Do đó, nếu tất cả thứ cấp của máy biến dòng các nhánh của đối tượng bảo vệ được ghép song song với nhau với một rơle dòng điện thì sẽ không có dòng điện chạy trong rơle trừ khi có ngắn m
Trang 1vệ này Do đó, nếu tất cả thứ cấp của máy biến dòng các nhánh của đối tượng bảo
vệ được ghép song song với nhau với một rơle dòng điện thì sẽ không có dòng điện chạy trong rơle trừ khi có ngắn mạch bên trong đối tượng bảo vệ
Hình 4.1 Nguyên tắc cơ bản của bảo vệ so lệch dọc Bảo vệ dựa trên nguyên tắc trên gọi là bảo vệ so lệch dọc, có tính chọn lọc tuyệt đối, phân biệt được ngắn mạch trong và ngoài đối tượng bảo vệ và như thế cho phép cắt sự cố của phần tử được bảo vệ nhanh chóng Nói cách khác, bảo vệ so lệch làm việc dựa trên sự so sánh trực tiếp các dòng điện trên các nhánh của đối tượng bảo vệ
Đối với đường dây làm việc song song người ta dùng so lệch ngang so
sánh dòng chạy trên các nhánh song song
Để thực hiện bảo vệ so lệch dọc người ta có thể dùng loại sơ đồ dòng tuần hoàn hay sơ đồ cân bằng áp
Trang 2- Giải thích sơ đồ:
+ Sơ đồ trên có tên gọi là sơ đồ dòng điện tuần hoàn vì ở chế độ làm việc bình
thường và khi có ngắn mạch ngoài vùng bảo vệ, dòng điện phía thứ cấp chủ yếu tuần
hoàn trong mạch vòng của cuộn thứ cấp các máy biến dòng và dây dẫn phụ nối chúng lại với nhau
+ Hai bộ BI đặt ở hai đầu đường dây, chiều dòng điện qua 2 bộ BI cùng chiều dòng tải
+ Để so sánh 2 phần tử bảo vệ, 2 BI nối với nhau bằng 1 dây dẫn phụ theo chiều vòng tuần hoàn đi khép mạch trong sơ đồ
+ Rơle được nối song song với dây dẫn phụ: khi ngắn mạch ngoài thì không
có dòng trong rơle, còn khi ngắn mạch trong thì dòng trong rơle được xác định bởi trị số dòng ở chỗ hư hỏng
- Nguyên lý:
+ Khi ở chế độ làm việc bình thường và khi có ngắn mạch ngoài vùng bảo
vệ (các BI không có sai số, bỏ qua dòng dung và dòng rò của đường dây được bảo vệ) thì dòng điện so lệch chạy qua rơle:
IT1=- IT2 I IT IT = 0 (4-1)
Tức là khi không xảy ra ngắn mạch trong vùng bảo vệ thì rơle không tác động + Khi ngắn mạch xảy ra trong vùng bảo vệ dòng điện một phía (IT2) sẽ thay đổi chiều lẫn trị số (2 dòng IT1, IT2 lúc này ngược chiều nhau):
Trang 3 Bảo vệ sẽ tác động
b Dòng không cân bằng
Ở đây không có sự giống nhau tuyệt đối giữa 2 dòng điện phía thứ cấp của
2 tổ máy biến dòng BI1 và BI2 trong chế độ làm việc bình thường và khi có ngắn
mạch ngoài Khi đó sẽ xuất hiện dòng điện gọi là dòng không cân bằng Sự xuất
hiện này là do:
+ Sai số của bản thân BI;
+ Hiện tượng bão hào mạch từ khi ngắn mạch ngoài khi đó sai số BI tăng lên; + Ảnh hưởng của thành phần không chu kỳ của dòng điện ngắn mạch;
+ Không cân bằng được giá trị dòng thứ cấp giữa 2 BI nên giá trị dòng sơ cấp lớn; + Hai BI khác nhau về chủng loại
Như vậy, dòng trong rơle (khi không có ngắn mạch trong vùng bảo vệ hay
cả chế độ làm việc bình thường) bằng: I R I kcb I 2 I 1 (4-3)
Do dòng từ hóa của các BI không bằng nhau, ngay cả khi kết cấu của 2 BI giống nhau, vì vậy dòng không cân bằng có một giá trị nhất định nào đó
c Dòng điện khởi động của bảo vệ so lệch
Để đảm bảo cho bảo vệ so lệch làm việc đúng khi ngắn mạch ngoài, dòng khởi động của rơle cần phải chỉnh định tránh khỏi trị số tính toán của dòng không cân bằng:
IkđR = kat.Ikcbmaxtt (4-4) Trong đó: kat- hệ số an toàn
Trang 4Ikcbmaxtt- trị hiệu dụng của dòng không cân bằng cực đại tính toán tương ứng với dòng ngắn mạch ngoài cực đại được tính theo công thức:
Ikcbmaxtt = fimax.kđn.kkck.INngmax (4-5) Trong đó: fimax – sai số cực đại cho phép của BI (fimax =10%=0,1)
kđn - hệ số đồng nhất của các BI, (kđn = 01), kđn = 0 khi các BI hoàn toàn giống nhau và dòng diện qua cuộn sơ cấp của chúng bằng nhau, kđn = 1 khi các BI khác nhau nhiều nhất, một BI làm việc không có sai số còn BI kia có sai số cực đại
kkck - hệ số kể đến thành phần không chu kỳ trong dòng điện ngắn mạch INngmax – thành phần chu kỳ của dòng điện ngắn mạch ngoài lớn nhất
Ikđ – dòng điện khởi động của bảo vệ
4.2.2 Bảo vệ so lệch dọc theo sơ đồ cân bằng áp
Các cuộn thứ cấp của biến dòng được nối sao cho khi NM ngoài và làm việc bình thường, sđđ của chúng ngược chiều nhau trong mạch RL được mắc nối tiếp trong mạch dây dẫn phụ
Khi NM ngoài, cũng như khi có dòng phụ tải chạy qua các sđđ E
Trang 535
I II R
Z
Trang 6Trong đó: Z là tổng trở toàn mạch vòng
Hình 4.3 Sơ đồ so lệch loại cân bằng áp
Khi NM trong toàn vùng bảo vệ (h.4.3b) các sđđ
tạo nên dòng trong RL làm bảo vệ tác động
Hình 4.4 Phân bố dòng điện trên các đường dây song song
a) Khi bình thường và ngắn mạch ngoài
b) Ngắn mạch trên một đường dây
Đánh giá BV so lệch:
BV so lệch dọc thuộc loại đơn giản, tin cậy BV không phản ứng theo dao động quá tải, NM ngoài và tác động tức thời khi NM xảy ra bất cứ điểm nào trong vùng BV
Nguyên tắc của BV được sử dụng rộng rãi để làm BV chính chống NM bên trong của máy phát, máy biến áp, thanh góp, động cơ, đường dây
BV so lệch ngang thuộc loại đơn giản tin cậy, không phản ứng theo dao động, việc chọn tham số đơn giản Nhược điểm của nó là vùng chết, hiện tượng tác động không đồng thời làm tăng thời gian cắt NM, có tồn tại vùng chết, phải
Trang 7khoá BV khi cắt một đường dây, vì vậy cần bổ sung BV cho đường dây còn làm việc
BV được dùng BV cho đường dây làm việc song song, máy phát có hai cuộn dây tĩnh làm việc song song
4.4 Bài tập áp dụng
Câu 1: Trình bày nguyên tắc tác động của bảo vệ so lệch?
Câu 2: Các loại BVSL? Phạm vi ứng dụng?
Bài tập 1: Tính toán BVSL dọc cho thanh cái 22kV, biết dòng ngắn mạch 3 pha
ngay phía sau thanh cái =1,131kA, dòng làm việc cực đại qua thanh cái IlvMax=215A, Kat=1,25A
Bài tập 2: Tính toán BVSL dọc cho thanh cái 35kV, biết dòng ngắn mạch 3 pha
ngay phía sau thanh cái =1,131kA, dòng làm việc cực đại qua thanh cái IlvMax=215A, Kat=1,25A
Bài tập 3: Tính toán bảo vệ cho MBA TH 6300/110 có công suất định mức Sđm=6300kVA, điện áp định mức là 115/11kV, máy có bộ phận tự động điều chỉnh điện áp với ΔUđc=10% Dòng ngắn mạch 3 pha tại thanh cái phía thứ cấp là
Ik(3)=1,12kA Tổ nối của MBA là Y/Δ, ktc=1,25
Bài tập 4: Tính toán bảo vệ cho MBA TH 10000/110 có công suất định mức Sđm=10000kVA, điện áp định mức là 115/22kV, máy có bộ phận tự động điều chỉnh điện áp với ΔUđc=10% Dòng ngắn mạch 3 pha tại thanh cái phía thứ cấp là
Ik(3)=2,14kA Tổ nối của MBA là Y/Δ, ktc=1,2
Trang 8CHƯƠNG 5: BẢO VỆ CÁC PHẦN TỬ TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN 5.1 Giới thiệu chung
Rơle bảo vệ được phân loại tùy thuộc vào thành phần được bảo vệ: máy phát điện, đường dây truyền tải, máy biến áp và phụ tải…
5.2 Bảo vệ đường dây
5.2.1 Đại cương
Đối với đường dây trên không, đường dây cáp và thanh cái bảo vệ rơle được tính toán để ngăn ngừa các sự cố ngắn mạch nhiều pha, ngắn mạch một pha, ngắn mạch chạm đất và các chế độ làm việc không bình thường như quá tải, sụt áp…
Hiện nay bảo vệ đường dây chủ yếu được thực hiện bởi các sơ đồ bảo vệ quá dòng nhiều cấp, bảo vệ khoảng cách nhiều cấp, bảo vệ so lệch pha cao tần kết hợp bảo vệ khoảng cách và bảo vệ dòng điện thứ tự không đối với mạng điện có trung tính nối đất
Đối với đường dây phân phối người ta thường dùng các bảo vệ sau: bảo vệ quá dòng, bảo vệ có hướng, bảo vệ khoảng cách và bảo vệ so lệch
Đối với các đường dây truyền tải các bảo vệ chủ yếu được sử dụng là: bảo vệ khoảng cách, bảo vệ có hướng, bảo vệ so lệch và bảo vệ cao tần…
5.2.2 Bảo vệ chống ngắn mạch nhiều pha trên đường dây
Bảo vệ chống ngắn mạch nhiều pha trên đường dây phân phối tác động đưa tín hiệu đến máy cắt đầu lộ phía nguồn cung cấp
Bảo vệ này sẽ không phản ứng đối với ngắn mạch trong các MBA nếu các MBA đó đã có bảo vệ riêng
Bảo vệ đường dây thường được áp dụng nhiều cấp với sự kết hợp của các loại bảo vệ khác nhau
Loại bảo vệ thường được áp dụng rộng rãi là bảo vệ quá dòng điện (gồm bảo vệ dòng điện cực đại và bảo vệ cắt nhanh), bảo vệ có hướng, bảo vệ khoảng cách, bảo vệ so lệch và bảo vệ cao tần
Đối với mạng có trung tính cách ly, thì chỉ cần dùng sơ đồ sao thiếu với 2 máy biến dòng và 2 rơle
Đối với mạng điện hai nguồn cung cấp, nếu bảo vệ cắt nhanh không có bộ phận định hướng thì dòng khởi động được chọn theo giá trị dòng ngắn mạch lớn nhất xảy ra trên 1 trong 2 thanh cái của 2 đầu dây
b Bảo vệ so lệch đường dây và bảo vệ cao tần
Trang 9Sơ đồ bảo vệ so lệch đường dây truyền tải điện cũng được thực hiện tương tự như bảo vệ so lệch các phần tử khác của hệ thống điện, điểm khác biệt ở đây là do đường dây dài nên cần phải sử dụng hai bộ bảo vệ đặt ở hai đầu dây để mỗi bộ tác động cắt các máy cắt ở đầu dây của mình
5.3 Bảo vệ máy biến áp
5.3.1 Đại cương
a) Các chế độ không bình thường của MBA
Các hỏng hóc thường gặp trong MBA bao gồm: ngắn mạch nhiều pha trên các đầu cực và trong các cuộn dây; ngắn mạch giữa các vòng dây; ngắn mạch một pha chạm đất; ngắn mạch ngoài đưa dòng điện lớn chạy qua các vòng dây Các chế
độ không bình thường gồm: hiện tượng quá tải; hiện tượng tăng nhiệt độ quá mức; mức dầu thấp…
b) Đặc điểm của sơ đồ bảo vệ MBA
Tổ nối dây của các MBA có ảnh hưởng đến sự phân bố dòng ngắn mạch sau MBA, điều đó đòi hỏi phải áp dụng các sơ đồ nối dây các máy biến dòng và các rơle phù hợp
Sự tăng đột biến của dòng từ hóa khi điện áp thay đổi đột ngột có thể ảnh hưởng đến dòng khởi động của các bảo vệ
Sự khác nhau giữa điện áp hai phía sơ cấp và thứ cấp đòi hỏi phải lựa chọn các thiết bị và các thông số tính toán khác nhau ở hai phía
Sự phân hủy dầu dưới tác dụng của nhiệt độ cao cho phép áp dụng nguyên
lý bảo vệ bằng rơle hơi
5.3.2 Bảo vệ chống sự cố trong MBA
- Bảo vệ bằng rơle hơi
- Bảo vệ quá dòng điện
- Bảo vệ chống ngắn mạch trong MBA có thể được thực hiện theo nguyên
lý quá dòng, tức là bảo vệ dòng điện cực đại có thời gian duy trì và bảo vệ cắt nhanh
Máy biến dòng được đặt phía đầu vào của MBA, các máy biến dòng được chế tạo theo nhiều phương án khác nhau như lắp sẵn trong sứ của máy cắt (>= 35kV); lắp sẵn trong sứ của MBA (U>=110kV); loại vòng xuyến (chỉ có lõi thép
và cuộn thứ cấp) đeo vào cổ sứ MBA
Các máy biến dòng có thể thực hiện theo sơ đồ hình sao đủ, sao thiếu, hiệu hai dòng pha hoặc theo hình tam giác
- Bảo vệ so lệch
Bảo vệ so lệch dọc dùng làm bảo vệ chính trong MBA công suất từ 4 MVA trở lên, tuy nhiên, nhìn chung bảo vệ này cũng thường được áp dụng cho các MBA khi bảo vệ quá dòng không thể đáp ứng được các yêu cầu về độ chọn lọc và độ nhạy
Các máy biến dòng được đặt ở tất cả các phía của MBA được bảo vệ Thông thường bảo vệ so lệch dọc được thực hiện với 2 rơle trong mạch so sánh, trong trường hợp sơ đồ với 2 rơle không đảm bảo độ nhạy cần thiết thì sơ đồ dùng 3 rơle mới được sử dụng
Trang 105.4 Bảo vệ máy phát
5.4.1 Khái niệm chung
Bảo vệ máy phát điện được tính toán để ngăn ngừa sự cố và chế độ làm việc không bình thường như: ngắn mạch nhiều pha, ngắn mạch giữa các vòng dây, ngắn mạch chạm đất, chế độ bất đối xứng và chế độ quá tải của stator, ngắn mạch một điểm và ngắn mạch hai điểm cuộn dây kích từ…
5.4.2 Bảo vệ chống sự cố phần tĩnh máy phát điện
Các bảo vệ thường áp dụng để bảo vệ chống ngắn mạch trong cho phần tĩnh máy phát điện là bảo cắt nhanh và bảo vệ so lệch dọc
Bảo vệ chống ngắn mạch ngoài và bảo vệ dự phòng chống ngắn mạch trong thường được áp dụng là bảo vệ dòng điện cực đại kết hợp với khóa điện áp hoặc với bộ lọc thứ tự nghịch
Bảo vệ chống ngắn mạch chạm đất trong cuộn dây stator được thực hiện theo sơ đồ bảo vệ dòng điện thứ tự không
Bảo vệ tác động với 2 cấp thời gian:
Cấp 1 tác động cắt máy cắt ở đầu cực máy phát với thời gian được phối hợp với thời gian của bảo vệ dự phòng đuờng dây và máy biến áp
Cấp 2 với thời gian lớn hơn sẽ tác động dừng máy phát
a Bảo vệ dòng điện cực đại
Trang 11Vùng 2 bao phủ phần còn lại của máy biến áp và hệ thống thanh cái
5.5 Bảo vệ thanh cái
Xác suất hỏng hóc trên các thanh cái nhìn chung thấp hơn nhiều so với các phần tử khác nhưng những sự cố xảy ra trên thanh cái thường gây hậu quả nghiêm trọng Một số trường hợp không cần phải trang bị bảo vệ cho thanh cái là:
Nếu đường dây đến thanh cái quá ngắn, trong trường hợp này các sự cố xảy ra trên thanh cái sẽ được loại trừ bởi bảo vệ chính của đường dây
Thanh cái của nhà máy điện công suất bé, không phân đoạn
Các bảo vệ thường được áp dụng đối với thanh cái là bảo vệ dòng điện cực đại, bảo vệ cắt nhanh, bảo vệ có hướng, bảo vệ so lệch
Trong số đó bảo vệ so lệch thường được áp dụng nhiều nhất Phân biệt sơ
đồ bảo vệ so lệch toàn phần và bảo vệ so lệch không toàn phần
5.6 Bảo vệ động cơ
Động cơ điện là một tải quan trọng hệ thống điện công nghiệp Công suất
và đặc tính làm việc của các động cơ khác nhau nhiều Khi bảo vệ động cơ cần khảo sát kỹ các đặc tính làm việc của động cơ, ví dụ như : thời gian và dòng điện khởi động phải được biết để bảo vệ quá tải, sức chịu đụng quá nhiệt của động cơ khi có tải không cân bằng, khi bị hãm Các tình trạng phải kể đến khi tính toán bảo
vệ cho động cơ là sự cố bên ngoài và ngắn mạch bên trong động cơ Tình trạng không bình thường xảy ra cho động cơ là điện áp cung cấp cho động cơ không cân bằng, điện áp thấp, mất pha và khởi động thứ tự pha ngược Sự cố xảy ra bên trong
là hư trục động cơ, ngắn mạch giữa các pha mà thường gặp nhất là sự cố chạm đất
b Những sự cố bên ngoài hay chế độ làm việc không bình thường
- Các dạng ngắn mạch trong lưới điện làm trụt áp điện áp nguồn cung cấp
- Chế độ vận hành không đối xứng, đứt dây hoặc hở mạch 1 pha
- Ngoài ra, chế độ vận hành không đúng có thể xảy ra do điện áp đặt vào động cơ bị tụt thấp, quá tải khi khởi động và trong quá trình làm việc, phụ tải không đối xứng do hệ thống điện áp nguồn mất cân bằng, ngắn mạch giữa các pha
