BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN NGUYỄN NHƯ TRUNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, XÁC ĐỊNH SỰ CÓ MẶT CỦA PROTEIN 125 TRONG BỆNH DỊCH TẢ LỢN TẠI HUYỆN KRÔNG PĂK
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
NGUYỄN NHƯ TRUNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, XÁC ĐỊNH SỰ CÓ MẶT CỦA PROTEIN 125 TRONG BỆNH DỊCH TẢ LỢN TẠI HUYỆN
KRÔNG PĂK TỈNH ĐĂK LĂK
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
NGUYỄN NHƯ TRUNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, XÁC ĐỊNH SỰ CÓ MẶT CỦA PROTEIN 125 TRONG BỆNH DỊCH TẢ LỢN TẠI HUYỆN
KRÔNG PĂK TỈNH ĐĂK LĂK
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.62.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS CAO VĂN HỒNG
BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu luận văn Thạc sĩ ngành Thú y của tôi
Các số liệu, kết quả có trong luận văn này là trung thực và chưa ñược ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Người cam ñoan
Nguyễn Như Trung
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành đề tài này, tơi xin chân thành cảm ơn:
Lãnh Đạo Trường Đại Học Tây Nguyên,
Lãnh Đạo Phịng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại Học Tây Nguyên
Lãnh Đạo Khoa Chăn nuơi Thú y, cùng các thầy cơ trong khoa Chăn nuơi Thú y Trường Đại học Tây Nguyên,
Ban Thú y các xã Ea Kuăng, Ea Phê, Hịa An,… cùng Lãnh đạo Trạm Thú y huyện Krơng Păk tỉnh Đăk Lăk,
Phịng Thống kê huyện Krơng Păk - tỉnh Đăk Lăk,
Phịng chẩn đốn, xét nghiệm Cơng ty Nam Lâm – TP.HCM,
Kỹ thuật viên phịng thí nghiệm Bộ mơn thú y Chuyên ngành và Bộ mơn Cơ sở thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tơi thực hiện đề tài này
Tơi xin bày tỏ lịng chân thành cảm ơn tới sự giúp đỡ hướng dẫn tận
tình của Thầy Tiến sĩ Cao Văn Hồng đã giúp đỡ tơi trong suốt quá trình
thực hiện đề tài
Cuối cùng tơi xin cảm ơn gia đình, người thân cùng bạn bè đã giúp
đỡ động viên tơi trong suốt quá trình học và thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Đầu mục Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2
1.1 Những nghiên cứu về bệnh dịch tả lợn 2
1.1.1 Ở thế giới 2
1.1.2 Ở trong nước 4
1.2 Dịch tễ học bệnh dịch tả lợn 8
1.2.1 Căn bệnh 8
1.2.2 Loài mắc bệnh 11
1.2.3 Lứa tuổi và mùa xảy ra bệnh 12
1.2.4 Đường xâm nhập và lây lan 12
1.2.5 Cơ chế sinh bệnh học 13
1.2.6 Triệu chứng của bệnh dịch tả lợn 15
1.2.6.1 Thể quá cấp tính 15
1.2.6.2 Thể cấp tính 15
1.2.6.3 Thể mãn tính 16
1.2.6.4 Thể không ñiển hình (thể tiềm ẩn) 17
1.2.7 Bệnh tích của bệnh dịch tả lợn 18
Trang 61.2.7.1 Bệnh tích đại thể 18
1.2.7.2 Bệnh tích vi thể 20
1.3 Chẩn đốn bệnh 20
1.3.1 Chẩn đốn virus học 21
1.3.1.1 Tiêm động vật thí nghiệm 21
1.3.1.2 Phương pháp tăng cường độc lực của virus Newcastle 21
1.3.1.3 Thí nghiệm trung hịa trên thỏ 22
1.3.2 Chẩn đốn huyết thanh học 22
1.3.2.1 Phản ứng miễn dịch đánh dấu ELISA 22
1.3.2.2 Phản ứng kết tủa khuyếch tán trên thạch 23
1.3.2.3 Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp 23
1.3.2.4 Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gián tiếp 23
1.3.2.5 Phản ứng miễn dịch huỳnh quang 24
1.3.3 Kỹ thuật PCR: polymerase chain reaction 25
1.3.4 Chẩn đốn bằng phản ứng hĩa học màu 25
1.4 Phịng bệnh 25
1.4.1 Khi chưa cĩ dịch 25
1.4.2 Khi cĩ dịch xảy ra 25
1.4.3 Phịng bệnh bằng vaccine hiện nay 25
1.5 Kháng nguyên HCV.Ag (P125) 27
CHƯƠNG 2 29
ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 29
Trang 72.3.2 Phương pháp điều tra dịch tễ học 29
3.3.3 Phương pháp chọn mẫu 29
2.3.4 Sơ lược về địa bàn chọn mẫu điều tra 29
2.3.5 Lấy mẫu bệnh phẩm và bảo quản 30
2.3.6 Các phương phương pháp chẩn đốn bệnh 30
2.4 Phương pháp tính tốn số liệu 31
2.5 Xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 3 32
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 32
3.1 Một số đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Krơng Păk 32
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 33
3.1.2.1 Tình hình chăn nuơi lợn tại huyện Krơng Păk 34
3.1.2.2 Cơng tác thú y 35
3.2 Kết quả nghiên cứu dịch tễ học 38
3.2.1 Kết quả nghiên cứu trên đàn lợn mắc bệnh 38
3.2.1.1 Xác định tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn 38
3.2.1.2 Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi 39
3.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh theo giống 41
3.2.3 Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ tử vong ở các lứa tuổi 43
3.3 Kết quả nghiên cứu về triệu chứng, bệnh tích 44
3.3.1 Kết quả xác định triệu chứng của bệnh dịch tả lợn 44
3.3.2 Kết quả bệnh tích của bệnh dịch tả lợn 46
3.4 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh theo thời gian 49
3.4.1 Kết quả xác định hệ số năm dịch 49
3.4.2 Kết quả xác định hệ số mùa dịch 51
Trang 83.5 Kết quả chẩn đốn bệnh dịch tả lợn thơng qua xác định P125 53
3.5.1 Kết quả chẩn đốn HVC.Ag (P.125) trên những lợn nghi 54
3.5.2 Kết quả chẩn đốn HVC.Ag (P.125) theo lứa tuổi 55
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
Kết luận 57
Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
A - TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 59
B - TÀI LIỆU NƯỚC NGỒI 61
C - TÀI LIỆU THAM KHẢO TỪ CÁC Website 61
MỘT SỐ PHỤ LỤC
- Mẫu phiếu điều tra và mổ khám
- Qui trình xét nghiệm ELISA tìm P125
- Một số hình ảnh chẩn đoan bệnh
- Một số ứng dụng phần mền dịch tễ Win Episcope 2.0
- Giây xác nhận
Trang 9DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
- AAHL : Australian Animal Health Laboratory
- AND : Acid deoxyribonucleic
- ARN : Acid ribonucleic
- CPE : Cytopathologenie effect
- CFE : Case fatality rate
- DTL : Dịch tả lợn
- ĐDL : Đóng dấu lợn
- EC : European Community
- ELISA : Enzyn linked immuno sorbent assay
- END : Exaltation of Newcastle Disease virus
- FATST : Fuorescent antibody tissue section technique
- FACCT : Fluorescent antibody cell culture technique
- MCAS : Monoclonal antibodies
- PCR : Polymerasa chain reaction
- SMEDI : Stillbirth, mummification, embryonic death
and infertility of swine
- TCTD : Tissue culture infected dose
- TCID50 : Tissue Culture Infectious Dose50
- THT : Tụ huyết trùng
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các loại vaccin thường sử dụng tại Việt Nam 27
Bảng 3.1 Tổng số đàn lợn nuơi và sản lượng thịt của huyện 34
Bảng 3.2 Tổng đàn lợn tại các năm ở các xã nghiên cứu 35
Bảng 3.3 Điều tra về mạng lưới thú y huyện Krơng Păk 36
Bảng 3.4 Kết quả tiêm phịng bệnh dịch tả lợn từ 2005 - 2010 37
Bảng 3.5 Tỷ lệ mắc bệnh DTL từ năm 2005 đến 2010 38
Bảng 3.6 Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi 39
Bảng 3.7 Tỷ lệ mắc bệnh DTL theo giống 41
Bảng 3.8 Tỷ lệ tử vong qua các lưa tuổi lứa tuổi ở các năm 43
Bảng 3.9 Triệu chứng của bệnh dịch tả lợn 45
Bảng 3.10 Bệnh tích của bệnh dịch tả lợn 47
Bảng 3.11 Hệ số năm dịch của bệnh DTL từ 2005 - 2009 50
Bảng 3.12 Hệ số mùa dịch 51
Bảng 3.13 Chi tiết lây mẫu và kết quả xét nghiệm 53
Bảng 3.14 Kết quả chẩn đốn HVC.Ag (P.125) trên những lợn 54
Bảng 3.15 Kết quả chẩn đốn HVC.Ag (P.125) trên các đối 55
