1 §Ò ¸n m«n häc Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n 1 S ự c ầ n t h i ế t c ủ a đ ề t à i đ ó có rất nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Đức EU đối tác đầy tiềm năng trong hợp tác thươn[.]
Các khái niệm
Một quốc gia muốn phát triển cần không chỉ dựa vào nguồn lực nội tại mà còn phải tích cực giao lưu và buôn bán với các nước khác Để các hoạt động này đạt hiệu quả cao, mỗi quốc gia cần xây dựng chính sách kinh tế hợp lý, cả về đối nội lẫn đối ngoại.
Chính sách kinh tế đối ngoại là hệ thống công cụ và nguyên tắc mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế, phù hợp với định hướng quốc gia Để thực hiện các biện pháp này, mỗi quốc gia thường sử dụng chính sách thương mại quốc tế của riêng mình, trong đó có việc thiết lập các rào cản nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước.
Ta có thể phân ra làm hai loại đó là rào cản thuế quan và các rào cản phi thuế quan.
Rào cản thuế quan là khoản tiền mà các quốc gia yêu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu Tuy nhiên, theo quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới và các hiệp định song phương, đa phương, biện pháp này đang dần được giảm thiểu.
Do đó để bảo vệ nền sản xuất trong nuớc thì các quốc gia thường sử dụng các hàng rào phi thuế quan.
Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về hàng rào phi thuế quan Ta có thể hiểu hàng rào phi thuế quan thông qua các khái niệm sau.
Theo OECD, hàng rào phi thuế quan là những biện pháp không liên quan đến thuế quan mà các quốc gia có thể áp dụng để kiểm soát nhập khẩu, thường nhằm mục đích hạn chế lượng hàng hóa nhập vào.
Theo nghiên cứu của PECC, hàng rào phi thuế quan là các công cụ không phải thuế can thiệp vào thương mại, dẫn đến việc làm biến dạng nền sản xuất trong nước.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hàng rào phi thuế quan được định nghĩa là các biện pháp cản trở thương mại không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng.
Vậy biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan và ảnh hưởng đến sự luân chuyển của các quốc gia.
Ưu nhược điểm của hàng rào phi thuế quan
Thứ nhất :Nó đáp ứng mục tiêu với hiệu quả cao
Mỗi quốc gia thường đặt ra nhiều mục tiêu cho chính sách thương mại, trong đó hàng rào phi thuế quan giúp bảo vệ nền sản xuất trong nước còn non trẻ và tránh sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài Điều này không chỉ bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn bảo vệ môi trường Các công cụ này ngày càng được sử dụng hiệu quả hơn, trong khi các biện pháp thuế quan ngày càng ít được áp dụng.
Thứ hai: NTM phong phú về hình thức với cùng một mặt hàng, cùng một mục tiêu có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau
Để kiểm soát một loại hàng hóa, chính phủ các nước áp dụng nhiều biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép nhập khẩu không tự động và yêu cầu giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa.
Như vậy có thể thấy rằng các NTM rất phong phú về hình thức và đa dạng về chủng loại và được sử dụng hết sức linh hoạt.
Thứ ba:Nhiều NTM chưa bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ
Các biện pháp không thuế quan (NTM) thường không rõ ràng và khó nhận biết mức độ ảnh hưởng ngay lập tức như thuế quan, cho phép các quốc gia bảo vệ sản xuất trong nước mà không vi phạm các hiệp định quốc tế Chẳng hạn, hàng thủy sản Việt Nam gặp khó khăn khi xuất khẩu sang Mỹ do hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt của nước này.
Thứ nhất: NTM thường không rõ ràng và khó dự đoán
NTM thường dựa vào tính toán chủ quan của nước nhập khẩu, như việc hạn chế nhập khẩu ngành mía đường dựa trên cầu và cung nội địa Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế chính trị hiện nay rất phức tạp và khó dự đoán, đặc biệt là với nông sản và thủy sản, vốn chịu nhiều biến động về thời tiết và giá cả Nếu không có dự đoán chính xác, điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất trong nước Việc áp dụng hạn ngạch mía đường mà không xem xét các yếu tố này có thể làm tăng giá đường, gây thiệt hại cho ngành sản xuất thực phẩm trong nước.
Thứ hai:Khó khăn và tốn kém trong quản lý
Một số NTM khó dự đoán, dẫn đến chi phí quản lý cao và tiêu tốn nhiều nguồn lực của nhà nước Bên cạnh đó, nhiều NTM thuộc các cấp quản lý khác nhau, gây ra mâu thuẫn trong mục đích quản lý và tạo khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách.
Nhiều doanh nghiệp sản xuất trong có ý thức bảo vệ chính doanh nghiệp mình bằng cách bảo vệ xây dựng các NTM mà còn trông chờ nhiều ở nhà nước.
Thứ ba: Không tăng thu ngân sách
Việc áp dụng các biện pháp không thuế quan (NTM) nhằm bảo vệ sản xuất trong nước không mang lại nguồn thu trực tiếp cho chính phủ Mặc dù một số quốc gia tổ chức đấu thầu hạn ngạch, nhưng nguồn thu từ hoạt động này vẫn không đáng kể.
Thứ tư : Gây bất bình đẳng dẫn tới độc quyền
Phân loại các biện pháp phi thuế quan
1.3.1.Các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu
Thông thường có bốn biện pháp hạn chế số lượng bao gồm hạn ngạch, giấy phép, cấm nhập khẩu xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện.
Hạn ngạch là công cụ quan trọng trong hàng rào phi thuế quan, từng được nhiều quốc gia áp dụng Hạn ngạch nhập khẩu (xuất khẩu) quy định mức tối đa về giá trị hoặc khối lượng hàng hóa được phép nhập khẩu (xuất khẩu) từ một thị trường cụ thể trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Hạn ngạch thuế quan là sự kết hợp giữa hạn ngạch và thuế quan Tuy nhiên, hiện nay, nhiều quốc gia ít sử dụng hình thức hạn ngạch này.
1.3.1.2.Giấy phép Đây là hình thức mà cơ quan có thẩm quyền cấp cho nhà nhập khẩu hay xuất khẩu một loạI hang hóa nhất định
Ngăn chặn hoàn toàn hang hóa nước ngoài thâm nhập vào thị trường trong nước Công cụ này thường được sử dụng đối với những hang hoa
1 0 lien quan tới môi trường, quốc phòng , an ninh.
1.3.1.4.Hạn chế xuất khẩu tự nguyện Đây là công cụ bảo vệ thị trường nội địa bằng cách nước nhập khẩu sẽ đàm phán với nước xuất khẩu để cho nước xuất khẩu hạn chế hay cho xuất khẩu một lượng hàng hóa tối đa sang nước nhập khẩu Công cụ này thường được áp dụng thông qua đàm phán giữa hai nước và nếu không giữ đúng theo cam kết thì nước nhập khẩu có quyền áp dụng các biện pháp trừng phạt Công cụ này thường được áp dung giữa các nước phát triển có vị thế kinh tế và chính trị vững mạnh.
Trong những năm gần đây, biện pháp kỹ thuật đã trở nên phổ biến, đặc biệt liên quan đến các vấn đề như chất lượng an toàn, kích cỡ, thuật ngữ, ký hiệu, đóng gói, đóng dấu và yêu cầu nhãn mác Hiện tại, khoảng 1/3 lượng hàng hóa buôn bán trên thế giới đang phải đối mặt với những trở ngại này.
1.3.3.Các biẹn pháp tài chính tiền tệ
Trợ cấp xuất khẩu là một chính sách khuyến khích xuất khẩu, trong đó chính phủ cung cấp tài chính cho nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu Mục tiêu của biện pháp này là giúp họ tăng cường khả năng xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế.
Trợ cấp hàng xuất khẩu có hai hình thức chính: trợ cấp trực tiếp và cung cấp dịch vụ giá rẻ Tuy nhiên, biện pháp này dễ vi phạm các quy định của WTO, dẫn đến phạm vi áp dụng bị hạn chế.
1.3.3.2.Tín dụng xuất khẩu Đây là hình thức khuyến khích xuất khẩu trong đó nhà nước lập ra các quỹ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu cho hệ ngân hàng thương mại đảm bảo rủi ro nhằm tăng cường tín dụng cho hoạt động xuất khẩu và thông qua đó thúc đẩy xuất khẩu Hình thức này được nhiều các quốc gia sử dụng nhiều hơn và chủ yếu áp dụng cho các mặt hàng thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ đồng bộ.
Theo quy định của hiệp định chống bán phá giá của WTO, một sản phẩm được xác định là bán phá giá khi giá xuất khẩu của nó thấp hơn giá thông thường trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu.
Có ba phương pháp đẻ xác định giá thông thường :
-Dựa trên giá bán sản phẩm đó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu -Giá sản phẩm đó tại thị trường nước khác.
-Tính theo tổng giá thành sản xuất, các chi phí liên quan cùng với lợi nhuận tối thiểu của nhà sản xuất và nhà xuất khẩu
Quy trình điều tra hành vi bán phá giá yêu cầu nước nhập khẩu cung cấp bằng chứng chứng minh rằng hàng hóa từ nước xuất khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất nội địa Chính phủ nước nhập khẩu sẽ chỉ tiến hành điều tra nếu đơn khiếu nại từ nhà sản xuất nội địa chiếm ít nhất 25% tổng lượng hàng hóa tiêu thụ trên thị trường nội địa.
Quuyền cho rằng mức độ bán phá giá của sản phẩm xuất khẩu là không đáng kể, cụ thể dưới 2% giá trị sản phẩm hoặc dưới 3% tổng lượng hàng nhập khẩu tương tự Tuy nhiên, việc điều tra vẫn có thể được tiến hành nếu tổng khối lượng hàng nhập khẩu từ một số quốc gia chiếm trên 7% tổng lượng nhập khẩu, mặc dù khối lượng nhập khẩu của từng quốc gia đó dưới 2%.
Ngoài ra còn một số biện pháp khác như phá giá tiền tệ, hệ thống thuế nội địa, cơ chế quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái…
Sự cần thiết của việc áp dụng hàng rào phi thuế quan
Việc sử dụng hàng rào phi thuế quan nhằm bảo vệ sản xuất trong nước, như cách mà EU và Mỹ bảo hộ ngành công nghiệp dệt may thông qua hạn ngạch, đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút lao động.
Cải thiện nền sản xuất trong nước là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia, đặc biệt là trong các lĩnh vực trọng điểm Điều này không chỉ nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước mà còn trên thị trường quốc tế Do đó, những ngành này cần nhận được sự ưu đãi thích hợp để phát triển bền vững.
2.Tổng quan về liên minh Châu Âu
2 1.Vài nét về liên minh Châu Âu
2.1.1 Quá trình thành lập liên minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu (EU) là một tổ chức độc đáo, được hình thành dựa trên các hiệp ước giữa các quốc gia nhằm quản lý quan hệ hợp tác về kinh tế, chính trị và xã hội giữa các thành viên Các quốc gia thành viên EU thống nhất trong chính sách nông nghiệp, an ninh, đối ngoại, cũng như hợp tác tư pháp và nội vụ Những thể chế chính của EU bao gồm Hội đồng Châu Âu, Ủy ban Châu Âu, Hội đồng Liên minh Châu Âu, Nghị viện Châu Âu và Tòa án Châu Âu Ý tưởng về một Châu Âu thống nhất đã xuất hiện từ rất sớm, từ những năm đầu thế kỷ 20.
Ngày 9/5/1950, bộ trưởng ngoại giao Pháp Robert Schuman đã công bố "bản tuyên bố Schuman", đánh dấu sự ra đời của liên minh Châu Âu Tuyên bố này đề xuất đặt toàn bộ nền công nghiệp than và thép của CHLB Đức và Pháp dưới một cơ quan quyền lực chung, tạo điều kiện cho các nước Châu Âu khác tham gia Hiệp ước cộng đồng gang thép Châu Âu được ký vào ngày 18/4/1951, là tổ chức tiền thân của liên minh Châu Âu ngày nay.
Hiện nay, Liên minh Châu Âu bao gồm 25 thành viên, trong đó có các quốc gia như Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Luxembourg, Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ai Len, Đan Mạch, Áo, Thụy Điển, Phần Lan, Hy Lạp, Slovenia, Hungary, Estonia, Malta, Ba Lan, Séc, Slovakia, Latvia, Litva và Síp.
Liên minh Châu Âu (EU) là một thị trường thống nhất cho phép các nguồn lực di chuyển tự do giữa các quốc gia thành viên Hàng hóa sản xuất hoặc nhập khẩu vào một quốc gia thành viên có thể dễ dàng lưu thông sang các quốc gia khác mà không bị hạn chế EU đang hướng tới việc hoàn thiện thành một liên minh kinh tế và tiền tệ, nổi bật với việc thành lập Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) và ra mắt đồng Euro, đồng tiền chung của khu vực.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của EU ổn định và lạm phát thấp
2.1.2.Vai trò kinh tế của liên minh Châu Âu trên trường quốc tế
Liên minh Châu Âu (EU) đang ngày càng lớn mạnh với 455 triệu dân, gấp đôi dân số Mỹ, đứng thứ ba sau Trung Quốc và Ấn Độ EU sản xuất hơn 20% tổng lượng hàng hóa và dịch vụ toàn cầu, chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại quốc tế Với vị trí ngày càng quan trọng trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), EU đóng vai trò thiết yếu trong việc phát triển thương mại toàn cầu.
2.1.3.Mối quan hệ thương mại Việt Nam _EU
Sau năm 1975 mối quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng Châu Âu
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU ngày càng phát triển kể từ khi ký kết hiệp định hợp tác năm 1995 Theo hiệp định này, hai bên cam kết dành cho nhau đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và mở rộng thị trường tối đa EU cũng cam kết cung cấp ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tận dụng lợi thế so sánh trong hợp tác thương mại với EU.
Hiện nay, EU là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, đứng thứ hai trong thị trường xuất khẩu sau ASEAN Quy mô buôn bán giữa hai bên ngày càng mở rộng, với kim ngạch xuất khẩu hai chiều hàng năm không ngừng gia tăng Xuất khẩu của Việt Nam sang EU đã tăng nhanh, đạt khoảng 2 tỷ USD vào năm 2004, chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Chính sách thương mại chung của EU
2.2.1.Chính sách thương mại nội khối
EU hướng tới việc xây dựng một thị trường chung thống nhất, nhằm xóa bỏ biên giới và lãnh thổ quốc gia, cũng như biên giới hải quan Mục tiêu là tạo điều kiện cho sự tự do lưu thông hàng hóa, lao động, dịch vụ và vốn, đồng thời điều hòa các chính sách kinh tế - xã hội giữa các nước thành viên.
Thị trường chung Châu Âu dựa trên nền tảng bốn yếu tố cơ bản đó là tự do di chuyển hàng hóa , dịch vụ, vốn, sức lao động.
Liên minh Châu Âu duy trì một chính sách ngoại thương thống nhất, phù hợp với các mục tiêu chiến lược của mình Chính sách này bao gồm thương mại tự trị và tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của WTO như không phân biệt đối xử, minh bạch và có đi có lại Các biện pháp chính trong chính sách ngoại thương của EU bao gồm thuế quan, hàng rào kỹ thuật và chống bán phá giá.
Liên minh Châu Âu (EU) hiện đang áp dụng một biểu thuế quan chung, trong đó nông sản phải chịu thuế 18% trên tổng giá trị hàng hóa, trong khi các mặt hàng công nghiệp chỉ bị đánh thuế 2%.
EU áp dụng chương trình ưu đãi thuế quan (GSP) dành cho các nước đang phát triển Chương trình này phân loại mức ưu đãi thuế cho sản phẩm thành bốn loại, tùy thuộc vào mức độ nhạy cảm của từng sản phẩm.
Nhóm1:Các sản phẩm rất nhạy cảm
Phần lớn hàng hóa bao gồm nông sản và một số sản phẩm công nghiệp phục vụ tiêu dùng, được hưởng mức thuế GSP là 85% so với thuế xuất tối huệ quốc Đây là những mặt hàng mà EU áp dụng hạn chế nhập khẩu.
Nhóm 2: Là các sản phẩm nhạy cảm
Nhóm sản phẩm này bao gồm đồ uống, hóa chất, nguyên liệu và hàng thủ công mỹ nghệ, với mức thuế GSP là 70% thuế xuất MFN Tuy nhiên, EU không khuyến khích nhập khẩu những mặt hàng này.
Nhóm 3: Các sản phẩm bán nhạy cảm
Bao gồm thủy sản đông lạnh được hưởng thuế xuất GSP 35% thuế xuất tối huệ quốc đây là nhốm sản phẩm mà EU khuyên khích.
Nhóm 4 : Là những sản phẩm không nhạy cảm
Chủ yếu là thực phảm nguyên liệu được huởng mức thuế xuất GSP từ 0-10% thuế MFN Đây là mặt hàng được EU đặc biệt khuến khích.
Từ 1/7/1999 thì các trường hợp được hưởng thêm ưu đãi GSP hàng hóa đó sản xuất trên công nghệ bảo vệ môi trường và bảo vệ người lao động
Để được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan GSP khi xuất khẩu vào thị trường EU, hàng hóa từ các nước đang phát triển và chậm phát triển cần phải chứng minh nguồn gốc xuất xứ Điều này yêu cầu có giấy phép chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu A, do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia được hưởng GSP cấp.
Trong quản lý nhập khẩu, EU phân chia các quốc gia thành hai nhóm: các nước có nền kinh tế thị trường và các nước có nền kinh tế phi thị trường, trong đó có Việt Nam EU xem Việt Nam là một nước có nền kinh tế phi thị trường, dẫn đến việc hàng hóa Việt Nam thường bị phân biệt đối xử trong các tranh chấp thương mại.
Vào ngày 20/10/2004 EC đã thông qua một đề xuất bao gồm chi tiết về hệ thống GSP trong giai đoạn 2006-2008 trong đó bao gồm các nội dung sau:
Giảm 3,5% thuế quan cho sản phẩm nhạy cảm và 0% cho sản phẩm không nhạy cảm, cùng với việc xuất khẩu “mọi thứ trừ vũ khí” giúp tiếp cận không thuế quan và không hạn ngạch cho 50 nước nghèo nhất thế giới.
Chương trình “GSP+” cung cấp ưu đãi thuế quan cho các nước dễ bị tổn thương, nhằm khuyến khích phát triển bền vững và quản lý tốt Điều này bao gồm việc giảm thuế xuất xuống 0% cho tổng cộng 7200 sản phẩm.
GSP mới sẽ mở rộng gần 300 sản phẩm được hưởng ưu đãi Việc rút bỏ GSP chỉ áp dụng cho các nhóm sản phẩm từ một hoặc một vài nước khi tỷ lệ nhập khẩu của nhóm sản phẩm đó vượt quá 15% tổng lượng nhập khẩu của EU trong 3 năm liên tục Đối với ngành dệt may, ngưỡng này được quy định là 12,5%.
GSP mới sẽ linh hoạt hơn về quy tắc xuất sứ : xem xét tới tích lũy khu vực
Hạn ngạch
Mặc dù EU là khu vực thương mại tự do, nhưng vẫn áp dụng hạn ngạch đối với mặt hàng dệt may và nông sản Hạn ngạch dệt may được quy định theo hiệp định Dệt May (ATC) và sẽ giảm dần theo lộ trình, với mục tiêu xóa bỏ vào năm 2005 Việt Nam được cấp hạn ngạch dệt may khoảng 500-600 triệu USD mỗi năm Tuy nhiên, việc EU dỡ bỏ hạn ngạch đã gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam trong xuất khẩu Đối với nông sản, chỉ có mặt hàng gạo là bị áp dụng hạn ngạch cho một số nước nhất định.
Luật chống bán phá giá
EU áp dụng luật này đối với hầu hết các mặt hàng nhập khẩu từ nước thứ ba, bao gồm cả sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp Tuy nhiên, các nước thành viên trong khu vực liên minh kinh tế Châu Âu sẽ không bị ảnh hưởng bởi quy định này.
1 8 Âu Còn đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi như An –ba-ni, Mông
EU áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các sản phẩm từ Cổ, Việt Nam, Trung Quốc nếu phát hiện hiện tượng bán phá giá Thuế này được quy định theo điều khoản 113 của Hiệp Ước EU, nhằm xác định thiệt hại và biên độ giá xuất khẩu.
Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật
Biện pháp phi thuế quan chủ yếu mà EU áp dụng đối với các quốc gia bên ngoài là hệ thống tiêu chuẩn, bao gồm tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ người lao động và tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
Tiêu chuẩn chất lượng: Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 được coi là bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu vào thị trường
Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm HACCP là yêu cầu bắt buộc đối với các công ty chế biến, xử lý bao bì, vận chuyển, phân phối và kinh doanh thực phẩm theo quy định của EU Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển, vì đây là điều kiện cần thiết khi xuất khẩu sang thị trường EU.
Tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng là yếu tố quan trọng để hàng hóa được lưu thông trên thị trường EU EC yêu cầu các sản phẩm như đồ chơi, thiết bị điện, thiết bị y tế và vật liệu xây dựng phải có ký hiệu tiêu chuẩn an toàn.
Các sản phẩm nông nghiệp cần tuân thủ tiêu chuẩn GAP cho nông sản và hệ thống tiêu chuẩn môi trường ISO 14000.
Tiêu chuẩn lao động: Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sang EU phải tuân theo hiệp ước về lao động quốc tế
Thực trạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU từ năm 2000 đến nay
trường EU từ năm 2000 đến nay
Kim ngạch xuất khẩu sang EU đã không ngừng tăng trưởng, từ 2,8 tỷ USD vào năm 2000 lên gấp đôi, đạt 5,6 tỷ USD vào năm 2004 Sự tăng trưởng này được thể hiện rõ qua bảng số liệu.
Tuy quan hệ thương mại Việt Nam EU tăng nhanh nhưng nó chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của hai nước. Đơn vị Triệu USD
2.2.Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
EU chủ yếu nhập khẩu từ Việt Nam các sản phẩm chủ yếu như : giầy dép, dệt may, đồ gỗ, thủy sản, nông sản Đơn vị %
Nguồn :Tổng cục Hải quan Việt Nam 2.2.1.Mặt hàng giày dép-Mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất
Khoảng 70% sản phẩm giày dép của Việt Nam xuất khẩu sang EU, với kim ngạch xuất khẩu từ năm 2000 luôn đạt trên 1 tỷ USD, và năm 2003 đạt 1,6 tỷ USD Điều này nhờ vào việc hàng giày dép Việt Nam không bị áp dụng hạn ngạch và được hưởng thuế quan ưu đãi Tuy nhiên, thực thu của Việt Nam chỉ khoảng 20-25% tổng giá trị hàng xuất khẩu do phần lớn sản phẩm được gia công thuê cho nước ngoài Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam gặp khó khăn trong việc nắm bắt thị hiếu tiêu dùng và thiết kế sản phẩm Hiện tại, giày dép Việt Nam còn đối mặt với thách thức khi EC kiện Việt Nam về việc bán phá giá sản phẩm sang EU.
Ngành dệt may là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đứng thứ hai sau giày dép Theo hiệp định dệt may ATC, Việt Nam xuất khẩu sang EU với hạn ngạch hàng năm từ 500-600 triệu USD Cụ thể, năm 2001 đạt 607,7 triệu USD, năm 2002 là 551,1 triệu USD, và năm 2003 là 573 triệu USD.
Ngành dệt may Việt Nam đạt doanh thu 840,3 triệu USD, nhưng chủ yếu là gia công cho nước ngoài, dẫn đến thực thu rất ít Hiện tại, ngành này đang đối mặt với thách thức lớn khi EU đã bỏ hạn ngạch, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh với các quốc gia có nền công nghiệp dệt may phát triển như Trung Quốc và Thái Lan.
Hàng nông sản xuất khẩu sang EU chủ yếu bao gồm cà phê, gạo, chè, hạt tiêu và rau quả, chiếm từ 18-20% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp với giá trị khoảng 200 triệu USD Cụ thể, năm 2001 đạt 201,8 triệu USD, năm 2002 là 170,5 triệu USD, và năm 2003 là 267,9 triệu USD Cà phê chiếm thị phần lớn tại EU, đặc biệt ở Bỉ (10%), Pháp (48,5%) và Italia (49,6%) Trong khi đó, xuất khẩu gạo, chè và rau quả sang EU vẫn còn hạn chế, với gạo chủ yếu được nhập để tái xuất, và rau quả Việt Nam mới bắt đầu thâm nhập thị trường EU, nhưng có kim ngạch xuất khẩu cao, chủ yếu đến các thị trường Hà Lan, Anh, Pháp và Bỉ.
2.2.4.Mặt hàng thủy hải sản
Hàng năm, Việt Nam xuất khẩu từ 100-150 triệu USD thủy sản sang EU, chủ yếu là tôm các loại Giá trị xuất khẩu thủy sản vào EU chiếm 5-7% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam và 0,3-0,4% tổng tỷ trọng nhập khẩu của EU.
Việt Nam cũng xuất khẩu sang EU nhiều mặt hàng đa dạng như đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, xe đạp, phụ tùng xe đạp và bật lửa ga.
Các hàng rào phi thuế quan mà EU áp dụng với một số mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam
Tính đến nay, Việt Nam đã đối mặt với khoảng 20 vụ kiện chống bán phá giá từ các nước, trong đó có 9 vụ từ các doanh nghiệp thuộc Liên minh Châu Âu (EU) Đặc biệt, năm 2004 ghi nhận 6 vụ kiện riêng lẻ.
EC đã tiến hành các biện pháp chống bán phá giá đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, bao gồm xe đạp, đèn huỳnh quang tiết kiệm điện, và các sản phẩm kim loại Năm 2005, nhiều doanh nghiệp sản xuất giày dép tại Việt Nam đã phải đối mặt với kiện tụng về vấn đề này Một ví dụ điển hình là vào ngày 29/4/2004, Hiệp hội sản xuất xe đạp châu Âu (EBMA) đã kiện 9 công ty Việt Nam vì bán phá giá xe đạp và phụ tùng xe đạp tại EU Theo đơn kiện, giá xe đạp xuất khẩu vào EU là 66,3 EUR/chiếc, trong khi giá xe đạp nhập khẩu từ Việt Nam chỉ là 43 EUR, tạo ra chênh lệch giá 22,3 EUR và biên độ phá giá lên tới 46,24%.
Mức thuế mà EU áp dụng cho mặt hàng xe đạp là 15% theo giá thông thường Thống kê cho thấy thị phần sản phẩm xe đạp đang tăng nhanh chóng tại thị trường EU, trong khi giá của mặt hàng này lại rẻ hơn so với các khu vực khác.
Số lượng sản phẩm(chiếc)
Theo EBMA, chính phủ Việt Nam cung cấp nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp sản xuất xe đạp, dẫn đến việc các nhà sản xuất xe đạp Đài Loan gia tăng đầu tư xây dựng nhà máy tại Việt Nam Điều này, kết hợp với chi phí nhân công thấp, đã tạo ra lợi thế cạnh tranh không công bằng và gây tổn hại cho các nhà sản xuất xe đạp tại Liên minh châu Âu Trong số 9 công ty bị EU đưa vào danh sách bán phá giá, có 6 doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam và 6 doanh nghiệp FDI, trong đó có A&J Ride Bicycle tại Bình Dương.
Sheng-Fa International (TP HCM), Asma Yuh Jiun (Bình Dương), Dragon Việt Nam (Đồng Nai), Liyang Industrial (Đồng Nai) và Strongman (Đồng Nai) cùng với ba công ty Việt Nam là xe đạp Thống Nhất, công ty Xuân Hòa và công ty xe đạp Lê Ngọc Hân (đã sáp nhập vào công ty Haprosimex) đang đối diện với nguy cơ thuế chống bán phá giá lên tới 46,24% nếu không chứng minh được việc không bán phá giá Điều này có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền sản xuất trong nước.
Sắp tới Việt Nam cũng phải đối mặt với vụ kiện bán phá giá giày da ở
Vào ngày 7/7/2005, Uỷ ban Châu Âu (EC) đã chính thức khởi kiện Việt Nam về việc bán phá giá giày mũ da vào EU, với 60 doanh nghiệp bị điều tra, trong đó có 8 doanh nghiệp chính như Pou Yuen Việt Nam và Pou Chen Việt Nam Nếu bị kết luận bán phá giá, mức thuế chống bán phá giá có thể lên tới 130%, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành giày mũ da, mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang EU Các doanh nghiệp này chủ yếu gia công cho công ty nước ngoài và hiện đang tận dụng ưu đãi thuế quan để giảm giá thành Việc áp dụng thuế chống bán phá giá sẽ buộc họ phải tìm kiếm đối tác khác, đặt ngành giày mũ da Việt Nam trước một thách thức lớn.
Trong tương lai, Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt với nhiều vụ kiện bán phá giá từ EU, điều này có khả năng làm giảm kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này Để ứng phó hiệu quả với tình huống này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và hiệp hội.
Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với EU, xuất khẩu nông sản và thủy sản của Việt Nam đã tăng đáng kể, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng Thủy sản Việt Nam chỉ chiếm 3% kim ngạch thủy sản của EU, trong khi 70%-80% thủy hải sản tiêu thụ ở EU là nhập khẩu, cho thấy đây là một thị trường tiềm năng Tuy nhiên, hiện tại chỉ có hơn 50 doanh nghiệp Việt Nam được phép xuất khẩu vào EU do không đạt tiêu chuẩn của EU, với vấn đề dư lượng kháng sinh và nấm mốc không tuân theo các tiêu chuẩn HACCP, SA 8000, ISO 14000, GAP và Malachite Green Ngoài ra, các quy định về bao bì và nhãn mác theo tiêu chuẩn kỹ thuật cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc thâm nhập vào thị trường này.
Ngành nông sản Việt Nam gặp khó khăn trong việc xuất khẩu vào EU do yêu cầu kỹ thuật cao Cụ thể, thịt động vật chưa thể xuất khẩu vì chứa nhiều độc tố, trong khi rau quả cũng gặp trở ngại do công nghiệp chế biến lạc hậu.
Sở dĩ hàng hóa Việt Nam thường hay vi phạm các quy định của EU là do:
-Các doanh ngiệp Việt Nam thiếu thông tin về thị trường, về luật pháp củaEU.
-Chất lượng hang hóa của Việt Nam còn kém hay vi phạm tiêu chuẩn do
Việt Nam vẫn chưa được công nhận là một nền kinh tế thị trường, điều này phản ánh sự thiếu hụt trong năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý Họ chưa chủ động trong việc ứng phó với các vụ kiện và cũng chưa kịp thời cập nhật thông tin cần thiết.
-Sự liên kết giữa các doamh nghiệp còn yếu
-Hiệp hội chưa làm hết vai trò của mình.
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SANG
1.Giải pháp từ phía Nhà Nước
Nhà nước cần đàm phán ở cấp chính phủ để mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào EU, một thị trường có mức độ bảo hộ cao Việc này sẽ giúp hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là nông sản, thủy hải sản, rau quả, thịt gia súc gia cầm, đồ gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ, dễ dàng thâm nhập hơn Chính phủ nên chủ động đề nghị Ủy ban châu Âu tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quy mô mậu dịch, đây là một biện pháp hiệu quả mà nhiều nước đang phát triển đã áp dụng.
Nhà nước cần thúc đẩy nhanh quá trình gia nhập WTO để Việt Nam được công nhận là một nền kinh tế thị trường, từ đó sẽ được đối xử công bằng hơn trong thị trường quốc tế Hiện tại, Liên minh Châu Âu (EU) chưa công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường, với tiêu chí quan trọng là quốc gia phải có đồng tiền tự do chuyển đổi.
-Tiền lương phải do thị truờng quyết định
-Các doanh ngiệp trong nước và nước ngoài có quyền tự do kinh doanh -Các nguồn lực sản xuất phải do thị trường quyết định
-Giá cả do thị trường quyết định
-Quan hệ thương mại phải hoàn toàn tự do
EU cho rằng Việt Nam không đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết, dẫn đến nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.
Việt Nam chưa được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường, do đó trong các vụ kiện bán phá giá, việc xác định liệu Việt Nam có bán phá giá hay không phải dựa vào sự so sánh với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển tương tự Chẳng hạn, trong vụ kiện bán phá giá xe đạp và phụ tùng xe đạp tại EU, Mexico được chọn làm nước tham chiếu, trong khi vụ kiện trong ngành giày mũ da lại chọn Brazil Điều này tạo ra nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, khi họ phải dựa vào lợi thế về nhân công và môi trường làm việc.
Khi Việt Nam được công nhận là một nước có nền kinh tế thị trường, điều này mang lại lợi thế cho quốc gia trong việc tham gia các vụ kiện bán phá giá và các vụ kiện thương mại khác.
Bộ Thương Mại cần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường EU bằng cách yêu cầu các thương vụ thường xuyên cập nhật thông tin về diễn biến thị trường, bao gồm các luật và tiêu chuẩn mới Điều này giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc thích ứng với những thay đổi và đảm bảo không bị động khi tham gia vào thị trường.
EU đưa ra các biện pháp phi thuế quan để bảo hộ.
Đào tạo nguồn nhân lực
Để nâng cao trình độ cán bộ thương mại, cần tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật cho họ, đồng thời cải thiện năng lực cho các nhà quản lý và chuyên gia kinh doanh nhằm thích ứng với thị trường EU.
Mở các lớp giới thiệu thong tin về thị trường, chính sách, thể chế liên quan tới kinh doanh thương mại.
Xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn của EU
Sự khác biệt giữa tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn quốc tế có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp Ví dụ, tiêu chuẩn hàm lượng 3-MCPD của EU quy định rằng mức tiêu thụ nước tương an toàn tối đa là 1,02 mg/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày, thấp hơn 50 lần so với tiêu chuẩn 1 mg/kg trọng lượng cơ thể.
Nước tương Việt Nam đang phải đối mặt với tiêu chuẩn khắt khe của EU, dẫn đến việc sản phẩm bị giữ lại và ghi vào danh sách không đạt tiêu chuẩn 3-MCPD Mỗi hai tuần, các lô hàng nước tương xuất khẩu lại bị công bố rộng rãi trên internet, gây ảnh hưởng đến uy tín và thị trường xuất khẩu.
Nước tương Chinsu Việt Nam bị khuyến cáo không nên sử dụng ở Bỉ do chứa độc tố gây ung thư, mặc dù đã đạt tiêu chuẩn Việt Nam Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn cho biết, lượng 3-MCPD an toàn cho cơ thể mỗi ngày là 2 microgram/kg Do đó, một người nặng 50 kg có thể tiêu thụ 100 microgram 3-MCPD mỗi ngày mà vẫn trong giới hạn an toàn.
Tiêu chuẩn an toàn thực phẩm tại Việt Nam đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng Cụ thể, nếu một người nặng 50 kg sử dụng 10ml nước tương trong bữa ăn hàng ngày, hàm lượng 3-MCPD mà họ tiếp nhận chỉ khoảng 30 microgram, vẫn nằm dưới ngưỡng an toàn theo quy định.
Theo các chuyên gia kinh tế, Việt Nam cần xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm gần gũi với tiêu chuẩn quốc tế, thay vì giữ tiêu chuẩn riêng biệt như hiện nay Việc này là cần thiết vì 3-MCPD không chỉ tồn tại trong nước tương mà còn có mặt trong nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như ngũ cốc, sữa, thịt và cá Nếu không thực hiện, chúng ta có thể tự đóng cửa thị trường xuất khẩu của mình.
2.Giải pháp từ phía doanh nghiệp và hiệp hội
Nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với tiêu chuẩn EU
Doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư vào công nghệ tiên tiến từ EU để nâng cao hiệu quả sản xuất Đồng thời, việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng như ISO 9000, ISO 14000 và HACCP là rất quan trọng để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và an toàn trong quy trình sản xuất.
ISO 9000 là hệ thống quản lý chất lượng do Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) thiết lập, nhằm giúp các đơn vị cải tiến quản lý để đạt được mục tiêu về năng suất và chất lượng sản phẩm Việc áp dụng hệ thống này giúp xí nghiệp đảm bảo sản phẩm có chất lượng phù hợp với giá thành, từ đó mang lại sự an toàn cho người tiêu dùng.
ISO 14000 là hệ thống quản lý môi trường giúp các tổ chức cải thiện liên tục hiệu suất môi trường Hệ thống này cung cấp công cụ hỗ trợ như định giá môi trường, nhãn môi trường và phân tích chu kỳ sống sản phẩm, giúp doanh nghiệp quản lý tác động của hoạt động của họ đến môi trường Sự cam kết từ lãnh đạo và sự tham gia tích cực của tất cả thành viên trong tổ chức là yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường.