cây trồng được pháttriển tự nhiên có sử dụng thêm 1 lượng phân bón hữu cơ phân xanh, phânchuồng, không sử dụng bất cứ 1 loại phân bón hóa học thuốc trừ sâu hóa họcnào, các loài thiên địc
Trang 1Lời cảm ơn
Trước hết tôi xin trân thành cảm ơn TS Nguyễn Xuân Thành – Viện
Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn vềmọi mặt trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệpnày
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ của Trung Tâm Đậu Đỗ của Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện tốt cho chúng tôi trong
quá trình điều tra tại khu ruộng thí nghiệm của trung tâm
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, cán bộKhoa Công Nghệ Sinh Học - Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tận tình chỉ bảo,tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập suốt 4 năm học vừa qua, cũng nhưtrong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô các bác nông dân tại thônKhuyến Lương –Trần Phú – Hà nội và Thôn Ninh Sở – Thường Tín –Hà Nội
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi điều tra tại thực địa
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, Tháng 4 năm 2012 Sinh viên
Trịnh Văn Dũng
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tình Hình Nghiên Cứu Côn Trùng Gây Hại Trên Cây Đậu Tương Trong Và Ngoài Nước 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng gây hại trên cây đậu tương ở nước ngoài 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng gây hại trên cây đậu tương ở trong nước 6
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THIÊN ĐỊCH CỦA CÔN TRÙNG GÂY HẠI ĐÂU TƯƠNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu thiên địch của côn trùng gây hại đậu tương ở nước ngoài 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch của côn trùng gây hại đậu tương ở trong nước 10
PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 13
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Sự đa dạng về côn trùng trên cây tương và đặc điểm sinh thái, sinh học loài sâu róm 4 gù Dasichira spp 13
2.1.2 Nội dung nghiên cứu: 13
2.2 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 13
2.2.1 Vật liệu nghiên cứu 13
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 15
2.2.3 Thời gian nghiên cứu: 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 15
2.3.1 Phương pháp điều tra ngoài tự nhiên: 15
2.3.2 Phương pháp ghi chép điều tra 16
Trang 32.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (Nghiên cứu sinh thái, sinh hoc): 16
PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Thành phần loài côn trùng gây hại trên cây đậu tương tại Hà Nội và các vùng phụ cận 22 3.2 Thành phần côn trùng có ích trên cây đậu tương 33 3.3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH THÁI, SINH HỌC CỦA SÂU RÓM 4
GÙ Dasichira spp 35 3.3.1 Đặc điểm hình thái của sâu róm 4 gù Dasichira sp 35 3.3.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu róm 4 gù Dasichira spp 42 3.3.2.1 Đặc điểm sinh thái, sinh học của ấu trùng của sâu róm 4 gù Dasichira spp 42 3.3.2.2 Đặc điểm sinh thái, sinh học pha nhộng của sâu róm 4 gù Dasichira spp 44 3.3.2.3 Đặc điểm sinh thái, sinh học pha trưởng thành của sâu róm 4
gù Dasichira spp 45 3.3.2.4 Đặc điểm sinh thái, sinh học pha trứng của sâu róm 4 gù Dasichira spp 46
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Đặt Vấn Đề.
Dân số thế giới hiện tại đã đạt ngưỡng 7 tỉ người (năm 2011), thế giớiloài người chúng ta cần một lượng lương thực vô cùng to lớn để đáp ứng nhucầu sống của lượng dân số khổng lồ này Bài toán lâu nay của ngành nôngnghiệp của các nước trên thế giới được giải bằng các giải pháp như dùnglượng phân bón hóa học lớn, dùng thuốc trừ sâu hóa học để đạt năng suất caonhất nhưng hệ quả để lại rất to lớn như: dư lượng thuốc trừ sâu hóa học lớngây ra rất nhiều loại bệnh đối với loài người, sự suy giảm đa dạng sinh họcmột cách nghiêm trọng, bên cạnh đó xuất hiện những dịch bệnh bùng pháttrên quy mô rất lớn với sự tàn phá khủng khiếp ví dụ: bão châu chấu ở châuphi, đại dịch vàng lùn lùn xoắn lá ở Việt Nam, dịch ốc bươu vàng ở ViệtNam …
Vậy lý do ở đây là gì ?
Như chúng ta đã biết từ những năm giữa của thế kỉ 20 về trước dân sốthế giới còn ít nền nông nghiệp thế giới cũng như nước ta đi theo hướng tựnhiên hoàn toàn ít có sự can thiệp sâu của con người cây trồng được pháttriển tự nhiên có sử dụng thêm 1 lượng phân bón hữu cơ (phân xanh, phânchuồng), không sử dụng bất cứ 1 loại phân bón hóa học thuốc trừ sâu hóa họcnào, các loài thiên địch và côn trùng gây hại đều phát triển nên chúng kìmhãm lẫn nhau vì vậy ít có dịch bệnh xảy ra trên đồng ruộng
Xét về yếu tố sinh thái vai trò của các loài trong chuỗi thức ăn là nhưnhau không có khái niệm loài có hại và loài có ích Nhưng xét về khía cạnhđối với con người những loài nào làm ảnh hưởng đến lợi ích của họ là loài cóhại và họ tiêu diệt triệt để Cụ thể từ khi loài người bước vào cuộc cách mạngkhoa học kĩ thuật rất nhiều loại phân bón, thuốc trừ sâu hóa học đã được tìm
ra chúng được sử dụng tràn lan có những loại thuốc tiêu diệt cả những loài có
Trang 5ích Kết quả là năng suất cây trồng tăng cao đáp ứng nhu cầu lương thực chonhân loại nhưng nó cũng để lại không ít những hậu quả vô cùng nghiêm trọngnhư đã có nhiều nơi xảy ra dịch bệnh vô cùng nghiêm trọng mà việc dập tắtcác dịch bệnh đó là rất khó khăn.