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
Biểu ñồ 1 Tỷ lệ mắc bệnh DTL theo lứa tuổi 40
Biểu ñồ 2 Tỷ lệ mắc bệnh DTL theo giống 42
Đồ thị 1 Hệ số mùa dịch 52
Hình 1 Lợn sốt bỏ ăn, viêm kết mạc mắt 46
Hình 2 Lợn bị liệt chân sau 46
Hình 3 Lợn tiêu chảy 46
Hình 4 Da xuất huyết lấm tấm 46
Hình 5 & hình 6 Sảy thai ở lợn nái 46
Hình 7 Hạch màng treo ruột sưng, xuất huyết 47
Hình 8 Hạch amydan sưng xuất huyết 47
Hình 9 & hình 10 Thận sưng, xuất huyết ñinh ghim 48
Hình 11 Thận sưng, xuất huyết bể thận 48
Hình 12 Bàng quang xuất huyết 48
Hình 13 Sụn tiểu thiệt xuất huyết 48
Hình 14 Lách nhồi huyết hình răng cứa 48
Hình 15 Loét hình cúc áo van hồi manh tràng 49
Hình 16 Loét có bờ ở ruột 49
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Chăn nuôi lợn ngày càng theo hướng nạc hóa và qui mô chăn nuôi ñang dần theo hướng tập trung trang trại, bên cạnh chăn nuôi nông hộ ñã ñược áp dụng rộng rãi tại nhiều ñịa phương trong toàn tỉnh Đăk Lăk Trong
ñó, huyện Krông Păk là ñịa phương ñược ñánh giá như một ñiển hình và có tổng ñàn lợn dẫn ñầu cả tỉnh Tuy nhiên, hiện nay người chăn nuôi tại huyện vẫn gặp nhiều vấn ñề khó khăn trong việc phòng một số bệnh truyền nhiễm trong ñó có bệnh dịch tả lợn (DTL) Theo nghiên cứu của nhiều tác giả trên phạm vi rộng nhiều năm trên nhiều tỉnh ñã cho thấy hiện nay bệnh DTL xảy
ra phức tạp, âm ỉ và lẻ tẻ nhưng thường xuyên ở các cơ sở chăn nuôi tập trung và chăn nuôi hộ gia ñình mà không trở thành dịch lớn như một số bệnh khác Thực tế theo báo cáo của Chi cục thú y tỉnh Đăk Lăk thì bệnh DTL vẫn còn trong danh sách các bệnh phải tiêm phòng theo lịch hàng năm Vấn ñề này ñồng nghĩa với việc người chăn nuôi và các cơ quan chức năng vẫn thường xuyên ñối mặt với bệnh DTL trên vùng
Những vấn ñề nêu trên cho thấy rằng việc nghiên cứu dịch tễ của bệnh DTL tại huyện Krông Păk – tỉnh Đăk Lăk không kém phần quan trọng Do
ñó chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài: “Nghiên cứu một số ñặc ñiểm dịch
tễ học, xác ñịnh sự có mặt của protein 125 trong bệnh dịch tả lợn tại huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk”
2 Mục tiêu của ñề tài
- Xác ñịnh một số ñặc ñiểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn tại huyện Krông Păk – tỉnh Đăk Lăk
- Xác ñịnh ñược chính xác sự có mặt của virus DTL trên ñàn lợn nuôi trong khu vực nghiên cứu thông qua việc phát hiện kháng nguyên HVC.Ag (P.125)
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Bệnh dịch tả lợn cổ ñiển (Classical Swine fever, Hog Cholera, Peste porcine classique, Чyмa Cвuнeй, Trư Ôn) là một bệnh truyền nhiễm do virus gây nên và lây lan rất nhanh ở loài lợn Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết và tử vong cao trên những ñàn lợn nhạy cảm Những ñặc ñiểm của bệnh DTL là bại huyết, xuất huyết, hoại tử ở nhiều cơ quan ñặc biệt là ñường tiêu hóa, sảy thai trên lợn nái sinh sản
1.1 Những nghiên cứu về bệnh dịch tả lợn
1.1.1 Ở thế giới
Cho ñến nay việc nghiên cứu về bệnh dịch tả lợn trên thế giới và trong khu vực ñã có nhiều nhà khoa học quan tâm Tuy nhiên, về vấn ñề nguồn gốc của bệnh vẫn chưa ñược xác ñịnh chính xác, còn tồn tại hai quan ñiểm lớn
Thứ nhất một số tác giả cho rằng bệnh DTL xảy ra ñầu tiên tại Tenneze vào năm 1980, sau ñó bệnh xuất hiện ở bang Ohio (bắc Mỹ) vào năm 1833 và lan rộng khắp nước Mỹ Năm 1822 bệnh xuất hiện tại Pháp, năm 1893 xuất hiện tại Đức (Hanon,1957; Dahle.J,1992) [28]
Thứ hai, các tác giả khác lại cho rằng bệnh DTL xuất hiện ñầu tiên tại Anh vào năm 1862, sau ñó lan ra các nước châu Âu Năm 1899 bệnh xảy ra tại Nam Mỹ và ñến năm 1900, bệnh xuất hiện tại Nam Phi [03]
Từ lâu, DTL ñược coi là bệnh ñáng sợ nhất nên nhiều nước ñã có những chương trình nhằm khống chế bệnh, Nhật Bản là một trong những nuớc ñã thực hiện chương trình thanh toán và ñã thành công (Shiminiza và
CS, 1999; Phạm Hồng Sơn, 2004) [38]
Cho ñến nay một số nước trên thế giới ñã thanh toán ñược bệnh DTL như Australia, Canada, England, Ireland, New zealand, Switzerland, các nước thuộc bán ñảo Scandinave (Swenden, 1994, Finland, 1917) và Japan (Braund, 1986, Phạm Hồng Sơn, 2004) [38]
Tuy vậy, gần ñây bệnh DTL vẫn còn xảy ra ở nhiều nước EC gây thiệt hại kinh tế lớn: Ở Hà Lan 1997 - 1998 kéo dài 14 tháng làm 429 ñàn lợn bị
Trang 14nhiễm và 13 trại lợn bị giết hủy, thiệt hại đến 02 tỷ USD Cịn ở nước Đức, trong thời gian từ năm 1990 - 1998 đã cĩ 424 vụ dịch DTL ở lợn nuơi và một
số lớn trường hợp xảy ra cũng được ghi nhận ở lợn rừng trong thời gian đĩ hầu hết tất cả bang đều bị nhiễm Nghiên cứu dịch tễ học và sinh học phân tử cho thấy 28% số vụ dịch tả lợn là bùng nổ xuyên phát Đại đa số là do trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp xúc với lợn rừng mắc bệnh hoặc do cho ăn thức ăn thừa từ các nhà hàng Lợn rừng bị cảm nhiễm vẫn cịn là mối nguy cơ chính đối với lợn nuơi [38] Mesplede và Albina (1997) cho thấy 46% số ổ dịch cĩ nguồn gốc từ lợn rừng và 19% từ thức ăn thừa Năm 1997, dịch xảy ra tại Đức, Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha và Bỉ làm chết và phải tiêu hủy 07 - 08 triệu con lợn [07]
Các tác giả khi nghiên cứu về bệnh DTL đều cho thấy virus DTL là một loại virus duy nhất, nhưng độc lực của nĩ khác nhau khá rộng [03]
Việc nghiên cứu cũng phát triển theo các hướng khác nhau, như nghiên cứu của Shimizu M.Simizu Y (1985) về đặc điểm của virus DTL phân lập được gần đây ở Nhật Bản và tác dụng phịng bệnh của vacxin GP đối với lợn cảm nhiễm các chủng mới phân lập được [26] Nghiên cứu của J.Dahle, B.Locus và HRFrey về biến động sự phát triển kháng thể trung hịa khi tiêm truyền các chủng virus gây bệnh tiêu chảy trên bị và dịch tả lợn cổ điển Szent.T., Ivan.I (1985) nghiên cứu về bệnh DTL cổ điển và phương pháp phịng bệnh và thanh tốn bệnh, các nghiên cứu trên đã cho những kết quả mới về virus dịch tả lợn [28]
Ngày nay việc chẩn đốn virus DTL cần nhanh chĩng và chính xác nên đã cĩ nhiều tác giả đi sâu vào vấn đề nghiên cứu phương pháp chẩn đốn dựa vào các kỹ thuật hiện đại như chẩn đốn sự lây nhiễm của virus truyền bệnh ở lợn bằng đơn giản hố RT-PCR (Tomasz Stadejek, 2000) [37], hoặc
sử dụng phép phân tích RT-PCR Tác giả: G R Risatti, J D Callahan, W
M Nelson, and M V Borca (2000) [36] Jiafu Wang; Chuyu Zhang; Ning Wang; Liezhen Fu (2000), chọn dịng và phân tích trình tự của gen EO của virus dịch tả lợn thuộc chủng Trung Quốc đã bị thỏ hố và chủng Shimen cĩ
Trang 15tính gây nhiễm mạnh [33]
1.1.2 Ở trong nước
Ở Việt Nam, bệnh DTL được phát hiện đầu tiên vào năm 1923 – 1924 bởi Houdemer [17] Cho đến nay bệnh DTL vẫn cịn tồn tại và phổ biến và luơn uy hiếp nghiêm trọng đối với ngành chăn nuơi trong nước [06]
Theo Đào Trọng Đạt và cộng sự (1985) số lợn chết hàng năm do bệnh DTL bình quân từ 10 - 20% tổng đàn lợn nuơi, trong đĩ lợn chết do bệnh DTL chiếm 60% [11]
Năm 1960 bệnh dịch tả lợn xảy ra ở các tỉnh Nghệ An, Phú Thọ do việc vận chuyển gia súc bệnh từ các vùng ngồi vào Đến năm 1968 là năm
cĩ số lượng ổ dịch xảy ra nhiều nhất ở miền Bắc cĩ tới 481 ổ dịch (Lê Độ, 1968) [13]
