Với mong muốn, phát huy hết lợi thế của từng vùng, khu vực trongviệc phát triển sản xuất nông nghiệp, chủ trương của Đảng và nhà nước ta là tạođiều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đ
Trang 1I Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xãhội, trong sản xuất nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất rất đặc biệt không gìthay thế được Với mong muốn, phát huy hết lợi thế của từng vùng, khu vực trongviệc phát triển sản xuất nông nghiệp, chủ trương của Đảng và nhà nước ta là tạođiều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật các quyền về sửdụng đất đai, khuyến khích nông dân thực hiện tích tụ ruộng đất trên cơ sở tựnguyện, đồng thuận để phục vụ tốt cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuấtnông nghiệp, nhằm phát huy tối đa hiệu quả sản xuất, nâng cao giá trị cuộc sống vàthay đổi tư duy trong sản xuất nông nghiệp
Sau khi đất nước được giải phóng, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng Đảng
ta xác định CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung cơ bảncủa công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chính sách, pháp luật đất đai trongnông nghiệp như khoán 10, khoán 100 với mục đích khoán sản phẩm đến người laođộng và coi các hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo ra bước ngoặt lớn ViệtNam từ một nước nghèo phải nhập lương thực đã trở thành một nước xuất khẩulương thực đứng hàng đầu thế giới với 4 -5 triệu tấn gạo /năm Năng suất bình quân,sản lượng có xu hướng tăng
Tuy nhiên vấn đề ruộng đất đang bộc lộ những tồn tại những nảy sinh mới cảntrở sự phát triển Đó là tình trạng đất đai manh mún, phân tán khó áp dụng tiến bộ kỹthuật, cơ giới hoá, thuỷ lợi, đầu tư dẫn đến năng suất lao động và năng suất đất đaithấp Thấy được những hạn chế đó nhiều hộ đã tự đổi ruộng cho nhau, có hộ đã đimua, đi thuê và đấu thầu của hộ khác để ruộng của hộ mình rộng hơn Việc tập trungruộng đất giúp người sản xuất thuận tiện hơn trong đầu tư cho sản xuất nông nghiệp Vìvậy chuyển đổi ruộng đất, chống mang mún phân tán, tạo ra ô thửa lớn là việc làm cầnthiết, tạo tiền đề cho thực hiện sự nghiệp CNH- HĐH nông thôn
Huyện Hưng Hà Thái Bình là huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng Vớilợi thế là một huyện nằm trong vùng trọng điểm nông nghiệp phía Bắc, Hưng Hà đã đạtđược một số thành tựu về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tuy nhiên hiệnnay trong thời kỳ phát triển nhanh và mạnh của đất nước, việc phát triển đồng đều giữa
Trang 2các ngành kinh tế là hết sức quan trọng góp phần làm giảm khoảng cách thu nhập, tạocông bằng xã hội Một trong những biện pháp quan trọng để thúc đẩy phát triển nôngnghiệp đó là thực hiện quá trình tích tụ ruộng đất
Xuất phát từ những lý do trên, dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Hà Hưng, em
tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của tích tụ đất nông nghiệp ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.”
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu xu hướng tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế của người nông dân, từ đó đề xuất ý kiến để thực hiện tốt hơn quá trình tích tụ ruộng đất nhằm phát triển kinh tế huyện Hưng Hà-Thái Bình, góp phần xây dựng nông thôn mới
Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả của công tác tích tụ ruộng đất trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hưng Hà
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
Trang 3II, Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hiệu quả của tích tụ đất nông nghiệp 2.1 Khái niệm về hiệu quả của tích tụ đất nông nghiệp
- Tích tụ tư bản là tập trung vốn đủ lớn vào một đơn vị kinh doanh dưới nhiều hình thực khác nhau, để có thể đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị
kỹ thuật, áp dụng công nghệ cao trong sản xuất và quản lý, để tận dụng lợi thế kinh
tế theo qui mô, nhằm tăng sức cạnh tranh của doanh nghệp và sản phẩm trên thươngtrường, nhờ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN Tích tụ ruộng đất là một dạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp, vì ruộng đất là tư liệusản xuất chủ yếu không thể thay thế được của nông nghiệp Nhưng do đặc điểm sản xuất mang tính sinh học, nên tích tụ ruộng đất nói riêng và tích tụ tư bản nói chung trong nông nghiệp khác hẳn với tích tụ tư bản trong công nghiệp Quá trình tích tụ
tư bản trong công nghiệp hình thành các DN cực lớn, các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, đa sở hữu, đa ngành nghề, với cơ cấu công ty mẹ với nhiều công ty con, công tycháu… vươn rộng hoạt động trên phạm vi toàn cầu, tận dụng triệt để lợi thế kinh tế theo qui mô, để tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh tế Còn trong nông nghiệp thì không hoàn toàn như vậy Lợi thế kinh tế theo qui mô của DN nông nghiệp là có giới hạn, do đặc điểm sản xuất mang tính sinh học qui định
Tích tụ ruộng đất là một quá trình tất yếu, khách quan trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước được thực hiện theo nguyên tắc của thị trường
Tóm lại, tích tụ ruộng đất là phương thức làm tăng diện tích đất đai sản xuất nông nghiệp của các chủ thể sản xuất nông nghiệp thông qua các hoạt động tập trung đất đai như thuê đất, mua đất, chuyển đổi đất,…
2.2 Các hình thức tích tụ đất nông nghiệp
2.2.1 Dồn điền, đổi thửa
* Khái niệm
Dồn điền đổi thửa: là việc chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành lớn giữa các hộ nông dân, đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất để đưa nền nông nghiệp vốn nhỏ lẻ phát triển thành sản xuất hàng hóa quy mô lớn dưới sự chỉ đạo thống nhất của các cán bộ Đảng viên từ cấp trung ương đến địa phương
“Dồn điền, đổi thửa”: Thực tế là hình thức phổ biến ở nước ta “Dồn điền, đổithửa” tạo những thửa ruộng lớn của cùng một hộ, tiện cho canh tác.Đây được xem
là bước đi khởi đầu cho việc tập trung ruộng đất trong nông nghiệp trước tình trạng ruộng đất quá manh mún.“Dồn điền, đổi thửa” không làm thay đổi quyền sử dụng ruộng đất của nông dân, cũng như diện tích đất của các chủ hộ hiện có, mà chỉ giảm
đi số thửa trên hộ nông dân
* Vai trò của dồn điền đổi thửa
Trang 4- Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp sẽ khắc phục được tình trạng ruộng đất manh mún Vì hiện nay, mỗi hộ cá nhân, gia đình có hang chục mảnh ruộng nhỏ ở nhiều chỗ khác nhau, nên khi thực hiện dồn điền đổi thửa thì bình quân số thửa ruộng trên hộ sẽ giảm, thậm chí một hộ có thể chỉ có một thửa Ruộng đất được tập trung vào một khu vực sẽ thuận lợi cho việc thâm canh, đầu tư con giống, vật nuôi, tiết kiệm chi phí đi lại, vận chuyển sản phẩm.Mặt khác, khi dồn điền đổi thửa, số thửa ruộng sẽ giảm, sẽ dẫn đến ít phần bờ ngăn cách ruộng đất hơn.Từ đó chắc chắndiện tích đất canh tác sẽ tăng lên tránh gây lãng phí, thất thoát không cần thiết so với khi chưa dồn điền đổi thửa.
- Dồn điền, đổi thửa là bước đi đầu tiên để quy hoạch lại đồng ruộng, là cơ sởcho việc hoạch định lại các chính sách đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất như : hệ thống kênh mương tưới tiêu, đường giao thông nội đồng,…
- Dồn điền, đổi thửa tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất hang hóa, làm tiền đề cho việc hình thành các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệpvà có điều kiện để hình thành nhiều nông trại, trang trại
- Dồn điền, đổi thửa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Hiện nay, do diện tích các mảnh ruộng nhỏ, nên người nông dân vẫn chủ yếu canh tác bằng phương pháp thủ công, lấy sức người là chính dẫn đến năng suất lao động thấp, chi phí cao, tốn nhiều thời gian Nếu đẩy mạnh dồn điền đổi thửa sẽ dễ dàng cho việc áp dụng máy móc vào sản xuất như máy gặt đập liên hợp, máy cấy, phương tiện vận chuyển cơ giới,… từ đó sẽ làm giảm chi phí, tăng năng suất lao động, thu nhập sẽ tăng lên, đời sống người nông dân sẽ từng bước ổn định
- Dồn điền, đổi thửa sẽ tạo điều kiện cho sản xuất ra khối lượng sản phẩm hang hóa đủ lớn giúp cho công nghiệp chế biến phát triển, làm tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu hang hóa nông sản
2.2.2 Mua hoặc thuê ruộng đất
- Mua hoặc thuê ruộng đất: Nông dân mua, thuê đất của nhau để mở rộng quy
mô sản xuất, hoặc doanh nghiệp mua, thuê lại ruộng đất của nông dân Việc mua bán được tiến hành theo thỏa thuận thông qua thị trường chuyển nhượng đất đai Đối với người có ruộng cho thuê sẽ được hưởng phần lợi nhuận dựa trên quyền sử dụng ruộng đất của mình Hình thức trả tiền thuê ruộng có thể theo từng vụ, từng năm hoặc cho cả thời gian thuê để bảo đảm thuận tiện cho cả người thuê và người cho thuê Thời gian cho thuê được thỏa thuận ổn định (thường là 5-10 năm) để người thuê có thời gian bỏ vốn, đầu tư, triển khai áp dụng các kỹ thuật mới trong sản xuất Trong trường hợp đất cho thuê thuộc diện Nhà nước thu hồi hoặc chuyển mục đích sử dụng đất, bên thuê sẽ hưởng tiền đền bù hoa lợi, bên cho thuê được hưởng tiền đền bù thu hồi đất, tiền hỗ trợ tạo việc làm theo quy định chung
2.2.3 Góp ruộng đất
Trang 5Góp ruộng đất: Đây là hình thức tích tụ, tập trung đất đai thông qua việc những người nông dân tự nguyện góp đất cùng tiến hành tổ chức sản xuất, kinh doanh và cùng hưởng lợi thành quả sản xuất Cũng có thể là người nông dân góp đất, góp vốn, công sức vào trang trại, doanh nghiệp và được hưởng lợi nhuận theo quy chế thỏa thuận, phù hợp với pháp luật của Nhà nước (thông thường theo tỷ lệ góp đất, góp vốn) Người nông dân được quyền thể hiện ý kiến thông qua bầu ban lãnh đạo trang trại, doanh nghiệp.
2.2.4 Nhà nước thu hồi đất giao lại cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp
Quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất đã tạo ra quy mô lớn hơn cho đơn vị sản xuất, nhiều mô hình trang trại và cánh đồng mẫu lớn hình thành Thực tế sau khitích tụ, tập trung thành vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn hơn đã giảm chi phí lao động, giống, phân bón…; việc sử dụng máy móc, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất thuận lợi và có hiệu quả hơn Quy mô lớn hơn tăng hiệu quả
sử dụng đất và tăng lợi nhuận cho người sản xuất, tạo sự gắn bó hơn giữa hộ góp đất và giữa các hộ với doanh nghiệp, trang trại Quan trọng hơn hình thành sự phân công lao động và cách thức quản lý khoa học, làm thay đổi tư duy canh tác nhỏ lẻ, phân tán truyền thống sang hướng sản xuất quy mô lớn, gắn kết với thị trường
2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của tích tụ đất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được đánh giá thông qua kết quả đạt được trên nhiều mặt với một nguồn lực (đất nông nghiệp) cố định
Mọi hoạt động sản xuất của con người đều có mục tiêu chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế xã hội của con người Những kết quả đó là:
- Cải thiện điều kiện sống và làm việc của con người, nâng cao thu nhập
- Cải tạo môi sinh, nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động
- Cải tạo môi trường sinh thái, tạo ra một sự phát triển bền vững trong sử dụngđất đai
Để phân loại hiệu quả thì có nhiều cách phân loại khác nhau, nếu căn cứ vào nội dung và cách biểu hiện thì hiệu quả được phân thành 3 loại:
-Hiệu quả kinh tế
-Hiệu quả xã hội
-Hiệu quả môi trường
2.3.1 Hiệu quả kinh tế
Trang 6-Chúng ta có thể hiểu nôm na hiệu quả sử dụng kinh tế chính là giá trị thu nhập hàng năm từ đất trên một đơn vị diện tích cụ thể.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạtđộng kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầungày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của
xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội
* Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế
+ Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất (GO): Toàn bộ của cải được tạo ra trong mộtthời kỳ nhất định, thường là một năm Nó phản ánh năng suất đất đai trên khía cạnhlượng giá trị thu được trên một đơn vị diện tích
GO = ∑Qi *PiTrong đó: - Qi là sản lượng của sản phẩm thứ i được tạo ra;
- Pi là giá trị của đơn vị sản phẩm thứ i
+ Chi phí trung gian (IC): Toàn bộ khoản chi phí vật chất thường xuyên bằngtiền bỏ ra mua các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất như: chi phí về giống,phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, làm đất, vận chuyển phản ánh mức đầu tưchi phí trên một đơn vị diện tích gieo trồng
IC= ∑CjTrong đó: Cj là khoản chi phí thứ j
+ Giá trị gia tăng(VA) = (GO) - (IC): Giá trị sản phẩm xã hội được tạo rathêm trong một thời kỳ sản xuất đó, phản ánh hiệu quả sử dụng đất ở khía cạnh giátrị sản phẩm mới tạo ra trên một đơn vị diện tích
+ Thu nhập hỗn hợp (MI): Phần trả cho lao động chân tay, lao động quản lýcủa hộ gia đình cộng tiền lãi thu được của việc sử dụng đất
MI = VA – KHTS(Đ) – Thuế(T) – Thuê lao động
2.3.2 Hiệu quả xã hội.
-Là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội với tổng chi phí bỏ
ra, chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm và thu nhập cho từng cá nhântrên một diện tích đất cố định
Trang 7Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiệnhiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằngkhả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp mà chỉ tiêu quan trọng nhất là giá trị của sản phẩm nông nghiệp đạt cao nhất trên một đơn vị diện tích Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
2.3.3 Hiệu quả môi trường.
-Xem xét mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất đối với môi trường:
+Chất lượng đất qua các năm biến đổi như thế nào, tốt lên hay xấu đi
+Độ che phủ của đất, hệ số sử dụng đất
-Môi trường luôn là một vấn đề nóng bỏng, mang tính toàn cầu đang được toàn xã hội quan tâm Hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lí…, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường, của các loại vật chất trong môi trường
Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm:
+Hiệu quả hoá học môi trường: là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến hiệu quả vật lý môi trường: là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến hiệu quả sinh vật môi trường: là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến
Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quảđạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại, quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại một môi trường xanh, sạch, đẹp hơn trước
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Bên cạnh cách phân loại hiệu quả sử dụng đất nói trên người ta còn căn cứ vào
Trang 8những yếu tố như tổ chức và quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất, phương hướng để tácđộng vào sản xuất, kế hoạch sản xuất, căn cứ vào mặt không gian và thời gian Tuy nhiên, nếu xem xét ở bất kỳ góc độ nào thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất đều bao gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Cả ba mặt này
có một mối quan hệ tương tác, thống nhất và không thể tách rời nhau Trong đó, hiệu quả kinh tế là trọng tâm
2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của tích tụ đất nông nghiệp
2.4.1 Sự phát triển của công nghệ
Cùng với ruộng đất, lao động và vốn, công nghệ trong nông nghiệp cũng lànguồn lực quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của nông nghiệp Công nghệ cóvai trò lớn trong hoạt động sản xuất và kinh doanh nông nghiệp:
- Công nghệ giúp cho quá trình sản xuất được diễn ra có hiệu quả Nhờ cónông nghiệp mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc vàthời tiết khí hậu kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp
- Công nghệ là hướng tới tăng sản phẩm trong điều kiện nguồn lực khanhiếm Khi các tài nguyên khác như đất đai, lao động trở nên ngày một khan hiếm,thì công nghệ có thể giúp cho con người sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn với sốnguồn lực dùng vào sản xuất không đổi, thậm trí còn ít hơn
- Công nghệ làm cho các đầu vào trong nông nghiệp ngày một đa dạng.Không những công nghệ làm thay đổi bản chất giữa đầu vào và đầu ra mà còn thayđổi bản chất của đầu vào hay tạo ra những đầu vào mới trong nông nghiệp, gópphần tăng sản phẩm, giảm chi phí và bảo tồn môi trường Công nghệ được đổi mớilàm cho sản xuất trở nên đa dạng và bền vững hơn
- Công nghệ làm cho sản xuất có thu nhập cao hơn, có thời gian rảnh rỗi dàihơn và do vậy góp phần làm tăng chất lượng cuộc sống của nông dân Sự thayđổi công nghệ là sự hoàn thiện về kiến thức hay kỹ thuật để nâng cao năng lực sảnxuất Nông dân tự rút kinh nghiệm trong quá trình sản xuất và sử dụng các nguồnlực dẫn đến thay đổi kỹ thuật Sự thay đổi khoa học kỹ thuật do nông dân đã và sẽ là
Trang 9một trong những động lực rất căn bản trong sự phát triển nông nghiệp nhất là hiệnnay không phải ngẫu nhiên mà chúng ta có các chương trình nghiên cứu và khuyếnnông có sự tham gia của người dân Khi công nghệ ngày càng phát triển đòi hỏi cáccông dân phải tiến hành tập trung ruộng đất thành các thừa lớn hơn, gọn khu, gọnkhoảnh khi đó việc áp dụng các khao học công nghệ mới vào sản xuất mới đem lạihiệu quả cao và bảo vệ được môi trường sinh thái, phát triển nông lâm nghiệp theohướng bền vững.
2.4.2 Quan hệ thị trường
Sản phẩm nông nghiệp được tiêu dùng trực tiếp qua trao đổi trên thị trường,một phần được giành làm nguyên liệu cho các ngành chế biến và một phần giữ lạiphục vụ cho quá trình sản xuất ở nông trại Do vậy cầu cho nông sản bao gồm cầucho tiêu dùng trực tiếp, cầu cho chế và cầu cho sản xuất Cung hàng hoá trong nôngnghiệp là lượng một mặt hàng hay dịch vụ mà người bán muốn bán ở mức giá chấpnhận được Trong nông nghiệp cần phân biệt khối lượng nông sản dự trữ và sảnphẩm sản xuất Lượng sản phẩm dự trữ phản ánh khả năng cung trên thị trường Sảnphẩm sản xuất là khối lượng sản phẩm được sản xuất ra mùa vụ xác định.Thực tế,cung nông phẩm có thể cao hơn so với mức sản xuất hiện hành do có sự bổ sungcủa lượng sản phẩm dự trữ từ các vụ trước Ngay cả sản phẩm sản xuất ra, nông dânthường dữ lại một phần cho tiêu dùng gia đình và chỉ một phần được đưa ra thịtrường
Thị trường nông phẩm thường có nhiều người bán và nhiều người mua Giánông phẩm sẽ do cả cung và cầu quy định Tính chất tươi sống và dễ hư hỏng củasản phẩm, chi phí bảo quản, giá của sản phẩm cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đếnthu nhập của người nông dân Như vậy tập trung ruộng đất sẽ tạo cho nông dân cónhiều đất đai để canh tác, thâm canh tăng vụ tạo ra nhiều sản phẩm cho thị trường.Tuy nhiên, để cho người sản xuất không bị thua thiệt khi đem sản phẩm sản xuất rathị trường và khuyến khích được người nông dân trong sản xuất cần có sự can thiệpcủa Chính phủ về chính sách giá cả như xác định giá trần, giá sàn hoặc thực hiệnquỹ bình ổn giá để ổn định giá cả trong nông nghiệp
2.4.3 Chính sách nông nghiệp
Chính sách đất đai của Việt Nam là tập hợp các quy định của Chính Phủ đểthực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử đụng
Trang 10đất trên phạm vi lãnh thổ Quốc gia, với tất cả các loại đất, nhằm mục tiêu quản lý và
sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội - môi trường
Chính sách nông nghiệp, nông thôn là tổng hợp các biện pháp của Nhà nướcnhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng, nội lực, pháthuy mặt tích cực và khắc phục mặt hạn chế tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệquyền lợi của người sản xuất… đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa Chínhsách của Nhà nước là hành lang pháp lý, nó không bất định mà được bổ sung, sửađổi ngày càng hoàn thiện hơn đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của xã hội Cácchính sách đều hướng tới mục tiêu mang tính tổng quát là sử dụng đầy đủ và hợp lýruộng đất để tạo ra ngày càng nhiều nông sản phẩm với chất lượng cao, giá thành
hạ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi tầng lớp dân cư, có tác động tích cựcđến các ngành kinh tế quốc dân, tạo ra nhiều nông sản cho xuất khẩu, không ngừngbảo vệ, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng của ruộng đất Từ mục tiêu nêu trên cácchính sách cần phải đạt được những mục tiêu cụ thể sau:
+ Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
+ Khuyến khích người sử dụng ruộng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và
áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật để làm tăng giá tri sử dụng đất, thâmcanh tăng vụ nâng cao hiệu quả sử dụng, khai hoang, phục hóa, lấn biển, phủ xanhđất trống đồi núi trọc, mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, bảo vệ, cải tạo vàlàm tăng độ màu mỡ của đất, sử dụng tiết kiệm đất
Ở Việt Nam, trong điều kiện gần 80% dân số tập trung tại nông thôn và sốngnhờ vào sản xuất nông nghiệp nên Đảng ta xác định nông nghiệp luôn là mặt trậnhàng đầu và Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người làm nông nghiệp, lâmnghiệp và nuôi trồng thủy sản có đất để sản xuất, đồng thời Nhà nước bảo hộ mọiquyền lợi và lợi ích của người sử dụng đất hợp pháp Vì vậy vấn đề hạn điền đượcđặt ra nhằm góp phần phân công lao động tránh việc phân hóa ngày càng nhanhgiữa người giàu và người nghèo tại nông thôn, tránh việc đầu cơ đất đai làm trắngtay những người nông dân có khả năng làm giàu từ sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên
Trang 11trong nền kinh tế thị trường, vấn đề hạn điền lại có quan hệ chặt chẽ với vấn đề tậptrung ruộng đất Tập trung ruộng đất là yêu cầu khách quan của nông nghiệp hànghóa song Luật đất đai cũng như các chính sách của Đảng và Nhà nước phải khẳngđịnh rõ việc tập trung ruộng đất phải dựa trên nguyên tắc: Hiệu quả sản xuất kinhdoanh, không cho phép buôn bán đất, kinh doanh theo kiểu phát canh thu tô Tậptrung ruộng đất một mặt giải quyết cho những người trực tiếp tổ chức sản xuất kinhdoanh sản phẩm hàng hóa nông nghiệp có đất để sử dụng, mặt khác vẫn đảm bảocho nông dân có đất để sản xuất.
Hạn điền là mức đất tối đa mà luật pháp cho phép cá nhân được quản lý, sửdụng Vấn đề hạn điền được quy định tại điều 44 - Luật Đất đai quy định: “Hạn mứcđất nông nghiệp trồng cây hàng năm của mỗi hộ gia đình à không quá 3ha do Chínhphủ quy định cụ thể đối với từng địa phương”… Vấn đề này cũng được quy định tạiđiều 70 – Luật Đất đai 2003 Như vây, Chính phủ trong thẩm quyền của Luật đấtđai phải có quy định cụ thể rõ ràng về quyền lợi của người có diện tích lớn vượt quáhạn mức Việc quy định này một mặt phải đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp phápcủa người sử dụng đất, mặt khác phải có chính sách khuyến khích mọi tổ chức cánhân tận dụng đất đai để sản xuất nông nghiệp thông qua việc khai hoang, phục hóa,cải tạo đất trống đồi núi trọc, đất hoang ven biển
Theo tinh thần của Luật đất đai hiện hành, người đang sử dụng đất nôngnghiệp vượt quá hạn mức vẫn được Nhà nước cho phép sử dụng nhưng phải nộpmột khoản phụ theo quy định của Nhà nước Người có diện tích đất vượt quá hạnmức không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài và đượcgiải quyết theo hướng:
- Nếu diện tích cho khai hoang hoặc nhận quyền sử dụng của người khác thìnộp thuế phụ thu vượt hạn mức do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định Hết hạn
sử dụng đất Nhà nước sẽ thu hồi Nếu Nhà nước chưa sử dụng đến đất đó thì có thểgiao cho người có đất tiếp tục sử dụng
- Nếu diện tích cho lấn chiếm, do đòi lại trái phép thì Nhà nước sẽ thu hồi
Trang 12- Nếu ở địa phương nào binh quân diện tích quá thấp, có nhiều hộ không cóhoặc thiếu ruộng thì UBND xã bàn bạc, thương lượng với những hộ có nhiều diệntích vượt hạn mức để chuyển một phần diện tích đất đó cho những hộ thiếu đất Sốdiện tích này được bồi hoàn theo giá quy định.
Trong hơn 15 năm qua, khởi đầu sự đổi mới kinh tế nước ta xuất phát từnông nghiệp Bởi vì nông nghiệp nước ta là cơ sở, nền tảng phát triển kinh tế quốcdân, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định kinh tế - chính trị xã hội Trong đó cónhững quyết sách lớn, có ý nghĩa là mốc son của lịch sử: Nghị quyết 10 của BộChính trị về đổi mới kinh tế nông nghiệp (1988); Nghị quyết Trung ương 5 về tiếptục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn (1993); Nghị quyết 6 của BộChính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn (1998) và mới đâyhàng loạt các chính sách như Nghị quyết 5 của Ban chấp hành TW Đảng (khóa IX)về: tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, về: đẩy mạnhcông nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010…
2.4.4 Tâm lý người sản xuất
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như thời tiết, khí hậu,dịch bệnh và các điều kiện tự nhiên khác Tâm lý của người dân nói chung là khi córủi ro xảy ra họ thường thu hẹp quy mô sản xuất để tối thiểu hóa sự thiệt hại về mùamàng Khi tiếp thu một công nghệ mới, nông dân cũng thường ứng xử khác nhautùy theo cách nghĩ và hoàn cảnh kinh tế của họ
Đối với đất đai, khi tiến hành tích tụ đất đai mặc dù đây là chủ trương củahuyện, xã nhưng mức độ tiếp thu và vận dụng của người dân còn thấp Họ luôn có
tư tưởng “cào bằng” muốn ai cũng phải “có tốt, có xấu”, “có gần, có xa”, giữ đấtcho con cháu mình, không làm thì để đó không cho ai thuê, mượn, hay bán đi
Nói chung, tâm lý của nông dân đối với vấn đề ruộng đất và sản xuất nôngnghiệp còn mang nặng tính bảo thủ và lạc hậu Nhà nước và các cấp chính quyền cơ
sở cần có những cơ chế, chính sách phù hợp để họ có thể tiếp thu và thay đổi cáchthu và thay đổi cách nghĩ, cách nhìn về vấn đề đất đai nói chung và ruộng đất nông
Trang 13nghiệp nói riêng đồng thời khuyến khích phát triển sản xuất theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá.
2.5 Kinh nghiệm tích tụ ruộng đất ở một số nước trên thế giới.
Tích tụ và tập trung ruộng đất là một yêu cầu đặt ra trong quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước Tập trung ruộng đất của các trang trạiquy mô nhỏ thành những trang trại quy mô lớn, tạo điều kiện để áp dụng KHKTtiên tiến vào sản xuất, thâm canh tăng năng suất sinh học, năng suất lao động, tăngkhối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa, giảm chi phí trung gian và giá thành nôngsản Vì vậy, việc tích tụ ruộng đất trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp hầu như
đã trở thành quy luật, diễn ra ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, chủ trương,
biện pháp và mức độ tích tụ ruộng đất ở mỗi quốc gia không giống nhau (Nguyễn
Điền, 2001)
2.5.1 Tích tụ ruộng đất ở một số nước phương Tây.
Ở các nước Âu, Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ đôthị hóa nhanh, nhu cầu lao động cho công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến khíchviệc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chínhsách và biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trạilớn Tuy nhiên, để tránh tích tụ ruộng đất vượt hạn mức trong từng địa phương, một
số nước như Anh, Pháp có biện pháp quản lý thông qua Hội đồng quy hoạch đất đaicủa từng tỉnh, huyện, với Hội đồng quản trị gồm những đại diện nông dân địaphương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy viên của Chính phủ (thuộc BộNông nghiệp và Bộ Tài chính) Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất
dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân theo giá thị trường
Ở Pháp, tuy không đề ra các hạn mức cụ thể, nhưng để đề phòng tích tụruộng đất quá mức, Nhà nước đã có biện pháp can thiệp vào thị trường ruộng đất,thông qua Hội đồng quy hoạch ruộng đất địa phương để mua bán đất của nông dân,lập quỹ đất dự trữ, điều tiết thị trường bất động sản (Nguyễn Điền, 2001)
Bảng 1.1 Tình hình tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Âu, Mỹ
Trang 14Mỹ 86,00 151,00 185,00
Nguồn: Nguyễn Điền, 2001
2.5.2.Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á.
a) Ở Nhật Bản
Các nước thuộc Châu Á bình quân ruộng đất thấp, quy mô trang trại nhỏ nênviệc tích tụ ruộng đất không dễ dàng như các nước Âu, Mỹ Ngay ở Nhật Bản làmột nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có tìnhtrạng như vậy
Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm 1950, chủ trương hạn chế việc bánruộng đất đã gây trở ngại cho việc tích tụ ruộng đất Về sau đã thay đổi chủ trương nàynhưng việc tích tụ ruộng đất cũng chậm chạp Tuy nhiên, hạn chế việc chia nhỏ quy môruộng đất của các hộ nông dân Một hộ có nhiều con, theo tập quán chỉ có người contrai trưởng mới có nhiệm vụ tiếp tục ở nông thôn làm ruộng và chăm sóc cha mẹ, còncác con khác phải đi làm nghề khác, không chia ruộng cho tất cả các con
Bảng 1.2 Tình hình tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á
Trang 15hồi đất bất cứ lúc nào Công nghiệp hóa và đô thị hóa trong 30 năm qua đã làm chohàng chục triệu nông dân bị mất đất canh tác Những cuộc biểu tình phản đối củanông dân bị mất đất là nguyên nhân chính gây bất ổn xã hội ở Trung Quốc hiện nay.
Một thực tế là ruộng đất ở Trung Quốc rất manh mún, mỗi hộ nông dân chỉ
sử dụng một khoảnh đất nhỏ, bình quân 0,67 ha/hộ Những nông dân này ra thànhphố kiếm việc làm đã lên tới con số 200 triệu người trong những năm qua – phảinhờ người thân canh tác những thửa ruộng đó Quá trình cải cách nông nghiệp chialàm 2 giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm 1978 - 1984 và giai đoạn 2 từ năm 1985 – 1990sau đó đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp nông thôn cho thập kỷ 90 Cáchthực hiện cải cách nông nghiệp của nước này trong những năm qua là khoán ruộngđất cho những nông hộ theo nguyên tắc: Thứ nhất, tôn trọng nguyện vọng của quầnchúng nhân dân, không được áp đặt Hai là phải đảm bảo nguyên tắc số lượng vàgiá trị ngang bằng (Nghĩa là những thửa ruộng có cũng cấp độ hoặc đã được cải tạonâng độ màu mỡ thì khi điều chỉnh phải quy đổi theo hệ số để đền bù về mặt kinhtế) Chỉ thị số 18 năm 1900 của Trung Quốc quy định “Ổn định quan hệ ruộng đấtnhận khoán không có nghĩa là không cho phép có sự điều chỉnh về mảnh ruộng và
số lượng mảnh ruộng khoán, những thửa ruộng quá phân tán, không tiện cho việccanh tác thì có thể căn cứ nguyện vọng quần chúng mà điều chỉnh
Theo xu hướng cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đặc biệt là trong nôngnghiệp, Trung Quốc đang tiến hành chủ trương dồn điền đổi thửa Nước này dựkiến sẽ tăng lên 1,7 triệu hà đất trồng trọt tỉnh tới năm 2020 thông qua việc DĐĐThiện nay Công tác tăng cường hiệu quả trong nông nghiệp đang được chính phủTrung Quốc quan tâm chặt chẽ trong thời gian gần đây, do một diện tích đất lớn đã
bị đô thị hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng trong những năm công nghiệp hóa
Hiện nay Trung Quốc vẫn tiếp tục chuẩn bị ra dự thảo cải cách ruộng đấttheo hướng tự do hóa thị trường và hạn điền sử dụng đất canh tác cho nông dân từ
30 năm hiện nay lên 70 năm như với đất ở Điều này sẽ tạo động lực mới cho công
cuộc tích tụ ruộng đất phát huy hiệu quả cao ( Nguyễn Điền, 2001)
c) Ở Đài Loan
Sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra Lúc đầu chính
Trang 16quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phốiđồng đều cho nông dân Ruộng đất được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủrồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình.Năm 1953, ở Đài Loan đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29ha/trang trại; đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quânchỉ còn 1,08 ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thônsau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụngtiến bộ KHKT, giảm CPSX, hạ giá thành sản phẩm, nhưng do người Đài Loan coiruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trườngnhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ Để giải quyết tình trạng này, năm 1983Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp, trong đó công nhận phương thứcsản xuất ủy thác của các hộ nông dân, có nghĩa là Nhà nước công nhận việcchuyển quyền sở hữu đất đai Ngoài ra, để mở rộng quy mô, các trang trại trongcùng thôn xóm hợp tác với nhau ở một số khâu như làm đất, mua bán chung một
số vật tư, nông sản, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, laođộng để sản xuất.(Tạ Đình Thi, 2007)
Vấn đề hạn điền ở một số nước được đặt ra chủ yếu là trong thời kỳ cải cáchruộng đất, quy định hạn mức ruộng đất của những người có nhiều ruộng được giữlại, vượt quá hạn mức Nhà nước sẽ trưng mua để bán lại cho nông dân thiếu đất như
ở Nhật Bản và Đài Loan Đến thời kỳ công nghiệp hóa phát triển thì vấn đề hạn điềnthường không cần đặt ra
Theo Macheal Lipton (2002), nền nông nghiệp của các nước đang phát triển
ở Châu Á được đặc trưng bởi các yếu tố sau đây:
+ Tỷ lệ lao động nông nghiệp, nông thôn khá lớn và dư thừa;
+ Nền nông nghiệp thâm canh sản xuất lương thực, đặc biệt là trồng lúa nướcchủ yếu dựa vào đầu tư lao động của nông hộ với quy mô nhỏ;
+ Sự tăng tưởng của khu vực nông nghiệp có tính chất quyết định đến tăngtrưởng kinh tế nông thôn
Để xóa đói giảm nghèo cần tạo thêm công ăn việc làm cho lực lượng laođộng nông thôn Thành quả của những cuộc cải cách ruộng đất đã mang lại công ăn
Trang 17việc làm và tạo điều kiện cho các nông hộ phát triển kinh tế Nhưng nếu việc tậptrung ruộng đất, phát triển trang trại không hợp lý thì có nguy cơ làm tăng thấtnghiệp, do đó tích tụ ruộng đất phải đi đôi với giải quyết việc làm cho những người
đã cho thuê hoặc bán ruộng đất cho người khác Việc làm ở đây bao gồm các côngviệc ngay trong lĩnh vực nông nghiệp như làm thuê cho các trang trại (kể cả làmthuê cho chính người mình cho thuê ruộng đất) Tuy nhiên chủ yếu vẫn là tạo việc
làm ngoài nông nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
2.6 Kinh nghiệm tích tụ ruộng đất ở một số địa phương trong cả nước.
2.6.1 Một số mô hình ở tỉnh Hà Nam
Với hướng đi mở, Hà Nam đã có những mô hình, dự án đầu tư vào nôngnghiệp Dự án trồng cây đậu bắp, rau quả sạch xuất khẩu sang Nhật Bản của Công
ty An Phú Hưng phối hợp Công ty H.B.C International (Nhật Bản) được triển khai
303 hộ nông dân ở bảy xóm của xã Nhân Khang (Lý Nhân) sau khi được họp bàn,đối thoại, đã nhất trí ký hợp đồng cho Công ty An Phú Hưng thuê 34 ha đất bãi vensông trong thời gian 10 năm Trước đây, vùng đất này nông dân địa phương trồngngô, đậu tương thông thường, giá trị thu nhập không cao, nay cho doanh nghiệpthuê đất không phải trồng cấy vẫn được trả 120 kg ngô/sào/năm, tương đương 800đến 900.000 đồng và được trả theo từng vụ Ngoài nguồn thu nhập này, nông dâncho thuê đất có nhu cầu được doanh nghiệp nhận vào làm công nhân lao động ngaytrên chính thửa ruộng của mình Có diện tích đất nông nghiệp lớn, cùng với sự hỗtrợ của tỉnh, Công ty An Phú Hưng đầu tư kênh mương, giao thông nội đồng Ðồng thời, tổ chức sản xuất trực tiếp trên cánh đồng lớn theo công nghệ rau an toàncủa Nhật Bản Bước đầu, 11 ha trồng các loại cà chua, củ rền đỏ, rau diếp tím theođúng quy trình bảo đảm sản phẩm có chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sangthị trường Nhật Bản Trước đó, doanh nghiệp này đã trồng thực nghiệm 2 ha ở PhùVân (TP Phủ Lý) và ước cho thu nhập khoảng 170 triệu đồng/ha/vụ
Ở huyện Bình Lục, Công ty TNHH Minh Hiền chuyên chế biến nông sảnxuất khẩu, thông qua chính quyền địa phương và các HTX ký hợp đồng thuê hàngchục ha đất nông nghiệp ở Tràng Duệ và Liên An, Ðồn Xá, La Sơn Nông dân đượctrả 50 kg thóc/sào/vụ, quy ra tiền theo giá thóc tại cùng thời điểm, mỗi năm trả hailần vào giữa và cuối năm Những nông dân này có nhu cầu được doanh nghiệp thuêlàm các công đoạn gieo trồng, chăm sóc, thu hái quả được trả 80 đến 120.000 đồng/người/ngày
Ðầu tháng 4 /2015, lãnh đạo Tập đoàn Showa Denko (Nhật Bản) đến Hà Namtìm hiểu đầu tư Tập đoàn này đang có 21 nhà máy sản xuất rau sạch ở Nhật Bản.Trước mắt, tập đoàn dự kiến đầu tư một triệu USD xây dựng thử nghiệm xưởng sản
Trang 18xuất rau sạch trong KCN Ðồng Văn II Xưởng sản xuất này sẽ áp dụng công nghệNhật Bản, trồng rau trong nhà với hai yếu tố chính là nước và đèn Led Ðây là kỹthuật thúc đẩy cây trồng tăng trưởng gấp 2,5 lần so với ánh sáng thông thường,lượng nước chăm sóc cây ít và giúp tiết kiệm chi phí Từ đó, tập đoàn nghiên cứuđầu tư xây dựng nhà máy sản xuất rau sạch tại Hà Nam.
2.6.2 Mô hình xây dựng cánh đồng mẫu lớn tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Huyện Yên Dũng (Bắc Giang) đang triển khai xây dựng cánh đồng mẫu lớnsản xuất lúa ở xã Cảnh Thụy với quy mô 50 ha Đây là cánh đồng mẫu đầu tiêntrong tỉnh nhằm tạo ra một "cuộc cách mạng" trong sản xuất nông nghiệp hàng hóagắn với xây dựng nông thôn mới
Hai địa phương được chọn xây dựng cánh đồng mẫu lớn chuyên canh lúa ở xãCảnh Thụy và khoai tây tại xã Tư Mại với quy mô 50 ha/cánh đồng là nơi nông dân
có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp Địa điểm chọn triển khai mô hình là haitrong 5 xã điểm nằm trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện đã thựchiện việc dồn điền đổi thửa xong Đây là mô hình sản xuất tập trung có sự liên kếtchặt chẽ giữa 4 nhà: Nhà khoa học, Nhà nước, nhà doanh nghiệp và nhà nông Yêucầu của mô mình cánh đồng mẫu lớn là điều kiện sản xuất phải trên diện tích liềnvùng, liền thửa, áp dụng đồng bộ các biện pháp kĩ thuật từ khâu giống, vật tư phânbón, kĩ thuật canh tác, cơ giới hóa sản xuất và công tác quản lý đồng ruộng nhằmtạo ra một chuỗi sản phẩm hợp lý, giảm chi phí đầu vào, bảo vệ môi trường và tănggiá trị trên một đơn vị diện tích Vốn đầu tư để thực hiện mô hình từ kinh phí xâydựng nông thôn mới của xã điểm và kinh phí xây dựng cánh đồng mẫu lớn của tỉnh.Theo đó, đối với cánh đồng trồng lúa nông dân sẽ được hỗ trợ 70% giá giống, 35%phân bón, 50% thuốc bảo vệ thực vật Ngoài ra, còn được tập huấn chuyển giaokhoa học kĩ thuật (KHKT), hỗ trợ tiền công làm đất gieo mạ tập trung…
Trang 19III, Thực trạng về hiệu quả tích tụ đất nông nghiệp ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
3.1 Giới thiệu chung về huyện Hưng Hà.
3.1.1.Điều kiện tự nhiên.
3.1.1.1 Vị trí địa lý.
Hưng Hà nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Bình, bao gồm 35 xã và thị trấn (33 xã và 02 thị trấn) với tổng diện tích tự nhiên là 21.028,68 ha, chiếm 12,96%tổng diện tích tỉnh Thái Bình Ranh giới của huyện được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên
- Phía Nam giáp huyện Vũ Thư
- Phía Đông giáp huyện Quỳnh Phụ và huyện Đông Hưng
- Phía Tây giáp tỉnh Hà Nam
Huyện có ba mặt tiếp giáp với 3 con sông lớn (sông Hồng phía Tây, sông Luộc phía Bắc và sông Trà Lý phía Tây Nam) Có 5 tuyến quốc lộ và tỉnh lộ chạy qua địa bàn huyện.(trong đó tuyến quốc lộ 39 chạy qua 7 xã và 2 thị trấn) và đặc biệt khi đường cao tốc Thái Hà hoàn thiện cùng với hệ thống giao thông nông thôn, huyện lộ và giao thông thủy đã tạo thành hệ thống giao thông quan trọng nối liền huyện Hưng Hà với thành phố Thái Bình, các huyện trong tỉnh và thành phố Hưng Yên Hưng Hà là huyện thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng - Quảng Ninh Vị trí địa
lý của huyện đã tạo những điều kiện rất thuận lợi cho huyện trong buôn bán, trao đổi, vận tải hàng hóa, hành khách và giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Huyện Hưng Hà thuộc vùng châu thổ sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1% (trên 1km), cao trình biến thiên từ 1 - 2m so với mặt nước biển Nhìn chung, địa bàn huyện có độ cao bình quân lớn nhất tỉnh, hướng đất thấp dần từ Bắc xuống Nam Đất Hưng Hà thuộc khu vực phía Bắc sông Trà Lý được hình thành sớm và chịu ảnh hưởng của phù sa sông Hồng và sông Luộc nên là vùng đất tương đối cao hơn, độ cao trung bình từ 1,3 - 2,5 m so với mực nước biển
Trang 20- Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 84%, mùa mưa
độ ẩm cao có thể đạt tới 88%, độ ẩm thấp nhất là 24%
- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 2.372 giờ, các tháng
có số giờ nắng cao từ tháng 3 đến tháng 9 trung bình đạt 260 giờ/tháng (cao nhất vào tháng 5), các tháng có số giờ nắng thấp từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau trung bình
120 - 130 giờ/tháng (thấp nhất vào tháng 12)
- Gió: Hướng gió thịnh hành là gió Đông từ tháng 11 đến tháng 4; gió Đông Nam tháng 5; gió Tây tháng 6 đến tháng 9; gió Tây Nam tháng 10 Tốc độ gió trung bình năm là 3,9m/s, trung bình tháng lớn nhất là 4,9m/s, trung bình tháng nhỏ nhất là 3,1m/s
- Sông Luộc là một nhánh của sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắt đầu
từ xã Tân Lễ đến xã Điệp Nông qua địa phận các xã: Tân Lễ, Canh Tân, Cộng Hòa, Hòa Tiến, Tân Tiến, Điệp Nông có chiều dài 21km Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm Sông Luộc cũng góp phần tích cực vào việc tưới, tiêu và bồi đắp phù sa cho đồng ruộng
Trang 21- Sông Trà Lý là một nhánh của sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắt đầu từ
xã Hồng Minh đến xã Chí Hòa (qua địa phận 2 xã: Hồng Minh, Chí Hòa); có chiều dài 4,5km Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a, Tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai song dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ, Uỷ ban nhân dân huyện, cùng với lợi thế về tiềm năng thiên nhiên, nguồn lực con người, nền kinh tế của huyện Hưng Hà đã dần đi vào hướng phát triển ổn định, đạt bình quân trong giai đoạn 2001-2010 là 10,94% Trong đó giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 4,61% (giai đoạn 2001-2010); giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng 18,21% (giai đoạn 2001-2010); giá trịsản xuất thương mại - dịch vụ tăng 9,62% (giai đoạn 2001-2010)
b, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Khu vực nông nghiệp - ngư nghiệp có tỷ trọng giảm đều trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện từ 49,68% năm 2000 xuống còn 29,1% năm 2010
- Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 31,17% trong cơ cấu giá trị sản xuất năm 2000 lên 53,52% vào năm 2010
- Khu vực thương mại, dịch vụ, chịu nhiều ảnh hưởng của biến động thị trường giá
cả song cơ cấu giá trị sản xuất đạt ở mức 17,39% vào năm 2010
Nhìn chung, trong thời kỳ 2000 - 2010, cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch đúng hướng, cơ cấu kinh tế thay đổi đều ở cả ba khu vực theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm - nghiệp Tuy nhiên mức độ chuyển dịch kinh tế hiện nay diễn ra vẫn còn chậm, tỷ trọng của ngành công nghiệp - xây dựng thấp hơn nhiều so với cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp
3.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế.
a Khu vực kinh tế nông nghiệp
Nhận thức được vai trò quan trọng của khu vực kinh tế nông nghiệp trong việc ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế, trong thời gian qua, huyện đã có nhiều chủ trương đầu tư cho các vùng sản xuất trọng điểm, triển khai ứng dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các hành lang cơ chế phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nên ngành nông nghiệp, thuỷ sản của huyện phát triển khá
Trang 22toàn diện
-Ngành sản xuất nông nghiệp
Năm 2010 giá trị sản xuất nông nghiệp - thủy sản đạt 888,9 tỷ đồng (giá 1994) tăng 327 tỷ đồng so với năm 2000 (561,9 tỷ đồng)
Bảng 3.1: Giá trị sản xuất và cơ cấu các phân ngành của khối ngành sản xuất Nông nghiệp huyện Hưng Hà thời kỳ 2000 - 2010
2000
Năm 2005
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
(Nguồn : Phòng Nông nghiệp huyện Hưng Hà )
- Trồng trọt: Giá trị sản xuất ngành trồng trọt (theo giá so sánh 1994) đã tăng
từ 418,1 tỷ đồng năm 2000 lên 516,5 tỷ đồng năm 2010
Trang 23Bảng 3.2: Giá trị sản xuất và cơ cấu sản xuất nông nghiệp Huyện Hưng Hà thời
kỳ 2000 - 2010
2000
Năm 2005
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
(Nguồn : Phòng Nông nghiệp huyện Hưng Hà )
Ngành nông nghiệp phát triển lấy sản xuất lương thực làm trọng tâm, tích cực phát triển cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày Cơ cấu cây trồng, vật nuôi tiếp tục có
sự chuyển dịch tích cực, đúng hướng và đảm bảo sự phát triển bền vững, theo hướng phát triển sản xuất với tiêu thụ sản phẩm Sản xuất cây màu vụ hè và hè thu được coi trọng, diện tích bình quân 5 năm đạt 1.900 ha Là huyện có truyền thống và kinh nghiệm thâm canh sản xuất vụ đông, diện tích bình quân hàng năm đạt 6.500 ha, chiếm 50% diệntích đất canh tác; Cây đậu tương đã trở thành cây trồng chủ lực trong sản xuất vụ đông Giá trị sản xuất trồng trọt năm 2010 đạt 502 tỷ đồng, chiếm 56,85% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, trong đó giá trị sản xuất vụ đông bình quân đạt 100,417 tỷ đồng, chiếm 20,3% so với tổng giá trị ngành trồng trọt
Ngoài cây lúa, huyện đã thực hiện phát triển các loại cây ngắn ngày như: cây ngô có diện tích 2.400 ha, năng suất bình quân đạt 53,72 tạ/ha, sản lượng 13.000 tấn;
Trang 24Khoai Lang có diện tích 650 ha, năng suất bình quân đạt 134 tạ/ha, sản lượng đạt 8.600 tấn; Cây Lạc có diện tích 119 ha, sản lượng đạt mức 376 tấn Ngoài ra trên địa bàn huyện còn trồng thêm một số loại cây hoa màu khác như đỗ, thuốc lào, rau các loại… cũng cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
- Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi những năm qua đã có những tiến bộ rõ rệt, đàn gia súc, gia cầm phát triển cả về số lượng và chất lượng Đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định, công tác phòng chống dịch được chú trọng, tăng cường kiểm soát giết
mổ và kiểm dịch đại gia súc Tổng đàn gia súc, gia cầm ước đạt 283.496 con, trong đó: Đàn trâu, bò 15.230 con; Đàn lợn 154.942 con; Đàn gia cầm 1.448.500 con Hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm có mức tăng trưởng khá và ổn định trong giá trịsản xuất nông nghiệp
- Ngành thủy sản
Hiện tại, toàn huyện có tổng diện tích chuyên nuôi trồng thủy sản khoảng 1.357
ha, được phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện Giá trị sản xuất của ngành năm
2010 đạt 57,8 tỷ đồng (giá cố định 94) tăng 17,8 tỷ đồng so với năm 2000 (40 tỷ đồng),tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 – 2010 là 8,90%/năm Huyện có nhiều trang trại nuôi trồng thủy sản theo quy mô vừa và nhỏ Chủ trang trại từng bước đưa một số giống cá cho năng suất, sản lượng thu hoạch cao, thời gian cho thu hoạch nhanhhơn, do đó tình hình sản xuất thủy sản toàn huyện nhìn chung có xu hướng phát triển hơn nữa và đạt được những kết quả cao
b, Khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của nhà nước và chủ trương của tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện đã từng bước phát triển Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2010 đạt 1.629 tỷ đồng, tăng gấp 2,6 lần so với năm 2005 và tăng 5,3 lần so với năm 2000 (307 tỷ đồng), với tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp chiếm khoảng trên 40% trong các ngành Huyện đã tập trung chỉ đạo thực hiện việc xây dựng cụm công nghiệp - thương mại, dịch vụ xã, thị trấn theo Nghị quyết 01 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, giữ vững 3 cụm công nghiệp ở 2 thị trấn và xã Thái Phương với diện tích 72 ha và xây dựng mới 2 điểm công nghiệp ở các xã Minh Tân, Điệp Nông với diện tích 19,4 ha và giao hơn 6 ha đất cho các dự án đầu tư vào sản xuất tại các cụm, điểm công nghiệp và làng nghề nâng số dự án đầu tư vào sản xuât CN - TTCN lên 160
dự án với tổng số vốn đầu tư là 480 tỷ đồng, tăng 156,8% về số dự án và tăng 213,7% vềvốn đầu tư so với năm 2005
Trang 25Nhìn chung, ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp bước đầu phát triển khá tốt, đã khai thác được tiềm năng thế mạnh của địa phương, vượt qua những thử thách của cơ chế thị trường để đi vào ổn định và phát triển sản xuất.
Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng bình quân 16,06% năm Năm 2010, ướcđạt 172 tỷ đồng, tăng 2 lần so với năm 2005 Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch được coi trọng Công tác xây dựng cơ bản đã được triển khai thực hiện đúng quy định, đảm bảo công khai dân chủ, tránh thất thoát, lãng phí, phát huy tốt hiệu quả sử dụng, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn Nhìn chung các công trình được
bố trí phù hợp, các thủ tục hồ sơ được chuẩn bị chu đáo, công tác giám sát chặt chẽ nên chất lượng công trình được đảm bảo, các công trình thi công đúng tiến độ theo
kế hoạch
c, Khu vực kinh tế dịch vụ - thương mại
Trong những năm qua, cùng với sự chuyển biến của các ngành sản xuất vật chất, ngành dịch vụ - thương mại của huyện Hưng Hà đã có nhiều cố gắng vươn lêntrong hoạt động sản xuất kinh doanh Giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ năm 2010ước đạt 467 tỷ đồng, tăng 79,6% so với năm 2005
Hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển đa dạng, hàng hoá tiêu dùng phong phú, thị trường sôi động, đã hình thành hệ thống mạng lưới chợ rộng khắp trên địa bàn tạo ra sự lưu thông hàng hoá theo cơ chế thị trường đạt hiệu quả cao Huyện đã xây mới, cải tạo được 6 chợ khu trung tâm và chợ nông thôn, với kinh phí7,8 tỷ đồng; quy hoạch khu đô thị và trung tâm thương mại tại thị trấn Hưng Hà, tổ chức các hội chợ để quảng bá, giới thiệu và tìm kiếm đối tác tiêu thụ sản phẩm
Việc tuyên truyền, quảng bá về du lịch gắn với các giá trị văn hóa truyền thống được chú trọng Các dịch vụ bảo hiểm, vận tải, viễn thông… phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, phục vụ tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống
Công tác quản lý thu, chi ngân sách từng bước đi vào nề nếp, cơ bản đảm bảo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước Nhiều địa phương, cơ quan, đơn
vị đã thực hiện công khai thu, chi tài chính, hạn chế tiêu cực trong quản lý, sử dụng ngân sách Tổng thu ngân sách toàn huyện bình quân đạt 277,6 tỷ đồng/năm, trong
đó thu trên địa bàn đạt 69,8 tỷ đồng Tổng chi ngân sách bình quân đạt 273 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển 59 tỷ đồng, chiếm 21,6% tổng chi ngân sách
Dịch vụ vận tải: Hệ thống giao thông được nâng cấp và ngày càng hoàn thiện
đã tạo điều kiện cho dịch vụ vận tải phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh đáp
Trang 26ứng nhu cầu sản xuất, mức lưu chuyển hàng hoá, hành khách tăng đáng kể trong những năm gần đây
3.1.2.3 Dân số, lao động, việc làm, thu nhập
Do làm tốt công tác kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ, chăm sóc trẻ em luôn được quan tâm Giữ vững mức sinh thay thế, tỷ lệ sinh còn 1,4% Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên của Hưng Hà trong những năm vừa qua khoảng 0,95%/năm, chất lượng dân số và tuổi thọ bình quân ngày càng tăng
Theo số liệu thống kê năm 2010, dân số toàn huyện là 258.168 người Trong
đó, dân số thành thị là 21.440 người, chiếm 8,67% dân số toàn huyện Mật độ dân
số toàn huyện là 1.234 người/km2 (cao hơn mức trung bình của toàn tỉnh là 1.154 người/km2) Dân cư tập trung đông ở các thị trấn và các làng nghề
Về thực trạng giải quyết việc làm và thu nhập, huyện đã nhận thức rõ vai trò quan trọng trong công tác giải quyết việc làm đối với người lao động, Đảng bộ và chính quyền đã xây dựng và thực hiện tốt đề án giải quyết việc làm giai đoạn 2006 -
2010, trong 5 năm qua đã giải quyết việc làm cho 28.039 người (tăng 166% so với nhiệm kỳ trước); các cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp đều quan tâm đào tạo, bồidưỡng nghề cho người lao động, số lao động qua đào tạo đạt 19.743 người; tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 82,24%, tăng 4,2% so với năm 2005; bình quân giá trị sản xuất tính theo đầu người đạt 29,16 triệu đồng/ người năm
2010, tăng 18,76 triệu đồng/ người so với năm 2006
Bảng 3.3: Dân số, lao động qua các năm
Trang 275 Số lao động được đào
tạo nghề trong năm Người 2.546 2.688 4.501 4.808 5.200
6 Tỷ lệ lao động chưa có
3.1.2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
a, Thực trạng phát triển đô thị
Huyện Hưng Hà có 2 thị trấn là thị trấn Hưng Hà và thị trấn Hưng Nhân Cả 2 thị trấn đều nằm trên trục quốc lộ 39, có khả năng đô thị hóa nhanh và có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, xã hội với tổng diện tích đất đô thị (theo địa giới hành chính) là 1.435,05
ha, chiếm 6,82% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Diện tích đất ở đô thị là
152,33 ha, chiếm 10,61% diện tích đất đô thị
Trong những năm gần đây, hệ thống cơ sở hạ tầng của các thị trấn đã hình thành vàdần hoàn thiện, dáng vẻ hiện đại tập trung tại một số khu vực nội thị trấn, nhất là dọc theo quốc lộ 39 và thường phát triển theo ven đường chính từ trung tâm lan rộng ra xa
Hạ tầng cấp, thoát nước đô thị: hệ thống thoát nước ở đô thị còn nhiều hạn chế, hầu hết còn ở dạng tự chảy, chưa đảm bảo yêu cầu về thoát và xử lý nước thải
đô thị
Hạ tầng cấp điện và viễn thông đô thị: cơ bản đáp ứng được nhu cầu sinh
hoạt cũng như sản xuất kinh doanh, bảo đảm cung cấp ổn định
b, Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn
Do đặc điểm hình thành và lịch sử phát triển, các khu dân cư nông thôn trên địa bàn huyện được phát triển theo những hình thái khác nhau, tuỳ thuộc vào điều