạt động để sinh viên tự thuyết
trình bài học tại Khoa tiếng Trung, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
- Xác định những điểm hiệu quả và chưa hiệu quả của hoạt động sinh viên tự thuyết trình bài học
- Xác định nguyên nhân dẫn đến những điểm chưa phù hợp của phương pháp dạy học sinh viên tự thuyết trình
- Đề xuất những những kiến nghị cho việc dạy và học “ Phương pháp sinh viên tự thuyết trình” để phương pháp dạy đạt được hiệu quả tối ưu
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Tính hiệu quả của hoạt động tự thuyết trình qua phản hồi của sinh viên Khoa tiếng Trung, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế?
- Làm thế nào để việc sử dụng “Phương pháp dạy học sinh viên tự thuyết trình” mang lại hiệu quả tối ưu nhất? ( Đối với sinh viên, đối với giảng viên )
Trang 16đã định
Theo GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ: phương pháp là cách thức; con đường, phương tiện
để đạt tới một mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định
Theo PGS.TS Lưu Xuân Mới: phương pháp là cách thức đạt tới mục đích và bằng một hình ảnh nhất định, nghiã là một hành động được điều chỉnh
Theo Nguyễn Như An: phương pháp là cách đạt tới mục đích, tức là tổng hợp những thủ thuật và thao tác dùng để đạt mục đích
Qúa trình dạy học gồm quá trình dạy và quá trình học của giảng viên và học sinh Mỗi chủ thể có những hoạt động đặc thù, nhưng tồn tại và vận động trong mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau và quy định lẫn nhau Do đó, phương pháp dạy học (PPDH) là tổ hợp phương pháp dạy và phương pháp học trong đó phương pháp dạy của giảng viên chỉ đạo cho phương pháp học của học sinh
Theo GS Nguyễn Văn Hộ: PPDH là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực, chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học PPDH là phương pháp của hai chủ thể với các thức hoạt động chung, có cùng một mục đích, nội dung Nhưng phương pháp giảng dạy là của nhà giáo; đó là phương pháp tổ chức các hoạt động học tập, phương pháp điều khiển quá trình nhận thức và giáo dục học sinh Phương pháp học tập là phương pháp lĩnh hội và rèn luyện kĩ năng
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong
sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”
Theo Nguyễn Như An: PPDH là tổng hợp tất cả các cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giảng viên và giáo sinh nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Trang 17+ Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thày và trò
+ Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động
Phương pháp giáo dục thể hiện trình độ nghiệp vụ sư phạm của giảng viên, nó có tính khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, phản ánh sự vận động hợp quy luật của nhận thức, của bản thân môn học và khoa học liên quan, tạo nên tính tích cực, sáng tạo của người học
PPDH luôn gắn chặt với mục đích dạy học ( môn học, bài học ), đồng thời giáo dục cả tính sáng tạo, và các phẩm chất khác của nhân cách, thúc đẩy hứng thú học tập của học sinh, cho nên nó chứa đựng cả những yếu tố của phương pháp giáo dục
1.2 Phương pháp dạy học tích cực
* Khái niệm phương pháp dạy học tích cực:
Bài viết “ Phương pháp dạy học tích cực” cảu PGS.TS Vũ Hồng Tiến đã chỉ ra rằng
phương pháp dạy học tích cực ( PPDH tích cực ) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Theo các nhà giáo dục học Việt Nam: PPDH tích cực là các phương pháp được sử dụng trong quá trình dạy học nhằm phát huy cao nhất tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo trong học tập của người học dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giảng viên
“Tích cực” trong PPDH – tích cực được dùng với tức là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với