Năm 1973, bệnh DTL xảy ra trên 11 trại chăn nuơi quanh Sài Gịn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) Năm 1974, bệnh DTL xảy ra ở 17 tỉnh phía Bắc gây thiệt hại hơn 04 vạn con lợn, đến năm 1981 ở 15 tỉnh thuộc Nam Bộ
cĩ dịch gây chết 145.078 con lợn [12]
Theo Nguyễn Bá Huệ (1983) tại tỉnh Hải Hưng bệnh DTL làm chết
227 lợn nuơi, trong đĩ cĩ 74 lợn con theo mẹ, 128 lợn cai sữa, 16 lợn thịt và
9 lợn nái [15] Năm 1990 bệnh xảy ra trên 1.800 con lợn tại lị mổ Huỳnh Thúc Kháng - tỉnh Thừa Thiên Huế (Cục Thú y, 1990)
Trong những năm gần đây đã cĩ nhiều tác giả trong nước đi vào nghiên cứu bệnh DTL ở nhiều gĩc độ khác nhau như những nghiên cứu về dịch tễ học của bệnh, các nghiên cứu về đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm phịng hay các phương pháp chẩn đốn bệnh bằng các kỹ thuật hiện đại đã cho nhiều kết quả
Theo nghiên cứu về dịch tễ học bệnh DTL của Bùi Quang Anh (2000) cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh DTL ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, từ năm 1994 –
1998 tỷ lệ nhiễm cao nhất ở tỉnh Thanh Hĩa (2,6 – 3,4%) và thấp nhất ở tỉnh Thừa Thiên Huế (0,82 – 1,55%) [03]
Tại khu vực miền Trung trong vịng 10 năm (1984 – 1994) theo báo
Trang 16cáo của Trung tâm kiểm dịch miền Trung (1994) thì bệnh DTL chỉ phát ra thành dịch ở các tỉnh Bắc miền Trung, còn ở khu vực Trung và Nam miền Trung chỉ thấy xuất hiện lẻ tẻ ở các cơ sở chăn nuôi tập trung và chăn nuôi
hộ gia ñình
Nguyễn Thị Phương Duyên và cộng sự (1999) khi nghiên cứu xác ñịnh vai trò virus DTL trong hội chứng sốt, bỏ ăn ở lợn tại một số tỉnh miền Trung cho biết từ năm 1995 - 1997 tại các tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam ñều có lợn bị bệnh dịch tả, bệnh xảy ra lẻ tẻ nhưng thường xuyên [08]
Nguyễn Hạnh Chi (1999), xác ñịnh vai trò virus DTL trong hội chứng tiêu chảy kéo dài trong các trại chăn nuôi tập trung tại An Giang bằng phản ứng ELISA cho kết quả 14,81% dương tính với kháng nguyên P125 [07]
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả thuộc Phân viện Thú y Miền Trung (2000) cho thấy tỷ lệ nhiễm DTL mãn tính tại các tỉnh Duyên Hải Miền Trung là 46,87% Trong ñó lợn dưới 20kg chiếm 60%, lợn từ 21 – 50
kg chiếm 38,29% [09]
Kết quả xét nghiệm ELISA bằng kháng thể ñơn dòng ñể phát hiện kháng nguyên P125 ñược ghi nhận từ Trung tâm Thú y vùng Cần Thơ (1999 – 2000), cho biết ở những ñàn lợn khỏe mạnh tỷ lệ lợn có mang mầm bệnh biến ñộng từ 0 – 4,17% Điều này cho thấy lợn hoàn toàn khỏe mạnh nhưng mang trùng cũng là nguyên nhân của những vụ dịch [07]
Nguyễn Tiến Dũng, Hồ Thu Hương, Ngô Thanh Long (2002) ñã nghiên cứu về mối liên hệ giữa miễn dịch và sự mang trùng virus DTL
Phạm Hồng Sơn (2004) ñã nghiên cứu sự phản ứng ngăn trở hồng cầu gián tiếp trong việc phát hiện kháng nguyên DTL
Nguyễn Cẩm Tuyền (2003) thực hiện ñề tài “Khảo sát ñặc ñiểm dịch
tễ và bước ñầu xây dựng bản ñồ dịch tễ bệnh DTL tại tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu” cho biết từ năm 2000 - 2003 ñều có bệnh DTL xảy ra và rút ra kết luận bệnh DTL là bệnh mang tính ñịa phương (endemic) và xảy ra với qui mô nhỏ Cũng theo tác giả, trong thời gian từ tháng 08/2001 ñến tháng 06/2003
Trang 17đã phát hiện 48 ổ dịch mắc bệnh DTL, xảy ra trên 06 huyện và tỉ lệ lợn dương tính với P125 ở hộ chăn nuơi ở lợn nái là 10%, ở lợn con là 24,13% và
ở lợn thịt là 45,86% Số ổ dịch ở mùa mưa chiếm 35,58% so với ở mùa khơ
là 60,42%, những ổ bệnh xảy ra ở phần lớn hộ khơng tiêm phịng DTL là 81,25%
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Cẩm Tuyền (2003) khi xét nghiệm 30 mẫu bệnh phẩm lợn cĩ lâm sàng và bệnh tích nghi ngờ DTL, tỉ lệ dương tính với P125 (23,33%), nghi ngờ (3,33%), âm tính (73,34%) Xét nghiệm 10 mẫu bệnh phẩm lợn cĩ dáng vẻ bình thường và bệnh tích nghi ngờ DTL, tỉ lệ dương tính với P125 (40%), nghi ngờ (10%), âm tính (50%) Biểu hiện lâm sàng trên lợn cĩ kết quả dương tính với P125 là sốt hơn 410C (100%), da xuất huyết đám hoặc sung huyết (57,14%), mắt viêm cĩ ghèn (71,43%), phân táo (71,43%) và đi đứng xiêu vẹo (71,43%) Bệnh tích ghi nhận ở nhĩm lợn
cĩ biểu hiện bên ngồi bình thường nhưng dương tính với P125: thận sưng, xuất huyết điểm hoặc đốm (100%), lách nhồi huyết (100%), hạch amidan sưng (75%) và bàng quang xuất huyết (25%) [23]
Phạm Phong Vũ (2004) khi thực hiện đề tài “Ứng dụng kỹ thuật RT- nPCR trong một ống để chẩn đốn bệnh dịch tả lợn” tại Trung tâm Thú Y Vùng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết kỹ thuật RT- nPCR trong một ống cĩ thể phát hiện được lượng virus DTL đã phân lập được ở Việt Nam trên tế bào PK15A là 0,32 TCID50/100 µl, gần tương tự như virus chuẩn dịng Weybridge là 0,4 TCID50/100 µl được cung cấp bởi AAHL Kỹ thuật RT- nPCR trong một ống phát hiện được virus DTL với tỷ lệ cao trong máu kháng đơng, bạch cầu, hạch bạch huyết màng treo ruột, lách và hạch hạnh nhân Kết quả cho thấy cĩ sự thống nhất nhiều về khả năng phát hiện virus DTL trên mẫu bệnh phẩm nghi ngờ bệnh DTL giữa kỹ thuật RT- nPCR trong một ống và phương pháp chuẩn với trị số thống kê kappa là 0,701 (độ tin cậy 95%), kỹ thuật này cĩ thể phát hiện được virus DTL trong bạch cầu của lợn nái mang trùng
Trần Thị Dần và cộng sự đã nghiên cứu biểu hiện lâm sàng và bệnh
Trang 18tích của bệnh dịch tả heo trên heo giết thịt tại lò mổ vào năm 2003
Trương Quang, Trần Văn Chương (2008) nghiên cứu một số ñặc ñiểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại tỉnh Kon Tum từ năm 2004 - 2006, cho kết quả tỷ lệ lợn bị bệnh dịch tả hàng năm là 1,68% cao nhất vào năm 2006 (27,76%), tiếp ñến năm 2004 (26,88%) ít nhất năm 2005 (19,93%), nghiên cứu cũng cho thây tỷ lệ mắc có sự chênh lệch ở các vùng sinh thái [27]
Mai Thế Phong và Trương Quang (2006) khi thực hiện khảo sát tình trạng mang trùng virus dịch tả lợn và ñáp ứng miễn dịch sau khi tiêm vacxin phòng bệnh cho ñàn lợn ở Quảng Trị, cho thấy tỷ lệ mang virus theo vùng sinh thái là khác nhau, vùng ñồng bằng 19,23%, trung du 27,42% và vùng núi là 32,22%
Nguyễn Thị Thu Hồng (2003) “Xác ñịnh thời ñiểm tiêm vacxin dịch tả lợn lần ñầu thích hợp cho lợn con từ ñàn nái của các trại chăn nuôi lợn sinh sản quy mô lớn” Bằng việc sử dụng phương pháp trung hòa nối kết enzyme (Neutralization Peroxidase Linked Assay - NPLA) và thử nghiệm công cường ñộc (Protective Test) ñể ñánh giá thí nghiệm, cho kết luận là việc tiêm phòng vào lúc 01 tuần tuổi sẽ có 80,3% số lợn con bị ảnh hưởng bởi kháng thể thụ ñộng [34]
Cũng trên ñối tượng lợn con một số tác giả thuộc Chi cục thú y Tiền Giang (2008) ñã nghiên cứu ñề tài “Khảo sát ñáp ứng miễn dịch ở heo con sau khi tiêm phòng vắc-xin dịch tả” tại Tiền Giang ñã cho một số kết quả ñáng ghi nhận [39]
Gần ñây một số tác giả ñã phân tích di truyền virus DTL phân lập từ tỉnh Tiền Giang kết quả cho biết các chủng virus này có sự tương ñồng với chủng virus tham khảo ở Việt Nam, Trung Quốc và Lào chưa tìm thấy sự tương ñồng giữa các chủng virus DTL thực ñịa với chủng virus của vacxin nhược ñộc [39]