Tại Việt Nam đất nước mà có gần 70% dân số làm nông nghiệp Nôngnghiệp vẫn còn chiếm tỉ trọng rất cao trong cơ cấu GDP Thì việc phòng trừsâu bệnh trên đồng ruộng nói chung và trên các cây công nghiệp quan trọngđiển hình như cây đậu tương diễn ra thường xuyên Biện pháp thường được
sử dụng rộng rãi là phun thuốc trừ sâu hóa học, số lần phun thuốc trừ sâubệnh là từ 1 – 2 lần/vụ đến 3 – 6 lần/vụ Bên cạnh những ưu điểm của mìnhnhư là hiệu quả nhanh, kịp thời, hiệu quả trên phạm vi rộng, tác dụng vớinhiều loại sâu, bệnh trên cây trồng và có thể áp dụng bất kỳ mọi nơi, mọi điềukiện, thì biện pháp hóa học có rất nhiều nhược điểm điển hình như là: nó gây
ô nhiễm môi trường trên diện rộng, để lại một dư lượng thuốc đáng kể trongsản phẩm làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, tồn dư thuốc trong đấttrong nước… Mặt khác do việc lạm dụng thuốc trừ sâu hóa học sử dụng liêntục, nhiều lần với nồng độ cao làm cho sâu hại quen thuốc dẫn đến tính khángthuốc làm xuất hiện dịch hại mới trên cây trồng gây hại với mức độ nặng hơn
và quan trọng là khó phòng trừ tiêu diệt nó hơn Ngoài ra chính việc sử dụngthuốc trừ sâu không đúng chỗ , không đúng cách , không đúng liều lượng đãlàm ảnh hưởng rất lớn đến cân bằng sinh thái , làm mất cân bằng sinh thái ,làm giảm sút rõ rệt tính đa dạng của các quần thể có ích như kiến vàng , bọrùa đỏ, nhện có ích …
Một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là làm sao và phải làm như thế nào để
có thể khắc phục những nhược điểm của việc sử dụng thuốc hóa học ?
Vậy để khắc phục những nhược điểm đó ta cần phải có những biện phápphòng trừ sâu bệnh khác như là : Biện pháp thủ công , biện pháp canh tác, sử
Trang 6dụng thuốc trừ sâu sinh học thân thiện với môi trường, áp dụng các biện phápthay đổi chủng loại thuốc cho từng loại đối tượng dịch hại ở mỗi vùng, mỗikhu vực sinh thái khác nhau điều đó giúp làm giảm khả năng kháng thuốc củadịch hại cũng như khả năng quen thuốc của sâu Hiện nay biện pháp phòngtrừ sâu hại được sử dụng rộng rãi ở các nước tiên tiến là quản lý dịch hại tổnghợp IPM (Intergrated Pest Management), với mục tiêu tác động toàn bộ hệsinh thái đồng ruộng, ngăn ngừa tác hại của côn trùng gây hại, phát huy cácthành phần có ích, nâng cao sức đề kháng của cây trồng, nhằm đạt năng suấtchất lượng cao Trong đó biện pháp đấu tranh sinh học được xem là nền tảng
là nòng cốt của phương pháp này Ngay từ thời xa xưa con người đã biết lợidụng những loại sinh vật có ích để phòng trừ dịch hại trên đồng ruộng Vàothế kỷ 18 nhà khoa học Fish đã thí nghiệm dung bọ rùa ăn rệp, đầu thế kỷ 20
có nhiều công trình mang tính quy luật về vai trò của sâu ăn thịt như bọ rùa,
bọ xít, kiến…
Hiện nay đã có nhiều công nghiên cứu về sự đa dạng số lượng các loàicôn trùng gây hại và thiên địch trên cây đậu tương, tuy nhiên việc tiếp tụcnghiên cứu và điều tra về sự biến động các số lượng loài sâu hại và thiên địchtrên cây đậu tương vẫn hết sức quan trọng và cần thiết Mặt khác nghiên cứuđặc tính sinh học, sinh thái ở một số loài điển hình như sâu róm 4 gù nâu giúpchúng ta hiểu sâu hơn về quy luật phát triển sinh học sinh thái của các loàicôn trùng gây hại để có thể khuyến nghị biện pháp phòng trừ ưu việt nhất
Xuất phát từ tầm quan trọng này, được Khoa Công Nghệ Sinh Học – Viện Đại Học Mở Hà Nội cho phép, được sự giúp đỡ của Tiến Sỹ Nguyễn Xuân Thành – Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật chúng tôi đã tiến
hành thực tập nghiên cứu viết khóa luận tốt nghiệp với đề tài:
Trang 7‘‘ Điều tra thành phần, sự đa dạng sinh học của các loài côn trùng gây hại và thiên địch của chúng trên cây đậu tương và nghiên cứu các
đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu róm 4 gù Dasichira
spp ”
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI :
Đề tài nhằm một số mục tiêu sau đây :
Điều tra thực địa thu thập mẫu vật, xác định thành phần, số lượng cácloài côn trùng gây hại và các loài thiên địch của chúng trên sinh quần đậutương ở Hà Nội và các vùng phụ cận
Bước đầu tìm hiểu về những đặc tính sinh học sinh thái của loài sâuróm 4 gù
Bước đầu tìm hiểu đặc tính các pha phát triển của các loài côn trùnggây hại
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
Việc điều tra thành phần loài côn trùng gây hại và thiên địch của chúngtrên sinh quần đậu tương có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ câytrồng mà vẫn đảm bảo yếu tố sinh thái được cân bằng
Trên cơ sở điều tra thành phần, mật độ sau hại và thiên địch trên sinhquần lạc và đậu tương ở Hà Nội và các vùng phụ cận Theo dõi giám sát sựbiến động mật độ quần thể các loài có hại và các loài thiên địch của chúngnhằm để suất các biện pháp bảo vệ các loài có ích, đồng thời đưa ra khuyếncáo cho thời vụ hợp lý nhất
Từ nghiên cứu đặc tính sinh học sinh thái của loài sâu róm 4 gù
Dasichira spp nhằm cung cấp các dữ liệu khoa học cho việc phòng trừ
chúng đem lại hiệu quả kinh tế cao đồng thời góp phần bảo về môi trườnghướng tới phát triển bền vững vì tương lai sự tồn vong của loài người
Trang 8PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tình Hình Nghiên Cứu Côn Trùng Gây Hại Trên Cây Đậu Tương Trong Và Ngoài Nước.
Đậu tương là một loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, theo một sốtài liệu cho rằng đậu tương có nguồn gốc từ Đông Nam Châu Á, nhưng hiệnnay khoảng 45% diện tích trồng đậu tương và khoảng 55% sản lượng đậutương thế giới nằm ở nước Mỹ, trong những năm gần đây đậu tương đượcphát triển thành một loại cây trồng chính trong ngành nông nghiệp Việt Nam
Đi đôi với không ngừng mở rộng diện tích như vậy trên thế giới và Việt Nam
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đậu tương, trong đó côn trùng gâyhại và các loài thiên địch của chúng là một vấn đề luôn được nhắc đến và córất nhiều đề tài nói về vấn đề này Tuy nhiên tùy theo từng điều kiện sinh thái,địa lý, giống, kĩ thuật canh tác của mỗi vùng miền, mỗi quốc gia có ảnhhưởng rất lớn tới sự biến động thành phần, số lượng của các loài sâu hại vàthiên địch của chúng
1.1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng gây hại trên cây đậu tương ở nước ngoài.
Diện tích cây đậu tương trên toàn thế giới là khá lớn và đang ngày càngđược mở rộng, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Do đó cónhiều nhà khoa học đã và đang bắt tay vào nghiên cứu về cậy đậu tương,cũng như những vấn đề về thành phần, sự biến động số lượng sâu hại gópphần phòng trừ sâu hại giúp tăng năng suất của đậu tương đồng thời làmgiảm tác động xấu tới sự cân bằng sinh thái
Theo Lowell( 1976) ở Hoa kỳ đã ghi nhận được 950 loài chân đốt trênđậu tương, trong đó chỉ có 19 loài gây hại chính (chiếm 5%) gồm: 2 loại hại
Trang 9quả, 14 loại hại lá, 3 loài hại dễ, thân, hạt Có dưới 2% số loài gây hại mangtính nghiêm trọng như: sâu xanh , sâu đo, sâu ăn quả và bọ xít xanh Số cònlại thuộc nhóm các loài sâu nhất thời, ký sinh hoặc ăn mồi…[48].
Ở Nhật Bản, theo Kobayshi (1976, 1978) trên cây đậu tương có khoảng
25 loài sâu hại quan trọng Trong đó có 4 loài sâu đục quả ,20 loài bọ xít và 1loài ruồi đục quả với 7 loài gây hại nghiêm trọng: sâu đục quả 2 loài, sâu ănquả 1 loài, bọ xít 3 loài muỗi đục quả 1 loài [45,46]
Tại Thai Lan có hơn 30 loài sâu hại tìm thấy trên đồng ruộng đậutương, trong đó có hơn 10 loài gây hại chính làm giảm năng suất là: dòi đụcthân, sâu đục lá, rệp đầu xanh, sâu xám, sâu xanh, mối và sâu cuốn lá [47]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng gây hại trên cây đậu tương
ở trong nước.