không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng trái lại thói thường học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng thầy giáo chưa đáp ứng được, hoặc có
Trang 186
trường hợp thầy giáo tích cực vận dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích nghi, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì thế, thầy giáo phải bền chí dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy
và trò, sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới công Như vậy, việc dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực” để phân biệt với “Dạy và học thụ động”
Luận văn của thạc sỹ Nguyễn Văn Việt tên Vận dụng "phương pháp dạy học tích cực" trong quá trình dạy học môn giáo dục học ở trường CĐSP Ngô Gia Tự - Bắc Giang đã nêu ra
như sau:
* Đặc điểm của phương pháp dạy học tích cực:
- PPDH tích cực là hệ thống phương pháp trong đó phương pháp tự học là trung tâm chỉ đạo,
có tác dụng gắn bó các phương pháp khác thành một hệ thống toàn vẹn
- PPDH tích cực có tác dụng tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học Người học được đặt vào tình huống có vấn đề trong đó có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tức là trong trạng thái có nhu cầu bức thiết muốn giải quyết bằng được mâu thuẫn
đó Qua việc giải quyết vấn đề, người học lĩnh hội kiến thức một cách tự giác và tích cực, trong đó có niềm vui của sự nhận thức sáng tạo
- PPDH tích cực có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học mà trong đó tư duy độc lập sáng tạo vừa là phương tiện vừa là mục đích của quá trình dạy học
- PPDH tích cực có yêu cầu cao đối với người dạy và người học
- PPDH tích cực giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhớ lâu, đảm bảo sự cá thể hoá, tập trung vào người học
- PPDH tích cực có thể áp dụng rộng rãi cho nhiều môn học, nhiều dạng bài học ở những mức
độ khác nhau
* Bản chất của PPDH tích cực:
Bản chất của PPDH tích cực là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quá trình truyền thụ kiến thức của thầy thành quá trình tự học của sinh viên Giảng viên tạo nên những tình huống có vấn đề để sinh viên chấp nhận các tình huống đó là cần thiết đối với họ, sinh
Trang 197
viên tự tìm tòi, nghiên cứu, chủ động hợp tác dưới sự tổ chức, điều khiển, cố vấn của thầy để tìm ra kiến thức mới
* Những dấu hiệu đặc trưng của các PPDH tích cực:
Có thể nêu ra 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau đây, đủ để phân biệt với các PP thụ động
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh:
Trong PP tích cực, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giảng viên tổ chức, chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu tri thức đã được giảng viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận và làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được PP “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này thì giảng viên không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động, chương trình hành động phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
1.3 Thuyết trình
1.3.1 Khái niệm thuyết trình
Trong cuốn từ điển Oxford (2005), thuyết trình được định nghĩa là bài nói chuyện ngắn của một người với một nhóm người để giới thiệu và mô tả một chủ đề cụ thể, ví dụ như một sản phẩm mới, số liệu của công ty hay chiến dịch quảng cáo, v.v…
Theo từ điển mở Wiktionary, thuyết trình là trình bày một cách hệ thống và sáng rõ một vấn
đề trước đông người
Định nghĩa về thuyết trình của PGS.TS Dương Thị Liễu (Trường Đại học kinh tế quốc dân) như sau: Thuyết trình là trình bày bằng lời trước nhiều người về một vấn đề nào đó nhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người khác
Từ tài liệu môn học kỹ năng mềm – Kỹ năng thuyết trình của Đại học Văn hiến do Ths Nguyễn Đông Triều biên soạn, ta có thêm một vài khái niệm về thuyết trình: “Thuyết trình là trình bày rõ ràng một vấn đề trước nhiều người Thuyết trình là một nghệ thuật, người thuyết