Đến nay nhiều nghiên cứu trong nước cho nhận xét rằng do công tác tiêm phòng vacxin phòng bệnh DTL và áp dụng một số biện pháp phòng bệnh tốt nên ñến nay bệnh DTL không gây chết hàng loạt như trước kia mà
Trang 19chỉ xảy ra âm ỉ, lẻ tẻ, triệu chứng bệnh tích không ñiển hình, số ổ dịch giảm một nửa, số con chết giảm 3 lần và chủ yếu tập trung ở lợn con [02]
Những thông tin về dịch tễ bệnh vẫn thường xuyên ñược các cơ quan
có chức năng báo cáo, ñiều ñó càng khẳng ñịnh thêm về tình hình diễn biến của bệnh DTL ở nước ta vẫn còn phức tạp và ñang còn là vấn ñề cần quan tâm, nó gây thiệt hại ñáng kể cho chăn nuôi lợn trên diện rộng
Theo báo cáo của Cục thú y năm 2000, cả nước ñã có 25 tỉnh thành có DTL với 14.280 con mắc bệnh, số con chết phải xử lý là 12.150 con [04]
Chi cục thú y Hà Tĩnh (2009) cho biết từ 31/01/2009 ñến 06/02/2009, bệnh DTL xảy ra ở xã Đức Lạng, huyện Đức Thọ làm chết 278 con lợn Ngày 03/02/2009 bệnh DTL xảy ra tại Công ty cổ phần chăn nuôi Di Linh tỉnh Lâm Đồng phải tiêu hủy gần 200 con lợn Ngày 09/4/2009, Chi cục Thú
y tỉnh Nghệ An cho biết ổ dịch tả lợn ñã xuất hiện tại xã Nghi Kim (TP Vinh) làm 53 con lợn mắc dịch ốm và chết
1.2 Dịch tễ học bệnh dịch tả lợn
1.2.1 Căn bệnh
Năm 1885 Salmon và Smith ñã phân lập ở lợn mắc bệnh DTL ñược
một loài vi khuẩn bắt màu Gram âm và ñặt tên là Bacillus cholerasuis, các
ông ñã cho nó là nguyên nhân gây bệnh
Đến năm 1947 Holmes ñã xác ñịnh ñược căn bệnh là một loại virus có
khả năng qua lọc nhỏ nhất và ñặt tên là Tortoisuis
Cho ñến nay Tortoisuis ñã ñược các nhà khoa học xác minh là thành viên của họ Togarividae, thuộc giống Pestivirus cùng với virus gây bệnh tiêu
chảy ở bò (Bovine disease virus) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border diarrhea virus) [07]
Khi nghiên cứu về cấu trúc phân tử của Pestivirus cho thấy bộ gen
(genomes) của chúng tương ứng với virus thuộc họ Flaviridae hơn Togaviridae (Collett và cộng sự, 1989 và Horzinele, 1990) nên gần ñây ñã có
ý kiến xếp căn bệnh vào vị trí phân loại của họ Flaviridae (virus gây bệnh sốt vàng da và viêm não Nhật Bản) [24]
Trang 20Về phân loại virus DTL như sau:
Họ (Family): Flaviridae
Giống (Genus): Pestivirus
Loài (Species): - Classical Swine fever virus (lợn)
- Bovine disease virus (cừu) [36], [40] Đặc ñiểm hình thái và cấu trúc virion virus DTL (thuộc giống
Pestivirus) là một virus gần hình cầu nhưng có thể ña hình thái, ñược bao bọc
bởi một lớp màng (envelope) không tách biệt (Horzinek và CS, 1971), virion dịch tả lợn có một lõi (core) ARN chứa lipit (Loan, 1969)
Hạt virion bao gồm ba thành phần chính, khi quan sát dưới kính hiển
vi ñiện tử virus DTL có dạng hình cầu với một lõi (core) ở trong và một áo ngoài (envelope) (Horzinek và CS, 1967; Ripchie và Fernelius, 1968) bao bên ngoài
Virion DTL ñồng nhất và có ñường kính 40 - 50 nm, ñường kính của nuclecapsid vào khoảng 29 nm, nuclecapsid có dạng ñối xứng khối (Horzinek, 1973) Mật ñộ phù nổi của virion khoảng từ 1,44 - 1,17 g/ml phụ thuộc vào loại gradient mật ñộ ñược sử dụng (Horzinnek và CS, 1967; Ritchiec và CS, 1968; Mayr và CS, 1968; horzinek và CS, 1971; Frost và CS, 1977; Enzmamn và CS, 1977 và Rutili và CS, 1977) Hằng số lắng của virus vào khoảng 140 - 148 S (Horzinek, 1981) Chuỗi ñơn ARN của virus có tính gây bệnh, dài khoảng 12 kb (Moormann và Hulst, 1988), ñược bao bọc bởi một lớp protein, qua ñó virus chủ yếu nhân lên trong bào tương của tế bào vật chủ
Áo ngoài (envelope) là một lớp lipoprotein là bộ phận gắn chặt tính cảm nhiễm của virus DTL nên hoạt tính virus bị mất nhanh chóng bởi các dung môi lipid như cholorform, ether và deoxycholat (McKissick và Gustafson, 1967)
Ở một số virion thấy có một lớp gai glycoprotein nhỏ trên bề mặt, người
ta cho rằng những gai này là kháng nguyên hòa tan (Ritchie và Fernelius, 1968)
Trang 21Cấu trúc kháng nguyên (Darbyshire, 1960 và Dabyshire, 1962) và cấu trúc ARN (Loan, 1969 và Wetink và Terpstra, 1999) virus DTL rất giống với virus tiêu chảy ở bị (Bovine Viral Diarrhea - BVDV) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Disease Virus – BDV) do vậy cần chú ý trong chẩn đốn huyết thanh học và phân tích di truyền học phân tử [40]
Virus DTL cĩ thể nuơi cấy trong tổ chức sống của lợn như: Tủy xương, hạch lâm ba, phổi, bạch cầu, thận, dịch hồn, lách, ĩc, thai lợn, Trong đĩ virus nhân lên tốt trong mơi trường tế bào thận lợn, mơi trường này được sử dụng để nuơi cấy virus Ngồi ra, cĩ thể nuơi cấy trên thận khỉ hoặc nuơi cấy trên động vật cảm thụ là lợn, thỏ [20]
Ở virus DTL, thời gian từ khi nhiễm đến khi xuất hiện thế hệ mới thay đổi từ 5 - 7 giờ (Mengeling và Drake, 1969) [25]
Mức cảm nhiễm tối đa đạt sau gây nhiễm 16 - 17 giờ Sự nhân lên và thành thục của virus khơng gây bệnh lý của tế bào và hồn tồn diễn ra trong tế bào chất và chỉ cĩ thể ở mạng lưới nội chất hoặc thể Golgi (Scherr và CS, 1970)
Nhờ vào kỹ thuật kháng thể đơn dịng Monoclonal antibodies – Mab (MCAS) các nhà vi sinh vật đã phân virus DTL thành một số nhĩm kháng nguyên (Edwards và Sans, 1990) Aynaud (1974) đã phân chia virus thành 2 nhĩm phụ là:
- Nhĩm 1 hoặc nhĩm phụ A: gồm các chủng virus cường độc Alfort, chủng C (chủng Trung Quốc) và chủng Thiveral
- Nhĩm 2 hoặc nhĩm phụ B: gồm chủng 331 và một số chủng gây bệnh ở thể mãn tính [29]
Các chủng virus cĩ độc lực cao ổn định với nhiệt hơn các chủng cĩ độc lực yếu Khả năng gây bệnh của virus ổn định ở pH = 5 – 10, ở ngồi phạm vi này tính gây bệnh của virus bị mất đi
Năm 1977, Kimizo và cộng sự đã dựa trên cơ sở của mức độ trung hồ kháng nguyên DTL với kháng thể bệnh tiêu chảy trên bị do virus, tác giả đã chia virus DTL thành hai nhĩm H và B, nhĩm H phản ứng trung hịa mạnh
Trang 22hơn nhóm B [14]
Sức ñề kháng của virus ñối với các yếu tố trong môi trường tự nhiên khá cao, trong môi trường giàu ñạm virus rất ổn ñịnh, trong thịt ở nơi mát khả năng gây nhiễm của virus tồn tại ñược khoảng 35 ngày, ở thịt ñông lạnh khoảng 95 ngày [33], trong huyết thanh của lợn bệnh ở 370C virus vô hoạt sau 3 tháng Khi bảo quản huyết thanh lợn bệnh ở nhiệt ñộ 2 – 40C virus giữ ñược ñộc lực 3 - 6 tháng Trong ghèn mắt virus sống ñược 13 – 15 ngày, trong vảy da ñược 8 - 9 ngày, trên giấy thấm máu ñược 40 ngày, ở phân ñược một tuần, nước tiểu ñược 5 ngày, túi ñựng thức ăn có thấm máu ñược 20 ngày, trong nước tiểu ở 650C virus bị diệt sau 1 giờ
Sự thối rữa làm virus vô hoạt rất nhanh Trong các phủ tạng ñã thối rửa virus chỉ tồn tại 3 – 4 ngày Virus có thành phần lipid ở vỏ nên nhạy cảm với ether, clorofoc tripsin không làm giảm tính gây bệnh của virus Chất kiềm có tác dụng diệt trùng mạnh, dung dịch NaOH 2% diệt virus nhanh chóng Nước vôi 10% diệt virus trong bệnh phẩm máu sau 2 giờ, trong nước tiểu 15 phút, ở trên nền và tường chuồng, sân, thành xe chuyên chở gia súc sau 1 giờ Dung dịch clorua vôi 1/5 – 1/20 có tác dụng diệt mầm bệnh trong 1 giờ Virus rất nhạy cảm với protease [14] Virus sẽ ngừng hoạt ñộng ở pH nhỏ hơn 3 và lớn hơn 11 [33]
1.2.2 Loài mắc bệnh
Trong thiên nhiên, có thể có những ñộng vật khác cảm nhiễm dịch tả lợn nhưng chỉ có loài lợn biểu hiện lâm sàng bệnh dịch tả lợn Lợn nhà, lợn rừng ở mọi lứa tuổi ñều mắc, lợn cai sữa hoặc ñang bú mắc nhiều hơn và chết nhiều, lợn nái mắc bệnh DTL truyền cho lợn con qua nhau thai
