1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiển của việc xây dựng bài giảng elearning phục vụ giảng dạy tiếng việt cho người nước ngoài tại khoa việt nam học trường đại học ngoại ngữ đại học huế

73 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng bài giảng elearning phục vụ giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại Học Huế
Trường học Đại Học Ngoại Ngữ, Đại Học Huế
Chuyên ngành Vật liệu, Công nghệ Thông tin
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ cấp cơ sở
Năm xuất bản 2019
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 869,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ Tên đề tài: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG LEARNING PHỤC VỤ GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NG

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

Mã số: T2019-239-GD-NN

Chủ nhiệm đề tài: ThS Trần Thị Xuân

Đơn vị: Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại Học Huế

Thời gian thực hiện: 12 tháng (01/2019 - 12/2019)

HUẾ, 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

Mã số: T2019-239-GD-NN

Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài

Trần Thị Xuân

Trang 3

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG LEARNING PHỤC VỤ GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI KHOA VIỆT NAM HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ, ĐẠI HỌC HUẾ

E-Mã số: T2019-239-GD-NN

Chủ nhiệm đề tài: Trần Thị Xuân

Số điện thoại liên lạc: 0775510243

Email: tranxuan91.dhh@gmail.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Cơ quan, cá nhân phối hợp thực hiện: Đoàn Minh Triết, Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Thời gian thực hiện: 12 tháng (01/2019 - 12/2019)

1 Mục tiêu

Đề tài nhằm khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng bài giảng learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

E-2 Nội dung chính

Đề tài khái quát cơ sở lý luận của việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, nghiên cứu thực tiễn việc đào tạo tiếng Việt cho người nước ngoài trong thời gian hơn 10 năm qua và thực tiễn việc xây dựng bài giảng E-

Trang 4

learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Để đẩy nhanh quá trình xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cần có sự hỗ trợ và phối hợp hơn nữa của các đơn vị, phòng ban trong nhà trường

Trang 5

SUMMARY

Project title:

THE THEORETICAL BASIS AND REALITY OF ESTABLISHING

E-LEARNING LECTURES FOR TEACHING VIETNAMESE FOR FOREIGNERS

AT VIETNAMESE STUDIES DEPARTMENT, UNIVERSITY OF FOREIGN

LANGUAGES, HUE UNIVERSITY

Code: T2019-239-GD-NN

Investigator: Tran Thi Xuan

Telephone: 0775510243

Email: tranxuan91.dhh@gmail.com

Host Institution: University of Foreign Languages, Hue University

Collaborator(s): Doan Minh Triet

Duration: 12 months (01/2019-12/2019)

Objectives

This research points out the theoretical basis of establishing E-learning lectures for teaching Vietnamese for foreigners at Vietnamese Studies Department, University of Foreign Languages, Hue University

Main Contents

This research points out the theoretical basis of establishing E-learning lectures for teaching Vietnamese for foreigners, and analyzes the reality of teaching Vietnamese for foreigners in the last 10 years as well as the reality of establishing E-learning lectures for teaching Vietnamese for foreigners at Vietnamese Studies Department, University of Foreign Languages, Hue University

Trang 6

Key findings

This research pointed out the theoretical basis of establishing E-learning lectures for teaching Vietnamese for foreigners It analyzed the reality of teaching Vietnamese for foreigners in the last 10 years at Vietnamese Studies Department That is the increase in the number of learners, the expansion and completion of training programs as well as the professional competence of lecturers The results showed that the demand for teaching and learning Vietnamese through E-learning is very high However, establishing E-learning lectures for teaching Vietnamese for foreigners at this department just has been proceeded first steps And this is very difficult To promote this process, it is necessary to have the support from other departments in university

Trang 7

MỤC LỤC

Tóm tắt kết quả nghiên cứu i

Summary iii

Mục lục v

Danh mục bảng biểu viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài trong và ngoài nước 1

Tính cấp thiết của đề tài 2

Mục tiêu của đề tài 3

Câu hỏi nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Các đặc điểm của E-learning 6

1.1.3 Quy trình xây dựng bài giảng E-learning 6

1.2 Đặc điểm nội dung đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài 8

1.2.1 Đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài 8

1.2.2 Vai trò của E-learning trong đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài 9 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Phương pháp tiếp cận 11

2.2 Phương pháp nghiên cứu 12

Trang 8

2.3 Khách thể nghiên cứu 12

2.4 Quá trình triển khai nghiên cứu 13

2.4.1 Thuận lợi 13

2.4.2 Khó khăn 13

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 15

3.1 Tính cấp thiết của việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ 15

3.1.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa 15

3.1.2 Thực tiễn việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa 16

3.1.3 Nhu cầu của giảng viên về những nội dung cần trang bị cho việc xây dựng bài giảng E-learning 19

3.1.4 Nhu cầu sử dụng bài giảng E-learning của sinh viên nước ngoài học Tiếng Việt 21

3.2 Tiêu chí, tiêu chuẩn xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ 27

3.2.1 Kỹ năng nghe 29

3.2.2 Kỹ năng nói 29

3.2.3 Kỹ năng đọc 30

3.2.4 Kỹ năng viết 31

3.3 Thuận lợi và khó khăn của việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ 31

Trang 9

3.3.1 Thuận lợi 31

3.3.2 Khó khăn 33

3.3.3 Tiềm năng 35

3.3.4 Thách thức 36

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37

4.1 Kết luận 37

4.2 Kiến nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

PHẦN PHỤ LỤC 44

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 1 Đánh giá của giảng viên về mức độ quan trọng của việc xây dựng bài giảng