và ngắn mạch chạm đất trên đường dây cấp điện cho động cơ, chế độ động cơ mất đồng bộ đối với động cơ đồng bộ
5.6.2 Bảo vệ quá dòng và bảo vệ so lệch dòng điện
Trang 12a Bảo vệ quá dòng
- Chức năng quá dòng pha cắt nhanh và có thời gian (50/51) nhằm bảo vệ chống sự cố giữa các pha Chức năng quá dòng cắt nhanh có thể được sử dụng cho trường hợp kẹt cơ khí các bộ phận động
- Sơ đồ bảo vệ: sơ đồ hình V với hai máy biến dòng đặt trên 2 pha
- Giá trị đặt của bảo vệ phải chọn sao cho nó không cắt nhầm khi khởi động động cơ tại các điều kiện khác nhau:
+ Giá trị đặt của bảo vệ cắt nhanh ngưỡng cao được xác định theo công thức:
+ Bảo vệ quá dòng ngưỡng thấp: I> = khc.ksd.Idm
Trong đó: khc - hệ số hiệu chỉnh lấy bằng 1,2-1,3; Idm – dòng điện định mức của động cơ
Chú ý: - Đối với bảo vệ ngưỡng thấp, nếu sử dụng đặc tuyến phụ thuộc, giá
trị dòng đặt cho bảo vệ thường lấy xấp xỉ dòng tải danh định của động cơ Các đặc tuyến thường chọn là loại cực kỳ dốc (EIT) hoặc siêu dốc (UIT)
- Đối với động cơ có rôto dây quấn, dòng điện mở máy của động cơ thường
bé hơn động cơ lồng sóc và phần bảo vệ của động của cuộn dây động cơ sẽ rộng hơn
b Bảo vệ so lệch
- Bảo vệ so lệch động cơ được sử dụng để bảo vệ chống các sự cố pha-pha hay chạm đất
Trang 13- Vùng tác động của bảo vệ được giới hạn giữa hai vị trí đặt các biến dòng Chức năng này sẽ được kích hoạt khi có hiệu các dòng của một pha nào đó vượt quá giá trị chuẩn cho trước cài đặt sẵn trong rơle
- Bảo vệ so lệch thường dùng ở đây là bảo vệ so lệch hãm
- Dòng khởi động của bảo vệ so lệch: Ikd 0,5.Idm
Trong đo: Idm – dòng định mức của động cơ
5.6.3 Bảo vệ chống chạm đất cuộn dây stato
- Phương thức bảo vệ phụ thuộc vào tính chất trung điểm của lưới điện: + Đối với lưới điện có trung điểm nối đất trực tiếp hoặc nối đất qua điện trở
bé, sơ đồ bảo vệ quá dòng pha nối hình sao dễ dàng phát hiện chạm đất trong cuộn dây stato của động cơ vì dòng điện chạm đất lớn hơn gấp nhiều lần dòng điện danh định của động cơ
+ Đối với lưới điện có trung điểm cách ly với đất hoặc nối qua điện kháng lớn, sử dụng bảo vệ quá dòng thứ tự không và bảo vệ hướng của công suất thứ tự không
- Sơ đồ bảo vệ quá dòng thứ tự không với máy biến dòng có lõi hình xuyến đặt ở đoạn cáp cấp điện cho động cơ được áp dụng trong trường hợp khi dòng điện dung do chạm đất chạy qua bảo vệ có trị số lớn hơn hai lần dòng điện chỉnh định của rơle quá dòng Sơ đồ này có thể bảo vệ được khoảng 70-80% cuộn dây stato
- Sơ đồ hướng của công suất thứ tự không khi dòng điện dung quá bé Trong sơ đồ này, bảo vệ được chỉnh định theo công suất biểu kiến (đối với lưới điện có trung điểm không nối đất) và theo thành phần tác dụng của công suất thứ
tự không (đối với lưới có đặt cuộn Petersen) Điện áp ở sơ đồ này được lấy từ đầu ra của cuộn tam giác hở máy biến điện áp đặt ở thanh góp cấp điện cho động cơ
- Thời gian tác động của hai bảo vệ trên là rất bé
5.6.4 Một số phương thức bảo vệ khác
a Bảo vệ chống quá tải
- Sử dụng bảo vệ quá dòng đặc tuyến thời gian độc lập Dòng khởi động được chọn bé hơn dòng điện mở máy trung bình Imm và thời gian làm việc lớn hơn
Trang 14thời gian mở máy bình thường tm (tránh bảo vệ tác động nhầm khi mở máy động cơ)
- Trong chế độ vận hành bình thường cũng có thể xảy ra quá tải nhiệt đối với động cơ hư hỏng về cơ của các máy móc nối với động cơ hoặc ở ngay trong động cơ, do điện áp nguồn bị giảm thấp hoặc do hệ thống làm mát bị hư hỏng Sử dụng bảo vệ quá tải làm việc dựa trên hình ảnh nhiệt (đã xét trong bảo vệ quá tải máy biến áp)
b Bảo vệ chống mất đối xứng
- Chế độ mất đối xứng giữa các pha thường xảy ra do mất đối xứng của điện
áp nguồn hoặc do đứt dây, hở mạch trong đường dây cấp điện cho động cơ, đứt dây trong cuộn dây stato
- Bảo vệ được sử dụng là bảo vệ quá dòng thứ tự nghịch (do trong chế độ không đối xứng sẽ xuất hiện thành phần dòng thứ tự nghịch với trị số khá lớn) Dòng điện khởi động của bảo vệ được chỉnh định khoảng (10-20)%.Idm
- Thời gian tác động của bảo vệ khoảng vài giây
- Dòng thứ tự nghịch đưa vào rơle thứ tự nghịch I2> được lấy thông qua bộ lọc LI2 Tín hiệu từ rơle thứ tự nghịch sẽ kết hợp với tín hiệu ra của 2 rơle quá dòng kiểm tra dòng pha IA> và IC> qua cơ cấu “VÀ” đưa tín hiệu đến máy cắt sau một khoảng thời gian đặt trước
c Bảo vệ chống điện áp thấp
- Nhiệm vụ của bảo vệ này là tác động cắt động cơ hoặc một nhóm động cơ
ra khỏi lưới điện khi điện áp nguồn xuống thấp dưới giới hạn cho phép hoặc khi bị mất nguồn điện
- Trong sơ đồ sử dụng 2 (có thể nhiều hơn) rơle điện áp cực tiểu làm việc qua rơle thời gian Các rơle điện áp được bảo vệ bằng cầu chì đặt trên các pha có rơle điện áp
- Điện áp khởi động: Ukđ = 0,6Udđ; Udđ- điện áp danh định của động cơ
- Thời gian tác động: t = 0,5 0,7s
d Bảo vệ chống mất đồng bộ đối với động cơ đồng bộ
Trang 15- Động cơ đồng bộ có thể bị mất đồng bộ khi điện áp nguồn giảm xuống, quá tải cơ, dao động điện hoặc hư hỏng mạch kích từ
- Hậu quả: tăng ứng suất nhiệt trong rôto, gây ứng lực trên trục động cơ và các máy móc kéo theo và nếu hệ kích từ kiểu chỉnh lưu có thể gây quá áp cho cuộn kích từ
- Phương pháp bảo vệ: sử dụng rơle công suất (phản kháng) ngược có góc đặc trưng 900 nối vào dòng điện pha và điện áp trên thanh góp của động cơ, bảo vệ
sẽ tác động có thời gian (vài giây) cắt động cơ và khử kích từ; phương pháp dựa trên hiện tượng “dập mạch” của dòng điện stato khi làm việc ở chế độ không đồng
bộ