Trong phòng thí nghiệm, tiêm truyền cho lợn con, bệnh phát ra giống như trong thiên nhiên về triệu chứng cũng như bệnh tích [17] Tiêm virus DTL cho thỏ và chuột lang sẽ gây bệnh ở thể ẩn Người ta dùng virus DTL tiêm truyền cho thỏ liên tục trong nhiều ñời Độc lực ñối với thỏ tăng lên, ñộc lực ñối với lợn giảm xuống, ñến hơn 150 ñời thì giống virus này hoàn toàn không ñộc ñối với lợn nữa nhưng vẫn giữ ñược ñặc tính kháng nguyên Đây
Trang 23là giống virus nhược ñộc DTL qua thỏ dùng ñể chế vacxin [18]
1.2.3 Lứa tuổi và mùa xảy ra bệnh
Lợn ở mọi lứa tuổi (sơ sinh, 1 tháng, 2 tháng, 2 - 3 tháng), lợn thịt ñều mắc bệnh DTL với các biểu hiện lâm sàng như buồn bã, sốt cao 41 - 420C, chảy nước mắt, ñau mắt, nằm chồng chất, tiêu chảy, tai mõm tím bầm Tuy nhiên, do ñàn lợn ñược dùng vacxin tiêm phòng liên tục trong nhiều năm nay nên tuổi mắc bệnh phụ thuộc vào sức ñề kháng và tình trạng miễn dịch của ñàn lợn Hiện nay, gặp nhiều ổ dịch mà lợn nhiễm bệnh chỉ ở lứa tuổi ñang theo mẹ và mới cai sữa [14]
Lợn mẫn cảm với bệnh tùy thuộc vào tỷ lệ tiêm phòng của ñàn lợn và mức ñộ kháng thể trong cơ thể lợn ñược tiêm vào, mức ñộ kháng thể của lợn
mẹ qua sữa ñầu mà lợn con nhận ñược và tùy thuộc vào thời ñiểm tiêm vacxin có kích thích sản sinh miễn dịch thụ ñộng hay làm ức chế miễn dịch thụ ñộng [10]
Lợn nái mắc bệnh với những biểu hiện về rối loạn sinh sản, sảy thai,…
có nhiều trường hợp lợn ở thể mãn tính hoặc thể ẩn mang trùng
Ở nước ta bệnh dịch tả lợn phát ra quanh năm Tuy nhiên, do thời tiết
và do biến ñộng của ñàn lợn hoặc tỷ lệ tiêm phòng trong năm nên bệnh cũng
có lúc tăng lúc giảm (Phạm Sỹ Lăng, 1995)
Theo thống kê của Lê Độ (1981) về tình hình dịch trong 20 năm qua cho thấy số ổ dịch xảy ra từ tháng 11, tháng 12 năm trước tới tháng 1, 2, 3 năm sau chiếm tới 80% số ổ dịch trong năm, tháng 4 chỉ có 10% số ổ dịch và suốt tháng 5 tới tháng 10 chỉ có 10% Vào vụ ñông xuân sau bão lụt thức ăn thiếu, sức ñề kháng của gia súc kém, thời tiết lạnh thích hợp cho virus tồn tại lâu trong thiên nhiên, hiện tượng bán chạy lợn ốm, thu mua ồ ạt phục vụ tết, dẫn ñến kết quả là dịch xảy ra nhiều [13]
1.2.4 Đường xâm nhập và lây lan
Virus DTL xâm nhập vào cơ thể theo nhiều con ñường khác nhau Qua ñường hô hấp và tiêu hóa, qua mũi - hầu, niêm mạc hầu, ruột non, tuyến hạch nhân Virus xâm nhập theo con ñường niêm mạc mắt, mũi, niêm mạc ñường
Trang 24sinh dục, qua nhau thai [03], virus có thể thâm nhập vào cơ thể qua da bị tổn thương do sây sát, do thiến hoạn,
Trong ñiều kiện tự nhiên virus xâm nhập vào cơ thể lợn thông qua con ñường mũi - miệng (oronsal route) ñôi khi xâm nhập vào vật chủ qua niêm mạc, dịch nhầy sinh dục hoặc vết trầy da [38]
Không phải tất cả các chủng virus ñều truyền lây như nhau mà còn phụ thuộc vào ñộc lực của các chủng Chủng ñộc lực cao thường lây truyền nhanh hơn chủng ñộc lực thấp, do sự phát triển nhanh trong cơ thể và bài thải lượng lớn mầm bệnh ra bên ngoài cơ thể Những con ñường lây truyền chủ yếu là:
Lây trực tiếp do nhốt chung con bệnh và con khỏe, nhất là mật ñộ chuồng nuôi cao và ñiều kiện vệ sinh kém
Truyền lây gián tiếp qua nước tiểu, ñất và nước, thức ăn có nhiễm mầm bệnh, thức ăn dư thừa, thú sản, các dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, người chăn nuôi, phương tiện chuyên chở,…
Truyền lây qua ñộng vật trung gian mang trùng như chuột, thú ăn thịt, chim, côn trùng hút máu,…
1.2.5 Cơ chế sinh bệnh học
Virus khi xâm nhập vào cơ thể lợn gây bệnh ñặc trưng qua các giai ñoạn sau: giai ñoạn nhiễm virus ở hạch, giai ñoạn nhiễm virus ở máu và giai ñoạn nhiễm virus ở phủ tạng [38]
Khi xâm nhập vào cơ thể chúng nhanh chóng vào các tế bào thượng bì hạch lâm ba, hạch amidan, sau ñó virus xâm nhập vào lớp mô lympho dưới
và phát tán vào các hạch lympho vùng (Resang,1973) Tại ñây virus tiếp tục tăng sinh và tạo ra một số lượng lớn nhất là ở các hạch dưới ñường tiêu hóa, hạch lâm ba nội tạng, tủy xương, dẫn ñến nồng ñộ virus trong máu cao Khi nồng ñộ virus trong máu cao thì ñồng thời cơ thể lợn có phản ứng sốt cao 41-
42oC [24] Từ trong máu, virus DTL xâm nhập vào các cơ quan chức năng như ñường hô hấp từ ñó gây ra rối loạn hô hấp và cản trở tuần hoàn
Khi virus tác ñộng lên hệ thống thần kinh trung ương gây ra hiện
Trang 25tượng co giật, bại liệt hai chân sau hoặc bại liệt nửa thân
Khi virus xâm nhập vào hệ thống lưới nội bì của thành mạch quản làm cho mạch quản xung huyết sưng to, mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một
số bị tắc nghẽn dẫn ñến những bệnh tích ñặc trưng của bệnh dịch tả lợn như
là xuất huyết lấm tấm, nhồi huyết (lách),…[03]
Trong một số trường hợp virus làm thành mụn loét ở ruột già sau khi gây hoại tử ở những nang lâm ba và làm ñông sợi tơ huyết Những mụn loét xuất hiện dày, hình tròn, hình núm, hình cúc áo, trên mặt có những sợi huyết
vẽ những vòng tròn ñồng tâm [38]
Ở những lợn nái mang thai có mắc bệnh, virus có thể lây qua tất cả các giai ñoạn phát triển của bào thai Virus ở hạch lâm ba phân tán theo ñường mạch quản qua hàng rào nhau thai, phát triển ở một hoặc vài nơi dọc theo nhau thai và cuối cùng virus lan truyền từ bào thai này tới bào thai khác (Van Oirchot, 1979) [03]
Sự phân bố của virus trong bào thai cũng giống như trong cơ thể lợn trưởng thành bị nhiễm bệnh DTL Đối với chủng virus có ñộc lực trung bình thì sự nhân lên của virus trong tế bào lại thấp hơn Còn những chủng virus có ñộc lực thấp khi gây bệnh người ta thấy chúng có thể xuất hiện trong máu hoặc không, thường các chủng này thường giới hạn ở các tế bào biểu mô quanh mạch [38]
Tại các cơ quan nhiễm virus có sự ñáp ứng miễn dịch tế bào thông qua hiện tượng thực bào của các tế bào ñại thực bào, virus ñược giữ lại và phát triển tại các tế bào bạch cầu từ ñó làm giảm số lượng bạch cầu, sau ñó di hành trong máu, virus DTL dẫn ñến chứng virus huyết (viremia)
Virus có thể tồn tại trong các ñại thực bào, trốn tránh kháng thể và gây
sự cảm nhiễm dai dẵng
Một trong trường hợp ñặc biệt ở lợn nái là cảm nhiễm trong tử cung
Sự cảm nhiễm này không gây chết phôi nhưng dẫn ñến sự tự miễn dịch Có trường hợp huyết nhiễm virus dài dẵng, kéo dài và dung nạp miễn dịch (immunological tolerace) và thường xuyên bài virus
Trang 26Sự suy giảm miễn dịch do virus DTL trong máu tạo thuận lợi cho sự
kế nhiễm các loại vi sinh vật khác, lúc này khả năng ñáp ứng miễn dịch giảm
vì các tế bào lympho T và B ñã bị phá hủy do các tác ñộng của virus Những
vi khuẩn kế phát thường gặp là Salmonella cholerae suis, Pasteurella mutocida
1.2.6 Triệu chứng của bệnh dịch tả lợn
1.2.6.1 Thể quá cấp tính
Bệnh xuất hiện rất nhanh chóng, ñột ngột, phần lớn chưa có những triệu chứng ñiển hình của bệnh, thân nhiệt tăng cao tới 41 - 420C có kèm theo những triệu chứng thần kinh như giẫy giụa, co giật trước khi chết, ở những vùng da mỏng phía trong ñùi, phía dưới bụng ñỏ ửng lên Lợn chết trong vòng 24 - 48 giờ và không có bệnh tích, tỷ lệ chết có thể lên ñến 100% [17]