E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài 16

Biểu đồ 2 Mức độ sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy Tiếng Việt cho người người ngoài 17

Biểu đồ 3 Tỉ lệ giảng viên đã từng sử dụng giáo án điện tử để xây dựng bài giảng E-learning 18

Biểu đồ 4 Những nội dung về xây dựng bài giảng E-learning đã được giảng viên tìm hiểu 18

Biểu đồ 5 Các bước xây dựng bài giảng E-learning đã được giảng viên thực hiện 19

Biểu đồ 6 Những phần mềm xây dựng bài giảng E-learning được biết đến 20

Biều đồ 7 Những vấn đề giảng viên cần hỗ trợ trong việc xây dựng bài giảng E-learning 21

Biểu đồ 8 Độ tuổi của các đối tượng người học 22

Biểu đồ 9 Nhu cầu học Tiếng Việt 22

Biểu đồ 10 Lý do muốn học Tiếng Việt 23

Biểu đồ 11 Mức độ quan tâm đến các khóa học Tiếng Việt E-learning 23

Biểu đồ 12 Các khóa học Tiếng Việt E-learning được người học quan tâm 24

Biểu đồ 13 Nhu cầu nhận chứng chỉ sau khóa học Tiếng Việt E-learning 24

Biểu đồ 14 Những thuận lợi khi tham gia khóa học Tiếng Việt E-learning 25

Biểu đồ 15 Những khó khăn khi tham gia khóa học Tiếng Việt E-learning 26

Biểu đồ 16 Những yếu tố giúp tạo nên một khóa học Tiếng Việt E-learning hiệu quả 26

Biều đồ 17 Những khó khăn trong việc xây dựng bài giảng E-learning 33

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài trong và ngoài nước

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và ứng dụng E-learning trong dạy và học ở Việt Nam đang được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục ở tất cả các lĩnh vực quan tâm và thực hiện nhiều đề tài khác nhau Nội dung chủ yếu của các nghiên cứu này là khái quát về E-learning, chỉ ra những ưu và nhược điểm của E-learning cũng như đưa vào ứng dụng trong các lĩnh vực đào tạo liên quan Một số đề tài nghiên cứu: Nguyễn Thị Lệ (2012), “Nghiên cứu e-learning và đề xuất giải pháp triển khai e-learning trong trường phổ thông”; Nguyễn Thị Lương (2012), “Nghiên cứu E-Learning và ứng dụng thiết kế bài giảng điện tử E-Learning”; Nguyễn Văn Linh (2013), “Nghiên cứu xây dựng hệ thống e-learning hỗ trợ trong đào tạo theo học chế tín chỉ”; Nguyễn Minh Tuấn (2016),

“Xây dựng học liệu E-learning đáp ứng yêu cầu phát triển chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên tiểu học”; Bùi Kiên Trung (2016), “Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ đào tạo với sự hài lòng và mức độ trung thành của sinh viên trong đào tạo từ xa E-learning”, v.v

Tại trường Đại học Ngoại ngữ, trong những năm qua cũng có những đề tài liên quan đến E-learning được thực hiện như đề tài: Dương Minh Hùng (2014), “Xây dựng hệ thống e-learning phục vụ giảng dạy trực tuyến tại trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế và khảo sát đánh giá kết quả thí điểm ứng dụng hệ thống để giảng dạy một học phần phương pháp giảng dạy tiếng Anh”; Nguyễn Sơn (2013), “Ứng dụng CNTT vào giảng dạy E-learning cho học phần ngôn ngữ học của khoa tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế”; Lê Châu Kim Khánh (2016), “Nghiên cứu việc sử dụng hệ thống Moodle hỗ trợ quá trình giảng dạy ngoại ngữ không chuyên cho các lớp Anh A2 tại trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế”; Dương Phước Toàn (2017), “Ứng dụng phần mềm mã nguồn mở Moodle để thử nghiệm đánh giá thường xuyên trong học phần Nghe

2 cho sinh viên khoa tiếng Anh – Trường Đại học Ngoại ngữ”

Trang 12

Về những nghiên cứu về giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài, các đề tài nghiên cứu ở lĩnh vực này tập trung nghiên cứu về phương pháp giảng dạy các kỹ năng tiếng Việt cho người nước ngoài một cách hiệu quả Một số nghiên cứu: Bạch Thanh Minh (2016), “Giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói tiếng Anh bằng phương pháp giao tiếp”; nhóm tác giả Nguyễn Phượng Anh, Tống Thị Hảo (2016) bàn về “Áp dụng thảo luận nhóm trong giảng dạy tiếng Việt cho học viên Lào tại học viện An ninh Nhân dân”, Bùi Thị Luyến (2017) nghiên cứu về phương pháp giảng dạy tiếng Việt dựa trên phương pháp giao tiếp với đề tài “Hiệu quả của phương pháp giao tiếp trong việc nâng cao năng lực diễn đạt bằng Tiếng Việt cho sinh viên Khmer”, tác giả Nguyễn Thiện Nam (2018) nghiên cứu về “Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, trường hợp Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt”, tác giả Trần Thủy Vịnh (2018) bàn luận

“Về phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ”, tác giả Nguyễn Kim Yến (2018) nghiên cứu về “Ứng dụng Task - Based Learning - TBL trong việc dạy hội thoại tiếng Việt cho người nước ngoài”, v.v

Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, ở Việt Nam, E-learning là một phương thức dạy và học trực tuyến đang ngày càng được quan tâm ở các cơ sở giáo dục từ các cấp học phổ thông đến các trường cao đẳng, đại học, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế cũng vậy Khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế với những chiến lược phát triển việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, việc ứng dụng E-learning trong dạy và học tiếng Việt thật sự là một trong những vấn đề cấp thiết và được nhà trường khuyến khích, tạo điều kiện để thực hiện

Với những định hướng phát triển của khoa Việt Nam học với các chương trình đào tạo dành cho người nước ngoài như Cử nhân Việt Nam học, các khóa tiếng Việt ngắn hạn

và dài hạn, việc ứng dụng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt dành cho những đối tượng người học trên là một trong những điều kiện thuận lợi để thu hút người học tham gia các khóa học bởi sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian của hình thức đào tạo này

Trang 13

Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng mang những đặc thù như phương pháp giảng dạy những ngoại ngữ khác, người học cũng được đào tạo các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Để việc dạy và học các kỹ năng ngoại ngữ một cách hiệu quả, người học cần có sự tương tác tốt với người dạy cũng như các công cụ hỗ trợ luyện tập nghe, nói qua các phần mềm, thiết bị định lượng Và một trong những phương thức đáp ứng nhu cầu dạy và học trên chính là ứng dụng E-learning

Ngoài ra, việc xây dựng và ứng dụng E-learning trên website của khoa cũng góp phần quảng bá hình ảnh của khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ nói chung và chuyên ngành tiếng Việt cho người nước ngoài nói riêng Do đó, việc đẩy nhanh quá trình xây dựng bài giảng E-learning và đưa vào sử dụng cũng là một vấn đề đang được Khoa và Trường quan tâm

Chính vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng bài giảng E-learning phục vụ giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế” để thực hiện

Mục tiêu của đề tài

Đề tài nhằm khái quát cơ sở lý luận, nghiên cứu thực tiễn của việc xây dựng bài giảng learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và đưa ra những giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Trang 14

- Đưa ra các giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu đã đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Cơ sở lý luận của việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài là gì?

- Thực tiễn xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ như thế nào?

- Các giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ là gì?

Trang 15

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm

E-learning: Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về E-learning Theo Horton et al

(2006) cho rằng “E-learning là việc sử dụng công nghệ thông tin và máy tính trong học

tập” [Dẫn theo Trần Thanh Điện (2017)] Về khái niệm này, Trịnh Văn Biều (2012)

cũng đã định nghĩa “E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử như máy tính, mạng Internet Thông qua một máy tính, người dạy và người học

có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video” Theo tác giả Cao Đức Hạnh (2007), “E-learning là việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông.”

Như vậy, chúng ta có thể hiểu, E-learning là việc dạy và học thông qua công cụ

điện tử và mạng internet

Bài giảng E-learning: Bài giảng E-learning được Bộ Giáo dục và Đào tạo định

nghĩa “là sản phẩm được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng (authoring tools), có khả năng tích hợp đa phương tiện (multimedia) gồm phim (video), hình ảnh, đồ họa, hoạt

hình, âm thanh, v.v.và tuân thủ một trong các chuẩn SCROM, AICC, HTML” [Dẫn theo Tài liệu tập huấn bài giảng điện tử E-learning của Cục CNTT – Bộ GD&ĐT, 2018] Như

vậy, chúng ta có thể nhận thấy bài giảng E-learning khác với các giáo án điện tử bởi bài giảng E-learning có thể dùng để học ngoại tuyến hoặc trực tuyến và người học có thể tương tác, tự học trong thời gian, không gian phù hợp

Trang 16

1.1.2 Các đặc điểm của E-learning

Ngày nay, E-learning đang ngày càng phát triển mạnh mẽ trong các cơ sở giáo dục

và đào tạo Việc nghiên cứu và ứng dụng E-learning cũng được nhiều đơn vị quan tâm Chúng ta có thể nhận thấy những đặc điểm chung của E-learning như:

Mở rộng phạm vi giảng dạy: Người học theo hình thức E-learning có thể tự do quyết định thời gian và không gian học tập cho mình, họ có thể học ở mọi lúc, mọi nơi

Vì vậy, người dạy không bị hạn chế về mặt không gian cũng như số lượng người học, bài giảng có thể được người học nghe đi nghe lại nhiều lần

Tiết kiệm thời gian và chi phí: Người học E-learning sẽ tiết kiệm được thời gian

và chi phí vì họ có thể chủ động lựa chọn thời gian phù hợp, tranh thủ học vào lúc rảnh rỗi, lớp học luôn ở ngay trước màn hình các thiết bị công nghệ Người học cũng tiết kiệm được các chi phí đi lại, tài liệu học tập và tham khảo, học phí cũng thấp hơn

Tự định hướng và tự điều chỉnh: Người học hoàn toàn có thể chọn cho mình các khóa học phù hợp nhất với năng lực, trình độ hay mục tiêu của bản thân Họ cũng có thể

tự điều chỉnh tiến độ khóa học để có thể tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất

Tính đồng bộ: Các khóa học E-learning thì có sự đồng bộ về giáo trình và tài liệu tham khảo vì chúng thường được người dạy hay đơn vị đào tạo lựa chọn và đưa lên dữ liệu từ ban đầu

Tương tác và hợp tác: Người học có thể giao lưu và tương tác với những người học khác và giáo viên cùng lúc để thảo luận hay làm bài tập về nhà thông qua các diễn đàn do giáo viên hoặc người học tự tạo ra

1.1.3 Quy trình xây dựng bài giảng E-learning

Theo Tài liệu tập huấn bài giảng điện tử E-learning của Cục CNTT – Bộ GD&ĐT

2018, quy trình xây dựng bài giảng e-learning gồm 5 bước như sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu và kiến thức cơ bản của bài học

Trang 17

Người thực hiện bám sát nội dung chương trình; nghiên cứu kỹ giáo trình và tài liệu tham khảo; xác định nội dung trọng tâm Mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài, học viên đạt được cái gì Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục tiêu giảng dạy, tức là chỉ ra sản phẩm mà học sinh có được sau bài học Người thực hiện cần đọc kĩ tài liệu giảng dạy, kết hợp với các tài liệu tham khảo để tìm hiểu nội dung của mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới của mỗi mục Trên cơ sở đó xác định đích cần đạt tới của

cả bài về kiến thức, kĩ năng, thái độ Đó chính là mục tiêu của bài

Những nội dung đưa vào bài giảng được chọn lọc từ khối lượng các tài liệu (thiết

kế, tài liệu vận hành, tài liệu nhà chế tạo, v.v.), được sắp xếp một cách logic, khoa học, đảm bảo tính sư phạm và thực tiễn cao

Bước 2: Xây dựng kho tư liệu phục vụ bài giảng

Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc từ internet, v.v hoặc được xây dựng mới bằng đồ hoạ, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay video, bằng các phần mềm đồ hoạ chuyên dụng như Macromedia Flash, Photoshop, các phần mềm cắt ghép nhạc, chỉnh sửa video, v.v Khi tiến hành, cần chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm Sau khi có được đầy đủ tư liệu cần dùng cho bài giảng điện tử, phải tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý Cây thư mục hợp lý

sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa nay sang ổ đĩa khác,

từ máy này sang máy khác

Bước 3: Xây dựng kịch bản bài giảng

Cần thực hiện chi tiết và cần phải tuân thủ các nguyên tắc sư phạm, nội dung cơ bản, đảm bảo mục tiêu bài học (cả về mặt kiến thức và kỹ năng) Thực hiện các bước trong các nhiệm vụ dạy học: Xây dựng các bước dạy học, xây dựng sự tương tác người

Trang 18

dạy và người học, xây dựng các câu hỏi tương tác, lắp ghép các bước lại thành quá trình dạy học

Bước 4: Lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản

Tiêu chí cần căn cứ vào nhu cầu của người sử dụng, căn cứ vào nguồn tài chính, căn cứ vào trình độ của cán bộ kỹ thuật sử dụng công cụ như thế nào Các công cụ: có nhiều công cụ, chẳng hạn Lecture Marker, Violet, Adobe Presenter, iSpring Presenter, V-iSpring Suit, v.v Tuy nhiên một phần mềm được nhiều giáo viên sử dụng đó là Adobe Presenter vì nó có khả năng tích hợp với Powerpoint nên nó tạo ra tính thân thiện và gần gũi đối với giảng viên Các bước để số hóa kịch bản: Xây dựng được bài giảng bằng MS Powerpoint Quá trình xây dựng phải đảm bảo các bước trong quá trình dạy học; Ghi âm, thu hình (quay video giảng viên giảng bài); Biên tập video, âm thanh; Sử dụng phần mềm

để đồng bộ bài giảng

Bước 5: Chạy thử chương trình, sửa chữa và đóng gói sản phẩm

Người thực hiện là nhóm kỹ thuật Công việc gồm: chạy thử chương trình, kiểm soát lỗi và chỉnh sửa bài giảng Sau đó, đóng gói bài giảng theo định dạng phù hợp với mục đích yêu cầu Kết thúc bước này ta đã có sản phẩm bài giảng trực tuyến Trong mỗi bước của quy trình trên, người thực hiện có thể là giảng viên hoặc nhóm kỹ thuật hoặc cả hai Cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa giảng viên và nhóm kỹ thuật

1.2 Đặc điểm nội dung đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài

1.2.1 Đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài

Hiện nay, ngày càng có nhiều đối tượng người nước ngoài có nhu cầu học Tiếng Việt với những mục đích khác nhau như học tập, đi du lịch, gia đình và nhiều nhất là để phục vụ cho công việc Đối tượng người học rất phong phú, họ đến từ nhiều đất nước khác nhau trên thế giới, trong số đó cũng có rất nhiều người nước ngoài gốc Việt Do vậy, việc đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài đang ngày càng phát triển Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thông tư số 17/2015/TT-BGDĐT Hà Nội, ngày 01 tháng 09 năm 2015 về việc Ban hành khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước

Trang 19

ngoài và Định dạng đề thi đánh giá năng lực tiếng Việt theo Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài ban hành theo Quyết định số 2097/QĐ-BGDĐT ngày 21 tháng 06 năm 2016 Dựa vào đó, các Khoa, Trường Đại học cũng như các trung tâm đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài đã và đang xây dựng các chương trình đào tạo, tiến hành rà soát các điều kiện để có thể tổ chức đánh giá và cấp chứng chỉ Tiếng Việt cho người học

Tương tự như nội dung giảng dạy những ngoại ngữ khác, giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng chủ yếu tập trung đào tạo các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết theo từng cấp độ Bên cạnh đó, nội dung đào tạo tiếng Việt cho người nước ngoài còn có những môn học khác như dịch thuật, các môn học liên quan đến kinh tế, văn hóa, du lịch Việt Nam

1.2.2 Vai trò của E-learning trong đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài

Theo Hoàng Thị Kiều Hoa (2014), “việc dạy ngoại ngữ theo mô hình tích hợp Learning là sự kết hợp giữa phương pháp giảng dạy, quản lý truyền thống với phương pháp hoàn toàn năng động và nhiều tính năng mới mang lại nhiều lợi ích cho đơn vị đào tạo cũng như người dạy như tiết kiệm thời gian, không gian và chi phí đầu tư” và tác giả cũng đã chỉ ra “việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ngoại ngữ đã mang lại hiệu quả, tạo ra được môi trường học tập thân thiện, hứng thú cho người học, giúp cho người học ngoại ngữ có thể học mọi lúc mọi nơi.” Chúng ta có thể nhận thấy, E-learning đóng vai trò quan trọng trong việc dạy và học ngoại ngữ, tạo điều kiện thuận lợi giúp người dạy và người học có thể đạt được mục đích một cách dễ dàng Đối với việc giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài cũng tương tự như việc giảng dạy các ngoại ngữ khác, do vậy, vai trò của việc ứng dụng E-learning trong giảng dạy rất quan trọng Đặc biệt, đối với đối tượng người học Tiếng Việt đa dạng và ở khắp nơi trên thế giới thì việc xây dựng các khóa học E-learning càng mang lại hiệu quả cao cho cả người học, người dạy lẫn đơn vị đào tạo Chẳng hạn, các khóa học E-learning cơ bản có thể được giảng dạy cho đối tượng người học trước khi đến Việt Nam, để khi đến học hay làm việc ở Việt Nam thì họ có thể nhanh chóng tiếp cận hơn Đối với các trung tâm tiếng Việt ở nước

Trang 20

E-ngoài, các khóa học E-learning có thể thu hút sinh viên bước đầu học tiếng Việt và giáo viên cũng chưa cần phải đến trung tâm đó để giảng dạy trực tiếp Đặc biệt, trong những mùa dịch bệnh phức tạp như gần đây, việc giảng dạy E-learning lại càng có ý nghĩa quan trọng

Trang 21

là phương pháp nghiên cứu liên khoa học, là sự kết hợp của hai ngành khoa học trở lên để cùng đạt đến những mục tiêu chung trong nhận thức đối tượng nghiên cứu Đây là cách thức tổ chức, tiến hành nghiên cứu có sử dụng quan điểm, tri thức và phương pháp nghiên cứu của một nhóm chuyên gia thuộc các chuyên ngành khác nhau để giải quyết vấn đề một cách toàn diện, khách quan và hiệu quả nhất Đề tài là sự kết hợp những thông tin, kiến thức từ nhiều chuyên ngành khác nhau như giảng dạy ngôn ngữ, văn hóa,

xã hội và công nghệ nên việc sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu

sẽ giúp cho quá trình tìm hiểu tài liệu của nhóm nghiên cứu dễ dàng hơn cũng như có thể liên kết được những nội dung các ngành khác nhau

Để nghiên cứu về việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, nhóm nghiên cứu chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau Trước hết, chúng tôi tiếp cận dưới góc độ phương pháp giảng dạy để nghiên cứu về các bài giảng Thứ hai, chúng tôi tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc

độ ngôn ngữ học để tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tiếng Việt cho người nước ngoài, việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ Thứ ba, chúng tôi tiếp cận dưới góc độ xã hội để khảo sát nhu cầu người học Và cuối cùng, chúng tôi nghiên cứu đối tượng E-learning dưới góc độ công nghệ thông tin để tìm hiểu những đặc điểm, quy trình, những yếu tố thuận lợi cũng như khó khăn trong việc xây dựng các bài giảng E-learning

Trang 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được nhóm nghiên cứu sử dụng để miêu

tả đối tượng nghiên cứu là việc xây dựng bài giảng learning như các đặc điểm của learning, quy trình xây dựng bài giảng E-learning, các đặc điểm trong nội dung đào tạo tiếng Việt cho người nước ngoài

E Phương pháp phân tích SWOT: Dựa trên những số liệu nghiên cứu, phương pháp phân tích SWOT giúp nhóm nghiên cứu có thể phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để làm rõ thực tiễn cũng như đưa ra những giải pháp của việc xây dựng E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Thu thập và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc ứng dụng E-learning trong dạy học, từ đó phân tích và tổng hợp cơ sở lý luận của đề tài; lập phiếu điều tra về thực tiễn xây dựng bài giảng E-learning trong việc giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, phiếu điều tra về nhu cầu học Tiếng Việt qua hình thức E-learning khảo sát các đối tượng người học Sau đó, thống kê các dữ liệu thu được, tổng hợp, phân tích và so sánh để rút ra các kết luận và đưa ra các đề xuất, kiến nghị

2.3 Khách thể nghiên cứu

Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu chúng tôi xác định các khách thể nghiên cứu bao gồm:

- Giảng viên đã và đang dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

- Sinh viên/ học viên nước ngoài đã và đang học tiếng Việt tại trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Trang 23

2.4 Quá trình triển khai nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu cũng có nhiều thuận lợi trong việc tìm hiểu tài liệu nghiên cứu

cơ sở lý thuyết bởi các đề tài về E-learning đã và đang nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế cũng đã tiến hành nghiên cứu về E-learning Một

số giảng viên tiếng Anh cũng đã thử nghiệm E-learning trong giảng dạy và một số ít giảng viên khoa Việt Nam học cũng đã tìm hiểu và bước xây dựng những bài giảng E-learning nên đây cũng là một điều kiện tốt để nhóm nghiên cứu có thể khảo sát và học hỏi kinh nghiệm

2.4.2 Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi, nhóm nghiên cứu cũng gặp không ít khó khăn Thứ nhất, nhóm nghiên cứu chưa từng tìm hiểu cũng như thử nghiệm E-learning trước đó nên trong quá trình nghiên cứu, các thành viên trong nhóm đã mất nhiều thời gian để tìm kiếm thông tin, tìm hiểu các phần mềm và cách sử dụng chúng

Khó khăn thứ hai mà nhóm gặp phải đó là vấn đề khảo sát nhu cầu người học Theo kế hoạch nghiên cứu, nhóm phải khảo sát những đối tượng người học là người nước ngoài đã từng hoặc đang học Tiếng Việt tại khoa Việt Nam học, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế Tuy nhiên, số người học này phần lớn là về nước và rất khó để liên lạc Một khó khăn nữa là đối tượng người nước ngoài đến từ nhiều quốc gia và đa ngôn ngữ, bảng khảo sát của nhóm nghiên cứu chủ yếu chỉ thể hiện ở hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh nên một số đối tượng được khảo sát không hợp tác được

Trang 25

CHƯƠNG 3:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Tính cấp thiết của việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Ngoại ngữ

3.1.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa

Khoa Việt Nam học, trường ĐHNN, ĐHH bắt đầu đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài từ năm 2008 Trong suốt 10 năm qua, các học viên người nước ngoài đến học Tiếng Việt tại khoa khá đa dạng về quốc tịch như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Mỹ, Úc, v.v Trình độ Tiếng Việt của các học viên cũng khác nhau, có những học viên đã học Tiếng Việt tại đất nước của họ từ 1 đến 2 năm, cũng có những học viên chưa từng học Tiếng Việt trước đó

Với nhiều đối tượng học viên và trình độ khác nhau như vậy, chương trình đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa Việt Nam học cũng có nhiều chương trình đào tạo các khóa học khác nhau tùy theo nhu cầu của học viên Một số chương trình đào tạo Tiếng Việt tại khoa trong những năm qua, chương trình Tiếng Việt 3+1, 2+2, chương trình đào tạo Tiếng Việt 1 năm theo học chế tín chỉ, các khóa Tiếng Việt ngắn hạn với các trình độ Sơ cấp, Trung cấp, Nâng cao theo khung năng lực Tiếng Việt và chương trình Huế học (Văn hóa Huế) dành cho người nước ngoài

Về điều kiện giảng viên, hiện tại khoa có tất cả 13/14 giảng viên tham gia dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài ở các nhóm học phần thực hành tiếng, biên phiên dịch cũng như các học phần về kinh tế - văn hóa – xã hội Trong số đó, có 8/13 giảng viên đã tham gia giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài trên 10 năm, còn lại các giảng viên khác đều tham gia giảng dạy trong khoảng thời gian từ 5 đến 10 năm

Tất cả các giảng viên tham gia giảng dạy đều có chứng chỉ lớp Phương pháp giảng dạy Tiếng Việt như một ngoại ngữ Hiện tại, giáo viên của khoa đang tiến hành soạn 2 bộ

Trang 26

giáo trình Tiếng Việt trình độ A1 và A2 theo tiêu chuẩn Khung năng lực Tiếng Việt cho người nước ngoài của Bộ giáo dục và đào tạo để đưa vào giảng dạy trong những năm học tới

Với những điều kiện hiện tại, cũng như định hướng phát triển của khoa và trường, việc triển khai và đẩy nhanh tốc độ xây dựng bài giảng E-learning là một trong những việc cần thiết

Khi đánh giá về tầm quan trọng của việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài, đa phần các giảng viên trong khoa đều đánh giá là rất quan trọng Chúng ta có thể nhận thấy điều này ở biểu đồ 1

Biểu đồ 1 Đánh giá của giảng viên về mức độ quan trọng của việc xây dựng bài

giảng E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài

3.1.2 Thực tiễn việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài tại khoa

Trong thời gian gần đây, khoa và trường đã rất quan tâm đến việc xây dựng bài giảng E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài Tuy nhiên, việc xây dựng bài giảng E-learning này tại khoa Việt Nam học cũng không phải là điều dễ dàng

Rất quan trọng 62%

Quan trọng 38%

Trang 27

Việc sử dụng bài giảng điện tử trong các học phần giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài đều được các giảng viên quan tâm và sử dụng ở các mức độ khác nhau

Biểu đồ 2 Mức độ sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy Tiếng Việt cho người người

ngoài

Dựa vào biểu đồ 2, chúng ta có thể nhận thấy, 61.5% giảng viên sử dụng giáo án điện tử từ 50% đến 70% các tiết giảng, 23.1% giảng viên sử dụng dưới 50% các tiết giảng và cũng có 7.7% giảng viên không sử dụng giáo án điện tử, 7.7% giảng viên sử dụng 100% giáo án điện tử vào các tiết giảng Như vậy, đa phần các giảng viên của khoa đều đã xây dựng và sử dụng giáo án điện tử vào việc giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài Đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để các giảng viên có thể chuyển từ giáo án điện tử dần trở thành các bài giảng E-learning Tuy nhiên, số lượng giảng viên đã từng sử dụng giáo án điện tử để xây dựng bài giảng E-learning chỉ đạt 50%, điều này được thể hiện ở biểu đồ 3

Từ 50% - 75% các tiết giảng 100% các tiết giảng

Trang 28

Biểu đồ 3 Tỉ lệ giảng viên đã từng sử dụng giáo án điện tử để xây dựng bài giảng

E-learning

Biểu đồ 4 Những nội dung về xây dựng bài giảng E-learning đã được giảng viên tìm hiểu

Nhìn vào biểu đồ 4 về việc tìm hiểu những nội dung xây dựng bài giảng learning đã được giảng viên tìm hiểu, chúng ta có thể thấy, hầu hết các giảng viên đều có

E-ý thức tìm hiểu việc xây dựng bài giảng E-learning, không có giảng viên chưa tìm hiểu nội dung nào, 100% giảng viên đã tìm hiểu về các kỹ thuật sử dụng phần mềm, 64.3% các giảng viên đã tìm hiểu về các khái niệm cơ bản, 64.3% giảng viên đã tìm hiểu đến các quy trình xây dựng bài giảng E-learning và có 78.6% giảng viên đã tìm hiểu về các kỹ

Rồi 50%

Chưa 50%

Trang 29

thuật sử dụng website giảng dạy E-learning Sau khi tìm hiểu, việc đi vào thực hiện xây dựng bài giảng E-learning cũng là vấn đề được quan tâm Biểu đồ 5 thể hiện những bước xây dựng bài giảng E-learning mà giảng viên đã thực hiện

Biểu đồ 5 Các bước xây dựng bài giảng E-learning đã được giảng viên thực hiện

Biểu đồ 5 cho thấy, số lượng các giảng viên chưa thực hiện các bước xây dựng bài giảng E-learning chỉ chiếm 21.4%, có 71.4% giảng viên đã xác định mục tiêu và kiến thức, 50% các giảng viên xây dựng kho tư liệu phục vụ cho bài học và xây dựng kịch bản dạy học.Có 28.6% giảng viên đã thực hiện việc lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản và 7.1% giảng viên đã thực hiện đến bước chạy thử, chỉnh sửa và hoàn thiện việc xây dựng bài giảng E-learning

3.1.3 Nhu cầu của giảng viên về những nội dung cần trang bị cho việc xây dựng bài giảng E-learning

Trên cơ sở thực tiễn việc xây dựng E-learning trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài tại Khoa Việt Nam học, phần lớn giảng viên trong khoa đều nắm rõ tầm quan trọng và sẵn sàng cho việc tìm hiểu và thực hiện xây dựng bài giảng E-learning Mặc dù, trường Đại học Ngoại ngữ cũng đã tổ chức một buổi tập huấn về sử dụng E-learning, nhưng với thời gian ngắn và trùng với các tiết giảng dạy tại trường khiến nhiều giảng viên chưa tham gia được, chỉ có 5/13 giảng viên tham dự được buổi tập huấn Hơn

Chạy thử, chỉnh sửa và hoàn thiện

Lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản

Xây dựng kịch bản dạy học Xây dựng kho tư liệu phục vụ cho bài học

Xác định mục tiêu và kiến thức

Chưa thực hiện

Trang 30

nữa với thời gian hạn hẹp, E-learning lại có nhiều nhiều đặc điểm mới mẻ và phức tạp, các giảng viên trong khoa cũng cần hỗ trợ trang bị nhiều nội dung hơn nữa

Biểu đồ 6 Những phần mềm xây dựng bài giảng E-learning được biết đến

Ở biểu đồ 6, khi nhóm khảo sát hỏi về hiểu biết của các giảng viên về một số phần mềm thường được dùng để xây dựng bài giảng E-learning thì có 2 giảng viên chưa biết đến phần mềm nào, phần mềm Violet là phần mềm được nhiều giảng viên biết đến nhất với tỉ lệ 53.8%, những phần mềm như LectureMaker hay Adobe Presenter cũng được các giảng viên biết đến, 2 phần mềm còn lại gồm iSpring Presenter và V-iSpring Suit thì không có giảng viên nào biết đến Trong khi đó, việc sử dụng các phần mềm đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng bài giảng E-learning vì những phần mềm này giúp giảng viên tích hợp được giáo án điện tử của mình và các hình ảnh, trò chơi, video hay file âm thanh bài giảng… một cách dễ dàng và tạo được sự hấp dẫn

Trang 31

Biều đồ 7 Những vấn đề giảng viên cần hỗ trợ trong việc xây dựng bài giảng

E-learning

Do vậy, khi khảo sát về những vấn đề mà giảng viên cần được hỗ trợ trong việc xây dựng bài giảng E-learning, 71.4% giảng viên cần được cung cấp phần mềm cùng với những hướng dẫn sử dụng cụ thể, 42.9% giảng viên cần tập huấn một số vấn đề cơ bản về bản quyền liên quan đến E-learning, 57.1% giảng viên cần được hỗ trợ về việc sử dụng phòng thu âm/quay video một cách linh hoạt và có cán bộ kỹ thuật hỗ trợ Về chế độ hỗ trợ kinh phí phù hợp, có 42.9% giảng viên yêu cầu hỗ trợ về vấn đề này vì việc xây dựng bài giảng E-learning thật sự rất phức tạp, cần đầu tư nhiều dụng cụ dạy và học, mua bản quyền các phần mềm, các tài liệu, v.v

3.1.4 Nhu cầu sử dụng bài giảng E-learning của sinh viên nước ngoài học Tiếng Việt

Để tìm hiểu và đánh giá nhu cầu sử dụng bài giảng E-learning của sinh viên nước ngoài học Tiếng Việt, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 52 sinh viên/ học viên đã từng tham gia các lớp học Tiếng Việt tại khoa Việt Nam học, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế hoặc tại Trung tâm đào tạo quốc tế, Đại học Huế Qua khảo sát, nhóm nghiên cứu đã đạt được những kết quả như sau

Trang 32

Thứ nhất, về nhóm độ tuổi tham gia khảo sát chủ yếu là sinh viên ở độ tuổi dưới

20 tuổi, chiếm 52%, thứ hai là nhóm độ tuổi từ 20 đến 25 tuổi chiếm 36%, cũng có nhóm

độ tuổi từ 26 đến 30 tuổi và trên 35 tuổi tham gia khảo sát như biểu đồ 8 đã thể hiện

Biểu đồ 8 Độ tuổi của các đối tượng người học

Nhìn vào biểu đồ 9, khi trả lời về nhu cầu học Tiếng Việt, có 86% đối tượng khảo sát có nhu cầu, 10% chưa chắc chắn và 4% không có nhu cầu học Tiếng Việt Như vậy, hiện tại đa số người được khảo sát đều có nhu cầu học Tiếng Việt

Biểu đồ 9 Nhu cầu học Tiếng Việt

Đa số những người có nhu cầu học Tiếng Việt chủ yếu để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu, chiếm 78.9% Cũng có 48.1% số người muốn học Tiếng Việt vì sở thích, 51.9% vì phục vụ công việc, cũng có 15.4% người được khảo sát có nhu cầu học Tiếng Việt vì yếu tố gia đình, và 9.6% vì lý do khác như yêu thích một người nổi tiếng ở Việt Nam, muốn có bạn gái hoặc bạn trai là người Việt Nam, v.v Chúng ta có thể nhìn thấy những số liệu này ở biểu đồ 10

86%

4%

10%

Có Không không chắc

Trang 33

Biểu đồ 10 Lý do muốn học Tiếng Việt

Biểu đồ 11 Mức độ quan tâm đến các khóa học Tiếng Việt E-learning

Nhìn vào biểu đồ 11, chúng ta có thể thấy, sự quan tâm đến các khóa học Tiếng Việt E-learning của những người được khảo sát khá cao, 61% người được khảo sát trả lời quan tâm và 31% rất quan tâm Và cũng có một số rất ít người được khảo sát trả lời không chắc chắn hoặc không quan tâm

Trang 34

Biểu đồ 12 Các khóa học Tiếng Việt E-learning được người học quan tâm

Dựa vào biểu đồ 12, chúng ta có thể thấy các khóa học Tiếng Việt E-learning được người học quan tâm chủ yếu là các khóa học kỹ năng nghe và nói trong giao tiếp, kỹ năng nghe, nói, đọc, viết lần lượt là sự lựa chọn của hơn 55.8% và 51.9% số người tham gia khảo sát Và có 34.6% số người được khảo sát quan tâm đến các khóa học E-learning về kinh tế - văn hóa – xã hội Việt Nam

Nhìn vào biểu đồ 13, chúng ta có thể thấy rõ nhu cầu nhận chứng chỉ sau các khóa học Tiếng Việt E-learning là rất cao, chiếm 85% số người được khảo sát

Biểu đồ 13 Nhu cầu nhận chứng chỉ sau khóa học Tiếng Việt E-learning

34.6%

55.8% 51.9%

Kinh tế - Văn hóa - Xã hội Việt Nam

Kỹ năng giao tiếp (Nghe - Nói)

Kỹ năng Nghe - Nói - Đọc - Viết

Có 85%

không 15%

Trang 35

Biểu đồ 14 thể hiện đánh giá về những thuận lợi mà các khóa học Tiếng Việt learning mang lại Những thuận lợi đầu tiên chính là tiết kiệm thời gian và kinh phí là lựa chọn của lần lượt chiếm 69.2% và 53.8% số người được khảo sát Thuận lợi tiếp đến là

E-sự linh hoạt về không gian và thời gian, cũng như E-sự tiện lợi vì có thể xem lại hoặc nghe lại các bài giảng của giảng viên với sự lựa chọn của 36.5% số người tham gia khảo sát

Và có 11.5% số người tham gia khảo sát nhận thấy thuận lợi vì sự phong phú của tài liệu học tập

Biểu đồ 14 Những thuận lợi khi tham gia khóa học Tiếng Việt E-learning

Bên cạnh những thuận lợi, việc học với hình thức E-learning của có những khó khăn như biểu đồ 15 đã thể hiện 63.5% số người tham gia khảo sát nhận thấy khó khăn

vì không thể giao tiếp trực tiếp với giảng viên 38.5% số người tham gia khảo sát nghĩ rằng việc học qua E-learning khiến họ không thể có được những trải nghiệm thực trong không gian văn hóa Việt Nam 36.5% số người được khảo sát cho rằng hình thức học này

bị phụ thuộc vào tốc độ kết nối internet nên cũng là một khó khăn

Có thể xem/nghe bài giảng của giáo viên nhiều lần

Tài liệu phong phú Chủ động về không gian và thời gian Tiết kiệm chi phí (đi lại, học phí…)

Tiết kiệm thời gian

Trang 36

Biểu đồ 15 Những khó khăn khi tham gia khóa học Tiếng Việt E-learning

Biểu đồ 16 Những yếu tố giúp tạo nên một khóa học Tiếng Việt E-learning hiệu quả

Nhìn vào biểu đồ 16, chúng ta có thể có thêm những yếu tố giúp tạo nên một khóa học Tiếng Việt E-learning hiệu quả gồm sự thân thiện và nhiệt tình của giảng viên, nội dung bài học dễ hiểu và cuốn hút, đội ngũ tư vấn và hỗ trợ tốt cũng như tốc độ đường truyền cao Trong đó, sự thân thiện và nhiệt tình của giáo viên được người học đánh giá cao nhất với 61.5%, tiếp đến là nội dung bài giảng với 55.8% Đội ngũ tư vấn và hỗ trợ

36.5%

63.5% 38.5%

Bị phụ thuộc vào tốc độ đường truyền internet

Không thể giao tiếp trực tiếp với giáo viên

Không thể trải nghiệm không gian văn hóa Việt

55.8%

61.5%

42.3%

34.6%

Nội dung bài giảng hấp

dẫn, dễ hiểu Giáo viên thân thiện, nhiệt tình Đội ngũ tư vấn và hỗ trợ tốt Tốc độ đường truyền tốt

Ngày đăng: 30/08/2023, 17:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w