Trang 208
trình được ví như là một nghệ sĩ hay diễn viên đứng trước công chúng, thuyết trình là một kỹ năng được phát triển thông qua kinh nghiệm và đào tạo” Hay “Thuyết trình là trình bày bằng lời trước nhiều người nghe về một vấn đề nào đó nhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người nghe” Hay “Thuyết trình là giao tiếp nói chuyện với đám đông” Như vậy, trong phạm vi bài viết này thuyết trình có nghĩa là trình bày trước lớp một đề tài hay vấn đề nào đó trong khung chương trình học phần học nhằm cung cấp kiến thức và thông tin, làm sáng rõ nội dung bài giảng
1.3.2 Tầm quan trọng của thuyết trình
Theo tài liệu môn học kỹ năng mềm –Kỹ năng thuyết trình của Đại học Văn hiến, Kỹ năng thuyết trình là một trong những kỹ năng mềm quan trọng, thuyết trình hợp nhất được rất nhiều những yếu tố và kỹ năng khác như: sự tự tin, ngôn từ, ngôn ngữ cơ thể, sáng tạo… Thuyết trình có ba vai trò quan trọng sau:
- Thuyết trình là một công cụ giao tiếp hiệu quả
- Thuyết trình đóng vai trò to lớn trong sự thành công của mỗi cá nhân
- Thuyết trình như một nghề tạo thu nhập cao
Tất cả các lĩnh vực của đời sống, thuyết trình tốt sẽ tạo ra một vị thế cao, một sự kính nể từ những cá thể khác Trong lĩnh vực chính trị những nhà thuyết trình tài ba, họ đều là những người lãnh đạo thế giới: Barack Obama, Fidel Castro, Mather Luther King, John Kenedy, Hồ Chí Minh…Trong lĩnh vực giáo dục, một giảng viên không nói trước đám đông hấp dẫn thì không làm cho học sinh hiểu bài, mặc dù có kiến thức sâu rộng Trong lĩnh vực kinh tế, quản
lý, một giám đốc giỏi không chỉ là người có tầm nhìn chiến lược, ý tưởng kinh doanh sáng tạo
mà còn phải là một người có khả năng thuyết trình tốt, một nhà lãnh đạo có có thể làm cho nhân viên hiểu và làm theo những chiến lược và định hướng mà anh ta đề ra Có câu nói “Bạn nói trước đám đông như thế nào thì cuộc đời của bạn cũng thế” Do đó, kỹ năng thuyết trình chính là một bước không thể thiếu trên con đường thành công
Trang 21*Lợi ích của bài giảng điện tử:
Bài giảng điện tử tích hợp đã tạo nên được tính tương tác cao của bài giảng, bởi vì khi
sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học thì học sinh được tác động tới tất cả các giác quan Trong môi trường ấy học sinh mắt thấy, tai nghe, tay làm, óc nghĩ Bởi vậy khả năng tiếp nhận kiến thức vào thực tiễn được tăng lên Ngoài ra bài giảng điện tử còn có tác dụng:
- Cung cấp một lượng lớn kiến thức - Kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm tốt hơn
- Các tiết học trở nên sinh động hơn, học sinh học tập hào hứng, dễ hiểu bài hơn Tạo sự thân thiện
- Hạn chế việc giáo viên bị cháy giáo án vì thời gian được kiểm soát bằng máy
- Hình ảnh trực quan sinh động, thể hiện sơ đồ, bảng biểu tốt hơn
- Hạn chế được các bệnh nghề nghiệp cho giáo viên
1.5 Phương pháp dạy và học sinh viên tự thuyết trình bài học
Phương pháp được nêu ra trong bài nghiên cứu này có sự tương đồng với các phương pháp với các tên gọi khác nhau đã được nghiên cứu trước đó Cụ thể, trong Bài tham luận
“Đổi mới phương pháp giảng dạy ở bậc đại học” của Thạc sĩ Nguyễn Văn Mỹ đề cập đến
Phương pháp thuyết trình kết hợp với phương pháp làm viêc nhóm:
Trang 2210
Trong phương pháp kết hợp này, giảng viên cung cấp cơ sở lý thuyết nền tảng Sinh viên được chia theo nhóm từ 5 đến 6 sinh viên một nhóm Mỗi nhóm sẽ chọn (hoặc được giao) một đề tài nào đó có liên quan đến nội dung môn học rồi tự phân chia công việc trong nhóm cho các thành viên để tiến hành Trải qua giai đoạn đối chiếu so sánh và nghiên cứu tìm hiểu Sau đó các nhóm sẽ viết lại thành báo cáo môn học kèm nhận xét, đánh giá hay đưa ra ý kiến của nhóm về đề tài này Cuối cùng các nhóm sẽ thay phiên nhau trình bày nội dung báo cáo môn học mà nhóm đã thực hiện để nhận được những ý kiến đóng góp hoặc câu hỏi chất vấn của các nhóm khác và của giảng viên Nhóm sẽ thảo luận và trả lời các câu hỏi được đặt ra Nếu nội dung trả lời của nhóm chưa thật sự thỏa đáng hay có sự hiểu nhầm, hiểu sai vấn đề… thì giảng viên sẽ hỗ trợ thêm
Sự kết hợp giữa phương pháp thuyết trình và phương pháp làm việc nhóm sẽ kích thích vai trò chủ động của người học Sinh viên là người chủ động tìm tòi, suy nghĩ, nhận định, phân tích, tổng hợp, đánh giá… đề tài của nhóm mình và cả đề tài của các nhóm khác
Một phương pháp tương đồng ở Luận văn thạc sĩ giáo dục học của Hoàng Thị Ngọc Hường,
Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh với đề tài : Sử dụng phương pháp thuyết trình nhóm theo chủ đề trong dạy học phần “Lý luận dạy học hóa học đại cương” ở trường Cao đẳng Sư Phạm Phương pháp thuyết trình nhóm theo chủ đề này cũng chia lớp thành nhiều
nhóm nhỏ từ 4-6 người Nhiệm vụ của mỗi nhóm là giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau là một phần trong chủ đề chung Dạy học nhóm thường được áp dụng để
đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học, nhưng cũng có thể tìm hiểu một chủ
đề mới, tìm giải pháp cho những vấn đề được đặt ra Ở mức độ cao, có thể đề ra những mục đích sao cho các nhóm học sinh hoàn toàn độc lập xử lý các đề tài thuộc các lĩnh vực khác nhau và trình bày kết quả của mình cho các học sinh khác ở dang bài giảng
PPDH sinh viên tự thuyết trình bài học mà nhóm nghiên cứu ở đây cũng tương tự như trên nhưng khác cụ thể ở đây là nội dung sinh viên được phân thuyết trình là các chương, các bài trong học phần Sinh viên sẽ được phân thành từng nhóm từ 2-8 người, mỗi nhóm sẽ được giao một chương, bài để về làm nhóm, tìm hiểu, chuẩn bị bài thuyết trình trước lớp, sau đó lớp sẽ đặt câu hỏi chất vấn, cuối giảng viên sẽ nhận xét đánh giá và cho điểm
Trang 2311
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian : Các học phần tiếng Hán trong chương trình đào tạo từ năm 1 đến năm 3 bao gồm các học phần thực hành tiếng và lý thuyết tiếng
- Về thời gian: từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động tự thuyết trình các môn học tiếng Hán của sinh viên
2.3 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên K12 khoa tiếng Trung, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp định lượng kết hợp định tính
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã sử dụng Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính Phương pháp định tính bao gồm cách chọn mẫu cụm, cách đưa ra câu hỏi trong phiếu điều tra không theo thứ tự và người điều tra có thể trả lời một cách ngẫu nhiên theo ý muốn chủ quan của mình Phương pháp định lượng thể hiện qua việc đưa ra các vấn đề trong bảng hỏi một cách ngắn gọn và súc tích, việc trả lời các vấn đề trong bảng hỏi được hạn chế mà cụ thể là nhóm nghiên cứu đã đưa ra 4 mức
độ đánh giá Ngoài ra, kỹ thuật sử dụng phiếu điều tra của phương pháp định lượng đã được
sử dụng kết hợp với phương pháp định tính Phương pháp định tính nghiên cứu sâu về mức
độ đánh giá và thái độ của sinh viên khi tham gia hoạt động tự thuyết trình của sinh viên trong chương trình học; phương pháp định lượng thao tác trên số liệu cụ thể hơn, có thể đong đếm
và đo lường được
2.4.2 Phương pháp điều tra
Trên phạm vi 126 sinh viên năm 3 K12 tiếng trung, nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra bằng phiếu điều tra khảo sát(xem phụ lục) Phiếu điều tra khảo sát bao gồm 1 câu hỏi liệt
kê, 20 câu hỏi đóng, 3 câu hỏi mở 1 câu hỏi liệt kê nhằm tìm hiểu những học phần nào có sử dụng hoạt động tự thuyết trình môn học của sinh viên từ năm 1 đến năm 3; 20 câu hỏi đóng với đáp án trả lời được chọn dựa trên 4 mức độ tán thành của sinh viên (hoàn toàn không đồng ý, không đồng ý, đồng ý, rất đồng ý) với các nhận định liên quan đến các vấn đề sau: