Với mong muốn được góp phần nhỏ của mình vào quá trình hoàn thiện kĩ thuật, phương pháp thí nghiệm cũng như thiết bị dạy học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông,
Trang 1SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 1
Trang 2SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 2
MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ trên phạm
vi thế giới, khoa học công nghệ đã trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp” trong đó yếu tố trí tuệ có vai trò quyết định nhất trong mối tương quan với các yếu tố tài nguyên thiên nhiên, vốn và sức lao động Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang tiếp tục phát triển ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất đồng thời thúc đẩy quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực khác Trước tình hình đó, nước ta có nhiều thời cơ thuận lợi
để phát triển đất nước, nhưng cũng có lắm thử thách, cạnh tranh gay gắt Nhà nuớc
ta coi giáo dục và đào tạo, khoa hoc và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để khoa học
và công nghệ được ứng dụng một cách tối ưu nhất đòi hỏi phải phấn đấu xây dựng
xã hội phồn vinh – xã hội “dựa vào tri thức”, tư duy sáng tạo, tài năng sáng chế của con người Đó là nhiệm vụ mà nền giáo dục nước ta đang phải giải quyết Nghị quyết tại Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ phương hướng phấn đấu của nền giáo dục nước ta trong giai đoạn mới là: nâng cao giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy học, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Nhằm nâng cao trình độ tư duy, phát huy tích cực và tự học của học sinh, nhà nước ta đã sử dụng phương pháp hiện đại vào
giảng dạy, phân ban, thay sách giáo khoa
Tuy nhiên, từ trước đến nay đa số giáo viên tại các trường phổ thông chủ yếu
sử dụng phương pháp thuyết trình trong dạy học hóa học Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, nếu không có sự trải nghiệm thì sự lĩnh hội không thể sâu sắc và bền chặt được Một tiết dạy không thể nào dùng lời nói diễn đạt rõ ràng, hết ý, trọn vẹn khối lượng kiến thức mà giáo viên muốn truyền đạt đến học sinh Bổ sung cho lời nói có tính trừu tượng thì thiết bị dạy học, thí nghiệm hóa học là cụ thể, hình thành
ở học sinh kỹ năng tư duy, nắm, hiểu sâu và vận dụng tốt kiến thức
Do điều kiện còn hạn chế, thiết bị day học chưa đảm bảo đầy đủ, một số giáo viên chưa thật sự lồng ghép thực nghiệm và lý thuyết của môn học với nhau, chưa
Trang 3SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 3
thể hiện rõ ý nghĩa trực quan của thí nghiệm hóa học Với mong muốn được góp phần nhỏ của mình vào quá trình hoàn thiện kĩ thuật, phương pháp thí nghiệm cũng như thiết bị dạy học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông, từng bước xây dựng xã hội trí tuệ bên cạnh các môn khoa học khác Tôi
quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện kỹ thuật, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học để nâng cao chất lượng dạy học hóa học lớp 10 ở các trường trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng”
II Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu vai trò và hệ thống thí nghiệm hóa học, thiết bị dạy học trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
- Nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học, thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học lớp 10 ở trường trung học phổ thông
III Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu các định hướng, chiến lược phát triển giáo dục phổ thông nói chung, dạy học hóa học nói riêng
- Nghiên cứu hệ thống, vai trò, thực trạng sử dụng thí nghiệm hóa học, thiết
bị dạy học ở tường trung học phổ thông
- Nghiên cứu đặc điểm học sinh thành phố Đà Nẵng trong việc dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
- Nghiên cứu hệ thống và hoàn thiện kỹ thuật, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học ở các trường THPT thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất hướng trang bị và sử dụng hợp lí phương tiện kỹ thuật trong dạy học hóa học ở trường phổ thông thành phố Đà Nẵng
IV Phương pháp nghiên cứu của đề tài
1/ Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị của Đảng, của nhà nước, của bộ giáo dục
và đào tạo về vấn đề nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT
- Nghiên cứu tài liệu tham khảo đề cập vấn đề dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
Trang 4SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 4
2/ Nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát khách quan
- Dự giờ giáo viên giảng dạy
- Trao đổi trò chuyện
V Đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu hoàn thiện kĩ thuật, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học
và thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học lớp 10 ở trường trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng nói riêng và các trường THPT nói chung
- Đề xuất sử dụng thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học
- Đề xuất hướng trang bị và sử dụng hợp lí phương tiện dạy học ở các trường THPT thành phố Đà Nẵng
Trang 5SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 5
NỘI DUNGCHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN KĨ THUẬT, PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC VÀ THIẾT
BỊ DẠY HỌC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và nước ta 1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học [9], [10]
Phương pháp: là một phạm trù hết sức quan trọng đối với mọi hoạt động
Ngoài ra, phương pháp còn được hiểu là hệ thống các nguyên tắc, các thao tác có
thể nhằm từ những điều kiện nhất định ban đầu tới một mục đích định trước
Phương pháp dạy: cách thức hoạt động của thầy trong việc tổ chức, chỉ đạo
Có nhiều cách định nghĩa về phương pháp dạy học tuy nhiên có thể hiểu
rằng: Phương pháp dạy học là cách thức, con đường hoạt động của thầy và trò dưới
sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo phát triển năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan và nhân sinh quan XHCN
Những quan điểm khác nhau về phương pháp dạy học chủ yếu xoay quanh vai trò của người dạy, cách dạy và vai trò của người học, cách học
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và nước ta [5], [7]
Bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học là tổ chức cho con người được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo trong đó việc xây dựng phong cách học tập sáng tạo là cốt lõi Đổi mới phương pháp giáo
Trang 6SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 6
dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng ở nước ta cũng như trên toàn thế giới là yêu cầu cấp bách của thời đại