Có một số tài liệu gọi ñây là bệnh DTL trắng
gây ra hoặc nhiễm ghép với Salmonella cholerae suis [16]
Lợn có những triệu chứng ở da, mắt, bộ máy tiêu hóa, hô hấp, thần kinh Ở những vùng da mỏng, xuất hiện những chấm nhỏ bằng ñầu ñinh ghim hoặc hạt ñậu, những ñám xuất huyết, có khi nó tập trung lại thành từng mảng những vết ñỏ này dần dần tím lại, có thể thối loét ra rồi bong vẩy Viêm kết mạc dẫn ñến chảy nước mắt cũng xuất hiện sớm, mắt có ghèn ñặc như mủ trắng, che mắt làm con vật không thấy ñược [17]
Virus tác ñộng ñến bộ máy tiêu hóa làm lợn nôn ra dịch vàng chứa dịch mật Lợn bị táo bón ở giai ñoạn sốt cao, nhưng ñến những ngày ở giai ñoạn cuối của bệnh có tiêu chảy nặng có khi có cả máu tươi, phân lỏng có
Trang 27mùi hôi thối ñặc biệt Niêm mạc miệng, mắt, trong môi, chân răng và gốc lưỡi có mụn loét phủ bựa vàng trắng, vàng xám Hạch ruột, phúc mạc viêm dính lại Lợn con thường có biểu hiện nằm chất chồng lên nhau [17]
Lợn nái mang thai có thể sảy thai, chết thai, lưu thai, ñẻ con yếu Virus tác ñộng lên bộ máy tiêu hóa gây viêm dạ dày ruột nên có hiện tượng nôn và tiêu chảy có khi ra máu tươi, giai ñoạn sau phân lỏng mùi thối khắm rất ñặc
trưng (thường gọi là dịch tả ướt), nếu có nhiễm trùng kế phát do Salmonella cholerae thì hiện tượng tiêu chảy và sốt trở nên trầm trọng hơn, mùi phân thối
Ngay từ khi cơ thể có những biểu hiện bệnh lý lâm sàng, nếu làm xét nghiệm máu ñể kiểm tra bạch cầu ta thấy số lượng bạch cầu giảm rõ rệt, do virus xâm nhập vào hệ thống tạo máu
Bình thường số lượng bạch cầu trong máu là 14,8 - 22,9 nghìn/mm3máu nhưng khi bị nhiễm virus DTL thì số lượng này giảm xuống còn dưới 6,7 nghìn/mm3 máu [21]
Phần lớn thể mãn tính thường có hiện tượng nhiễm trùng kế phát các
Trang 28loại vi khuẩn như: Salmonella cholerae, Pasteurella multocida, E.coli, Mycoplasma,… Khi mổ khám cĩ thể thấy các loại ký sinh trùng xâm nhập
vào cơ thể lợn gây bại huyết, hoại tử niêm mạc ruột, viêm phổi thùy
Ở thể mãn tính do lượng virus thấp hoặc chủng độc lực thấp chủ yếu nằm trong tế bào máu, virus phá hủy các tế bào máu và các tế bào Lympho T
và B từ đĩ làm giảm khả năng thực bào, giảm khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Thể mãn tính ít gặp ở lợn con nhưng đĩng vai trị trong việc lan truyền virus cho đàn lợn khỏe mạnh [03]
Ở lợn nái sịnh sản thể bệnh này phát triển thành hội chứng mang trùng
và lan truyền mầm bệnh cho bào thai, con của những lợn nái bị nhiễm virus
cĩ thể mang trùng trong một thời gian dài Lợn nái thường cĩ biểu hiện rối loạn sinh sản như sảy thai, thai khơ, tiêu thai, đẻ non, cĩ thể động dục trở lại sau 18 - 23 ngày Lợn sơ sinh cĩ các biểu hiện yếu ớt, chậm lớn, sai lệch bẩm sinh ở miệng, não, mắt, phổi và hay bị run [16]
1.2.6.4 Thể khơng điển hình (thể tiềm ẩn)
Thể này biểu hiện dưới các dạng khác nhau của rối loạn sinh sản như sảy thai, chết thai, thai gỗ, dị dạng, lợn con sinh ra run rẩy, rối loạn vận động yếu ớt, thường phát bệnh khi tiêm phịng,…[14]
Theo quan điểm dịch tễ học những lợn mắc bệnh ở thể tiềm ẩn mà khơng chết khi được sinh ra chúng khơng cĩ biểu hiện lâm sàng rõ ràng nên khĩ phát hiện trong khi đĩ lợn vẫn thải mầm bệnh ra bên ngồi nên trở thành nguồn lây bệnh rất nguy hiểm (Vanoirschef và Terptra, 1979) [03]
Các nghiên cứu của Mingenling và Chevelle (1969), Nguyễn Tiến Dũng và H.Westbury (1977) cho thấy chủng gây bệnh DTL thể ẩn (chủng 331) chỉ truyền qua đường sinh sản và chỉ gây bệnh cho bào thai mà khơng gây bệnh cho lợn trưởng thành Cũng theo các tác giả phần lớn các chủng virrus gây bệnh ở thể mãn tính đều gây bệnh ở thể tiềm ẩn [38]
Do đĩ sự khác biệt ở thể mãn tính và ở thể khơng điển hình chỉ là sự khác nhau về cơ chế sinh bệnh Để chẩn đốn được chính xác thể bệnh này
Trang 29chúng ta phải có ñược những xét nghiệm phi lâm sàng dựa vào kháng nguyên, kháng thể
Theo Nguyễn Xuân Bình (1998) cho rằng, do tình trạng lợn nái mang thai mà bị bệnh ở thể mãn tính thì lợn con khi sinh ra có hiện tượng dung nạp miễn dịch [05]
Hiện tượng dung nạp miễn dịch xảy ra do bào thai bị nhiễm virus DTL
ở giai ñoạn ñầu của quá trình mang thai, lúc này bào thai chưa có khả năng sinh miễn dịch vì vậy chúng chưa có khả năng chống lại virus DTL và lợn con khi sinh ra sẽ phát triển thành bệnh ở thể tiềm ẩn
b Bệnh tích ở thể cấp tính
Ở thể này bệnh tích ñặc trưng của bệnh dịch tả lợn ñã xuất hiện khá ñầy
ñủ, tuy nhiên khó có thể tìm ñược một bệnh súc có ñầy ñủ các bệnh tích biểu hiện cùng lúc
- Bệnh tích ở da: xuất huyết ñiểm và xuất huyết từng ñám thường hiện diện trên khắp cơ thể lợn ñặc biệt ở vùng da mỏng như vành tai, bẹn, bốn chân, vùng da bụng, mông, bao dương vật
- Bệnh tích ở lách: lách có hiện tượng nhồi huyết ở phần rìa, bệnh tích này theo một số tác giả thì thường chiếm 25 – 65% các trường hợp mắc bệnh
Nó ñược coi như một bệnh tích ñiển hình khi lợn mắc bệnh DTL Khi lợn mắc bệnh DTL ở thể cấp tính thì lách không sưng, có màu ñất sét và xuất hiện những nốt xuất huyết [16]
Bệnh tích này xuất hiện dưới dạng những nốt màu ñen sẫm hoặc xám với nhiều kích cỡ hơi nhô lên bề mặt và thường tập trung lại thành một
Trang 30đường viền và chạy liên tục theo hai bên rìa lách Trong chẩn đốn lâm sàng thường gọi đây là hiện tượng nhồi huyết hình răng cưa và cĩ thể quan sát rõ khi đưa ra ánh sáng [17]
- Bệnh tích ở thận và niêm mạc đường sinh dục: xuất huyết ở bàng quang, xuất huyết điển hình đầu đinh ghim và xuất huyết thành mảng thường gặp trên vùng vỏ thận [16] Một số tài liệu gọi đây là hiện tượng thận trứng sáo và nĩ cũng là bệnh tích khá ổn định ở bệnh DTL thể cấp tính Tuy nhiên
ở thể mãn tính thận lợn vẫn bình thường, khi mổ khám trong thận thường cĩ hiện tượng ứ huyết hoặc cĩ cục máu đơng
- Bệnh tích ở đường tiêu hĩa: niêm mạc đường tiêu hĩa thường cĩ hiện tượng xuất huyết, ở dạ dày đặc biệt ở vùng hạ vị đỏ phủ đầy chất bựa nhầy Phần ruột non xuất huyết, đặc biệt ở van hồi manh tràng cĩ nhiều nốt loét cĩ bờ do fibrin đọng lại tạo ra các đường trịn đồng tâm [14] Các nốt loét này cĩ hình giống chiếc cúc áo nên thường được gọi là nốt loét hình cúc
áo và nĩ cũng đặc trưng trong bệnh DTL Ở niêm mạc miệng: Lợi viêm xuất huyết, cĩ khi tạo ra các nốt loét nơng hoặc sâu cĩ bựa màu vàng Trong
trường hợp cĩ nhiễm trùng kế phát do vi khuẩn Salmonella cholerasuis thì
các bệnh tích ở đường tiêu hĩa cĩ thể trầm trọng hơn [22]
- Bệnh tích ở hệ thần kinh trung ương: Với những lợn mắc bệnh DTL
ở thể cấp tính màng não bị tụ huyết và xuất huyết não tủy trầm trọng [16]
- Các hạch bạch huyết và hạch hạnh nhân: Các hạch bạch huyết sưng lên và bị xuất huyết, các hạch hạnh nhân đơi khi xuất huyết nhưng cĩ màu đậm hơn so với bình thường [16] Ở thể cấp tính nếu cĩ hiện tượng nhiễm trùng kế phát do vi khuẩn thì bệnh tích ở một số cơ quan cĩ sự thay đổi
Nếu do vi khuẩn Salmonella cholerasuis thì lách sưng to và dai hơn,
viêm hoại tử ở kết tràng, viêm phúc mạc cĩ bài tiết tương dịch và fibrin, hạch lâm ba ruột bị cazein hĩa, lách gan và một số cơ quan phủ tạng khác cĩ những nốt bã đậu Những nốt loét ở ruột và van hồi manh tràng thường khơng định vị mà mang tính chất lan tràn
Nếu do vi khuẩn Pasteurella multocida thì cĩ hiện tượng viêm phổi
Trang 31thùy và trên phổi cĩ nhiều điểm hoại tử
c Bệnh tích ở thể mãn tính và thể khơng điển hình
Ở thể khơng điển hình, cĩ thể xuất hiện hoặc khơng xuất hiện phần lớn
cĩ hiện tượng nhiễm trùng kết phát Tuy nhiên khi mổ khám cĩ thể gặp các trường hợp cĩ các nốt loét hình cúc áo ở ruột già và rõ nhất ở kết tràng đường kính 1 – 2 cm Tuyến giáp của những lợn mắc bệnh ở thể này cĩ hiện tượng teo lại, ở da thường bị viêm mãn tính Ở lợn nái sinh sản cĩ những biểu hiện về rối loạn sinh sản như: tiêu thai, sảy thai, thai gỗ, ở lợn đực nọc thì giảm tính hăng,
1.2.7.2 Bệnh tích vi thể
Ở tất cả các thể bệnh, dấu hiệu đầu tiên là hiện tượng tăng số lượng các tế bào đại thực bào, giảm số lượng bạch cầu ở mức độ lớn và trầm trọng Theo Nguyễn Bá Hiền (1998) bằng phương pháp ELISA cho thấy 68,75% lợn cĩ kết quả dương tính với virus DTL, thì trong số này khi đếm số lượng bạch cầu đều giảm xuống 1.700 - 7.000/mm3 máu [07] Bình thường số lượng bạch cầu là 14,8 - 22,9 nghìn/mm3 máu nhưng khi bị nhiễm virus DTL thì số lượng này giảm xuống cịn dưới 6,7 nghìn/mm3 máu [21]
Nghiên cứu khác của nhiều tác giả bằng máy đo huyết học 18 chỉ số, cho thấy số lượng bạch cầu giảm xuống cịn 8.35 ± 0,28 nghìn/mm3 [01]
Bệnh tích vi thể thường thấy nhất ở hệ thống lưới nội bì của thành mạch quản, các tế bào nội bì sưng to do thái hĩa, thủy thủng, các mạch quản ngoại biên giãn rộng, một số bị tắc nghẽn dẫn đến các bệnh tích đặc trung của bệnh DTL như: xung huyết, xuất huyết, nhồi huyết, hoại tử, viêm màng não, viêm màng não khơng cĩ mủ, sưng và thái hĩa các tế bào nội bì, nghẽn mạch và nhiễm Lymphocyte quanh mạch [03]
1.3 Chẩn đốn bệnh
Chẩn đốn bệnh là một khâu quan trọng để phát hiện sớm bệnh DTL Việc chẩn đốn khơng phải dễ dàng, lúc nào chúng ta cũng thực hiện được nhanh chĩng và chính xác Bởi các biểu hiện về triệu chứng lâm sàng, về bệnh tích đại thể và vi thể đối với bệnh DTL thường cĩ sự biến đổi rất đa dạng Do sự khác nhau về độc lực của các chủng virus, về số lượng virus
Trang 32xâm nhập vào các cơ quan và về sự mẫn cảm của cơ thể bệnh súc
Cũng chính những khĩ khăn này địi hỏi chúng ta cần cĩ những phương pháp chẩn đốn mang tính tổng quát và hiệu quả về các mặt
Các phương pháp chẩn đốn thường dựa vào: chẩn đốn dịch tễ, chẩn đốn qua triệu chứng lâm sàng, mổ khám bệnh tích, chẩn đốn virus học,
1.3.1 Chẩn đốn virus học
1.3.1.1 Tiêm động vật thí nghiệm
Lấy bệnh phẩm (máu, lách, hạch lâm ba,…) xử lý bằng kháng sinh phổ rộng pha thành huyễn dịch tiêm cho lợn khỏe mạnh 3 - 4 tháng tuổi, khơng nằm trong ổ dịch DTL, tiêm dưới da 1 ml máu độc nghi cĩ chứa virus DTL hoặc 1 gam lách Ở những lợn tiêm sẽ xuất hiện triệu chứng và bệnh tích DTL giống như trong thiên nhiên
Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp triệu chứng và bệnh tích trên lâm sàng và giải phẫu bệnh học khơng đủ để kết luận và cần chính xác ổ dịch để cơng bố dịch Phương pháp này cho kết quả chính xác nhưng
nĩ tốn kém và mất nhiều thời gian Bên cạnh đĩ nếu virus cĩ độc lực yếu, chỉ gây bệnh cho lợn con thử nghiệm những triệu chứng nhẹ, làm cho con vật được miễn dịch, sẽ khơng chẩn đốn được bệnh [17]
1.3.1.2 Phương pháp tăng cường độc lực của virus Newcastle
Phương pháp này được Kumagai và CS phát kiến (Kumagai và CS, 1958) và chẩn đốn hĩa (Kumagai và CS, 1961) dùng để chẩn đốn virus DTL, cịn gọi tắt là phương pháp END, sau đĩ đã được lặp lại và đánh giá cao bởi Loan (1965)
Dùng mơi trường tế bào dịch hồn lợn (lứa cấy tế bào đơn lớp) cấy virus DTL, sau 5 ngày cấy virus Newcastle thấy virus Newcastle nhân lên mạnh và gây bệnh tích tế bào
Nếu mơi trường tế bào dịch hồn lợn chỉ cấy virus Newcastle thì virus
sẽ khơng gây được bệnh tích tế bào Điều này chứng tỏ virus DTL đã làm tăng độc lực virus Newcastle [18]
Trang 331.3.1.3 Thí nghiệm trung hịa trên thỏ
Phương pháp này dựa trên nguyên tắc virus DTL cường độc và virus DTL nhược độc cĩ tính gây bệnh khác nhau cho thỏ và lợn, nhưng cĩ tính kháng nguyên giống nhau Cĩ thể dùng virus DTL cường độc tiêm cho thỏ gây miễn dịch Sau đĩ chứng minh tính miễn dịch của thỏ đối với virus DTL bằng cách tiêm virus nhược độc DTL Phương pháp này cĩ độ chính xác cao nhưng tốn thời gian và kinh phí [18]
1.3.2 Chẩn đốn huyết thanh học
Bên cạnh phương pháp phân tích vật chất di truyền đã được áp dụng như PCR (Eisentein, 1990; Saiki và CS, 1988) RT-PCR hiện tại các phương pháp huyết thanh học được coi là thích hợp nhất cho mục đích chẩn đốn bệnh DTL cũng như một số bệnh do virus khác [08]
1.3.2.1 Phản ứng miễn dịch đánh dấu (ELISA)
Đây là phương pháp được áp dụng ngày càng rộng rãi trong chẩn đốn bệnh DTL (Nguyễn Tiến Dũng và CS, 2002; Nguyễn Thị Phương Duyên và
CS, 2000) Kỹ thuật miễn dịch enzyme cĩ độ đặc hiệu rất cao do sử dụng kháng thể đơn dịng kháng virus DTL nên khắc phục được hiện tượng dương tính giả do virus gây bệnh tiêu chảy ở bị, như sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp đặc hiệu virus như glycoprotein Ems hay E2 (Langgedik và CS, 2001; Floegel - Niesmann, 2001) hoặc phương pháp ELISA cạnh tranh nhưng cĩ
độ nhạy giảm so với ELISA thơng dụng (Clavijo và CS, 2001)
Kháng thể đơn dịng cho phản ứng với hai loại glycoprotein vỏ (gp48
và gp53) thì cĩ thể trung hịa virus gây bệnh Lợn nhiễm bệnh cĩ thể tạo kháng thể với glycoprotein cấu trúc của virus, những protein này tương tự
“kháng nguyên hịa tan” Đáp ứng kháng thể với polypeptid khác, kể cả p14 của nucleocapsid thì rất yếu hoặc khơng cĩ [30]
Những lợn được chủng ngừa vacxin E2 hoặc Ems cĩ thể kháng với virus DTL khi cơng cường độc Hai loại vacxin chứa baculovirus để tạo E2 hoặc Ems (hoạt động như kháng nguyên)
Khi xét nghiệm ELISA đồng bộ, kháng thể kháng với Ems chỉ được
Trang 34phát hiện chỉ khi dùng kháng nguyên Ems tái tổ hợp
Kỹ thuật ELISA được thiết kế để khơng phát hiện kháng thể ở lợn được chủng ngừa vacxin Ems mà chỉ dùng để phát hiện kháng thể của những lợn nhiễm virus DTL tự nhiên hoặc lợn đã chủng vacxin thơng dụng [31]
Hiện nay đối với bệnh DTL, kỹ thuật này được dùng để phát hiện sự
cĩ mặt của HVC.Ag (P125) hoặc hàm lượng kháng thể trong máu,…
1.3.2.2 Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch
Phản ứng này được Mansi dùng lần đầu tiên (1957) để chẩn đốn virus DTL (Mancini, 1957; theo Nguyễn Như Thanh và CS, 2001) và cải tiến thêm sau đĩ (Mancini, 1965) [18]
1.3.2.3 Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp
Bình thường virus DTL khơng hấp thụ lên hồng cầu nhưng cĩ thể kết bám (hĩa học) nếu hồng cầu đã được xử lý axit tanic Chất này cĩ một chức gắn với hồng cầu, cịn một chức gắn với protein virus DTL mặc dù khơng gây ngưng kết hồng cầu Khi gặp kháng thể tương ứng, virus DTL sẽ kết hợp với kháng thể làm hồng cầu dính lại qua cầu nối kháng thể gây hiện tượng ngưng kết hồng cầu [18]
1.3.2.4 Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gián tiếp
Phương pháp này là sự kết hợp giữa các phương pháp ngăn trở ngưng kết và phương pháp ngưng kết hồng cầu gián tiếp và được mơ tả gần đây
Phương pháp này dùng để phát hiện kháng nguyên trong các tổ chức nhu mơ bệnh phẩm
Nguyên lý của phương pháp này là khi nghiền tổ chức nhu mơ với kháng huyết thanh trong điều kiện hĩa băng nên cĩ thể làm vỡ tế bào nhờ các tinh thể nước đá hình thành trong và ngồi tế bào chất Nếu trong tổ chức nhu
mơ đĩ cĩ kháng nguyên, thì kháng nguyên đĩ sẽ kết hợp đặc hiệu với kháng thể trong kháng huyết thanh, làm cho hiệu giá kháng thể trong kháng huyết thanh giảm Sau khi quay ly tâm để loại bỏ tổ hợp kháng nguyên - kháng thể cùng với tổ chức nhu mơ, sự sụt giảm hiệu giá trong kháng huyết thanh được phát hiện bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp [25]
Trang 351.3.2.5 Phản ứng miễn dịch huỳnh quang
Phương pháp này trong chẩn đốn bệnh DTL, dùng kháng thể DTL đã được nhuộm huỳnh quang, cho tiếp xúc với kháng nguyên là bệnh phẩm nghi chứa virus DTL (lách, hạch, phủ tạng,…) đã được cố định trên phiến kính (kỹ thuật huỳnh quang lát cắt - FATST: (Stair và CS, 1963) hoặc là lứa cấy tế bào đơn lớp (kỹ thuật kháng thể huỳnh quang lứa cấy tế bào - FACCT: (Mengeling và CS, 1963) [18]
Nếu cĩ kháng nguyên và kháng thể tương ứng, tức là cĩ virus DTL trong bệnh phẩm thì cĩ thể kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể huỳnh quang và tổ hợp này được lưu lại trên phiến kính ngay cả sau khi phiến kính được rửa
Kháng nguyên được nhuộm màu huỳnh quang sẽ phát sáng rõ rệt dưới kính hiển vi huỳnh quang
Phương pháp FATST cĩ ưu điểm là chẩn đốn nhanh, cĩ thể hồn thành trong hai giờ Tuy vậy, trong nhiều trường hợp khĩ phân biệt giữa sự phát màu đặc hiệu và khơng đặc hiệu (Cottral, 1978)
Phương pháp FACCT được sử dụng để phát hiện kháng nguyên virus DTL trong lứa cấy tế bào thận lợn (PK - 15) nuơi trên lá kính đã bị gây nhiễm bởi huyễn dịch tổ chức lợn bệnh
Ưu điểm của phương pháp này là cĩ tính đặc hiệu cao và dễ giải thích kết quả nhưng nhược điểm là mất khá nhiều thời gian, ít nhất phải 16 giờ, bên cạnh những yêu cầu của việc nuơi cấy tế bào tổ chức (Stewart, 1981)
Đối với nước ta phương pháp này tốn kém do giá thành kháng thể đánh dấu (conjugate) cịn cao và ta chưa chủ động được nguồn cung cấp
Tổ chức thích hợp là lách, hạch hạnh nhân và các hạch lympho khác (tốt nhất là hạch dưới hàm) đối với việc phân lập virus và phát hiện kháng nguyên virus bởi kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang
Tốt nhất là lấy mẫu từ lợn cĩ tổng số bạch cầu trong 1mm3 thấp hơn 10.000 Trong trường hợp bệnh DTL mãn tính, tổ chức cĩ thể lấy mẫu là thai
Trang 36sảy và thai chết yểu Mẫu huyết thanh do phản ứng trung hịa virus cĩ thể lấy
từ lợn khỏi bệnh, lợn nái sẩy thai, đẻ thai chết hoặc cĩ ổ đẻ ít con
Bên cạnh đĩ, cĩ thể sử dụng các kháng thể đánh dấu huỳnh quang (fluorescence) và peroxidaza phát hiện kháng nguyên từ lát cắt lạnh hoặc sau
ba lần cấy truyền trên lứa cấy tế bào một lớp [38]
1.3.3 Kỹ thuật PCR: polymerase chain reaction
ARN virus cĩ tính đặc hiệu cao đặc trưng cho lồi và cĩ thể dùng làm khuơn tổng hợp invitro phân tử ADN tương bù một sợi nhờ enzyme sao chép ngược (RT: reverse transcriptase) Sau đĩ ADN một sợi được tách khỏi ARN khuơn và lại làm khuơn để tổng hợp sợi ADN tương bù với nĩ nhờ enzyme ADN - polymeraza Nhờ phản ứng chuỗi polymeraza (PCR: polymerase chain reaction) đoạn ADN cĩ kích thước đặc hiệu phù hợp với cặp mồi oligonucleotid được tổng hợp
Tổ hợp hai phản ứng trên gọi là RT - PCR Kỹ thật này dựa trên phiên mã ngược với phản ứng PCR (RT - PCR) và xác định trình tự chuỗi của DNA bằng cDNA từ vùng khơng mã hĩa 5’ Người ta cĩ thể dùng kỹ thuật RT - PCR để phân biệt trình tự chuỗi E2 hoặc cĩ thể dựa vào RT -PCR và rồi dùng enzym hạn chế trên vùng khơng mã hĩa 5’(Straw B.E, và ctv, 1999) [32]
1.3.4 Chẩn đốn bằng phản ứng hĩa học màu
Chất chiết bệnh phẩm nghi DTL bằng cồn đem sấy khơ Khi gặp axit nitric đậm đặc thì biến đổi thành màu hồng tím nếu cĩ virus DTL Nếu khơng
1.4.2 Khi cĩ dịch xảy ra
- Cơng bố và khoanh vùng dịch, qui định vùng dịch và vùng bị uy hiếp
Trang 37an toàn ñể áp dụng các biện pháp thú y cần thiết
- Đình chỉ giết mổ, mua bán vận chuyển lợn thịt ra ngoài vùng dịch, có các trạm kiểm dịch ñể kiểm tra
- Tổng vệ sinh chồng trại, cơ sở chăn nuôi, giết mổ, sát trùng tẩy uế, chôn hoặc ñốt xác chết
- Chỉ công bố hết dịch khi con chết hoặc khỏi bệnh sau 21 ngày
Người ta dùng virus dịch tả lợn tiêm truyền cho thỏ liên tục trong nhiều ñời Độc lực ñối với thỏ tăng lên, ñộc lực ñối với lợn giảm xuống, ñến hơn 150 ñời thì giống virus này hoàn toàn không ñộc ñối với lợn nữa nhưng vẫn giữ ñược ñặc tính kháng nguyên Đây là giống virus nhược ñộc dịch tả lợn qua thỏ dùng ñể chế vacxin [18]
- Chủng GPE: chủng virus có ñộc lực ñược giảm ñộc bằng truyền ñời liên tiếp ở nhiệt ñộ thấp (300C) trên một hệ thống gồm 3 loại tế bào lợn, bò, chuột lang ñể tạo thành chủng GPE Loại vacxin này an toàn, tạo miễn dịch sớm và kéo dài tới 2 năm
- Chủng Thiveral: là chủng virus cường ñộc Alfort sau khi cấy truyền trên tế bào thận lợn sau 170 lần truyền ở nhiệt ñộ 29 - 300C Loại vacxin này ñược chứng minh là an toàn ñối với lợn nái và lợn con, tạo miễn dịch sớm và kéo dài tới 2 năm
Các loại vacxin thường ñược sử dụng tại Việt Nam chúng tôi thống kê ñược ở bảng 1.1
Trang 38Bảng 1.1: Các loại vacxin thường ñược sử dụng tại Việt Nam
STT Tên vacxin Hảng sản xuất Chủng
virus
Tế bào nuôi cấy
3 Porcilis CFS Pesti
Procilis Pest Intervet – Hà Lan GPE Thận lợn
6 Vacxin DTL Phân viện TY
Những loại vacxin này ñang ñược sử dụng nhiều vào chương trình tiêm phòng khống chế bệnh của nhà nước, cũng như của các cơ sở chăn nuôi
và hộ gia ñình và ñược ñánh giá có mức bảo hộ cao
1.5 Kháng nguyên HVC.Ag (P125)
Về nguyên lý khi virus tồn tại trong cơ thể và sản sinh ñồng thời với việc kích thích hệ thống miễn dịch sản sinh kháng thể thì cũng sinh ra một loại protein không thuộc cấu trúc virus, ñó là protein 125 [07]
Protein 125 này gọi là kháng nguyên HVC.Ag (P125) có trong máu, bạch cầu và nhiều cơ quan phủ tạng khác [07]
Để phát hiện kháng nguyên này trong huyết thanh hoặc trong mô bằng phản ứng ELISA gián tiếp, chúng ta có thể dùng các bộ kít ELISA hiện có bán trên thị trường như: Chevit CSF của công ty Dr Bommel AG (Thụy Sĩ) hoặc bội kít Rhome (Pháp), bộ kit SERELISA HCV.Ag của hãng Synbiotics Corporation (Pháp)
Protein không cấu trúc P125 này có một ñầu amino rất ưa nước và có
Trang 39hoạt tính protease Người ta cho rằng bộ gen tạo protein này tham gia vào việc tạo protein lẫn nhân ñôi ARN
Theo một số ñề tài nghiên cứu trong và ngoài nước, P125 ñược ứng dụng ñể phát hiện virus DTL trong phản ứng miễn dịch ELISA gián tiếp, sự hiện diện của P125 ñã chứng minh sự có mặt của virus DTL trong cơ thể và cũng ứng dụng ñể phát hiện những con mang trùng ñể loại thải [08]
Theo Uttenthal và ctv (2001) Pestivirus chứa 4 protein cấu trúc cơ bản
Protein có tính kháng nguyên nhiều nhất là E2 và Erns
Erns ñã ñược chứng minh là có hoạt tính Rnase nhưng chưa rõ chức năng này của nó [31]
Sơ ñồ mô tả cấu trúc gen của virus DTL: