Câu 1. Đối chiếu văn bản tác phẩm Quảng Nam tỉnh phú trong 2 tài liệu Quảng Nam xưa nay và Địa chí Quảng Nam Đà Nẵng. Phân tích đặc điểm hình thức và giá trị nội dung bài phú này. Câu 2. Phân tích đặc điểm bút pháp thể Luận qua trường hợp tác phẩm Lập chính lâm dân luận của Phạm Phú Thứ.
Trang 1Họ và tên GVHD : TS Nguyễn Hoàng Thân
Nhóm SV thực hiện: Lê Đàm Phương Oanh
Trần Thanh Hiền
Nguyễn Thị Hồng Diễm Phan Japan
Trang 3Đề bài:
Câu 1 Đối chiếu văn bản tác phẩm Quảng Nam tỉnh phú trong 2 tài liệu Quảng Nam xưa & nay và Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng Phân tích đặc điểm hình thức và giá trị nội dung bài phú này
Câu 2 Phân tích đặc điểm bút pháp thể Luận qua trường hợp tác phẩm Lập chính lâm dân luận của Phạm Phú Thứ
Trang 4là thể văn tả cảnh, nhưng thơ phú thường mượn cảnh để tả tình, tả cảnh vật
để nói lên suy nghĩ nội tâm của con người Thể phú được vua chúa Việt Nam dùng trong khoa cử Trong kì thi Hương và thi Hội, phú là một phần của tam trường Từ bao đời nay, phú đã tồn tại và phát triển qua nhiều thế hệ Hiện nay còn nhiều tài liệu liên quan, cùng với đó là những tác phẩm kinh điển Trong đó, “Quảng Nam tỉnh phú” cũng là bài phú khá nổi tiếng, đặc biệt là người dân tỉnh Quảng Nam đa phần đều biết tới Qua đôi bàn tay tài hoa của Trần Đình Phong, ông đã viết nên một bài phú nói lên tất cả về vùng đất địa linh nhân kiệt này
Không chỉ nói về Phú, trong bài tập này, còn có đề cập tới bút pháp thể Luận Bút pháp thể luận là một lối viết thiên nặng về phần lí luận, nhằm bài
về một vấn đề hay một sự việc nào đó trong xã hội đương thời, hoặc cũng có thể là trong quá khứ để rồi từ đó mà dẫn dắt, đề ra phương hướng có logic cao, thuyết phục và đúng quy chuẩn đương thời Được nhắc đến trong đề tài lần này là tác phẩm được nhiều đánh giá cao của Phạm Phú Thứ, đó là Lập chính lâm dân luận Tác phẩm này liệu có mang những đặc điểm giá trị riêng hay chung quy lại vẫn chỉ là những đặc điểm cơ bản của bút pháp? Và những đặc điểm đó cụ thể là gì? Phần sau sẽ làm rõ
Trang 5NỘI DUNG Câu 1 Đối chiếu văn bản tác phẩm Quảng Nam tỉnh phú trong 2 tài liệu Quảng Nam xưa & nay và Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng Phân tích đặc điểm hình thức và giá trị nội dung bài phú này
Thể loại Phú thường dùng để phô bày, miêu tả cảnh vật, kể về sự việc, hoặc bộc lộ tình cảm chí hướng một cách văn vẻ, phô trương về một sự vật hoặc hiện tượng nào đó Tác giả của tác phẩm “Quảng Nam tỉnh phú” là Trần Đình Phong, một tiến sĩ Hán học người Nghệ An, từng làm Đốc học Quảng Nam từ 1893 - 1905 Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân thì bài phú được soạn trong khoảng thời gian từ sau năm 1892 - 1898 vì trong bài phú
có nhắc đến một số nhà khoa bảng đỗ khoa Nhâm Thìn (1892) nhưng lại không nhắc đến sự kiện Ngũ phụng tề phi (1898) Sau này nhiều nhà nghiên cứu lại khẳng định ít nhất là phải sau năm 1895 vì “mới chân ướt chân ráo vào Quảng Nam thì tác giả không thể nắm được một số kiến thức cụ thể và
đa dạng đến như thế” (Lê Thí, Quảng Nam tỉnh phú, một tư liệu quý, Đất và người xứ Quảng) Tác phẩm “Quảng Nam tỉnh phú” trong hai tài liệu “Quảng
Nam xưa nay” và “Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng” đều giới thiệu tỉnh Quảng Nam với những miêu tả về địa hình, lịch sử, con người để nhận diện được những đặc điểm nổi bật Có thể nói nội dung gần như là giống nhau, nhưng
về hình thức lại có sự khác biệt
Thứ nhất, về vấn đề đặt tên bài phú Tuy cả hai đều được dịch lại, nhưng chỉ có tác phẩm “Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng” là còn giữ lại đúng motip cách thức đặt tên của thể loại phú là “Tên + Phú” thành “Quảng Nam tỉnh phú” Còn tác phẩm “Quảng Nam xưa nay” lại không đặt tên theo motip này,
mà đặt tên thuần Việt thành “Bài phú tỉnh Quảng Nam”
Trang 6Thứ hai, về hình thức trình bày thì tác phẩm “Quảng Nam tỉnh phú” có cách trình bày mạch lạc, rõ ràng hơn “Bài phú tỉnh Quảng Nam” Cùng là tổng quan vị trí địa lý, giới thiệu hệ thống huyện xã, cũng như tình hình dân
cư và ruộng đất, nhưng “Bài phú tỉnh Quảng Nam” thì trình bày:
“ Quảng Nam, phía tải kinh kỳ, phần sao thuần vỹ, phủ hai huyện sáu, tổng bốn mươi lăm, xã một nghìn dư, đinh năm vạn lẻ Ruộng đất hơn ba muôn mẫu Tô thuế đến năm vạn linh.”
Còn “Quảng Nam tỉnh phú” thì ngược lại, không trình bày một đoạn dài với những đặc điểm dày đặc mà trình bày gãy gọn, ngắt từng ý, khiến người đọc dễ theo dõi và dễ hiểu hơn
“ Quảng Nam, phía tải kinh kỳ, phần sao Thuần, Vỹ,
Phủ hai, huyện sáu, tổng bốn mươi lăm,
Xã một nghìn dư, đinh năm vạn lẻ
Ruộng đất hơn ba muôn mẫu,
Tô thuế đến năm vạn linh.”
Thứ ba, trong bài “Quảng Nam tỉnh phú”, trước khi bắt đầu giới thiệu tỉnh Quảng Nam với những đặc điểm về địa lý, con người, sản vật, khí hậu, thì người dịch còn giới thiệu tác giả của bài phú là Trần Đình Phong, với lý lịch cá nhân vắn tắt như năm sinh năm mất, quê hương, học vị, những thành tựu đạt được, còn “Bài phú tỉnh Quảng Nam” thì mở đầu bằng cách lấy chữ đầu tên các phủ, huyện của Quảng Nam làm vận: Điện (Điện Bàn), Diên (Diên Khánh), Duy (Duy Xuyên), Hòa (Hòa Vang), Thăng (Thăng Bình), Lễ (Lễ Dương), Quế (Quế Sơn), Đông (Hà Đông) Tóm tắt nội dung cơ bản (Nên nói sự thật về các thay đổi xưa nay và tứ chí địa giới, núi sông, nhân
Trang 7vật, nghề nghiệp, sản phẩm, danh lam thắng tích trong tỉnh) Và những vấn
đề này đều được thuyết minh rõ ràng ở những phần tiếp theo sau đó Tuy trong bài “Quảng Nam tỉnh phú” không có phần tóm tắt này nhưng ở những phần tiếp theo sau đó các vấn đề đều được đề cập đến
Motip nội dung cả hai bài đều được trình bày gần giống nhau Đều nhấn mạnh sự thống nhất của đất nước ta thời bấy giờ nên Quảng Nam mới được Tiên triều mở rộng bờ cõi về phía nam như thế này Sau đó giới thiệu vị trí địa lý của tỉnh Quảng Nam là tỉnh lẻ, nằm ở phía trái kinh đô “ Quảng Nam, phía tải kinh kỳ” Giới thiệu tổng quan về các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Quảng Nam cũng như dân cư và ruộng đất trực thuộc tỉnh này “phủ hai huyện sáu, tổng bốn mươi lăm, xã một nghìn dư, đinh năm vạn lẻ Ruộng đất hơn
ba muôn mẫu Tô thuế đến năm vạn linh” Tuy chỉ là tỉnh lỵ nhưng lại rất giàu có, với dinh thự nguy nga, có trường học, miếu thờ, nhà cửa đồ sộ
Quảng Nam không phải tên gọi có từ trước, mà để có tên gọi Quảng Nam như ngày hôm nay là cả một quá trình dài, gắn liền với lịch sử nước nhà Được tác giả kể rằng, đất Quảng Nam “Từ Trần về trước, thuộc đất Chiêm Thành” Nhà Hồ năm thứ 2 mới đặt là Thăng ba lộ, đến Lê thời Hồng Đức thứ 2 mới đặt là Quảng Nam thừa tuyên Sau đó Tiên triều lấy huyện Điện Bàn sáp vào Quảng Nam, lấy Hải Vân làm ranh giới Bổn triều thái tổ đổi làm dinh, Gia Long thứ 7 đổi làm trấn, đến thời Minh Mạng mới đổi thành tỉnh Quảng Nam như ngày nay Sự phân chia ranh giới rạch ròi, Nam giáp Quảng Nghĩa, bắc giáp Thừa Thiên, tây giáp Lào Xiêm, đông kề biển
cả Đưa ra các số liệu cụ thể “từ cửa bể tới đầu nguồn, chín mươi dư dặm
Từ Hải Vân đến Bến Ván, bảy trạm liền nhau.” Bảy trạm lần lượt là Nam Chân, Nam Ô, Nam Giản, Nam Phước, Nam Ngọc, Nam Kỳ, Nam Vân
Trang 8Ở vùng đất Quảng Nam được mẹ thiên nhiên ưu ái nên hầu như có đủ các loại địa hình phân bố khắp nơi ở tỉnh “ Núi có núi Bàn Than, Đồng Hoạch, Hương Quế, Trà Sơn Mỏ Dều, ”, “Hòn Tặng ở tại Thạch Khô, Hòn Nga thuộc về huyện Lễ Quế Sơn có núi Thiên Trụ, cao ngất tầng mây, ”,
“Cù lao ở ngoài mé biển, Chinh Lãnh thuộc hạt Hà Đông”, “ Cửa biển có ba, ngõ nguồn có sáu Hai dòng nước Sài Giang phát nguyên từ Tả Trạch, ” Những con sông quanh co, được bồi đắp kỹ càng Sông Vĩnh Điện – là con sông mới, sông Hương Giang, sông Trà Úc trong xanh…
Đây được xem là vùng đất “hùng châu danh thắng” vì thế không ngạc nhiên khi có nhiều người tài giỏi được sinh ra và nuôi dưỡng ở vùng đất này
Từ xa xưa, vùng đất xa kinh kỳ này đã có những người đỗ tiến sĩ, nổi tiếng với những dòng họ có truyền thống đỗ đạt trong các kì thi của triều đình Từ Minh Mạng khoa Mậu Tuất, đến Thành Thái khoa Nhâm Thìn có 9 người đỗ tấn sĩ, 1 người đỗ Hoàng giáp, 1 người đỗ song nguyên Hay có những dòng dõi liên tiếp đỗ đạt, Nguyễn Tường Vĩnh làng Cẩm Phô đỗ phó bảng, em là Nguyễn Tường Phổ đỗ tiến sĩ,… Không chỉ học cao, hiểu rộng Họ còn là những bậc tài đức thanh liêm, khí tiết nêu cao Thêm vào đó những người ở vùng này, khi được tiến cử làm quan, phò vua giúp nước cũng đóng góp công lao to lớn Sử sách về những người này còn được lưu truyền
Bên cạnh ca ngợi những người tài cao, đức rộng, thì còn ca ngợi những người bình thường nhưng có phẩm chất cao quý Như xây đập giúp dân Đỗ
Bố Y, vợ chồng sống hơn trăm tuổi có Nguyên Kỳ Lão, hay những người có tướng tốt, có tài lẻ hay, tất cả đều được lưu truyền trong dân gian
Khái quát đặc điểm nghề nghiệp của dân cư trong vùng và các ngành nghề được phân bố ở các khu vực như: “Sĩ thì cắp sách đến trường, hoặc cấp lương ăn học, nông thì đạp xe lấy nước hoặc bắt trâu để cày Thương thì
Trang 9buôn bán bắc nam, phố Minh Hương, Hội An, thuyền Trà Nhiêu, Bàn Thạch Công thì giữ nghề tổ phụ, lò rèn Phước Kiều, Phú Xuân, xưởng mộc Kim Bồng, chợ phố.”
Vì được thiên nhiên ưu ái nên ở nơi đây cũng có nhiều sản vật cũng như khoáng sản nức tiếng gần xa như:
“Tiên Giang, Trà Nỗ, Lỗ Thủy đất có lộn vàng
Ba Vi, Chiên Đàn, Trà My rừng thường xinh quế
Cũng có mỏ đồng, mỏ chì, mỏ sắt,
Cũng hay dệt sa, dệt lụa dệch là,
Nam trân, cảm lãnh, am la trái ngon thường tiến,
Yến sào, ve non, mắm dảnh vật quý thường cung.”
Nơi đây còn lưu giữ những truyền thuyết và cổ tích lâu đời thông qua các di tích lịch sử, danh lam thám cảnh Tương truyền, ngày xưa người Nhật, người Hoa, người Việt tin rằng ở ngoài biển có con cù - một loài thủy quái khi nó quẩy mình thì gây động đất Để khống chế nó người Hoa, người Minh Hương lập chùa, thờ thần Bắc Đế và Cao Biền để nó không gây động đất, hại nhân dân Hay ở làng Chiêm Sơn nay là xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên
có hai lăng mộ của các hoàng hậu chúa Nguyễn là Mạc Thị Giai và Đoàn Thị Ngọc nay vẫn còn Trải qua bao thời gian, nhưng những sự tích ấy vẫn còn Bằng những sự tích li kì, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cũng lắm cảnh kỳ: có cổ tháp, có phương trì, có giếng tiên, có núi ngọc Ngoài ra, còn rất nhiều di tích lịch sử hay những danh lam thắng cảnh mang đậm nét văn hóa dân tộc
Trang 10Thời tiết ở vùng này có thể dự đoán được nhờ vào việc nhìn nhận các đặc điểm sau: “ Cu Đê rạng móng là lụt sắp dâng, Trà Kiệu mù mây là mưa sấp đổ.” Còn khí hậu ở đây được nhận xét là khá dễ chịu vì “Ở gần nhiệt đới, lạnh ít nóng nhiều, vì Phương Nam là nơi trưởng dưỡng, khác với khí hậu bắc phương”
Thế mới thấy, vùng đất Quảng Nam không chỉ có danh lam thắng cảnh nổi tiếng, thiên nhiên đa dạng mà con người nơi đây cũng rất tài giỏi Có được mảnh đất Quảng Nam trù phú như ngày nay là nhờ biết bao công lao của người đi trước Vì thế tác giả cũng đã bày tỏ tấm lòng cảm kích, lòng biết ơn của mình với những người đi trước “ Bởi vậy huơ bút làm bài phú này, nhờ các bậc cao minh phủ chánh Có thấy phong vật tốt tươi trong một tỉnh, mới biết công ơn giáo dục trải ba trăm năm.”
Nhà nghiên cứu Châu Yến Loan cho rằng: “Bài phú đã thể hiện tri thức uyên thâm, tài quan sát tinh tế và bao trùm lên tất cả là tình cảm thắm thiết của Trần Đình Phong đối với vùng đất ông gọi là “Địa linh nhân kiệt” (Tạp chí Non Nước số 184, tháng 4.2013), và cũng là nơi ông đang công tác trên cương vị một nhà quản lý giáo dục với rất nhiều học trò mà ông quý mến cả
về tài năng và nhân cách
Cả hai bài Phú đều là những lời giới thiệu tỉnh Quảng Nam với những đặc trưng cơ bản như vị trí địa lý, lịch sử hình thành, cảnh quan, con người, sản vật, Và thể hiện lòng biết ơn của mình đối với những người đi trước đã
mở rộng bờ cõi, xây dựng tỉnh Quảng Nam rộng lớn và trù phú như ngày hôm nay Bài Phú này như một người hướng dẫn viên đa năng, thấu hiểu lịch
sử hình thành của Quảng Nam và biết tất cả những gì Quảng Nam đang sở hữu, để giới thiệu với bạn bè gần xa Bài Phú này như cuốn biên niên sử của tỉnh Quảng Nam, lưu giữ lại được tất cả những truyền thuyết, địa danh, cũng
Trang 11như con người và sản vật ở vùng này từ bao đời Kết nối quá với hiện tại, hiện tại đến tương lai, để con cháu bao đời không quên về một vùng đất như thế
Trang 12
Câu 2 Phân tích đặc điểm bút pháp thể Luận qua trường hợp tác phẩm Lập chính lâm dân luận của Phạm Phú Thứ
Bút pháp thể luận là thể loại thiên nặng về phần lí luận, nhằm đưa ra ý kiến hay bàn về một vấn đề hay một sự việt nào đó trong xã hội hoặc có thể trong quá khứ từ đó mà dẫn dắt, đề ra phương hướng có logic cao, thuyết phục và đúng quy chuẩn đương thời Các tác phẩm Luận đòi hỏi người viết phải có kiến thức uyên thâm, khả năng lý luận và quan sát cao để bài Luận
có thể đạt được nghĩa lí tinh vi và bàn luận vấn đề đi sâu vào bên trong cốt lõi nhất có thể Hơn thế nữa, một bài Luận thuyết phục là một bài Luận bên cạnh việc có yếu tố thời đại thì cần thêm yếu tố luận sử, lấy vấn đề lịch sử, xem xét tính quy luật mà bàn luận phương hướng vấn đề, sự việc được đặt
ra Một bài luận thông thường sẽ được làm theo thể cổ văn của Trung Hoa như tản văn Tần Hán hay là tứ lục
Phạm Phú Thứ được biết đến là một quan cai trị giỏi, một nhà thương thuyết, một doanh điền sứ, một nhà hoạch định chính sách, một nhà khoa học… So với những người cùng thời, ông là người chính trực và có phần vượt trội ở tư tưởng canh tân đất nước với ước vọng đuổi kịp theo trào lưu bên ngoài Vì thế những tác phẩm mà ông đã để lại đều có giá trị tư tưởng
và nội dung cho đến ngày hôm nay, tư tưởng xuyên suốt của ông trong cuộc đời làm quan của mình đó chính là tư tưởng về canh tân tiến bộ, phương hướng đưa đất nước, triều đại đang trong thời kỳ suy thoái, nguy cơ sụp đổ, mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị và nông dân ngày càng trở nên gay gắt Thế mới thấy tầm nhìn vượt thời đại của Phạm Phú Thứ và tấm lòng trung quân ái quốc, yêu thương nhân dân của một vị quan tài giỏi Tác phẩm “Lập chính lâm dân Luận” là bài luận trình bày quan điểm, suy nghĩ của Phạm Phú Thứ về tư tưởng lập quốc, bình dân Tư tưởng này không những phục vụ trực tiếp cho lợi ích của các bậc vua, quan, quý tộc mà còn là vì quyền lợi và đời
Trang 13sống của nhân dân Chính vì thế, tác phẩm chính luận thể hiện khuynh hướng
tư tưởng, lập trường rõ ràng của Phạm Phú Thứ về những tư tưởng hệ trong việc xây dựng nền chính trị lúc bấy giờ Tư Tưởng của Phạm Phú Thứ bắt nguồn từ tư tưởng truyền thống của dân tộc kết hợp với tư tưởng tiến bộ của thế giới đương thời Tư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn đến hệ tư tưởng Việt Nam ở các giai đoạn sau mà tiêu biểu nhất, và gần với thời của ông nhất
đó là phong trào “Duy Tân” diễn ra ở thế kỉ XX
“Lập chính lâm dân Luận” là bài luận về dựng nền chính trị đến với nhân dân, trong tác phẩm ta không khó khi bắt gặp nhưng tư tưởng khai minh, đổi mới mang tính duy tân Phạm Phú Thứ đặt ra vấn đề chính trị đã không còn là của vua, vì vua mà việc chính trị, việc đất nước luôn phải nhìn xuống dưới, thuận dân thì mới có thể yên ổn được Tư tưởng này đồng điệu với tư tưởng của Nguyễn Trãi “ Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” Đồng thời, ông cũng đặt vấn đề về trách nhiệm của một bậc quân vương và nghĩa vụ của những kẻ sĩ hiền tài trong việc cống hiến, xây dựng đất nước
Mở đầu tác phẩm, Phạm Phú Thứ đề cập đến việc Hoàng đế muốn hỏi
ý kiến của các quan thần về việc xây dựng đất nước phát triển Và bài luận này chính là ý kiến cũng như nhìn nhận của Phạm Phú Thứ về vấn đề phát triển đất nước mà ông muốn dâng lên bề trên Đặc trưng cơ bản của bút pháp luận trong “Lập chính lâm dân Luận” là tính chất luận thuyết Bởi bài luận trình bày tư tưởng và thuyết phục chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ
Đầu tiên, Phạm Phú Thứ đưa ra tư tưởng nhân nghĩa truyền thống bao đời của nhân dân ta bao đời để lập luận sắc bén về việc muốn yên nước, trước hết là đất nước phải có gốc; mà gốc là ở dân Còn trong chính trị, cốt lõi là
để làm sao mà yên dân, một quốc gia có nền chính trị vững bền không phải
là nằm trong địa hạt địa lý, hay tường cao, hào sâu Mà cốt là làmm sao cho