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra côn trùng cơ bản năm 1967-1968của Viện Bảo Vệ Thực Vật trên cây đậu tương đã thống kê 88 loài sâu hại,với 43 loài thường xuyên xuất hiện và trên 10 loài [chiếm 12,5] hại chính[40]
Theo Nguyễn Văn Cảm và cộng sự (1979) thì ở các tỉnh phía nam, trênđậu tương có khoảng 195 loài côn trùng Gây hại có 85 loài, trong đó có 3 loàihại gốc dễ, 4 loài đục thân và quả, 54 loài ăn lá và 24 loài chích hút [22] Cũng theo Trần Đình Chiến & Đặng Thị Dung nghiên cứu sự đa dạngdạng thành phần sâu hại trên đậu tương năm 1996 – 1999 ở hà nội và vùngphụ cận đã thu được kết quả: 69 loài thuộc 7 bộ, 28 họ côn trùng khác nhau
Bộ có số loài phổ biến và phong phú nhất là bộ cánh vảy (Lepidoptera ) Sau
đó đến bộ cánh nửa ( Hemiptera ) và bộ cánh cứng ( coleoptera) Các họ có
số loài phong phú là họ ngài sang (Pyralidae), họ ngài đêm (Noctuidae), họ ngài độc (Lymantridae), họ châu chấu (Acrididae), họ bọ xít 5 đốt râu
(Pentatomidae) và họ ánh kim (Chrysomelidae) Trong số 69 loài sâu hại thu
Trang 10được trên đậu tương có 7 loài được xác định là các loài sâu hại chủ yếu Đó là
dòi đục thân (Melanagromyza sojae Zehnter) sâu cuốn lá (Hedylepta
indicata Fabr), sâu đục quả (Maruca testulalis Geyer), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr), bọ xít xanh (Nezarra ciridula) Bọ xít vai đỏ (Piezodorus hybueri) và rệp muội đậu tương (Aphis glycines Matsumura).[]
Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Văn Duy, Phan Thanh Nam (1996)trong 1 vụ đậu tương ở Hà Nội và các tỉnh phụ cận , đã thu được 29 loài sâu
hại chính, trong đó bộ cánh vẩy Lepidoptera có số lượng nhiều nhất với 10
loài ( chiếm 31%), các bộ khác mỗi bộ có 4 – 6 loài ( bộ cánh cứng, bộ cánhnửa, bộ cánh thẳng và bộ 2 cánh), bộ cánh tơ có số lượng thấp nhất 1 loài[6,14]
Gần đây nhất Nguyễn Xuân Thành (2010) đã xuất bản tập Alat côntrùng tập 1 cung cấp đầy đủ đặc tính sinh học sinh thái và hình ảnh minh họacủa hơn 30 loài côn trùng hại các cây họ đậu và các loài cây thực phẩm khác[27]
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về thành phần loài và mức độ phổbiến của các loài sâu hại trên cây đậu tương thì cũng có nhiều tác giả đi sâuvào nghiên cứu đặc tính sinh học sinh thái của các loài sâu chủ yếu như:
Lương Minh Khôi (1988) đã nghiên cứu về sâu cuốn lá [14] Năm 1999Quách Thị Ngọ nghiên cứu sinh học và biện pháp phòng trừ rệp hại đậutương Khuất Đăng Long năm 2002 đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa giaiđoạn sinh trưởng của các giống đậu tương và biến động số lượng của 2 loàiruồi đục thân đậu tương tại khu vực Gia Lâm – Hà Nội Ngoài ra còn nhiềucông trình tổng hợp khác về các loài sâu hại chính trên cây đậu tương và biệnpháp phòng trừ chúng
Như vậy các loài côn trùng gây hại trên đậu tương đã được nghiên cứukhá hoàn chỉnh, tuy các công trình nghiên cứu về thành phần loài thực hiện tại
Trang 11nhiều địa điểm, quy mô và thời gian khác nhau nhưng về cơ bản đều có sựthống nhất về các loài sâu hại chính trên cây đậu tương góp phần quan trọng
và việc phòng trừ chúng tăng hiệu quả kinh tế của cậy đậu tương đồng thờicũng góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường, giữ cho cân bằng sinh tháiđược bền vững
Song song tồn tại với những loài côn trùng gây hại cây trồng nói chung
và cây hại đậu tương nói riêng là những loài thiên địch tiêu diệt sâu Nhữngloài thiên địch này là những mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn của hệsinh thái sinh quần đậu tương, chúng luôn luôn tồn tại trên đồng ruộng và cóvai trò rất to lớn là điều hòa mật độ, kìm hãm sự phát sinh côn trùng gây hạithành dịch của sâu rất hữu hiệu Khi số lượng của các loài thiên địch đượcnhân lên đúng mức có thể chúng ta không bao giờ phải sử dụng đến thuốc trừsâu do chúng tấn công tiêu diệt hầu hết các loại công trùng gây hại nông lâmnghiệp Chúng được chia thành 3 nhóm chính: Nhóm thiên địch ký sinh (ong
ký sinh, ruồi ký sinh…) đây là hình thức của sinh vật sống bên trên hoặctrong cơ thể sinh vật khác, ở đây chúng lấy thức ăn từ vật chủ trong suốt quátrình phát triển hay là trong một giai đoạn phát triển gắn bó với vật chủ.Nhóm thứ hai là nhóm bắt mồi ăn thịt như: kiến vàng, bọ xít ăn thịt, bọ rùa ănthịt, bọ cánh cứng, bọ ngựa…, đây là những côn trùng săn bắt, cắn xé và ănthịt các loài côn trùng gây hại ở nhiều giai đoạn sinh trưởng Nhóm thứ 3 lànhóm tuyến trùng và vi sinh vật gây bệnh
Tuy nhiên những loài thiên địch này cũng khá nhạy cảm với các loạithuốc trừ sâu Chúng có tốc độ phát triển chậm hơn sâu bệnh, nên việc sử
Trang 12dụng thuốc trừ sâu tràn lan như hiện nay có ảnh hưởng lớn tới các loài sinhvật này và ảnh hưởng tới sự cân bằng sinh thái gây ô nhiễm môi trường Do
đó có rất nhiều nhà khoa học ở trên thế giới cũng như Việt Nam đã nghiêncứu thống kê số lượng, thành phần, đặc tính sinh học sinh thái của những loàinày nhằm bảo vệ chúng và bước đầu thực hiện việc nuôi nhân số lượng củachúng Sau đây tôi xin giới thiệu một số công trình đó:
Theo B.M Shepard & cộng sự trong các loài thiên địch của sâu hại trênrau và đậu tương ở khu vực Đông Nam Á thì loài thiên địch bắt mồi chânkhớp là nhóm thiên địch đa dạng và đông đảo nhất họ đã thống kê được có tới
43 loài, chúng là nhóm thiên địch quan trọng nhất trên hầu hết các loại câytrồng và rất mẫn cảm với thuốc trừ sâu hóa học, bên cạnh đó họ cũng thống
kê được 21 loài ký sinh, 14 loại bệnh hại côn trùng do nấm, 3 loại virut, 2 loạiđộng vật nguyên sinh và 1 loại tuyến trùng.[50]
Grazzoni và cộng sự (1994) cho biết trên đậu tương ở vùng nhiệt đới cótới 52 loài ký sinh thuộc bộ cánh màng tập chung chủ yếu ở 3 họ
(Braconidae, Ichneumonidae, Chalcididae) và bộ 2 cánh tập chung chủ yếu ở
họ Tachinidea [49].
Theo nghiên cứu của Lowell (1976) chỉ ra rằng mỗi loài sâu hại quảchính bị ít nhất một loài ký sinh khống chế số lượng Toàn bộ sâu hại trên đậutương bị 23 loài côn trùng ký sinh khống chế số lượng trong đó sâu hại quả bị
6 loài ký sinh, sâu ăn lá, sâu khoang, sâu róm, sâu đo, và bọ cánh cứng bị 16loài ký sinh Sâu hại rễ bị 1 loài ký sinh, riêng đối với sâu xanh bị 10 loài kýsinh liên kết thường xuyên [48]
Ngoài ra theo nghiên cứu của một số tác giả: côn trùng ký sinh sâu xanh
Helicoverpa armigera và H.obsoleta có sô loài phong phú nhất với 89 loài
trong đó: bộ 2 cánh có 32 loài, bộ cánh màng có 57 loài Trong 32 loài thuộc
bộ 2 cánh thì họ Tachinidea có số lượng loài nhiều nhất 28 loài, họ Muscidae
Trang 131 loài và sarcophagidae 3 loài Bộ cánh màng 57 loài thuộc 7 họ, trong đó họ
Braconidae có số lượng nhiều nhất 20 loài, sau đó đến họ Ichneumonidae 17
loài, Chalcidae và Trichogrammatidae mỗi họ 6 loài, Scelionnidae 5 loài
Eulophidae 2 loài và Aphelinidae 1 loài Còn Helicoverpa virescens chỉ bị 4
loài ký sinh: họ Braconidae 3 loài và một số loài ruồi thuộc họ
Cùng năm đó, theo Lương Minh Khôi, Trần Huy Thọ (1988) nghiêncứu về sâu cuốn là cho biết: Ong ký sinh cuốn lá đậu tương gồm 6 loài trong
đó có 5 loài ký sinh bậc 1 chủ yếu là họ Braconidae và Ichneumonidae, và 1
loài ký sinh bậc 2 [10]
Phạm Văn Lầm (1993) cho biết quá trình điều tra thu thập kẻ thù tựnhiên của sâu hại đậu tương từ năm 1982 – 1992 đã thu được 64 loài thiênđịch của sâu hại đậu tương Chúng thuộc 4 bộ côn trùng Các loài thiên địchthu thập được tập chung chủ yếu ở bộ cánh màng 40 loài (chiếm 62,5% tổng
số loài thu được), bộ cánh cứng chiếm 14 loài (chiếm 21,9% tổng số loài), bộcánh nửa 7 loài (chiếm 10,9% tổng số loài), bộ 2 cánh 3 loài (chiếm 4,7%).Các loài thiên địch đã thu thập được gồm 22 loài côn trùng bắt mồi ( chiếm34,4% tổng số loài ), 33 loài ký sinh bậc 1 (chiếm 51,6% tổng số ), 7 loài kýsinh bậc 2 ( chiếm 10,9%), 1 loài vừa là ký sinh bậc 1 vừa là ký sinh bậc 2 và
Trang 141 loài ký sinh trên côn trùng bắt mồi Trong đó mới chỉ xác định được tênkhoa học của 58 loài gồm: 6 loài là ký sinh trứng, 15 loài là ký sinh sâu non
và 6 loài ký sinh nhộng sâu hại Tuy số lượng loài thiên địch đã được pháthiện là 64 loài, nhưng chỉ có 20 loài phổ biến [18]
Kết quả nghiên cứu của Vũ Quang Côn và cộng sự ( 1996) cho thấythành phần côn trùng ký sinh trên cây đậu tương ở phía bắc Việt Nam rấtphong phú 42 loài Trong đó có 39 loài thuộc bộ cánh màng, 3 loài thuộc bộ
hai cánh Họ Braconidae có số lượng loài nhiều nhất 14 loài, sau đó đến họ
Ichneumonidae 8 loài, các họ khác mỗi họ có 1 – 5 loài Trong tập hợp ký
sinh chung trên đậu tương một số loài có vai trò quan trọng trong việc kìmhãm sự phát sinh, gây hại của sâu cuốn lá 5 loài, sâu khoang 2 loài dẫn tới tỷ
lệ các loài sâu này bị nhiễm ký sinh khá cao sâu cuốn lá 5 – 35%, sâukhoang 35 – 40% [19]
Hoàng Thị Hằng & Hà Quang Hùng đã điều tra thành phần côn trùngbắt mồi trên đậu tương vụ đông xuân tại Chương Mỹ - Hà Tây đã thu đượckhá phong phú số loài: vụ đông 2005 (26 loài), vụ xuân 2006 (33 loài), trong
đó bộ cánh cứng xuất hiện nhiều nhất, phổ biến là các họ bọ chân chạy [8] Theo Đặng Thị Dung (1999), thành phần côn trùng ký sinh ở vùng HàNội và phụ cận có 51 loài thuộc 2 bộ, 14 họ Các loài ký sinh chủ yếu tậpchung ở bộ cánh màng 46 loài, bộ 2 cánh 5 loài Trong bộ cánh mang thì họ
ong đen kén nhỏ Braconidae có số lượng loài thu được nhiều nhất 20 loài, sau
đó là họ Scelionnidae 8 loài, họ Ichneumonidae 7 loài, họ Chalcididae 4 loài,
các họ còn lại mỗi họ có 1 – 2 loài Các loài côn trùng ký sinh thuộc bộ hai
cánh tập chung nhiều ở họ Tachinidae 3 loài, họ Braulidae và Phoridae mỗi
họ 1 loài Các côn trùng ký sinh thu được chủ yếu có đặc tính ký sinh sâu noncủa nhiều loài sâu hại đậu tương thuộc bộ cánh vẩy (29/51 loài) Một số loài
ký sinh từ pha sâu non, hoàn thành các giai đoạn tiếp theo và pha nhộng Pha
Trang 15nhộng thu được 5 loài Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu đặc điểm hình tháisinh học của các loài ký sinh quan trọng, cũng như các yếu tố ảnh hưởng tớihoạt động của chúng [4].
Khuất Đăng Long (2001) nghiên cứu thành phần và vai trò của nhện lớnbắt mồi trên đậu tương cho biết đã thu được 26 loài nhện lớn bắt mồi thuộc 9
họ khác nhau Trong đó loài nhện linh miêu vân xiêm trắng Oxyopes javanus
có số lượng nhiều nhất, tiếp đó là nhện sói Pardosa pseudoannulata, thứ 3 là nhện nhảy Bianor hotingchiehi [22].
Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả cho chúng ta nhìn thấykhá toàn diện sự phong phú cũng như sự hữu ích của các loài thiên địch củasâu hại đâu tương , nó có vai trò rất quan trọng trong việc kìm hãm và khốngchế sô lượng các loài sâu hại Do đó cần có biện pháp bảo vệ và khích lệ sựhoạt động của chúng trên đồng ruộng
Trang 16PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1
Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Sự đa dạng về côn trùng trên cây tương
và đặc điểm sinh thái, sinh học loài sâu róm 4 gù Dasichira spp.
2.1.2 Nội dung nghiên cứu:
a- Điều tra nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài và sự phân bố củaloài theo không gian và theo ký chủ (Cây đậu tương)
b- Điều tra nghiên cứu sự biến động số lượng của loài gây hại cây đậutương
c Nghiên cứu hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu róm 4 gù
d Nghiên cứu thành phần các loài thiên địch (Ký sinh, ăn thịt, vi sinhvật) của loài gây hại đang nghiên cứu, hoặc ngược lại nghiên cứu ký chủ củacác loài thiên địch (Ký sinh, ăn thịt, vi sinh vật) – mục đích xác định mạnglưới thức ăn
2.2
Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Trang 17- Bút lông, panh
- Ông nghiệm, kim ghim côn trùng
- Lồng nuôi côn trùng 50 x 50 x 50 cm
- Giá đựng lọ nuôi côn trùng (Hình …… dưới)
Hình 1: Giá và lọ nuôi côn trùng.
- Lọ nhựa nuôi côn trùng
- Sổ ghi nhật ký, sổ ghi thí nghiệm, sổ điều tra
- Cặp điều tra
- Túi đựng giấy tờ kết quả điều tra hoặc nuôi côn trùng
- Bút chì kim và bút bi c- Thiết bị:
- Lúp cầm tay
- Kính lúp soi nổi
- Ôn, ẩm kế treo tường
- bông thấm nước
Trang 182.2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Vùng trồng đậu tương tại trung tâm đậu đỗ của Viện Khoa Học NôngNghiệp Việt Nam ( Vĩnh Quỳnh – Thanh Trì – Hà Nội)
- Vùng trồng đậu tương tại 2 thôn Khuyến Lương – Trần Phú – HoàngMai – Hà nội và Ninh Sở - Thường Tín – Hà Nội
2.2.3 Thời gian nghiên cứu:
- Bắt đâu nghiên cứu tháng 1/2/2012 Kết thúc nghiên cứu 5/2012
- Bắt đâu viết khóa luận tháng 4/2012 Nạp khóa luận 5/2012
2.3
Phương pháp nghiên cứu :.
2.3.1 Phương pháp điều tra ngoài tự nhiên:
- Điều tra định tính, nhằm thu thập thành phần loài (Sự đa dạng về loài);
Vùng phân bố của các loài (Phân bố sinh thái theo điều kiện địa lý); Phân bốtheo các cây chủ (cây trồng khác nhau) (Điều tra ngoài vùng cố định)
Hình 2: Điều tra ngoài thực địa
Trang 19- Điều tra định lượng nhằm xác định sự biến động số lượng của 1 loài
nào đó dưới tác động của môi trường (thời tiết hay thức ăn), cũng như đánhgiá vai trò, hay vị trí của của một loài nào đó trong quần xã)
Điều tra cố định (định lượng) được tiến hành tại 1 địa điểm nhất nhấtđịnh, định kỳ theo thời gian: (5-7 ngày một lần liên tục trong suốt thời giansinh trưởng của cây) Điều tra tại 3 khu khác nhau, mỗi khu điều tra 5 điểmchéo góc Mỗi điểm điều tra 5 cây Điều tra cả 4 hướng (Đông, tây, nam, bắc)
và điều tra từ trên xuống gốc cây Kiểm tra cả 2 mặt lá và thu tất cả các phaphát triển của mọi loài côn trùng Vật mầu được chứa trong lọ nhựa trênmiệng bịt vải màn mang về phòng phân tích, xác định tên khoa học của loài,
tỷ lệ ký sinh…Loài nào cần nuôi sinh học thì nuôi, loài nào cần ngâm giữmẫu thì cho vào cồn 700
2.3.2 Phương pháp ghi chép điều tra: Ghi nhật ký điều tra các thông
tin: Ngày điều tra, thời tiết ngày điều tra, sinh trưởng của cây trồng ở từngthời điểm điều tra, các loài côn trùng thu được Pha phát triển của loài và sốlượng cá thể của từng loài thu được Vật mồi (côn trùng bị ăn) của loài côntrùng bắt mồi
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (Nghiên cứu sinh thái, sinh hoc):
a Nghiên cứu sự ảnh hưởng của yếu tố sinh thái (ôn, ẩm độ) đến trạngthái sinh học của côn trùng (Hại và lợi) (Nuôi côn trùng vào các thời giankhác nhau – ít nhất 2 lần)
1 Ảnh hưởng của T0C và W% đến thời gian phát triển, tỷ lệ sống sót củatừng pha (Trứng, ấu trùng, nhộng, trưởng thành và tỷ lệ sống sót), và Vòngđời của loài côn trùng đang nghiên cứu …
2 Ảnh hưởng của T0C và W% đến khả năng đẻ trứng của trưởng thành
Trang 203 Ảnh hưởng của T0C và W% đến khả năng ký sinh hoặc bắt mồi củacác loài côn trùng có ích (Nuôi trong phòng thí nghiệm)
4 Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau (thực vật, động vật) đến cácchỉ số sinh học (Thời gian phát triển của các pha, tỷ lệ sống sót của các pha,khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái …) của các đối tượng côn trùng đangnghiên cứu
b Nghiên cứu thành phần các loài ký sinh ở từng pha phát triển (trứng,
ấu trùng và nhộng của loài côn trùng đang nghiên cứu ….) – Thu mẫu vậtngoài tự nhiên đưa về phòng theo dõi, nghiên cứu
1 Thành phần và tỷ lệ ký sinh của các loài ong ở pha trứng của loài sâu
1 Mỗi một loài cô trùng ăn thịt hay mỗi một loài sâu hại nào đó chochúng ăn từ 4-5 loại thức ăn khác nhau
2 Theo dõi các chỉ số sinh học ở mọi pha phát triển của đối tượng nghiêncứu:
(Khả năng tiêu thụ thức của một cá thể trong 1 ngày đêm Chỉ số sốngsót, thời gian phát triển, tỷ lệ cái/đực; số trứng đẻ được của mỗi cá thể trưởngthành cái)
Trang 21Tổng số điểm điều traĐánh giá mức độ phổ biến:
+ + + Rất phổ biến (TSXH > 50 %)
2- Đo kích thước từng pha phát dục với n = ≥ 30
- Kích thước trung bình của cơ thể được tính bằng công thức:
Trang 22Trong đó: X - Thời gian phát triển trung bình
Xi - Thời gian phát triển của n cá thể trong ngày thứ i
Trong đó: X - Vòng đời trung bình
X1 - Đến Xn - Thời gian phát dục trung bình của tất cả các pha ( Bắtđầu là pha trứng đến pha phát dục cuối là trưởng thành) (Pha trưởng thànhtính từ lúc vũ hóa cho đến khi đẻ quả trứng đầu tiên)
n - Số pha phát triển của loài
n5- Tỷ lệ nở trung bình của trứng %: = - x 100
Trang 23(Trong nghiên cứu côn trùng ta có thể gom, xếp chúng thành nhóm cócùng chức năng tiêu hóa (chích hút, gặm ăn, hay ký sinh) hoặc theo giống, họhay bộ để đánh giá về mức độ đa dạng – có như vậy công việc sẽ dễ dàng vàđơn giản hơn khi ta đánh giá theo từng loài )
Một cách đo khác của chỉ số Shannon có “S” số loài có trong mẫu thuđược và E là mức ngang bằng cho các loài này
Ln S
hoặc
( )
H E
Lg S
* E luôn nằm trong khoảng từ 0 – 1
* Nếu E = 1, các loài đều có vai trò ngang nhau trong môi trường sốnghiện tại
6- Tính chỉ số giống nhau về thành phần loài : (Chỉ số Jaccar vàSorenxen)
2c k
a b
Trang 24- Khi k: Từ 0.00 đến 0.40 chỉ sự không giống nhau
- Khi k: Từ 0.41 đến 0.60 chỉ sự giống nhau rất ít
- Khi k: Từ 0.61 đến 0.80 chỉ sự giống nhau
- Khi k: Từ 0.81 đến 1.00 chỉ sự rất giống nhau
- Số liệu được tính toán và sử lý theo chương trình Excel và IRRISTAT
Trang 25PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài côn trùng gây hại trên cây đậu tương tại Hà Nội và các vùng phụ cận.
Sâu hại là một trong những trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nôngnghiệp chúng luôn tồn tại bên cạnh cây trồng và tham gia vào quá trình traođổi năng lượng trong dây chuyền dinh dưỡng Thành phần loài sâu hại trêntừng loại cây trồng thường rất đa dạng Tìm hiểu và nắm vững thành phần sự
đa dạng là việc làm rất cần thiết Trên cơ sở đó xác đinh được loài gây hạichính để nghiên cứu đề xuất các phương án bảo vệ cây trồng đạt hiệu quả caonhất đồng thời là bảo vệ môi trường giảm tối thiểu tác động xấu của conngười đối với môi trường
Kết quả điều tra thành phần loài từ tháng 2/2012 đến tháng 5/2012 trêncác ruộng đậu tương vụ xuân 2012 tại Hà Nội và các vùng phụ cận Và kếtquả chúng tôi đã xác định được có 30 loài sâu hại thuộc 6 bộ: bộ cánh vảy, bộcánh nửa, bộ cánh cứng, bộ cánh đều, bộ cánh thẳng, bộ 2 cánh (bảng 1)
Trang 26Bảng 1: Thành phần côn trùng gây hại trên cây đậu tương tại
Hà Nội vụ xuân hè 2012.
STT Tên Việt
Vị trí gây hại
Mức
độ gây hại
Bộ cánh vẩy (Lepidoptera)
2 Sâu khoang Spodoptera litura
Trang 27STT Tên Việt
Vị trí gây hại
Mức
độ gây hại
Trang 28STT Tên Việt
Vị trí gây hại
Mức
độ gây hại
ở giai đoạn đầu phát triển của đậu tương thì chúng tôi chỉ bắt gặp chủ yếu làsâu xám, khi cây phát triển đến giai đoạn giữa thân cây tầm 20 cm thì lại thấysâu xám xuất hiện rất ít vì lúc này điều kiện thức ăn không còn phù hợp ( thâycây cưng, là bắt đầu già) Nhưng điều chung nhất từ trước tới nay là các thànhphần côn trùng gây hại chính trên đậu tương hầu như không thay đổi
Sau đây là đặc điểm sinh học sinh thái của một số loài sâu gây hại chính:
Sâu xám:
Tên khoa học: Agrotis ypsilon Rott
Họ: ngài đêm (Noctuidae)
Bộ: cánh vẩy (Lepidoptera)
Trang 29Là một trong những loài sâu có mức độ phá hoại nghiêm trọng nhất vàxuất hiện sớm nhất Sâu xuất hiện khi đậu tương được khoảng hơn một tuầntuổi Chúng là một loài đa thực chúng không chỉ gây hại trên đậu tương màcòn cả các cây trồng khác như lạc, ngô …
Ấu trùng sống trong đất, chỉ đến ban đêm và gần sáng mới chui lên hoạtđộng Sâu cắn ngang thân cây đặc biệt là giai đoạn thân cân còn non hoặcchúng cắn là rùi kéo lá xuống đất Sâu tuổi lớn có kích thước khá lớn dàikhoảng 38 mm, có màu xám đất, phía dưới bụng màu nhạt đầu màu nâu sẫm,
có vạch lưng rõ rệt
Sâu đóng nhộng dưới đất, nhộng có màu cánh gián nhộng có chiều dài18-20 mm Bướm màu nâu tối thân dài 17-23 mm cánh trước màu xám có 6chấm, giữa cánh có vân hình quả thận, hình tròn, hình gậy