1/ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Từ trước đến nay theo lối dạy học truyền thống “thầy đọc –trò chép” người thầy là trung tâm của quá trình dạy học, học trò trở nên thụ động Với lối truyền thụ một chiều, chưa đánh giá đúng vai trò hoạt động năng động, sáng tạo của học sinh trong xã hội phát triển Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học phải khắc phục được yếu kém đó, đặt người học vào vị trí trung tâm, họ vừa là chủ thể vừa là mục tiêu cuối cùng của quá trình dạy học
Trước đây, người giáo viên chỉ cần nắm vững nội dung môn học để giảng dạy, minh họa rõ ràng, mạch lạc là đủ, vì vậy hễ có kiến thức là dạy học được Bây giờ, đảm bảo kiểu dạy học mới có hiệu quả giáo viên không những nắm vững nội dung môn học mà còn phải am hiểu sâu sắc học sinh để vận dụng linh hoạt trong tình huống dạy học
2/ Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt đông hóa người học
- Hoạt động hóa người học là hoạt động tự giác, tích cực, làm cho người học
có động cơ biến nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của chính bản thân mình Việc làm của học sinh trở thành chủ thể tích cực sẽ tạo điều kiện để học sinh hình thành ý thức tích cực, phát triển tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề
- Hoạt động hóa người học đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu đối tượng học sinh, nắm vững kiến thức sẵn có của học sinh để khơi dậy, phát huy những thuận lợi, hạn chế những khó khăn, bổ sung những thiếu xót, khắc phục những sai lầm Từ
đó, giúp người học chiếm lĩnh kiến thức mới, điều khiển quá trình học một cách hiệu quả
- Vấn đề đáng lưu ý hiện nay là quỹ thời gian dành cho việc học ở nhà trường không đổi trong khi khối lượng kiến thức tăng lên nhiều và nhanh Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học không theo lối giảng dạy “truyền thụ một chiều”, dạy như vậy học sinh sẽ thụ động trong việc nắm bắt kiến thức, thông tin Với lượng kiến thức ngày càng nhiều đòi hỏi đổi mới phương pháp học theo hướng hoạt đông hóa người học – phát huy tích cực vào chủ thể Muốn vậy, giáo viên phải chú trọng
Trang 7SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 7
việc dạy học sinh việc học và dạy cách học: dạy học sinh khả năng tự học, chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành cho học sinh nhu cầu tự học kiến thức trong quá trình học tập và công tác Đổi mới hoàn toàn cách học nhồi nhét máy móc thay vào đó là lối tư duy, suy luận sáng tạo để biến nhu cầu xã hội thành nhu cầu bản thân
- Đổi mới phương pháp dạy học bắt buộc xác định đúng đắn hơn, thiết thực hơn vai trò của người thầy Mặc dù, dạy học theo hướng “hoạt đông hóa người học”, “lấy học sinh làm trung tâm” nhưng vai trò của người giáo viên không những không suy giảm mà còn nâng cao, đòi hỏi trách nhiệm hơn trong 4 công việc:
+ Thiết kế: lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học cả về mặt mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và cả hình thức tổ chức
+ Ủy thác: biến đồ dùng dạy học của giáo viên thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của học sinh, chuyển giao kiến thức cho học sinh thông qua những tình huống để trò hoạt động và thích nghi
+ Điều khiển: đảm bảo quá trình dạy hoc đi đúng hướng, đúng mục tiêu giáo dục đã định kể cả điều khiển về mặt tâm lí, bao gồm sự động viên hướng dẫn, trợ giúp và đánh giá
+ Thể chế hóa: xác định những kiến thức mới phát hiện, đồng nhất hóa những kiến thức mang màu sắc cá thể, phụ thuộc hoàn cảnh và thời gian từng học sinh hình thành tri thức khoa học của toàn xã hội, thuân thủ định vị kiến thức mới trong
hệ thống tri thức đã có, hướng dẫn vận dụng, ghi nhớ hoặc giải phóng khỏi trí nhớ nếu không cần thiết
3/ Áp dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại
Để tạo ra các tổ hợp phương pháp mang tính công nghệ, nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật và công nghệ được ứng dụng vào khoa học giáo dục Vì vậy, một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay cũng như trên thế giới là hình thành những công nghệ dạy học
4/ Cải tiến phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh
Việc xây dựng và hoàn chỉnh phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường trung học phổ thông là vấn đề quan trọng Kiểm tra đánh giá tốt thúc đẩy học sinh tự giác học tập một cách toàn diện, không có hiện tượng học
Trang 8SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 8
lệch, học tủ, đồng thời giáo viên dễ dàng nắm được kiến thức sẵn có của học sinh Đây là khâu quan trọng để thầy và trò điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp đúng lúc, đúng hướng Muốn đánh giá có dạy tốt hay không phải kiểm tra có học tốt không? “Chính nội dung và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập sẽ chi phối mạnh mẽ, điều chỉnh ngay lập tức cách học của học sinh và cách dạy của thầy”
1.1.3 Đổi mới phương pháp dạy học bộ môn hóa học ở trường phổ thông [5], [8]
- Hoàn thiện chất lượng phương pháp dạy học hiện có và sử dụng tổng hợp các phương pháp dạy học
- Khai thác các đặc thù môn hóa học, tổ chức cho người học được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, tự giác, tích cực, sáng tạo Tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng, phong phú của học sinh trong giờ học có nghĩa là tăng cường thí nghiệm hóa học, các phương tiện trực quan trong dạy học hóa học, phối hợp nhiều hình thức hoạt động của học sinh, nhiều phương pháp dạy học của giáo viên
- Tăng cường năng lực vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống và sản xuất luôn đổi mới Điều đó thể hiện rõ ràng:
+ Tăng cường sử dụng bài tập và các dạng toán đòi hỏi học sinh phải suy luận sáng tạo trong đó có những bài tập sử dụng hình vẽ Bài tập yêu cầu vận dụng kiến thức ở nhiều phần khác nhau của một lớp hoặc nhiều lớp
+ Thường xuyên sử dụng phương pháp dạy học phức hợp - dạy học đặt và giải quyết vấn đề, dạy cho học sinh giải quyết vấn đề học tập từ thấp đến cao
- Đổi mới hoạt động học tập và tăng thời gian dành cho học sinh hoạt động trong giờ học có thể thực hiện:
+ Giảm thuyết trình của giáo viên xuống dưới 50% cho tiết học, tăng đàm thoại giữa thầy và trò, ưu tiên sử dụng phương pháp đàm thoại Ơrixtic để học sinh được thảo luận, tranh luận
+ Yêu cầu học sinh trả lời những câu hỏi tổng hợp, đòi hỏi học sinh phải so sánh khái quát, suy luận nhằm khắc sâu kiến thức khi nghiên cứu SGK tại lớp
Trang 9SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 9
- Từng bước đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá nhằm đánh giá cao những biểu hiện chủ động, sáng tạo kiến thức để giải quyết các vấn đề liên quan đến thực tiễn
- Sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học, khai thác tận dụng mặt tốt của mỗi phương pháp dạy học
1.2 Sử dụng thí nghiệm hóa học và các phương tiện trực quan khác là phương pháp dạy học quan trọng nhất trong dạy học hóa học ở phổ thông
1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học hóa học [5], [9]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: phương pháp dạy học hóa học có thể hiểu là cách thức hoạt động công tác có mục đích giữa thầy và trò, trong đó thống nhất sự điều khiển của thầy với sự bị điều khiển, tự điều khiển của trò, nhằm làm cho trò chiếm lĩnh khái niệm hóa học
Phương pháp dạy học hóa học là cách thức – hoạt động của thầy trong việc
tổ chức, chỉ đạo các hoạt động nhân thức nhằm giúp trò chủ động đạt các mục tiêu dạy học hóa học
Phương pháp dạy học hóa học chính là sự chuyển hóa của phương pháp hóa học thông qua lăng kính của các quy luật tâm lí –lí luận dạy học của sự lĩnh hội của học sinh Học tập hóa học ở trường THPT phải bằng hệ thống phương pháp kết hợp biện chứng thí nghiệm – thực hành với tư duy lí luận, vận dụng mô hình, học thuyết
và định luật chủ đạo
Thí nghiệm hóa học là cần thiết cho việc dạy học hóa học ở trường phổ thông Chỉ có trên cơ sở đó học sinh mới tiếp thu được những dấu hiệu của phản ứng hóa học mà không có nguyên tắc, quy tắc, lý thuyết nào thay thế được
1.2.2 Hệ thống các phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông [9]
Phân loại phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học hóa học
nói riêng là rất khó khăn, nhiều nhà nghiên cứu lí luận dạy học có những cách phân loại khác nhau Nhưng nhìn chung có thể phân loại dựa vào 3 cơ sở: mục đích lí luận dạy học của quá trình dạy học, nguồn cung cấp kiến thức cho học sinh, tính chất hoạt động trí lực của học sinh
Trang 10SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 10
Hệ thống phương pháp dạy học hóa học được chia là 3 loại phương pháp dạy học cơ bản:
+ Các phương pháp dạy học khi nghiên cứu tài kiệu mới
+ Các phương pháp dạy học khi hoàn thiện kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
+ Các phương pháp dạy học khi kiểm tra kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Trong mỗi loại phương pháp dạy học hóa học có sử dụng các nhóm phương pháp: nhóm các phương pháp trực quan, nhóm các phương pháp thực hành, nhóm các phương pháp dùng lời
Hệ thống các phương pháp dạy học được trình bày như sau:
Trang 11SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 11
Bảng 1: Phương pháp giảng dạy khi nghiên cứu tài liệu mới
TT Nhóm phương pháp Tên phương pháp Dạng phương pháp
Tổ chức quan sát đi tham quan Học sinh làm việc với các vật phẩm
Các hình thức kết hợp lời giảng của giáo viên với các phương tiện trực quan theo phương pháp nghiên cứu hoặc theo phương pháp minh họa
2 Các phương pháp
thực hành
Thí nghiệm của học sinh
Nghiên cứu Minh họa
Giảng giải Đọc và học thuộc Dùng sách để tìm câu trả lời theo câu hỏi
Lập dàn bài, bài tóm tắt
Trang 12SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 12
Bảng 2: Phương pháp dạy học khi hoàn thiện kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
TT Nhóm phương pháp Tên phương pháp Dạng phương pháp
Biểu diễn lại thí nghiệm Dùng thí nghiệm biểu diễn làm bài tập
Công tác độc lập khi quan sát phim giáo khoa
Quan sát để củng cố kiến thức Bài tập khi làm việc với vật phân phát
Bài tập thực nghiệm
3 Các phương pháp
dùng lời
Diễn giảng và trần thuật
Đàm thoại Dùng sách
Diễn giảng tổng kết Báo cáo tổng kết của học sinh
Đàm thoại ôn tập Bài tập, toán hóa học
Ôn tập theo sách giáo khoa Lập bảng, soạn đề cương theo sách giáo khoa, tài liệu tham khảo
Làm việc với sách bài tập
Trang 13SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 13
Bảng 3: Phương pháp dạy học khi kiểm tra kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
TT Nhóm phương pháp Tên phương pháp Dạng phương pháp
Làm thí nghiệm đã được làm, quan sát khi học bài mới, khi ôn tập, trong giờ thực hành
Làm thí nghiệm mới Làm thí nghiệm cũ
Kiểm tra dưới dạng đàm thoại với cả lớp, nhóm học sinh
Kiểm tra viết thời gian ngắn Kiểm tra viết sau khi học xong một đề tài, một chương Kiểm tra theo phương pháp trắc nghiệm…
Như vậy, muốn có hiệu quả cao trong dạy học hóa học phải sử dụng một cách linh hoạt, hợp lí các phương pháp, các nhóm phương pháp trong dạy học Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học hóa học là một phương pháp dạy học rất quan trọng góp phần quyết định chất lượng lĩnh hội môn hóa học Thí nghiệm hóa
Trang 14SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 14
học là phương tiện trực quan chính yếu, được dùng phổ biến và giữ vai trò quyết định trong dạy học hóa học
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học trong trường phổ thông, việc cải tiến, sử dụng một cách có hiệu quả những TBDH, các phương tiện kĩ thuật dạy học cũng có một vai trò đặc biệt
quan trọng, rất cần được quan tâm giải quyết
1.2.3 Hệ thống các thiết bị dạy học ở trường phổ thông [14]
1/ Vị trí các phương tiện dạy hoc trong quá trình dạy học
Các phương tiện dạy học bao gồm sách giáo khoa, sách tham khảo, các phương tiện trực quan, các thiết bị dạy học và các phương tiện kĩ thuật dạy học, thí nghiệm nhà trường, các phòng học và thí nghiệm… Trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học có vai trò đặt biệt quan trọng:
- Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn
+ Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất của chúng có thể tri giác trực tiếp bằng các giác quan
+ Giúp sáng tỏ cấu tạo của các dụng cụ máy móc phức tạp, do đó giúp học sinh thu nhận thông tin về các sự vật hiện tượng một cách đầy đủ và chính xác
- Giúp làm sinh động nội dung thực tập, nâng cao hứng thú học tập hóa học, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học
- Giúp phát triển năng lực nhận thức của học sinh, đặc biệt là năng lực tư duy (phân tích, so sánh, tổng hợp) khái quát hóa các hiện tượng, rút ra những kết luận có
độ tin cậy…
- Giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập được thuận lợi, có hiệu xuất cao hơn
2/ Vai trò và khả năng của thiết bị dạy học
- Thiết bị dạy học (TBDH) là bộ phận của nội dung và phương pháp dạy học:
TBDH đóng vai trò hỗ trợ tích cực trong quá trình dạy học, qua đó người học
tự khai thác, tiếp cận tri thức dưới sự hướng dẫn của người thầy TBDH là phương
Trang 15SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 15
tiện duy nhất giúp hình thành ở học sinh kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tƣ duy kĩ thuật
- TBDH hóa học góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học:
TBDH tạo nên “ vùng hợp tác sinh động” giữa hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, tích cực hóa hoạt động của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức
- TBDH làm tăng thêm việc đa dạng hóa các hình thức dạy học:
TBDH đầy đủ, đúng quy cách sẽ cho phép tổ chức các hình thức dạy học, giáo dục đa dạng, linh hoạt, phong phú và có hiệu quả
- TBDH hóa học góp phần đảm bảo chất lượng dạy-học:
Thông qua TBDH học sinh nắm kiến thức một cách sinh động, đầy đủ, chính xác và có hệ thống, liên hệ giữa lí thuyết và đời sống thức tiễn, đồng thời kích thích hứng thú học tập, phát triển tƣ duy, trí thông minh sáng tạo
- TBDH hóa học rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh:
TBDH góp phần hình thành, củng cố, hệ thống hóa, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phát triển hứng thú nhận thức, tính tích cực tự giác
Thông qua TBDH hiện đại mà đa dạng hóa các hình thức dạy học, tiết kiệm thời gian trên lớp, tạo khả năng tổ chức một cách khoa học và điều khiển hoạt động dạy học
3/ Vai trò của mỗi loại thiết bị dạy học trong quá trình nhận thức của học sinh
Mỗi loại thiết bị dạy học có vai trò và tác dụng riêng, không có cái nào thay thế hoàn toàn cho cái nào:
- Đối với tranh ảnh, giáo khoa: có tính trực quan cao, có thể phóng đại sự vật nhỏ, thu nhỏ sự vật lớn, mô tả cấu tạo bên trong của sự vật mà trên vật thật không thể quan sát đƣợc
- Đối với biểu đồ, bản đồ: giúp học sinh nhìn thấy một cách tổng quan hệ thống nào đó, thấy đƣợc dấu hiệu cơ bản nhất
- Đối với mô hình, vật mẫu, mẫu vật: ít đƣợc sử dụng, có hiệu quả khi kết hợp với các TBDH khác
Trang 16SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 16
- Đối với dụng cụ dạy học: sử dụng trong tất cả các loại bài giảng, biểu diễn thí nghiệm đảm bảo yêu cầu
- Đối với phần mềm dạy học: vận dụng vào giảng dạy là rất hay, rất hiệu quả, học sinh dễ quan sát, đỡ tốn thời gian viết bảng, biểu diễn rõ ràng những thí nghiệm
mà không thể thực hiện được trong điều kiện thực tế và có tính chất độc hại, nguy hiểm
Ngoài ra các loại khác như bản trong, phim đèn chiếu… có vai trò bổ trợ cho các TBDH khác
4/ Những yêu cầu của thiết bị dạy học
- Đảm bảo tính khoa học và sư phạm
Phục vụ thiết thực, đảm bảo thành công, chính xác, khoa học trong quá trình dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học
Thiết bị phải giúp học sinh nắm vững, khắc sâu kiến thức, quy luật khoa học một cách chính xác, phải bám sát chương trình, phù hợp tâm lí học sinh Từ nội dung đến hình thức phải có tác dụng kích thích hứng thú học tập, độc lập suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng sáng tạo và có tác dụng giáo dục các mặt khác nhau của học sinh
- Đảm bảo tính trực quan hóa
Đảm bảo nguyên tắc chế tạo hợp lí, bền chắc, thuận tiện khi sử dụng, dễ tháo lắp, tiết kiệm thời gian, chất liệu đồ dùng được lâu dài, an toàn trong vận động, bảo quản, sử dụng, đặc biệt với hóa chất thí nghiệm độc hại
- Đảm bảo tính thẫm mỹ
Có hình dạng, kích thước, màu sắc hợp lí, gọn đẹp, giúp học sinh hứng thú học tập và sử dụng Tuy nhiên phải đúng mức, cân đối, không lạm dụng, không làm phân tán chú ý của học sinh đồng thời giáo dục tính thẫm mĩ cho học sinh
- Đảm bảo tính kinh tế
Cấu tạo đơn giản dễ sản xuất, giá thành thấp, có thể trang bị đến từng nhóm thực hành của học sinh, tiết kiệm hóa chất, không chỉ mang ý nghĩa kinh tế đơn thuần mà còn giáo dục tư tưởng cho học sinh như ý thức tiết kiệm, tìm tòi sáng tạo, trân trọng thành quả lao động
Trang 17SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 17
1.2.4 Thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông [14]
1/ Vị trí thí nghiệm
Theo Ăng-ghen: “Trong quá trình nghiên cứu khoa học trong tự nhiên cũng như trong lịch sử, phải xuất phát từ những sự thật đã có, do đó trong khoa học tự nhiên xuất phát từ những hình thái hiện thực khác nhau và những hình thái vận động khác nhau của vật chất, cho nên trong khoa học lí luận về tự nhiên, chúng ta không thể cấu tạo ra mối quan hệ để ghép chúng vào sự thật, mà phải từ các sự thật
đó phát hiện ra các mối liên hệ ấy, rồi phải hết sức chứng minh những mối quan hệ
- Vai trò trí dục của thí nghiệm hóa học
+ Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu chính xác, nhớ lâu và vận dụng tốt kiến thức đã học, vận dụng các điều đã học vào cuộc sống
+ Giúp lôi cuốn học sinh trong việc tích cực chủ động tìm kiếm kiến thức kĩ năng mới làm tăng tư duy và khả năng sáng tạo
+ Trong quá trình thí nghiệm học sinh tự hình thành cho mình các kĩ năng, từ
đó hình thành kĩ xảo, chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại, vận dụng kiến thức đã học tìm mối liên hệ bản chất giữa sự vật và hiện tượng
+ Làm thí nghiệm học sinh sẽ làm quen với hóa chất và trực tiếp nắm bắt các tính chất lí hóa giúp các em hiểu được các quá trình hóa học nắm vững các định luật, khái niệm hóa học
+ Giúp giáo viên truyền đạt kiến thức rõ ràng và hết ý thông qua thí nghiệm
cụ thể thay vì lời nói trừu tượng
- Vai trò đức dục của thí nghiệm hóa học
Thí nghiệm hóa học củng cố và nâng cao niềm tin khoa học giúp hình thành
đức tính tốt của người lao động mới: thận trọng, ngăn nắp, trật tự, gọn gàng
Trang 18SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 18
2/ Phân loại các thí nghiệm hóa học
Trong trường phổ thông thương sử dụng các hình thức thí nghiệm sau:
- Thí nghiệm biểu diễn của giáo viện: là hình thức thí nghiệm do giáo viên tự tay làm trước học sinh
- Thí nghiệm học sinh: do học sinh tự làm với các dạng sau:
+ Thí nghiệm đồng loạt: có điều kiện thì tất cả học sinh hoặc vài học sinh được chỉ định biểu diễn và thí nghiệm khi nghiên cứu bài mới ở lớp
+ Thí nghiệm thực hành: ở lớp nhằm củng cố kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo làm thí nghiệm, thường tổ chức sau bài học hoặc cuối kì
+ Thí nghiệm ngoại khóa: thí nghiệm vui trong buổi hội vui hóa học
+ Thí nghiệm ở nhà: thí nghiệm đơn giản và vài ngày giao cho học sinh tự làm ở nhà
Trong loại thí nghiệm ngoại khóa cũng như thí nghiệm ở nhà giáo viên thường hướng dẫn đề tài, đặt ra mục đích yêu cầu, hướng dẫn học sinh tự tìm kiếm dụng cụ, hóa chất Thí nghiệm này giúp cho học sinh hứng thú học tập, nâng cao vai trò giáo dục tổng hợp, gắn kiến thức đã học với thực tế cuộc sống
3/ Yêu cầu và phương pháp tiến hành thí nghiệm
Mỗi loại thí nghiệm có những yêu cầu và phương pháp tiến hành nhất định
Đối với thí nghiệm của giáo viên:
- Đảm bảo an toàn
Kiểm tra dụng cụ hóa chất trước khi làm thí nghiệm, tuân thủ tất cả những quy định về bảo hiểm, nắm vững kĩ thuật thí nghiệm, làm đúng hướng dẫn, luôn cẩn thận, bình tĩnh, đề cao tinh thần trách nhiệm và hiểu nguyên nhân của những trường hợp xảy ra nguy hiểm Phải tuân thủ những quy định trong khi sử dụng dụng cụ, hóa chất, chẳng hạn: những qui định về làm việc với các chất độc, chất cháy, quy tắc khi pha loãng axit đặc, phải thử độ tinh khiết của các chất khí trước khi thực nghiệm phản ứng đốt cháy
- Đảm bảo thành công
Đảm bảo kết quả có liên quan rất lớn đến chất lượng dạy học, và củng cố long tin khoa học của học sinh, giáo viên phải thử nhiều lần trước khi biểu diễn
Trang 19SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 19
trước lớp, nếu thất bại phải tìm nguyên nhân và cách khắc phục để củng cố, nâng cao niềm tin của học sinh Sự biểu diễn thí nghiệm khéo léo của giáo viên còn là mẫu mực cho học sinh Vì vậy giáo viên phải chuẩn bị kĩ càng trước khi lên lớp, sự chuẩn bị của giáo viên càng tỉ mỉ, chu đáo bao nhiêu càng đảm bảo cho sự thành công khi biểu diễn thí nghiệm trên lớp bấy nhiêu
- Thí nghiệm phải rõ ràng, học sinh quan sát đầy đủ
Khi biểu diễn thí nghiệm không đứng che lấp thí nghiệm, kích thước dụng cụ
và hóa chất phải đủ lớn, bàn biểu diễn phải có độ cao hợp lí, ánh sáng đầy đủ, dụng
cụ phải mĩ thuật và đảm bảo tính khoa học
Thí nghiệm chọn làm: đơn giản về thiết bị, ít tốn thời gian, cố gắng tận dụng
những dụng cụ thay thế nhưng vẫn đảm bảo tính khoa học Chọn hóa chất quen thuộc, an toàn với học sinh, cố gắng tìm kiếm ở địa phương vì chúng gần gũi với học sinh đồng thời kích thích các em say mê khoa học
Lắp dụng cụ thí nghiệm phải vừa đẹp mắt, vừa đơn giản mà thuận lợi cho việc quan sát của học sinh, đảm bảo an toàn
- Số lượng thí nghiệm trong một tiết vừa phải
Chỉ biểu diễn những thí nghiệm:
+ Phục vụ trọng tâm bài giảng
+ Thể hiện tính chất đặc trưng của đối tượng nghiên cứu
+ Thí nghiệm đặc trưng , đại diện trong nhiều thí nghiệm cùng loại
- Phải biết kết hợp chặt chẽ thí nghiệm biểu diễn với trình bày bài giảng
Giáo viên phải nói rõ mục đích của thí nghiệm, tác dụng từng dụng cụ, chuẩn
bị cho học sinh quan sát, định hướng cho học sinh quan sát những gì để học sinh nhận biết được các hiện tượng và đó là cơ sở để họ giải thích các hiện tượng và rút
ra kết luận khoa học của vấn đề nghiên cứu
Đối với thí nghiệm học sinh:
- Thí nghiệm nghiên cứu bài mới: tổ chức cho học sinh tự tay làm thí
nghiệm khi nghiên cứu tài liệu mới, có thể cho toàn lớp làm thí nghiệm hoặc theo nhóm thực hiện cùng hoặc các thí nghiệm khác nhau Giáo viên theo dõi các nhóm
Trang 20SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 20
thực hiện, yêu cầu thay phiên nhau tránh trường hợp một vài học sinh làm thí nghiệm biểu diễn cho nhóm
- Thí nghiệm thực hành: do học sinh tự làm khi hoàn thiện kiến thức nhằm
ôn tập, củng cố, minh họa những kiến thức đã học và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành Để thực hiện thành công thí nghiệm này học sinh phải chuẩn bị trước và ôn tập nội dung kiến thức đã học
Trình tự tổ chức buổi thực hành:
+ Đầu giờ giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh theo các yêu cầu mà giáo viên đã thông báo trước
+ Giải thích ngắn gọn cách tiến hành thí nghiệm, cách quan sát, ghi chép và
có thể lưu ý những vấn đề đặc biệt xảy ra Hướng dẫn và yêu cầu học sinh làm tường trình báo cáo kết quả thí nghiệm
+ Cuối buổi thí nghiệm yêu cầu học sinh thu dọn phòng thí nghiệm, rửa dung cụ thí nghiệm, sắp xếp hóa chất gọn gàng, ngăn nắp
- Thí nghiệm ngoại khóa, thí nghiệm ở nhà: yêu cầu học sinh nắm vững
kiến thức, bản chất của phản ứng để từ đó tiến hành thí nghiệm đảm bảo thành công
và an toàn
1.3 Thực trạng trang thiết bị và sử dụng thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông
1.3.1 Thực trạng về trang thiết bị dạy học ở trường phổ thông
TBDH có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy và học Trong những năm qua, mặc dù ngân sách còn khó khăn nhưng công tác trang bị phương tiện dạy học nói chung và TBDH nói riêng đã được các cơ quan quản lí giáo dục có những quan tâm nhất định Nhìn chung, TBDH ở các trường THPT mới đáp ứng được tỉ lệ thấp so với nhu cầu cần thiết cho dạy học Các trường THPT ở nông thôn, miền núi việc trang bị được thực hiện thấp hơn nhiều, TBDH không đủ cho học tập Kinh tế
xã hội phát triển hơn, các trường THPT ở thành phố Đà Nẵng có điều kiện trang bị phương tiện dạy học đầy đủ hơn Tuy nhiên, những TBDH đắt tiền chỉ mới có ở một số trường trọng điểm, bên cạnh những dụng cụ thí nghiệm đơn giản hầu hết được trang bị ở các trường trong địa bàn thành phố
Trang 21SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 21
Trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, cần tạo điều kiện để học sinh
tự làm thí nghiệm, tăng tính tích cực của học sinh trong tiết học thì việc trang bị TBDH là cần thiết và đòi hỏi phải đầy đủ hơn
1.3.2 Thực trạng sử dụng thiết bị dạy học trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
Với dụng cụ thí nghiệm không đồng bộ, đại đa số các trường THPT chưa thật
sự sử dụng tích cực TNHH vào quá trình dạy học hóa học Giáo viên các trường THPT có trình độ Đại học, trên Đại học có khả năng tiếp nhận và sử dụng tốt TBDH Tuy nhiên, do lâu ngày không sử dụng nên một số giáo viên còn lúng túng
về kĩ thuật sử dụng một số thiết bị Giáo viên có trình độ cao đẳng, trung học rất hạn chế trong việc sử dụng TBDH do đó hiệu quả sử dụng còn thấp
Việc sử dụng TNHH trong dạy học hóa học hay phối hợp các TBDH rất hạn chế ở các trường THPT hiện nay Một số ít giáo viên sử dụng TNHH theo hướng tích cực, hoạt động hóa người học, phần lớn giáo viên ít sử dụng hoặc sử dụng đối phó trong quá trình giảng dạy Tâm lí chung các giáo viên vẫn còn ngại sử dụng TBDH nói chung và TNHH nói riêng vì sợ tốn thời gian, lo lắng dụng cụ và hóa chất không đảm bảo thí nghiệm thành công làm mất lòng tin ở học sinh, “cháy giáo án” không theo kịp tiến độ chương trình
Trang bị TBDH trong các trường THPT là một vấn đề, nhưng sử dụng để phát huy hiệu quả của TBDH trong dạy học mới là mục đích cuối cùng cần đạt được, điều đó phụ thuộc vào việc sử dụng TBDH trong quá trình dạy học như thế nào
1.4 Vài nét về đặc điểm của học sinh thành phố Đà Nẵng đối với việc học hóa học ở trường trung học phổ thông
1.4.1 Đặc điểm về hoàn cảnh tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng
* Hoàn cảnh tự nhiên
- Vị trí địa lí: Thành phố Đà Nẵng nằm bên sông Hàn, phía Đông vươn ra biển Đông, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 22SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 22
- Địa hình: có đồng bằng duyên hải, đồi núi, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp
- Khí hậu: khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động,
có hai mùa (mùa mưa và mùa khô)
- Tài nguyên: có đất, rừng, biển, khoáng sản nhiều
- Sông ngòi: hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam
* Kinh tế xã hội:
Đà Nẵng là trung tâm kinh tế của khu vực miền Trung -Tây Nguyên Là nơi hội tụ của các công ty lớn, với 11 khu công nghiệp gồm các ngành: dệt may, da giày, chế biển thủy sản, phần mềm, sản xuất VLXD…
Hạ tầng thương mai cũng được đầu tư đồng bộ với 24 trung tâm thương mại
và siêu thị, 88 chợ các loại theo hướng văn minh ,an toàn…
Bên cạnh những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử trực thuộc thành phố, những ưu đãi của thiên nhiên ban tặng thì Đà Nẵng còn được xem là điểm trung chuyển quan trọng trên con đường di sản miền Trung đến 3 di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn; di sản thiên nhiên: Vườn Quốc gia Bạch Mã, Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẽ Bàng => phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng cũng như các dịch vụ…
1.4.2 Đặc điểm của học sinh thành phố Đà Nẵng đối với việc học tập nói chung
và bộ môn hóa học nói riêng
Với những thuận lợi về hoàn cảnh tự nhiên cũng như kinh tế xã hội đa số học sinh thành phố Đà Nẵng là con em gia đình khá giả Việc học tập được xem là nhiệm vụ hàng đầu của các em bên cạnh nhiều hình thức vui chơi, giải trí Điều kiện gia đình, sự quan tâm của cha mẹ tạo thuận lợi cho học sinh thành phố Đà Nẵng tập trung học tập, phát triển tư duy tích cực, đồng bộ giữa các môn học trong đó có hóa học Chính vì vậy mà học sinh thành phố Đà Nẵng ngày càng được khẳng định về chất lượng và số lượng Có sự cố gắng đồng bộ giữa các môn học, có những tiến bộ
rõ rệt trong việc học tập nói chung và bộ môn hóa học nói riêng Thể hiện rõ nét qua:
Trang 23SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 23
- Các kì thi HS giỏi do Bộ GD-ĐT tổ chức học sinh Đà Nẵng luôn nằm trong top 10 tỉnh, thành phố có số học sinh đoạt giải cao nhất Riêng năm 2011-2012 có 3 giải nhất, 16 giải nhì, 21 giải ba, 23 giải khuyến khích (tăng 2 giải so với năm 2010-2011)
- Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp cao: 11216 thí sinh THPT dự thi có 97,2% đỗ (năm 2010 đạt 96,68%), 1774 thí sinh bổ túc THPT dự thi có 79,9% đỗ (năm 2010 đạt 55,29%)
- Tỉ lệ học sinh THPT trúng tuyển đại học, cao đẳng cũng tăng liên tục Bên cạnh những nổ lực, cố gắng vẫn còn một số ít học sinh chưa thật sự tự giác trong việc học tập của mình, chưa tìm thấy hứng thú trong học tập trong đó môn hóa học
Sự phồn vinh của thành phố, sự đầy đủ về vật chất bao nhiêu thì cơ hội học sinh phát triển năng lực của mình bấy nhiêu do thời gian học tập, sách vở, tài liệu tham khảo có nhiều, ăn uống đầy đủ, vui chơi thoải mái… giúp trí tuệ các em phát triển tốt không như học sinh nông thôn, miền núi ngoài việc học tập còn phải tham gia làm kinh tế gia đình Cũng chính điều kiện quá thuận lợi đó, nhiều bậc phụ huynh chưa quan tâm con cái đúng mức để các em đi chệch hướng như bỏ học, nghiện game ảnh hưởng tới kết quả học tập cũng như hành vi ứng xử xã hội
Để xây dựng thành phố toàn diện về hoàn cảnh tự nhiên, kinh tế xã hội cần xây dựng toàn diện con người đặc biệt thế hệ trẻ - những con người làm chủ xã hội, đất nước Đó là nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục, hình thành lòng say mê học tập ở các em Việc hoàn thiện kĩ thuật, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học và thiết
bị dạy học mong góp phần xây dựng ở các em tinh thần ham học hỏi, yêu thích môn hóa học nói riêng và khoa học nói chung
Trang 24SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 24
CHƯƠNG 2:
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN KĨ THUẬT, PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG THÍ NGHỆM HÓA HỌC VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC LỚP 10 Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Trong điều kiện phát triển, luôn luôn đổi mới phương pháp dạy học như hiện nay, Nhà nước chú trọng đầu tư về TBDH ở các trường phổ thông Làm gì để TBDH thực sự có tác dụng tích cực trong dạy học nói chung và dạy học hóa hoc nói riêng? Xuất phát từ nhu cầu thiết yếu đó, chương hai chúng tôi nghiên cứu 3 vấn đề sau:
* Hoàn thiện kỹ thuật, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học ở các trường THPT thành phố Đà Nẵng Nghiên cứu cải thiện một số dụng cụ, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học nhằm tạo điều liện cho học sinh được thực hành thí nghiệm nhiều hơn với dụng cụ đơn giản, thân thuộc mà tiết kiệm hóa chất
* Nghiên cứu để đưa việc sử dụng thí nghiệm hóa học và TBDH đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở phổ thông nói chung và lớp 10 nói riêng
* Nghiên cứu trang bị và sử dụng một cách hợp lí phương tiện kỹ thuật dạy học, trước hết là phương tiện nghe nhìn phục vụ cho đổi mới dạy học
2.1 Hoàn thiện kĩ thuật, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học ở các trường phổ thông thành phố Đà Nẵng
Thí nghiệm hóa học là phương tiện trực quan chính yếu, được dùng phổ biến
và giữ vai trò quan trọng trong dạy học hóa học ở các trường phổ thông
Trang 25SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 25
2.1.1 Hệ thống thí nghiệm và dụng cụ thí nghiệm hóa học THPT[1], [2], [3], [12]
26 THÍ NGHIỆM THUỘC CHƯƠNG TRÌNH LỚP 10
Bài 31: HIĐRO
CLORUA – AXIT
CLOHIĐRIC
- Điều chế và thử tính tan của HCl
- HCl tác dụng với Zn
- Nhận biết gốc Cl
Hóa chất: H2SO4 đặc, NaCl, NaOH loãng, phenolphtalein,
Zn, AgNO3.
- Dụng cụ: bình cầu có nhánh,
eclen, phễu brom, cốc thủy tinh, ống dẫn cao su, phễu nhỏ, bông, nút cao su có cắp ống vút nhọn quay vào
- Hóa chất: nước Clo, dung dịch
KBr, KI, nước Brom, hồ tinh bột, benzen
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ
CHƯƠNG 6 – OXI
Bài 41: OXI - Điều chế oxi - Hóa chất: KMnO4, sợi dây Fe,
Trang 26SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 26
- Oxi tác dụng với Fe,
- Tính khử: H2O2 tác dụng với KMnO4 và
Bài 44: HIĐRO
SUNFUA
- Điều chế và đốt cháy khí hiđro sunfua
Trang 27SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 27
HỌC độ: Na2S2O3 tác dụng
với H2SO4
- Ảnh hưởng của nhiệt độ: : Na2S2O3 tác dụng với H2SO4
- Ảnh hưởng của kích thước hạt: CaCO3 tácdụng HCl
- Ảnh hưởng của xúc tác: phân hủy H2O2 có mặt MnO2
nước cất, 15ml dd H2SO4 0,1M; 15ml dd Na2S2 O3 0,1M, 25ml dd
H2SO4 0,1M
- 25ml dd Na2S2 O3 0,1M, 25ml
dd H2SO4 0,1M
- CaCO3 (2 mẩu có kích thước khác nhau), HCl
+ P1: để so sánh + P2: thêm FeCl3+ P3: thêm KSCN + P4: thêm KCl
- Ảnh hưởng của môi trường: 3 phần chứa cùng lượng K2Cr2O7
+ P1: để so sánh + P2: thêm NaOH + P3: thêm H2SO4
Trang 28SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 28
dung dịch chất điện li (điện phân một số dung dịch)
nước cất, đường
- Dụng cụ: 1 bộ 3 pin 1,5V, bóng
đèn 2,5V, 2 miếng đồng, cốc hoặc chậu thủy tinh
- ZnSO4 tác dụng NaOH
- NaOH thêm phenolphtalein tác dụng với HCl
- Hóa chất: Dung dịch các chất
Na2CO3, HCl, NaOH, ZnSO4, phenolphtalein
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ
CHƯƠNG 2 – NHÓM NITƠ
Bài 10: NITƠ - Điều chế N2, tính chất
không duy trì sự cháy,
sự sống của N2
- Hóa chất: dung dịch NaNO2
bão hòa, dung dịch NH4Cl bão hòa, nước
- Dụng cụ: chậu thủy tinh, nút
cao su có ống dẫn thủy tinh, đèn cồn, diêm, ống nghiệm, kẹp gỗ, giá sắt, que đóm, con châu chấu
Bài 11:
AMONIAC VÀ
MUỐI AMONI
- Điều chế NH3 và thử tính tan của nó
- Tác dụng của dung dịch NH3 với dung dịch
- Hóa chất: dung dịch NH3 đậm đặc, quì tím, phenolphtlein, dung dịch AlCl3, CuSO4, NH4Cl tinh thể
Trang 29SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 29
muối của kim loại mà hiđroxit không tan
- Nhiệt phân muối amoni
- Dụng cụ: bình cầu, eclen khô,
nút cao su có ống dẫn thủy tinh thẳng, đèn cồn, giá sắt, chậu nước, ống nghiệm, cặp gỗ
Bài 12: AXIT
NITRIC VÀ
MUỐI NITRAT
- Điều chế HNO3 và thử tính chất của nó
- Nhận biết gốc NO3-
- Hóa chất: KNO3 tinh thể,
H2SO4 đặc, mảnh đồng, than, sắt, KNO3 đặc, HCl đặc
- Dụng cụ : ống nghiệm chữ
nhân, giá sắt, đèn cồn, cốc đựng nước đá lạnh, ống nghiệm, bông tẩm xút
- Hóa chất: H3PO4 loãng, nước vôi trong
- Hóa chất: CH3COONa , vôi tôi xút(hỗn hợp cảu vôi sống tán nhỏ với xút rắn), nước, Cl2
- Dụng cụ: ống nghiệm to, nút
cao su, nút bấc, ống dẫn khí cong, đèn cồn, giá sắt, que đóm, kẹp gỗ
CHƯƠNG 6 – HIĐROCACBON KHÔNG NO
Trang 30SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 30
đèn cồn, ống nghiệm, kẹp gỗ, que đóm
Bài 43: ANKIN - Điều chế axetilen
- Axetilen cháy trong không khí
- Axetilen tác dụng với dung dịch KMnO4, Br2
- Axetilen tác dụng với dung dịch AgNO3/NH3
- Hóa chất: CaC2, H2O, dung dịch KMnO4, Br2, AgNO3/NH3
- Dụng cụ: ống nghiệm to, nút
cao su, ống dẫn khí cong, ống nghiệm, kẹp gỗ, diêm
CHƯƠNG 7 –HIĐROCACBON THƠM
NGUỒN HIĐROCACBON THIÊN NHIÊN
Bài 46: BENZEN
VÀ ANKYL
BENZEN
- Phản ứng thế benzen với HNO3 đặc
- Hóa chất: dung dịch CuSO4
5%, dung dịch NaOH 10%, glixerin, C2H5OH
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ
Bài 55: PHENOL - Tính axit yếu
- Phenol tác dụng với dung dịch Br2
- Hóa chất: C6H5OH kết tinh, dung dịch NaHCO3, Na2CO3, dung dịch Br2
- Hóa chất: C2H5OH 960, dây đồng, dung dịch AgNO3 3%,
NH3 5%, NaOH 10%, CuSO4
Trang 31SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 31
- Phản ứng tráng gương của anđehit
- Tính chất hóa học của axit axetic
- Hóa chất: CH3COOH, dung dịch Na2CO3, H2SO4, KMnO4, NaOH loãng, phenolphtalein, CuO, Mg
- Điều chế este hữu cơ:
C2H5OH tác dụng với
CH3COOH
- Hóa chất: C2H5OH 960, KBr tinh thể, H2SO4 đậm đặc, nước
- Hóa chất: dung dịch glucozơ
10%, CuSO4 5%, NaOH loãng 10%, AgNO3 3%, NH3 5%
CHƯƠNG 3 –AMIN AMINOAXIT PROTEIN
Bài 11: AMIN - Tính bazơ của anilin - Hóa chất: C6H5NH2, HCl đặc,
Trang 32SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 32
- Anilin phản ứng với dung dịch Br2
dung dịch NaOH, dung dịch Br2
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ
Bài 13: PEPTIT
VÀ PROTEIN
- Phản ứng Biure của protit
- Phản ứng xantoprotic
- Hóa chất: dung dịch protit,
NaOH đặc, HNO3 đặc, dung dịch CuSO4
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ,
đèn cồn
CHƯƠNG 5 –ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI
Bài 19: KIM LOẠI
- Kim loại Zn, Fe, Cu lần lượt tác dụng với dung dịch muối Pb(NO3)2, CuSO4, AgNO3
- Suất điện động của pin điện hóa
- Hóa chất: Al, Mg, Fe, Cu, Zn,
HCl, Pb(NO3)2, CuSO4, AgNO3, ZnSO4
- Dụng cụ: ống nghiệm, giá để
ống nghiệm, cốc thủy tinh, ống chữ U đựng NH4NO3, nguồn điện
Bài 23: SỰ ĂN
MÒN KIM LOẠI
- Sự ăn mòn kim loại trong dung dịch chất điện li
- Chống ăn mòn kim loại bằng chất hãm
- Hóa chất: Zn, H2SO4 loãng, CuSO4, Fe, HCl, urotophin
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ,
đèn cồn
Trang 33SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 33
Bài 24: ĐIỀU
CHẾ KIM LOẠI
- Điều chế kim loại bằng phương pháp thủy luyện: Fe, Cu, Al lần lượt tác dụng với CuSO4, AgNO3, Pb(NO3)2
- Điều chế kim loại bằng phương pháp nhiệt luyện: CuO tác dụng với H2
- Điều chế kim loại bằng phương pháp điện phân: điện phân dd CuCl2
- Hóa chất: Fe, Cu, Al, CuSO4, AgNO3, Pb(NO3)2, CuO, Zn, HCl, CuCl2, KI, hồ tinh bột, nước cất
- Hóa chất: Na, KClO3, MnO2,
H2O,HCl đặc, phenolphtalein,tinh thể các muối NaCl, KCl, LiCl
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ,
nút có ống dẫn, chậu nước, đèn cồn, giá sắt, muôi sắt,phễu nhỏ
có cuống vuốt nhọn, đóm, giấy lọc, chén sứ
Trang 34SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 34
Bài 33: NHÔM - Hiện tƣợng Al mọc
lông tơ: Al tác dụng với không khí
- Al tác dụng với H2O
- Al tác dụng với axit
- Al tác dụng với dung dịch NaOH
- Al tác dụng với CuSO4
- Phản ứng nhiệt nhôm
- Hóa chất: thanh nhôm, HgCl2,
H2O, HCl, H2SO4, HNO3, NaOH, CuSO4, Fe2O3, Mg
- Dụng cụ: giấy ráp, giấy lọc,
ống nghiệm, đũa thủy tinh, bông, ống nghiệm, cặp gỗ, hộp sắt nhỏ, đèn cồn, muôi sắt, cối sứ, cối sứ, giấy
- Hóa chất: HCl loãng, AlCl3,
NH3, NaOH, NH4Cl bão hòa,
- Hóa chất: Fe , H2SO4, HNO3 loãng và đặc
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ,
Trang 35SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 35
- Fe2+ tác dụng với dung dịch KMnO4
- Cu tác dụng với HCl
có mặt O2
- Cu tác dụng với AgNO3
- Hóa chất: Cu, dung dịch
H2SO4, HNO3 loãng và đặc, HCl, AgNO3
, Cl
Hóa chất: các dung dịch
NH4Cl, CrCl3, KCl, NaCl, BaCl2, Fe2(SO4)3, CuSO4, MgSO4, Na2SO4, NaNO3,
- Hóa chất: NaOH, dung dịch
chuẩn HCl, chỉ thị axit – bazơ
Trang 36SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 36
dịch NaOH bằng HCl hoặc ngược lại
- Dụng cụ: buret, pipet, bình tam
- Hóa chất: FeSO4, H2SO4, dung dịch chuẩn KMnO4
- Dụng cụ: buret, pipet, bình tam
giác
Những năm gần đây, điều kiện kinh tế xã hội phát triển, chúng ta đã có những điều kiện mới cho công tác thiết bị dạy học, đã có nhiều thiết bị dạy học mới cho các trường học Nhưng những khó khăn trong công tác trang thiết bị dạy học nói chung và TBDH hóa học nói riêng còn rất lớn Điều đó đòi hỏi việc xây dựng hệ thống TNHH và TBDH hóa học một mặt cần tranh thủ trang bị những thiết bị hiện đại, mặt khác cần nghiên cứu, thiết kế những thiết bị dạy học truyền thống, những dụng cụ thí nghiệm đơn giản, dễ chế tạo, giá thành hạ, đồng thời cần chú trọng đến những dụng cụ TBDH do giáo viên và học sinh tự làm Việc làm này càng có ý nghĩa và cần thiết đối với nền kinh tế hiện nay và nhất là những nơi còn khó khăn
2.1.2 Phương hướng nghiên cứu cải tiến dụng cụ và phương pháp tiến hành các thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông thành phố Đà Nẵng
Các TBDH ở trường phổ thông vô cùng phong phú và đa dạng về nguyên liệu chế tạo, hình thức cũng như chức năng trong quá trình sử dụng Thực trạng trang bị và sử dụng TBDH, cụ thể sử dụng dụng cụ thí nghiệm hóa học ở trường THPT thành phố Đà Nẵng như đã trình bày Mặc dù dụng cụ được trang bị nhiều nhưng đa số cứng nhắc về cách thức sử dụng và khó bảo quản, tốn hóa chất, phức tạp khi sử dụng… vì vậy việc nghiên cứu cải tiến chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm cho phù hợp với tình hình thực tế ở các trường ở thành phố Đà nẵng là hết sức cần thiết
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu cải tiến dụng cụ và phương pháp tiến hành các thí nghiệm hóa học nên theo các hướng chính sau:
Trang 37SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 37
1/ Tăng cường tính khoa học sư phạm
Tính khoa học sư phạm của các dụng cụ thí nghiệm thể hiện ở chỗ khi sử dụng chúng giáo viên và học sinh có thể thực hiện một cách an toàn, thành công các thí nghiệm đã quy định, giúp học sinh tiếp thu một cách vững chắc tri thức khoa học Cụ thể:
- Các dụng cụ thí nghiệm phải có kích thước, màu sắc thích hợp, đảm bảo yêu cầu trực quan, vệ sinh học đường, gây hứng thú trong học tập và tư duy độc lập của học sinh
- Phù hợp nội dung chương trình, sách giáo khoa, đặc điểm tâm sinh lí học sinh
- Phù hợp đặc điểm và các phương pháp dạy học hóa học
Thực hiện theo hướng này nhiều tác giả đã cải tiến dụng cụ điều chế hỗn hợp khí nổ hiđro và oxi, điện phân dung dịch muối ăn…
2/ Đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, mĩ thuật và tổ chức lao động có khoa học
Yêu cầu này thể hiện cải tiến các dụng cụ đảm bảo chế tạo hợp lí, chính xác,
có hình dáng, màu sắc hài hòa, thích hợp, gọn gàng… đảm bảo dễ thao tác thực hiện, dễ quan sát thí nghiệm Giúp giáo viên và học sinh tiết kiệm thời gian trên lớp, kích thích hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh bước đầu làm quen với việc vận dụng kiến thức khoa học và đời sống
Theo hướng này, một số thí nghiệm đã được cải tiến các dụng cụ như dụng
cụ chưng cất chất lỏng, điện phân dung dịch muối ăn, tổng hợp amoniac trong phòng thí nghiệm…
3/ Chế tạo các dụng cụ thí nghiệm có tính đa năng
Tính “đa năng” của dụng cụ thí nghiệm thể hiện ở chỗ có thể sử dụng một dụng cụ cho nhiều thí nghiệm khác nhau Muốn vậy các dụng cụ thí nghiệm phải có hình dáng, kích thước thích hợp phù hợp nhau, nhờ vậy giáo viên và học sinh có thể lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm thuận lợi, nhanh chóng, thành công
Thực hiện theo hướng này một số dụng cụ có thể thực hiện nhiều thí nghiệm nên số dụng cụ giảm đi, sẽ có lợi nhiều mặt và hiệu quả giáo dục được nâng cao
Trang 38SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 38
Một số dụng cụ được cai tiến theo hướng này như thí nghiệm điện phân nước, điều chế và nhận biết khí hiđro sunfua…
4/ Phù hợp thực tiễn và điều kiện kinh tế xã hội của các trường phổ thông
Hiện nay, nhu cầu trang bị và sử dụng TBDH nói chung và dụng cụ thí nghiệm nói riêng ngày một nhiều Các trường THPT thành phố Đà Nẵng có điều kiện kinh tế trang bị những TBDH truyền thống, hiện đại phục vụ cho quá trình dạy học Tuy nhiên cũng đáng quan tâm đến việc nghiên cứu cải tiến TBDH từ những vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm, dễ chế tạo, thuận lợi trong việc bảo quản cũng như sử dụng Tổ chức nghiên cứu và triển khai theo hướng này chẳng những tận dụng được các nguồn đầu tư một cách hợp lí, đáp ứng kịp thời nhu cầu tại chỗ về DCTN của nhà trường phục vụ cho dạy học mà còn nhằm mục đích quan trọng: góp phần giáo dục học sinh về óc sáng tạo, lòng say mê, óc tò mò khoa học, sự tháo vát thông minh, rèn luyện cho các em ý thức tiết kiệm, tôn trọng lao động Mặt khác làm cho giáo viên say mê với công việc, gắn dạy học với nghiên cứu khoa học, tìm tòi sáng tạo, làm cho giáo viên tăng thêm ý thức cần kiệm, tinh thần trách nhiệm, nghiêm túc tìm tòi biện pháp khắc phục khó khăn để hoàn thành những quy định trong chương trình môn học
2.1.3 Hoàn thiện một số dụng cụ và phương pháp sử dụng một số thí nghiệm trong dạy học hóa học lớp 10 ở trường phổ thông thành phố Đà Nẵng [11]
Hóa học là môn học thực nghiệm, lý thuyết được đúc kết từ thực tế, do đó muốn lĩnh hội kiến thức sâu sắc thì phải sử dụng thí nghiệm hóa học cụ thể để chứng minh cho lý thuyết
- Thực hiện thí nghiệm:
Trang 39SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 39
Trên các ô sẽ thực hiện các thí nghiệm lƣợng nhỏ đơn giản nhƣ: thí nghiệm tạo chất kết tủa, điện phân dung dịch…
Lƣợng hóa chất sẽ lấy rất ít, chừng vài giọt
Các thí nghiệm có chất màu sẽ đƣợc thực hiện trên các ô vuông trắng Các thí nghiệm tạo chất kết tủa trắng đƣợc thực hiện trên các ô vuông đen
b/ Dụng cụ điện phân muối ăn
Trang 40SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Anh - 08SHH Trang 40
Chú ý: để có nguồn điện tốt nên dùng pin mới, lấy tờ giấy có chiều dài bằng
chiều dài 3 cục pin quấn thật chặt Dùng 2 miếng bông để cố định hai đầu của dây dẫn với 2 đầu của bộ pin, lấy dây cột thật chặt
c/ Dụng cụ thực hiện tính dẫn điện của dung dịch chất điện li
- Dụng cụ: nguồn điện là 1 bộ 3 pin 1,5V Dùng hai miếng đồng hình chữ
nhật kích thước 1cm x 3cm làm điện cực
- Thực hiện thí nghiệm: thay các dung dịch điện phân và quan sát hiện tượng Chú ý:
- Nên dùng pin có công suất lớn
- Hai điện cực cắm qua một miếng nhựa tròn đậy trên miệng cốc
- Khoảng cách giữa 2 điện cực không được xa quá
- Sau ít lâu đèn sẽ không sáng vì có nhiều bọt khí bám ở điện cực
- Mỗi lần thay đổi dung dịch điện li phải rửa hai điện cực thật sạch bằng nước cất
Ngoài ra, trong phòng thí nghiệm hóa học, một số dụng cụ được dùng trong hầu hết các thí nghiệm trở thành những dụng cụ đơn giản, truyền thống Những dụng cụ được chế tạo và trang bị cơ bản như: giá thí nghiệm bằng sắt, cặp ống nghiệm bằng kim loại, phễu lọc, phễu chiết, ống sinh hàn bằng thủy tinh…Đó là dụng cụ có tính “đa năng”, sử dụng thuận tiện nhưng đắt tiền.Nhiều tác giả đã nghiên cứu và đề xuất nhiều cải tiến để tạo ra những dụng cụ đơn giản, dễ chế tạo,
sử dụng thuận tiện, giá thành hạ như: bộ giá thí nghiệm “đa năng” được làm bằng
gỗ hoặc bằng sứ, kẹp ống nghiệm bằng hai lá thép ép vào nhau, bằng tre…