1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn

90 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Tuân Thủ Điều Trị Tăng Huyết Áp Và Các Yếu Tố Liên Quan Của Bệnh Nhân Tăng Huyết Áp Được Quản Lý Tại Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Tri Tôn
Tác giả Huỳnh Thị Thúy Quyên
Người hướng dẫn GS. TS. Bùi Tùng Hiệp
Trường học Trường Đại Học Tây Đô
Chuyên ngành Dược lý và Dược lâm sàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 TỔNG QUAN VỀ TĂNG HUYẾT ÁP (19)
    • 1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp (19)
    • 1.1.2 Phân loại huyết áp (19)
    • 1.1.3 Triệu chứng tăng huyết áp (20)
    • 1.1.4 Biến chứng của tăng huyết áp (22)
    • 1.1.5 Các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp (23)
  • 1.2 TỔNG QUAN VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP (23)
    • 1.2.1 Điều trị tăng huyết áp (23)
    • 1.2.2 Tuân thủ điều trị (32)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (19)
    • 2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU (37)
      • 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu (37)
      • 2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu (37)
    • 2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
      • 2.2.1 Thiết kế nghiên cứu (37)
      • 2.2.2 Cỡ mẫu (37)
      • 2.2.3 Phương pháp chọn mẫu (38)
    • 2.3 NỘI DUNG VÀ CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU (38)
      • 2.3.1 Đặc điểm chung các đối tượng nghiên cứu (38)
      • 2.3.2 Đặc điểm tuân thủ điều trị tăng huyết áp (38)
      • 2.3.3 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp (39)
    • 2.4 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU (39)
      • 2.4.1 Đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc (39)
      • 2.4.2 Đánh giá tuân thủ chế độ ăn (40)
      • 2.4.3 Đánh giá tuân thủ hạn chế rượu/bia, không sử dụng thuốc lá, thuốc lào (40)
      • 2.4.4 Đánh giá tuân thủ theo dõi HA (41)
      • 2.4.5 Đánh giá tuân thủ chế độ sinh hoạt luyện tập thể lực (41)
      • 2.4.6 Đánh giá tuân thủ điều trị chung (41)
    • 2.5. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU (42)
    • 2.6 KIỂM SOÁT SAI SỐ VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU (42)
    • 2.7 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU (42)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (37)
    • 3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (43)
    • 3.2 ĐẶC ĐIỂM TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ (46)
      • 3.2.1 Tuân thủ điều trị thuốc (46)
      • 3.2.2 Tuân thủ điều trị không thuốc (47)
      • 3.2.3 Tuân thủ điều trị chung (49)
    • 3.3 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN (50)
      • 3.3.1 Các yếu tố liên quan tuân thủ điều trị thuốc (50)
      • 3.3.2 Các yếu tố liên quan tuân thủ chế độ ăn (51)
      • 3.3.3 Các yếu tố liên quan tuân thủ điều trị chung (52)
      • 3.3.4 Các yếu tố liên quan tình trạng bệnh lý (53)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (43)
    • 4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (54)
    • 4.2 ĐẶC ĐIỂM TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ (57)
      • 4.2.1 Tuân thủ điều trị thuốc (57)
      • 4.2.2 Tuân thủ điều trị không thuốc (58)
      • 4.2.3 Tuân thủ điều trị chung (60)
    • 4.3 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN (61)
      • 4.3.1 Các yếu tố liên quan tuân thủ điều trị thuốc (61)
      • 4.3.2 Các yếu tố liên quan tuân thủ chế độ ăn (64)
      • 4.3.3 Liên quan tuân thủ các chế độ với tuân thủ chung (65)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN (54)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ TĂNG HUYẾT ÁP

Định nghĩa tăng huyết áp

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), người được gọi là tăng huyết áp (THA) khi có một trong hai hoặc cả 2 trị số:

Huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) vượt quá 140 mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương) vượt quá 90 mmHg được coi là tăng huyết áp Trị số huyết áp được xác định bằng cách tính trung bình cộng của ít nhất ba lần đo.

2 lần đo liên tiếp với cách đo chuẩn [83]

Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng khái niệm tăng huyết áp theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, khái niệm này cũng phù hợp với các tiêu chuẩn mà Bộ Y tế và các chương trình y tế tại Việt Nam đang thực hiện.

Phân loại huyết áp

Có 2 cách phân loại THA, đó là phân loại THA theo nguyên nhân và phân loại theo mức chỉ số huyết áp:

Theo nguyên nhân tìm được, THA gồm 2 loại:

- THA nguyên phát (THA chưa rõ nguyên nhân)

Nhiều yếu tố có thể tác động đến bệnh tăng huyết áp (THA), bao gồm hút thuốc lá, rối loạn chuyển hóa lipid, và đái tháo đường Người cao tuổi trên 60 tuổi, cũng như nam giới và phụ nữ đã mãn kinh, có nguy cơ cao hơn Thêm vào đó, thói quen nghiện rượu bia, béo phì và lối sống ít vận động cũng là những yếu tố nguy cơ quan trọng.

Tăng huyết áp là một bệnh lý nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong và để lại di chứng nặng nề như liệt nửa người và hôn mê, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Ngoài ra, tình trạng này còn có thể gây ra suy tim và thiếu máu cơ tim, làm gia tăng nguy cơ sức khỏe cho người bệnh.

- THA thứ phát là triệu chứng của những bệnh dưới đây:

+ Bệnh thận: viêm thận mạn, viêm thận cấp, suy thận, thận đa nang, ứ nước bể thận, u tăng tiết renin…

Nguyên nhân nội tiết có thể gây ra cơn tăng huyết áp (THA) bao gồm hội chứng Cushing, phì đại tuyến thượng thận bẩm sinh, và u tủy thượng thận Những tình trạng này thường dẫn đến huyết áp tự trở lại bình thường, đồng thời có thể gây tăng calci máu và cường tuyến giáp.

Bệnh tim mạch có thể bao gồm tình trạng hẹp đoạn xuống quai động mạch chủ, dẫn đến tình trạng tăng huyết áp ở chi trên trong khi huyết áp ở chi dưới lại thấp hơn Ngoài ra, hở van động mạch chủ cũng gây ra sự thay đổi huyết áp, với huyết áp tối đa tăng và huyết áp tối thiểu giảm.

Một số nguyên nhân khác có thể gây tăng huyết áp bao gồm nhiễm độc thai nghén, bệnh tăng hồng cầu, các nguyên nhân thần kinh như nhiễm toan hô hấp, cũng như việc sử dụng thuốc corticoid kéo dài và thuốc tránh thai.

Phân loại theo mức chỉ số huyết áp có các phân loại sau:

Bảng 1.1 Phân loại huyết áp theo JNC VII năm 2013 đã quy định các mức độ tăng huyết áp như sau [39]

Phân loại huyết áp HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg)

Bảng 1.2 Phân loại huyết áp theo Tổ chức Y tế thế giới (2003) [83]

Phân loại HATT (mmHg) HATTr (mmHg)

HA bình thường cao 130-139 và 85-89

Tăng huyết áp độ 1 140-159 Và /hoặc 90-99

Tăng huyết áp độ 2 160-179 Và /hoặc 100-109

Tăng huyết áp độ 3 ≥ 180 Và /hoặc ≥ 110

THA tâm thu đơn độc ≥ 140 và < 90

Triệu chứng tăng huyết áp

Hầu hết triệu chứng của tăng huyết áp thường không rõ ràng, khiến nhiều bệnh nhân không nhận ra tình trạng của mình, mặc dù bệnh có thể đã tiến triển nghiêm trọng Chỉ một số ít bệnh nhân có thể trải qua các triệu chứng thoáng qua hoặc phát hiện bệnh khi đi khám định kỳ hoặc kiểm tra sức khỏe cho bệnh khác.

Giai đoạn đầu của tăng huyết áp thường không có triệu chứng rõ ràng, khiến nhiều bệnh nhân không nhận ra tình trạng của mình Khi phát hiện, họ có thể gặp phải các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, hay quên, ù tai, và mệt mỏi Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài, nó có thể gây tổn thương cho các cơ quan như tim, não và thận, dẫn đến các triệu chứng nghiêm trọng hơn Tăng huyết áp được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” vì các triệu chứng không rõ ràng cho đến khi bệnh đã tiến triển nghiêm trọng, có thể gây ra các biến chứng tim mạch đột ngột, đe dọa tính mạng bệnh nhân.

Tuy nhiên, các triệu chứng trên không đặc trưng cho bệnh lý THA Đo huyết áp là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định THA

Những người có nguy cơ bị THA:

• Tuổi: Nguy cơ THA tăng cùng với độ tuổi, nhất là ở người từ 45 tuổi trở lên thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn

• Thừa cân béo phì: Người thừa cân BMI ≥ 23, nam vòng bụng ≥ 90 cm, nữ vòng bụng ≥ 80 cm

• Sử dụng rượu bia, thuốc lá làm THA và gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch

• Ăn nhiều muối, ít rau quả

• Ít hoạt động thể lực

• Căng thẳng tâm lý: căng thẳng thường xuyên là nguy cơ khiến huyết áp của bạn tăng cao

• Mắc các bệnh mạn tính như bệnh thận, đái tháo đường…

Tiền sử bệnh trong gia đình có thể làm tăng nguy cơ mắc tăng huyết áp (THA), đặc biệt nếu có người thân đã từng bị THA Việc đánh giá triệu chứng cận lâm sàng là cần thiết để xác định các biến chứng và tìm ra nguyên nhân gây bệnh.

• Xét nghiệm máu: Ure, creatinin máu để đánh giá biến chứng suy thận

• Xét nghiệm: cholesterol, triglycerid, HDL- Cholesterol, LDL- Cholesterol, Glucoese máu, HbA1C…để phát hiện các yếu tố nguy cơ của người bệnh THA

• Nước tiểu: Protein, hồng cầu trong nước tiểu

• Soi đáy mắt: Đánh giá dấu hiệu phù gai thị, xơ hóa, teo nhỏ động mạch võng mạc, xuất huyết

• Điện tim: Phát hiện dày thất trái, hở van 2 lá do biến chứng suy tim trái

• Xquang tim phổi: Phát hiện dấu hiệu phì đại thất trái

• Siêu âm tim, mạch: Đánh giá chức năng tâm thu thất trái, tình trạng xơ vữa mạch.

Biến chứng của tăng huyết áp

Nếu không được kiểm soát tốt, THA có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, suy tim và suy thận mạn.

Hình 1.1 Biến chứng do tăng huyết áp

Các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp

Bệnh tăng huyết áp (THA) có xu hướng gia tăng theo độ tuổi, với người cao tuổi có nguy cơ cao hơn về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do các bệnh liên quan Huyết áp cũng có sự khác biệt theo giới tính; trước tuổi 55, nam giới thường có huyết áp cao hơn nữ giới, nhưng sau tuổi này, chỉ số huyết áp giữa hai giới trở nên tương đương.

- Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình

+ Nhiều nghiên cứu khẳng định yếu tố di truyền của THA và THA có tính gia đình rõ rệt

- Địa lý, thói quen và lối sống [57], [76], [79]

+ Tỷ lệ THA khác nhau ở các nước có điều kiện kinh tế, văn hóa và chủng tộc khác nhau

+ Hút thuốc lá nicotin trong khói thuốc lá gây co mạch ngoại biên, tăng nồng độ sertonin, cathecholamin ở não, tuyến thượng thận

+ Uống nhiều rượu bia: rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA

+ Ăn mặn: lượng muối ăn hàng ngày cao là một nguyên nhân gây ra THA

+ Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện pháp phòng ngừa THA và là cách điều trị không dùng thuốc tốt nhất [37]

+ Ít vận động, béo phì, đái tháo đường, rối loạn lipid máu

Hội chứng chuyển hóa là một tình trạng y tế quan trọng, trong đó tăng huyết áp (THA) là một trong những biểu hiện điển hình Hội chứng này bao gồm các yếu tố như béo phì, rối loạn chuyển hóa glucose và rối loạn chuyển hóa lipid, tất cả đều có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tổng thể.

TỔNG QUAN VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP

Điều trị tăng huyết áp

Mục tiêu điều trị tăng huyết áp (THA) là duy trì huyết áp ổn định dưới 140/90 mmHg, tuy nhiên, mức huyết áp mục tiêu có thể thay đổi tùy theo từng bệnh nhân cụ thể.

Hội tim mạch học Việt Nam khuyến nghị mức huyết áp mục tiêu dưới 140/90 mmHg cho tất cả bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên Tuy nhiên, đối với bệnh nhân trên 80 tuổi không mắc bệnh thận mạn hoặc đái tháo đường, có thể xem xét mục tiêu huyết áp cao hơn là dưới 150/90 mmHg.

Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp JNC-8 khuyến nghị mức huyết áp mục tiêu dưới 140/90 mmHg cho bệnh nhân dưới 60 tuổi, bao gồm cả những người mắc đái tháo đường và bệnh thận mạn Đối với bệnh nhân cao tuổi từ 60 tuổi trở lên, mức huyết áp mục tiêu nên đặt dưới 150/90 mmHg Theo hướng dẫn ESH/ESC 2013, mức huyết áp mục tiêu cũng được khuyến cáo là dưới 140/90 mmHg cho các bệnh nhân thông thường, trong khi những trường hợp đặc biệt như người cao tuổi trên 80 tuổi, bệnh nhân đái tháo đường và bệnh thận mạn có protein niệu sẽ có mức huyết áp mục tiêu riêng biệt.

Bảng 1.3 Huyết áp mục tiêu theo các hướng dẫn điều trị

Bệnh nhân Huyết áp mục tiêu mmHg

- Mục tiêu điều trị chung

BN < 60 tuổi: đái tháo đường, bệnh thận mạn

BN > 80 tuổi Đái tháo đường Bệnh thận mạn không protein niệu

Bệnh thận mạn có protein niệu

Biện pháp không dùng thuốc đóng vai trò quan trọng trong điều trị huyết áp Các bác sĩ khuyên bệnh nhân nên áp dụng những phương pháp tự nhiên để kiểm soát huyết áp hiệu quả.

 Điều chỉnh chế độ ăn uống: lành mạnh hơn và dùng ít muối (dưới 6g/ngày); tăng cường rau xanh, hoa quả tươi;

 Tập thể dục đều đặn, vừa sức;

 Cố gắng duy trì cân nặng lý tưởng, giảm cân theo hướng dẫn;

 Ngừng hoặc hạn chế tối đa uống rượu, bỏ hút thuốc;

 Tránh nhiễm lạnh đột ngột;

 Kiểm soát tốt các bệnh liên quan;

 Sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp đúng theo hướng dẫn của bác sĩ;

 Thường xuyên theo dõi sự thay đổi của huyết áp ngay tại nhà với máy đo thích hợp

Kiểm soát huyết áp là nhiệm vụ quan trọng không chỉ cho người bệnh mà còn cho toàn xã hội, nhằm phòng ngừa biến chứng Theo Uỷ ban phòng chống THA Hoa Kỳ và Hội tim mạch học Việt Nam, việc điều chỉnh lối sống hợp lý là phương pháp hiệu quả trong việc kiểm soát huyết áp Các khuyến cáo cụ thể về hành vi điều chỉnh có thể giúp giảm mức huyết áp đáng kể, như được thể hiện trong bảng 1.4.

Giảm cân Duy trì trọng lượng cơ thể bình thường (BMI 18.5 - 24.9)

5 - 20 mmHg / 10 kg cân nặng giảm

Tuân thủ kế hoạch ăn Ăn nhiều trái cây, rau, các sản phẩm bơ sữa và chất béo

Giảm Na trong khẩu phần ăn (2,4 g Na hay 6g NaCl)

Hoạt động thể lực điều độ như đi bộ nhanh

Uống rượu mức độ vừa phải

Nam giới không nên uống quá 2 ly rượu nhỏ mỗi ngày, tương đương 300 ml ethanol, 720 ml bia, 300 ml rượu hoặc 90 ml whisky 80 độ Đối với nữ giới và những người có trọng lượng nhẹ, lượng ethanol không nên vượt quá 15 ml mỗi ngày.

Nếu thay đổi lối sống không mang lại hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ xem xét việc kê đơn thuốc cho bệnh nhân.

Mặc dù đã có nhiều phác đồ điều trị tăng huyết áp được thử nghiệm, bác sĩ sẽ liên tục theo dõi tình trạng bệnh nhân và điều chỉnh liều lượng thuốc, phối hợp thêm hoặc loại bỏ thuốc cho đến khi tìm ra phác đồ điều trị tối ưu nhất.

Trước và sau khi sử dụng thuốc, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ, đặc biệt là các tác dụng phụ có thể xảy ra trong quá trình điều trị Việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp cần được thực hiện thường xuyên để duy trì huyết áp ổn định Điều trị tăng huyết áp là một quá trình kéo dài suốt đời.

Hình 1.2 Quy trình điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế (2010) [8]

** Phối hợp thuốc trong điều trị

- Đánh giá nguy cơ tổng quát trước khi điều trị để xác định xem BN thuộc nhóm nguy cơ nào?

- Không hạ HA quá nhanh

- Tuân thủ nguyên tắc từng bước và theo cá thể

Bệnh mạn tính yêu cầu theo dõi và điều trị lâu dài, nhằm đạt được mục tiêu điều trị và tìm ra liều duy trì phù hợp Mặc dù có thể có thời gian ngừng sử dụng thuốc, nhưng các biện pháp không dùng thuốc vẫn cần được duy trì để đảm bảo hiệu quả điều trị.

- Kết hợp giáo dục BN tuân thủ chế độ điều trị

- Chú ý điều kiện kinh tế của BN

Nguyên tắc phối hợp thuốc:

Các nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng việc phối hợp nhiều loại thuốc là cần thiết để đạt được huyết áp mục tiêu, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao Sự kết hợp này dựa trên cơ chế tác động sinh lý bệnh, trong đó thuốc có thể hoạt động qua ba cơ chế chính: giảm thể tích bằng cách sử dụng lợi tiểu như Thiazid, lợi tiểu quai và kháng aldosteron.

+ Giảm tần số tim, như chẹn beta và chẹn kênh calcium (verapamin, diltiazem)

Để điều trị huyết áp cao (THA), cần giảm kháng lực mạch bằng các loại thuốc dãn mạch như thuốc ức chế hệ renin, thuốc chẹn kênh calcium dihydropyridine, và thuốc dãn mạch trực tiếp như hydralazine và minoxidil Khi sử dụng thuốc lợi tiểu, cần lưu ý rằng nó có thể kích thích tiết renin, do đó, thuốc thứ hai hoặc thứ ba cần phải là thuốc ức chế hệ renin để đối phó với các thay đổi bù trừ Nếu thuốc đầu tiên là ức chế hệ renin mà không đạt được huyết áp mục tiêu, thuốc thứ hai nên là thuốc tăng tiết renin hoặc ít nhất không ức chế hệ renin.

Như vậy, khi phối hợp thuốc cần lưu ý [34]:

+ Cơ chế khác nhau của thuốc phối hợp có tác dụng cộng hưởng, hoặc ít nhất không ảnh hưởng lên tác dụng của nhau

+ Việc phối hợp không ảnh hưởng xấu lên yếu tố nguy cơ khác, cũng như cơ quan đích mà nó có tác dụng cốt lõi

+ Phối hợp tăng dần từng thuốc

Để kiểm soát huyết áp (HA) hiệu quả, cần phối hợp các loại thuốc hạ áp đúng cách và hợp lý theo chỉ định Thường thì nên kết hợp năm loại thuốc hạ áp hàng đầu với các cơ chế khác nhau Việc phối hợp thuốc cần được xem xét kỹ lưỡng dựa trên trị số huyết áp, tình trạng bệnh lý và các yếu tố nguy cơ đi kèm của từng bệnh nhân.

Hình 1.3 Phối hợp thuốc điều trị tăng huyết áp [34]

- Có nhiều thuốc trị THA đang được sử dụng, có 7 nhóm với một số đặc tính như sau:

Nhóm thuốc lợi tiểu bao gồm Hydroclorothiazid, Indapamid, Furosemid, Spironolacton, Amilorid và Triamteren, có tác dụng giảm sự ứ nước trong cơ thể, từ đó làm giảm sức cản của mạch ngoại vi và hạ huyết áp Những loại thuốc này có thể được sử dụng đơn lẻ cho trường hợp huyết áp nhẹ hoặc kết hợp với thuốc khác khi huyết áp tăng nặng Việc lựa chọn loại thuốc phù hợp là rất quan trọng, vì một số loại có thể làm thải nhiều kali, trong khi những loại khác giữ kali, tăng acid uric và cholesterol trong máu.

Nhóm thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương, bao gồm Reserpin, Methyldopa và Clonidin, hoạt động bằng cách kích thích một số tế bào thần kinh để hạ huyết áp Tuy nhiên, hiện nay ít được sử dụng do tác dụng phụ gây trầm cảm và nguy cơ tăng huyết áp đột ngột khi ngừng thuốc.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán THA được điều trị ngoại trú và được quản lý tại BVĐK huyện Tri Tôn từ tháng 11/2019 đến tháng 4/2020

- Bệnh nhân được chẩn đoán THA có trong danh sách được quản lý tại BVĐK huyện Tri Tôn

- Bệnh nhân có khả năng trả lời phỏng vấn

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bệnh nhân vắng mặt trong thời gian nghiên cứu

- Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu

- Bệnh nhân không thể tham gia nghiên cứu (bệnh tâm thần, suy tim nặng )

- Bệnh nhân có hồ sơ bệnh án không đầy đủ thông tin khảo sát

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2019 đến tháng 4/2020 tại BVĐK huyện Tri Tôn.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ: n = 𝑧

 Z: hệ số tin cậy (với độ tin cậy 95%, Z=1,96)

 p = 0,33 (ước tính tỷ lệ không tuân thủ điều trị THA theo nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Hạnh năm 2013)

 d: Là sai số cho phép 0.06

Thay các giá trị trên ta tính được cỡ mẫu là n = 236

Chúng tôi áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để tuyển chọn người tham gia nghiên cứu Bất kỳ bệnh nhân nào đến khám và đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn, đồng thời không vi phạm tiêu chuẩn loại trừ, sẽ được đưa vào nghiên cứu cho đến khi đạt đủ 236 người.

NỘI DUNG VÀ CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

2.3.1 Đặc điểm chung các đối tượng nghiên cứu

- Đặc điểm mắc bệnh của bệnh nhân : thời gian phát hiện mắc bệnh

- Các bệnh mắc kèm theo

- Đặc điểm dùng thuốc ở bệnh nhân: chế độ liều dùng, số thuốc dùng, tác dụng không mong muốn

- Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu

2.3.2 Đặc điểm tuân thủ điều trị tăng huyết áp

- Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc

- Tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn

- Tỷ lệ tuân thủ hạn chế sử dụng rượu, bia

- Tỷ lệ tuân thủ không hút thuốc lá/thuốc lào

- Tỷ lệ tuân thủ chế độ sinh hoạt, luyện tập thể lực

- Tỷ lệ tuân thủ theo dõi huyết áp và khám bệnh định kỳ

- Tỷ lệ tuân thủ điều trị chung

2.3.3 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Giới tính có ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu sức khỏe cần tuân thủ, bao gồm việc sử dụng thuốc, chế độ ăn uống hợp lý, hạn chế tiêu thụ rượu và bia, ngừng hút thuốc lá và thuốc lào, duy trì chế độ thể dục thường xuyên, cũng như theo dõi huyết áp định kỳ Những yếu tố này cần được điều chỉnh phù hợp với từng giới tính để đảm bảo sức khỏe tối ưu.

Trình độ văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu sức khỏe cần tuân thủ, bao gồm việc sử dụng thuốc đúng cách, duy trì chế độ ăn uống lành mạnh, hạn chế tiêu thụ rượu và bia, ngừng hút thuốc lá và thuốc lào, thực hiện chế độ thể dục thường xuyên, và theo dõi huyết áp định kỳ Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn phản ánh nhận thức và hiểu biết của mỗi người về cách chăm sóc bản thân.

Tình trạng chung sống và điều kiện kinh tế có ảnh hưởng đáng kể đến việc tuân thủ các chỉ tiêu sức khỏe, bao gồm việc sử dụng thuốc, chế độ ăn uống hợp lý, hạn chế tiêu thụ rượu bia, ngừng hút thuốc lá và thuốc lào, duy trì chế độ thể dục đều đặn, cũng như theo dõi huyết áp thường xuyên.

- Các yếu tố liên quan giữa đặc điểm dùng thuốc với tuân thủ điều trị thuốc

Tuân thủ chế độ sinh hoạt và rèn luyện thể lực là những yếu tố quan trọng giúp duy trì sức khỏe, bên cạnh việc theo dõi huyết áp và khám định kỳ Những yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với việc tuân thủ chế độ ăn uống hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc phòng ngừa và quản lý các bệnh lý liên quan đến sức khỏe Việc kết hợp giữa lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng khoa học sẽ giúp cải thiện sức khỏe tổng thể và giảm nguy cơ mắc bệnh.

- Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc, thăm khám định kỳ, theo dõi huyết áp với với tuân thủ điều trị chung

- Các yếu tố liên quan giữa hỗ trợ của nhân viên y tế - bệnh nhân với tuân thủ điều trị

- Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ điều trị và đạt huyết áp mục tiêu.

TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu này, tất cả các tiêu chí tuân thủ chế độ điều trị tăng huyết áp (THA) sẽ được đánh giá trong vòng một tháng Trước khi phân tích mức độ tuân thủ chung, chúng tôi sẽ trình bày chi tiết về từng tiêu chí tuân thủ của bệnh nhân, đồng thời xác định các yếu tố liên quan đến các loại hình tuân thủ khác nhau.

2.4.1 Đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc

Tuân thủ sử dụng thuốc: là sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng chỉ dẫn của CBYT

Nghiên cứu này áp dụng Bộ câu hỏi phỏng vấn Morisky (MAQ – medication adherence questionnaire – Morisky 8) để đo lường tuân thủ điều trị Theo Morisky, mỗi câu hỏi trong bộ câu hỏi được chấm điểm từ 0 đến 1, và mức độ tuân thủ được phân loại dựa trên tổng điểm đạt được, dao động từ 0 đến 8 điểm.

- 1-2 điểm: Tuân thủ trung bình

- ≥ 3 điểm: Tuân thủ kém / không tuân thủ

Sau đó, để phù hợp với việc so sánh với các nghiên cứu tại Việt Nam, nghiên cứu sinh chia theo 2 mức gồm:

- Có tuân thủ (điểm số từ 0-2)

2.4.2 Đánh giá tuân thủ chế độ ăn

Tuân thủ chế độ ăn: Là ăn hạn chế muối natri, cholesterol và acid béo no

Hạn chế muối natri là rất quan trọng trong chế độ ăn uống, theo quy định của nghiên cứu này, bệnh nhân cần tuân thủ chế độ ăn không vượt quá 6g muối (khoảng 1 thìa cà phê) mỗi ngày Việc tiêu thụ các thực phẩm giàu muối natri như thực phẩm đóng hộp, chế biến sẵn (thịt hun khói, xúc xích, thịt hộp, bơ mặn, nước tương, muối vừng) nên được hạn chế, đặc biệt khi ăn cùng gia đình.

Để duy trì sức khỏe tim mạch, việc hạn chế cholesterol và acid béo no là rất quan trọng Điều này bao gồm việc tránh tiêu thụ mỡ động vật như thịt mỡ, mỡ động vật chiên xào, lòng đỏ trứng và bơ Đánh giá mức độ tuân thủ chế độ ăn này có thể thực hiện thông qua bảng câu hỏi, trong đó từ câu 9 đến câu 16, bệnh nhân sẽ được hỏi về tần suất tiêu thụ các loại thực phẩm trên, sử dụng thang đo 4 mức.

- Thường xuyên (>4 lần/tuần): 3 điểm

- Thỉnh thoảng (2 – 3 lần/tuần): 2 điểm

- Có khi (1 lần/tuần): 1 điểm

Theo quy định, tổng điểm từ 0-24, nếu bệnh nhân (BN) đạt trên 8 điểm sẽ được xem là không tuân thủ chế độ ăn, trong khi đó, điểm từ 8 trở xuống được coi là tuân thủ chế độ ăn.

2.4.3 Đánh giá tuân thủ hạn chế rượu/bia, không sử dụng thuốc lá, thuốc lào

Hạn chế uống rượu và bia là một trong những khuyến nghị quan trọng trong Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế năm 2010, nhằm bảo vệ sức khỏe cho bệnh nhân mắc bệnh này.

Để duy trì sức khỏe, nam giới nên tiêu thụ ít hơn 3 cốc chuẩn mỗi ngày và tổng cộng không quá 14 cốc chuẩn mỗi tuần, trong khi nữ giới nên hạn chế dưới 2 cốc chuẩn mỗi ngày và 9 cốc chuẩn mỗi tuần Một cốc chuẩn tương đương với 10g ethanol, tương đương 330ml bia hoặc 120ml rượu vang.

Trong khi đó, bệnh nhân tăng huyết áp phải ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào [12]

Nghiên cứu này phân tích mức độ tuân thủ điều trị liên quan đến việc tiêu thụ rượu và bia trong tuần qua Để thực hiện, chúng tôi đã hỏi bệnh nhân về số lượng rượu hoặc bia họ đã uống vào ngày cao điểm nhất và lượng trung bình hàng ngày, từ đó tính tổng số cốc chuẩn mà họ tiêu thụ trong suốt tuần.

- Đánh giá tuân thủ không hút thuốc lá, thuốc lào thông qua các câu hỏi bệnh nhân về tình trạng sử dụng loại thuốc này

2.4.4 Đánh giá tuân thủ theo dõi HA

Theo khuyến nghị của Phân Hội Tăng huyết áp Việt Nam về mức độ theo dõi huyết áp, nghiên cứu này được phân loại như sau [36]:

- Theo dõi huyết áp Tốt: Đo và ghi lại giá trị huyết áp ≥ 3 lần/tuần

- Theo dõi huyết áp Trung bình: Đo và ghi lại giá trị huyết áp 1 - 2 lần/tuần

- Không theo dõi thường xuyên: Không đo hoặc đo < 1 lần/tuần

Sau đó chúng tôi đánh giá theo 2 mức là có theo dõi huyết áp và không theo dõi huyết áp như sau:

- Có theo dõi: Đo và ghi lại tối thiểu 1 lần/tuần

- Không theo dõi: Đo và ghi lại dưới 1 lần/tuần

2.4.5 Đánh giá tuân thủ chế độ sinh hoạt luyện tập thể lực

Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của BYT năm 2010, bệnh nhân cần tăng cường hoạt động thể lực phù hợp, bao gồm tập thể dục, đi bộ hoặc vận động vừa phải từ 30-60 phút mỗi ngày Ngoài ra, cần tránh lo âu và căng thẳng, chú trọng đến việc thư giãn và nghỉ ngơi hợp lý, đồng thời tránh bị lạnh đột ngột Để đánh giá sự tuân thủ chế độ sinh hoạt và luyện tập của bệnh nhân, có thể sử dụng các câu hỏi xây dựng sẵn.

2.4.6 Đánh giá tuân thủ điều trị chung

BN được coi là tuân thủ khi đạt 4 tiêu chuẩn trở lên trong 1 tháng trước khi BN nhân phỏng vấn, dưới 4 tiêu chuẩn là không tuân thủ điều trị.

CÁC BƯỚC THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu được mời vào một phòng riêng gần khu vực khám bệnh, nhằm giảm thiểu việc di chuyển cho bệnh nhân sau khi hoàn tất các thủ tục khám và nhận thuốc.

- Thu thập thông tin từ hồ sơ khám bệnh của BN

- Sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế (phụ lục), phỏng vấn và đánh giá điểm cho từng bệnh nhân

- Tiến hành nhập liệu, xử lý số liệu.

KIỂM SOÁT SAI SỐ VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

- Số liệu thu thập được nhập và xử lý bằng phần mềm thống kê y học SPSS 20.0

Biến định tính được mô tả thông qua tần số và tỷ lệ, giúp đánh giá các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị theo thuật toán khi bình phương Việc phân tích này cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa các yếu tố và mức độ tuân thủ, từ đó hỗ trợ trong việc cải thiện hiệu quả điều trị.

Sai số trong thu thập thông tin có thể phát sinh do lỗi của người thu thập trong quá trình chọn mẫu và nhập liệu Để giảm thiểu sai số này, số liệu từ phiếu khảo sát và bệnh án sẽ được cập nhật hai lần độc lập và kiểm tra đối chiếu kỹ lưỡng Hơn nữa, người thực hiện cần có kiến thức chuyên môn vững vàng và thu thập số liệu một cách cẩn thận, chính xác để tránh sai lệch và nhầm lẫn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐẶC ĐIỂM CHUNG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Biều đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo giới tính

Nhận xét: Bệnh nhân mắc bệnh THA chủ yếu là nam giới (131 bệnh nhân, chiếm 55,51%) và có 105 bệnh nhân là nữ giới chiếm 44,49%

Biều đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi

Những bệnh nhân đến khám vì bệnh tăng huyết áp (THA) chủ yếu thuộc độ tuổi trên 45, với 213 bệnh nhân, chiếm 90,25% tổng số Đặc biệt, nhóm tuổi từ 45-65 chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 55,93%.

Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung khác của đối tượng nghiên cứu

Biến số Số lượng Tỷ lệ (%)

Sau trung học phổ thông 153 64,83

Tình trạng hôn nhân, gia đình Ở một mình 21 8,9 Ở cùng vợ/ chồng 162 68,64 Ở cùng con cái 53 22,46

Tổng 236 100 Điều kiện kinh tế

Những bệnh nhân đến khám chủ yếu có trình độ học vấn cao, sống cùng gia đình và có nền tảng kinh tế ổn định.

Bảng 3.2 Thời gian phát hiện mắc bệnh của bệnh nhân

Thời gian phát hiện mắc bệnh

Nhận xét: Đa số bệnh nhân là những người đã phát hiện bệnh từ lâu (trên 5 năm) và thăm khám mang tính chất định kì

Bảng 3.3 Các bệnh kèm theo

Tên bệnh kèm theo Số lượng Tỷ lệ Đái tháo đường 83 35,17

Không mắc bệnh kèm theo 42 17,8

Phần lớn bệnh nhân mắc tăng huyết áp (THA) thường đi kèm với các bệnh lý chuyển hóa, trong đó đái tháo đường, bệnh thận và rối loạn lipid là những tình trạng phổ biến nhất.

Bảng 3.4 Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu Đạt được huyết áp mục tiêu Số lượng Tỷ lệ

Nhận xét: Sau quá trình điều trị, có 210/236 bệnh nhân đạt được huyết áp mục tiêu (chiếm 88,98%) Vẫn còn 26 bệnh nhân chưa đạt được huyết áp mục tiêu (chiếm 11,02%)

Bảng 3.5 Đặc điểm chế độ dùng thuốc của bệnh nhân Đặc điểm dùng thuốc Số lượng Tỷ lệ

Nhận xét: Bệnh nhân chủ yếu được sử dụng chế độ dùng thuốc từ 1-2 lần/ngày

Bảng 3.6 Đặc điểm về số thuốc dùng của bệnh nhân

Số lượng thuốc dùng điều trị THA

Đa số bệnh nhân sử dụng phương thức điều trị bằng cách phối hợp hai loại thuốc, chiếm tỷ lệ 47,46% Theo sau đó, đơn trị liệu chiếm 34,32%, trong khi việc kết hợp sử dụng ba loại thuốc chiếm 18,22%.

Bảng 3.7 Đặc điểm về tác dụng không mong muốn trên bệnh nhân

Xuất hiện tác dụng không mong muốn của thuốc

Nhận xét: Trong số 236 bệnh nhân, chỉ có 12 trường hợp xuất hiện tác dụng phụ

ĐẶC ĐIỂM TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ

3.2.1 Tuân thủ điều trị thuốc

Bảng 3.8 Phân bố điểm Morisky của bệnh nhân Điểm Morisky Số lượng Tỷ lệ

Biểu đồ 3.3 Tuân thủ điều trị thuốc theo Morisky

Theo thang điểm Morisky, trong số các bệnh nhân được điều trị, có 66 bệnh nhân tuân thủ điều trị kém (27,97%), 95 bệnh nhân tuân thủ ở mức độ trung bình (40,25%) và 75 bệnh nhân tuân thủ điều trị ở mức độ tốt (31,78%).

Tuân thủ điều trị Số lượng Tỷ lệ

Nhận xét: Trong 236 bệnh nhân điều trị, chỉ có 170 bệnh nhân tuân thủ điều trị thuốc (72,03%), vẫn còn 66 bệnh nhân chưa tuân thủ tốt việc điều trị thuốc (27,97%)

3.2.2 Tuân thủ điều trị không thuốc

Bảng 3.10 Tuân thủ điều trị chế độ ăn

Tuân thủ điều trị Số lượng Tỷ lệ

Nhận xét: Đa số bệnh nhân tuân thủ điều trị chế độ ăn (86,02%)

Bảng 3.11 Tuân thủ điều trị hạn chế sử dụng rượu, bia

Tuân thủ điều trị Số lượng Tỷ lệ

Đa số bệnh nhân, với tỷ lệ 81,36%, đã tuân thủ việc hạn chế sử dụng rượu bia, tuy nhiên vẫn còn 44 bệnh nhân, chiếm 18,64%, chưa điều chỉnh được thói quen này.

Bảng 3.12 Tuân thủ không hút thuốc lá, thuốc lào

Tuân thủ điều trị Số lượng Tỷ lệ

Nhận xét: Đa số bệnh nhân tuân thủ không hút thuốc lá, thuốc lào (66,53%) Tuy nhiên vẫn còn 79 bệnh nhân (33,47%) chưa bỏ được thói quen này

Bảng 3.13 Tuân thủ chế độ sinh hoạt, rèn luyện thể lực

Tuân thủ điều trị Số lượng Tỷ lệ

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân tuân thủ tốt chế độ sinh hoạt và rèn luyện thể lực

Bảng 3.14 trình bày đặc điểm theo dõi huyết áp, trong đó có 54 người (22,88%) đo và ghi lại giá trị huyết áp ≥ 3 lần/tuần, trong khi 137 người (58,05%) đo và ghi lại giá trị huyết áp 1 - 2 lần/tuần.

Trong nghiên cứu với 236 bệnh nhân, 22,88% (54 bệnh nhân) đã đo và ghi lại huyết áp từ 3 lần/tuần trở lên, trong khi 58,05% (137 bệnh nhân) chỉ ghi lại từ 1 đến 2 lần/tuần Đáng chú ý, có 19,07% (45 bệnh nhân) không thực hiện việc đo huyết áp.

Bảng 3.15 Tuân thủ theo dõi huyết áp

Tuân thủ theo dõi Số lượng Tỷ lệ

Không Không có máy đo 18 7,63

Nhận xét: Trong số 236 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, có 191 bệnh nhân

Theo thống kê, tỷ lệ tuân thủ theo dõi huyết áp đạt 80,93% Tuy nhiên, vẫn còn 45 bệnh nhân chưa thực hiện việc này, với nguyên nhân chủ yếu là do không có máy đo huyết áp (7,63%).

3.2.3 Tuân thủ điều trị chung

Bảng 3.16 Tuân thủ điều trị chung

Tuân thủ điều trị chung Số lượng Tỷ lệ

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân đều tuân thủ điều trị chung (chiếm 88,98%)

Bảng 3.17 Đặc điểm tuân thủ điều trị chung

Mức độ tuân thủ chung Số lượng Tỷ lệ

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân đều tuân thủ ít nhất 4 chế độ trở lên (88,98%)

Trong đó chủ yếu là tuân thủ 4 chế độ (75,42%).

BÀN LUẬN

ĐẶC ĐIỂM CHUNG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân mắc bệnh tăng huyết áp (THA) chủ yếu là nam giới, với 131 bệnh nhân nam (55,51%) và 105 bệnh nhân nữ (44,49%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm, trong đó nam giới chiếm 55,2% và nữ giới 44,8% Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại ghi nhận tỷ lệ nữ mắc bệnh cao hơn, như nghiên cứu của Nguyễn Hoài Thanh Lâm với 62% bệnh nhân nữ và Nguyễn Thu Hằng với 58,68% Dù vậy, nhiều nghiên cứu tại Việt Nam vẫn cho thấy tỷ lệ mắc THA ở nam giới trưởng thành có xu hướng cao hơn so với nữ giới.

An (2003), Cao Thị Yến Thanh (2006), Nguyễn Lân Việt (2008), điều tra quốc gia năm 2015 đều cho kết quả nam giới có tỷ lệ THA cao hơn nữ giới [1], [70],

Nam giới thường uống rượu và hút thuốc nhiều hơn nữ giới, đồng thời có cường độ làm việc cao hơn Điều này có thể liên quan đến yếu tố gen và sinh lý học của giới tính Ngoài ra, rượu có tác dụng bảo vệ tim, cải thiện các thành phần lipoprotein, giãn mạch và ức chế sự phát triển của cơ trơn mạch máu, dẫn đến tình trạng co mạch Vì những lý do này, tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới thường cao hơn.

Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân tăng huyết áp (THA) chủ yếu thuộc lứa tuổi trên 45, với 90,25% tổng số bệnh nhân (213 người) Nhóm tuổi 45-65 chiếm tỷ lệ cao nhất (55,93%) Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng, độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 67,1±8,9 năm, trong khi Trần Văn Hòa ghi nhận độ tuổi trung bình là 60,8±12,3 năm Nghiên cứu của Chu Hồng Thắng (2008) tại Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ THA ở người từ 25-44 tuổi là 3,8% - 13,0%, còn ở độ tuổi 45-64 là 27,3% - 31,0% Đặc biệt, tỷ lệ mắc bệnh THA ở nhóm tuổi 45-54 cao gấp 9,66 lần và ở tuổi 55-64 cao gấp 11,54 lần so với nhóm 24-35 Đối với nam giới từ 55 tuổi trở lên, gần một nửa số người mắc THA Nghiên cứu của Đỗ Thị Phương Hà (2015) cũng cho thấy tỷ lệ THA ở người thừa cân, béo phì tăng dần theo độ tuổi, với tỷ lệ thấp nhất 13,8% ở nhóm 25-34 tuổi.

Nhóm tuổi 55 - 64 chiếm 46,4% trong nghiên cứu về tăng huyết áp Tuổi tác có mối liên hệ chặt chẽ với sự gia tăng huyết áp; khi tuổi càng cao, tỷ lệ tăng huyết áp cũng tăng do quá trình lão hóa và xơ vữa động mạch, dẫn đến giảm tính đàn hồi và làm huyết áp tâm thu tăng cao, được gọi là tăng huyết áp tâm thu đơn thuần Mặc dù huyết áp tâm trương có xu hướng giảm nhẹ sau độ tuổi 65 - 70, huyết áp tâm thu vẫn tiếp tục tăng theo độ tuổi Nghiên cứu của chúng tôi khẳng định rằng tuổi tác là một yếu tố nguy cơ không thể thay đổi đối với tăng huyết áp, đồng nhất với các nghiên cứu trước đây.

Một số đặc điểm chung khác của đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân tham gia khảo sát chủ yếu có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên, sống cùng người thân và có điều kiện kinh tế ổn định, điều này thuận lợi cho việc tuân thủ điều trị và kiểm soát huyết áp Tỷ lệ tuân thủ điều trị sẽ được thể hiện qua khảo sát ở phần sau Chúng tôi cũng sẽ đánh giá mối liên hệ giữa các đặc điểm này và sự tuân thủ điều trị So với các nghiên cứu khác, như nghiên cứu của Trương Thị Thùy Dương, nơi có 61,3% đối tượng có trình độ học vấn trung học cơ sở và 62,2% làm ruộng, cho thấy kiến thức về tăng huyết áp tại hai xã còn hạn chế Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm cho thấy 86,8% đối tượng đã nghỉ hưu, với 92,0% có mức thu nhập dưới 6 triệu đồng, và 46,0% có trình độ học vấn cao nhất là phổ thông trung học Sự khác biệt giữa các nghiên cứu về đối tượng có thể giải thích cho những khác biệt trong kết quả nghiên cứu.

Tuổi cao là một yếu tố nguy cơ không thể tránh khỏi của tăng huyết áp

Nhóm người lớn tuổi có nguy cơ cao mắc các bệnh mạn tính khác nhau Nghiên cứu này khảo sát tình trạng bệnh lý kèm theo ở nhóm bệnh nhân, cho thấy phần lớn bệnh nhân tăng huyết áp (THA) đồng thời mắc các bệnh chuyển hóa, trong đó đái tháo đường, bệnh lý thận và rối loạn lipid là phổ biến nhất Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đó.

Trương Thị Thùy Dương cho biết người cao tuổi trong nghiên cứu mắc nhiều loại bệnh như xương khớp, tim mạch, thận và rối loạn lipid máu Kết quả này tương đồng với nghiên cứu về người cao tuổi toàn quốc năm 2011, phản ánh bức tranh chung về tình trạng sức khỏe của người cao tuổi tại Việt Nam.

Chế độ dùng thuốc ở bệnh nhân nghiên cứu:

Trong chế độ dùng thuốc, 84,75% bệnh nhân sử dụng thuốc 1-2 lần/ngày, với 47,46% sử dụng phương thức phối hợp 2 loại thuốc, 34,32% theo đơn trị liệu đơn, và 18,22% kết hợp 3 loại thuốc Chỉ 17,8% bệnh nhân không mắc bệnh kèm theo, dẫn đến nhu cầu điều trị kết hợp cao Việc sử dụng nhiều loại thuốc phối hợp có thể gây khó khăn trong việc kiểm soát huyết áp, làm tăng nguy cơ vấn đề về tuân thủ điều trị, tác dụng phụ và tương tác giữa các loại thuốc Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ giữa tuân thủ sử dụng thuốc, thu nhập, số lượng thuốc uống hàng ngày và tần suất kiểm soát huyết áp.

Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu là 88,98%, với 210/236 bệnh nhân đạt yêu cầu, trong khi 11,02% (26 bệnh nhân) vẫn chưa đạt Mặc dù con số này thấp hơn tỷ lệ không tuân thủ điều trị theo WHO, nhưng vẫn đáng lo ngại WHO cho biết hơn một nửa bệnh nhân tăng huyết áp ngừng chăm sóc sau một năm chẩn đoán, và chỉ khoảng 50% trong số họ tuân thủ dùng thuốc theo chỉ định Do đó, khoảng 75% bệnh nhân không đạt được kiểm soát huyết áp tối ưu do tuân thủ điều trị kém Nghiên cứu này sẽ xác nhận mối liên hệ giữa đạt huyết áp mục tiêu và tuân thủ điều trị trong phần sau của luận văn.

ĐẶC ĐIỂM TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ

4.2.1 Tuân thủ điều trị thuốc

Hai yếu tố chính trong việc kiểm soát tăng huyết áp (THA) ở bệnh nhân là kê đơn đầy đủ số lượng và liều lượng thuốc, cùng với việc tuân thủ liệu pháp điều trị Chúng tôi đã sử dụng thang điểm Morisky để đánh giá sự tuân thủ điều trị thuốc ở bệnh nhân Kết quả cho thấy, trong số 236 bệnh nhân được điều trị, có 66 bệnh nhân tuân thủ kém (27,97%), 95 bệnh nhân tuân thủ ở mức độ trung bình (40,25%) và 75 bệnh nhân tuân thủ tốt (31,78%) Tổng cộng, 170 bệnh nhân (72,03%) đã tuân thủ điều trị thuốc, trong khi 66 bệnh nhân (27,97%) vẫn chưa tuân thủ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng, với chỉ 12,47% bệnh nhân không tuân thủ Trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ thuốc đạt 87,53%, chủ yếu là ở mức độ trung bình, chiếm 86,8%.

Tỷ lệ không tuân thủ trong nghiên cứu này cao gấp khoảng 2 lần so với nghiên cứu của tác giả Hằng, nhưng thấp hơn gần 2 lần so với nghiên cứu của tác giả Rowa’Al-Ramahi trên 450 bệnh nhân tăng huyết áp ở Palestine (54,2%) Kết quả cũng cho thấy tỷ lệ này thấp hơn khoảng 2 lần so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh trên 350 bệnh nhân tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương TP.

Tại Hồ Chí Minh, tỷ lệ không tuân thủ sử dụng thuốc lên đến 54% Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh chỉ ra rằng chỉ có 3,6% bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt, trong khi 24,8% bệnh nhân tuân thủ ở mức độ trung bình Đáng chú ý, có tới 71,5% bệnh nhân không tuân thủ điều trị.

Sự khác biệt trong mức độ tuân thủ điều trị thuốc có thể xuất phát từ nhiều yếu tố, bao gồm nhân khẩu học, tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu và cỡ mẫu Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bệnh nhân chủ yếu có trình độ học vấn tốt, sống cùng người thân và có điều kiện kinh tế ổn định Ngược lại, đối tượng nghiên cứu của tác giả Hẳng chủ yếu sinh sống tại thành phố với 70% có trình độ từ trung học phổ thông trở lên và 100% bệnh nhân có bảo hiểm xã hội chi trả chi phí khám bệnh và thuốc điều trị Những yếu tố này có thể góp phần vào mức độ tuân thủ cao ở nhóm đối tượng nghiên cứu Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc sẽ được khảo sát chi tiết trong phần sau của luận văn.

Đánh giá mức độ tuân thủ dùng thuốc bằng bộ câu hỏi Morisky là phương pháp lâm sàng hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí Bộ câu hỏi này được thiết kế tự điền và thu thập kết quả, nhưng có thể phát sinh sai số do bệnh nhân không hiểu câu hỏi hoặc nhớ nhầm thông tin, đặc biệt là ở bệnh nhân cao tuổi Do đó, nhóm nghiên cứu cần thực hiện phỏng vấn để hỗ trợ bệnh nhân trong việc trả lời Những yếu tố này có thể gây ra sự khác biệt trong kết quả giữa các nghiên cứu do đặc điểm của đối tượng khảo sát.

4.2.2 Tuân thủ điều trị không thuốc

Chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị tăng huyết áp (THA), giúp kiểm soát huyết áp và ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm, đồng thời giảm liều lượng thuốc cần thiết Việc tuân thủ chế độ ăn hạn chế muối, thực phẩm nhiều dầu mỡ và đồ ngọt, đồng thời tăng cường rau xanh và trái cây tươi là thiết yếu cho bệnh nhân THA Nghiên cứu cho thấy 86,02% bệnh nhân tuân thủ chế độ ăn này, tỷ lệ cao hơn so với nhiều nghiên cứu trong nước trước đó Cụ thể, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm chỉ ra rằng 96,8% bệnh nhân giảm lượng muối, trong khi 100% điều chỉnh chế độ ăn ít béo Nguyễn Minh Phương ghi nhận chỉ 3,6% bệnh nhân vẫn ăn mặn, và 65,6% có chế độ ăn giảm chất béo Bên cạnh đó, các nghiên cứu về việc tăng cường rau xanh và trái cây tươi đều đạt tỷ lệ trên 70% Mặc dù phần lớn bệnh nhân đã có ý thức tuân thủ chế độ ăn, vẫn còn một số ít chưa thực hiện đúng khuyến cáo.

Rượu bia là yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch và tăng huyết áp (THA) Những người thường xuyên tiêu thụ rượu bia có tỷ lệ mắc THA cao hơn so với những người không uống Trong nghiên cứu, 81,36% bệnh nhân đã tuân thủ việc hạn chế sử dụng rượu bia, nhưng vẫn còn một số người không thực hiện điều này.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 44 bệnh nhân (18,64%) vẫn chưa điều chỉnh được thói quen sử dụng rượu bia, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm, nơi 47,2% đối tượng không uống rượu bia Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ không sử dụng rượu bia thấp hơn, như Trần Thị Loan với 67,6% và Nguyễn Minh Phương với 66,4% Nghiên cứu của Thomas Akpanedo ghi nhận tỷ lệ 67,65%, cũng thấp hơn so với kết quả của chúng tôi Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi đặc điểm mẫu nghiên cứu của chúng tôi, với 55,51% là nam giới, tỷ lệ nam giới cao hơn so với một số nghiên cứu khác.

Hút thuốc lá và thuốc lào có thể gây co mạch, tăng huyết áp và làm nặng thêm tình trạng bệnh Trong nghiên cứu của chúng tôi, 66,53% bệnh nhân đã tuân thủ không hút thuốc, tuy nhiên vẫn còn 33,47% (79 bệnh nhân) chưa từ bỏ thói quen này Tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương (72,0% không hút thuốc) nhưng cao hơn so với Ninh Văn Đông (10,5% bỏ hút thuốc) Mặc dù nhận thức được tác hại của thuốc lá, tỷ lệ người từ bỏ vẫn chưa cao Sự khác biệt này có thể do tỷ lệ giới tính và trình độ học vấn trong các nghiên cứu tham chiếu khác nhau, trong đó nghiên cứu của chúng tôi có trình độ học vấn cao hơn, dẫn đến nhận thức về tác hại của thuốc lá cũng cao hơn.

Để đạt được tiêu chuẩn đánh giá về việc tuân thủ luyện tập thể dục, cần duy trì chế độ sinh hoạt hợp lý và rèn luyện thể lực đều đặn Chúng tôi khuyến nghị tập thể dục ít nhất 5 lần mỗi tuần với thời gian và cường độ luyện tập phù hợp để đảm bảo sức khỏe tối ưu.

Nghiên cứu cho thấy rằng việc tuân thủ chế độ sinh hoạt và rèn luyện thể lực đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tình trạng bệnh tăng huyết áp (THA) Cụ thể, 83,47% bệnh nhân thực hiện tốt các biện pháp nghỉ ngơi và giảm căng thẳng, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm, nơi chỉ có 44,4% bệnh nhân tập thể dục 5 lần trở lên mỗi tuần Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu và phương pháp đánh giá khác nhau, với Nguyễn Thị Thơm ghi nhận rằng nhiều bệnh nhân trong độ tuổi đi làm có ít thời gian cho việc tập luyện Điều này cho thấy cần thiết phải tăng cường nhắc nhở bệnh nhân về tầm quan trọng của việc tập thể dục hàng ngày tương tự như việc tuân thủ điều trị bằng thuốc hạ huyết áp.

Trong nghiên cứu với 236 bệnh nhân, có 191 bệnh nhân (80,93%) tuân thủ theo dõi huyết áp, tuy nhiên vẫn còn 45 bệnh nhân chưa thực hiện điều này Nguyên nhân chính dẫn đến việc không tuân thủ là do không có máy đo huyết áp (7,63%).

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 54 bệnh nhân (22,88%) đã đo và ghi lại huyết áp ≥ 3 lần/tuần, trong khi 137 bệnh nhân (58,05%) thực hiện việc này 1 - 2 lần/tuần Tỷ lệ bệnh nhân không theo dõi huyết áp thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh So với khảo sát trước can thiệp của Vũ Xuân Phú (35% ở nội thành Hà Nội năm 2012), tỷ lệ này cao hơn đáng kể và khả quan hơn so với khảo sát của Hà Anh Đức tại Thái Nguyên năm 2013, cũng như cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Bùi Thu Hà tại Hải Phòng Kết quả khả quan này có thể do thời điểm nghiên cứu của chúng tôi diễn ra sau các nghiên cứu trước đó và bao gồm cả những lần đo huyết áp do người nhà bệnh nhân thực hiện, dẫn đến tỷ lệ đo cao hơn.

Nhiều bệnh nhân có điều kiện thuận lợi để tự theo dõi huyết áp tại nhà, nhờ vào việc tự đo hoặc được người thân hỗ trợ Họ đã trang bị máy đo huyết áp tại gia, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra sức khỏe Đặc biệt, ở khu vực nông thôn, sự gần gũi và thân thiện giữa người dân giúp họ dễ dàng chia sẻ, mượn hoặc mua chung máy đo huyết áp, từ đó nâng cao ý thức chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

4.2.3 Tuân thủ điều trị chung

Ngày đăng: 29/08/2023, 22:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy An (2003), "Điều tra ban đầu chỉ số huyết áp và tăng huyết áp ở người dân tộc thiểu số thị xã Kon Tum", Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, 35: tr.47 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ban đầu chỉ số huyết áp và tăng huyết áp ở người dân tộc thiểu số thị xã Kon Tum
Tác giả: Đào Duy An
Năm: 2003
2. Bandyopadhyay D Egan BM, Shaftman SR, Wagner CS, Zhao Y (2012). Initial monotherapy and combination therapy and hypertension controlthe frst year. Hypertension.59:1124–1131.doi:,10.1161/HYPERTENSIONAHA.112.194167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypertension
Tác giả: Bandyopadhyay D Egan BM, Shaftman SR, Wagner CS, Zhao Y
Năm: 2012
3. Beata Jankowska-Polańska, Karolina Zamęta, Izabella Uchmanowicz, et al. (2018). Adherence to pharmacological and non-pharmacological treatment of frail hypertensive patients, Journal of geriatric cardiology:JGC, 15(2):153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of geriatric cardiology: "JGC
Tác giả: Beata Jankowska-Polańska, Karolina Zamęta, Izabella Uchmanowicz, et al
Năm: 2018
4. Benner JS Yeaw J, Walt JG, Sian S, Smith DB (2019). Comparing adherence and, persistence across 6 chronic medication classes. J Manag Care Pharm.,15:728–740. doi: 10.18553/jmcp.2009.15.9.728 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Manag Care Pharm
Tác giả: Benner JS Yeaw J, Walt JG, Sian S, Smith DB
Năm: 2019
5. Blaschke T. (2005). Adherence to medication. N Engl J Med. Osterberg L; 353:487–497. doi: 10.1056/NEJMra050100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N Engl J Med
Tác giả: Blaschke T
Năm: 2005
6. Bộ môn Giáo dục sức khỏe (2012). Bài giảng “Khoa học hành vi và truyền thông giáo dục sức khỏe, Nhà xuất bản y học. 14-23, 75-84 7. Bộ môn Dinh Dưỡng và An toàn thực phẩm (2012). Bài giảng Dinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học hành vi và truyền thông giáo dục sức khỏe, "Nhà xuất bản y học
Tác giả: Bộ môn Giáo dục sức khỏe (2012). Bài giảng “Khoa học hành vi và truyền thông giáo dục sức khỏe, Nhà xuất bản y học. 14-23, 75-84 7. Bộ môn Dinh Dưỡng và An toàn thực phẩm
Nhà XB: Nhà xuất bản y học". 14-23
Năm: 2012
10. Burnier M. Drug adherence in hypertension. Pharmacol Res. 2017;125:142–149. doi: 10.1016/j.phrs.2017.08.015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pharmacol Res
11. Caro JJ et al, (1999). Persistence with treatment for hypertension in actual practice, Canadian Medical Association Journal 160:31–37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canadian Medical Association Journal
Tác giả: Caro JJ et al
Năm: 1999
12. CDC (2013), Medication Adherence Primary care educators may use the following slides for their own teaching purposes, CDC’s Noon Conference March 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medication Adherence
Tác giả: CDC
Năm: 2013
14. Chobanian AV, Bakris GL, Black HR, Cushman WC, et al. (2003). Seventh report of the joint national committee on prevention, detection, evaluation, and treatment of high blood pressure.Hypertension;42(6):1206-1252 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypertension
Tác giả: Chobanian AV, Bakris GL, Black HR, Cushman WC, et al
Năm: 2003
16. Nguyễn Dung, Hoàng Hữu Nam, Dương Quang Minh (2012). Nghiên cứu tình hình bệnh Tăng huyết áp tại thành phố Huế và thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011, Tạp chí Y học thực hành, 805:1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Dung, Hoàng Hữu Nam, Dương Quang Minh
Năm: 2012
17. Trương Thị Thùy Dương (2016). Hiệu quả của mô hình truyền thông giáo dục dinh dưỡng nhằm cải thiện một số yếu tố nguy cơ tăng huyết áp tại cộng đồng. Luận án tiến sỹ y học, Đại học y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sỹ y học
Tác giả: Trương Thị Thùy Dương
Năm: 2016
18. Ninh Văn Đông (2010), Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp trên 60 tuổi tại phường Hàng Bông- Quận Hoàn Kiếm Hà Nội, năm 2010, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp trên 60 tuổi tại phường Hàng Bông- Quận Hoàn Kiếm Hà Nội, năm 2010
Tác giả: Ninh Văn Đông
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2010
19. Ezulier AG. và Husain AA. (2000), "Drug compliance among hypertention patients in Kassala, Eastern Sudan", East Mediterr Health 6(1), tr. 100-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drug compliance among hypertention patients in Kassala, Eastern Sudan
Tác giả: Ezulier AG. và Husain AA
Năm: 2000
20. Farzane Etebari, Mohammad Zakaria Pezeshki, Sanam Fakour (2019). Factors related to the non-adherence of medication and nonpharmacological recommendations in high blood pressure patients, Journal of cardiovascular and thoracic research, 11(1):28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of cardiovascular and thoracic research
Tác giả: Farzane Etebari, Mohammad Zakaria Pezeshki, Sanam Fakour
Năm: 2019
9. Bộ Y tế (2015) Hướng dẫn điều trị dinh dưỡng lâm sàng, (Dinh dưỡng với bệnh tăng huyết áp), Ban hành kèm theo Quyết định số 5517/QĐ- BYT ngày 25 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Nhà xuất bản Y học Khác
15. Cục Y tế Dự phòng - Bộ Y tế (2016), Điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm Việt Nam 2015, tr.1, tr. 43 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Biến chứng do tăng huyết áp - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Hình 1.1 Biến chứng do tăng huyết áp (Trang 22)
Bảng 1.3 Huyết áp mục tiêu theo các hướng dẫn điều trị - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 1.3 Huyết áp mục tiêu theo các hướng dẫn điều trị (Trang 24)
Hình 1.2 Quy trình điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế (2010) [8] - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Hình 1.2 Quy trình điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế (2010) [8] (Trang 27)
Hình 1.3 Phối hợp thuốc điều trị tăng huyết áp [34] - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Hình 1.3 Phối hợp thuốc điều trị tăng huyết áp [34] (Trang 29)
Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung khác của đối tượng nghiên cứu - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung khác của đối tượng nghiên cứu (Trang 44)
Bảng 3.3 Các bệnh kèm theo - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.3 Các bệnh kèm theo (Trang 45)
Bảng 3.6 Đặc điểm về số thuốc dùng của bệnh nhân - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.6 Đặc điểm về số thuốc dùng của bệnh nhân (Trang 46)
Bảng 3.10 Tuân thủ điều trị chế độ ăn - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.10 Tuân thủ điều trị chế độ ăn (Trang 47)
Bảng 3.15. Tuân thủ theo dõi huyết áp - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.15. Tuân thủ theo dõi huyết áp (Trang 49)
Bảng 3.21 Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ chế độ ăn và tuân thủ một số chế - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.21 Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ chế độ ăn và tuân thủ một số chế (Trang 51)
Bảng 3.20 Các yếu tố liên quan giữa một số yếu tố với tuân thủ chế độ ăn - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.20 Các yếu tố liên quan giữa một số yếu tố với tuân thủ chế độ ăn (Trang 51)
Bảng 3.22 Các yếu tố liên quan giữa một số đặc điểm chung với TTĐT chung - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.22 Các yếu tố liên quan giữa một số đặc điểm chung với TTĐT chung (Trang 52)
Bảng 3.23 Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc theo dõi huyết áp với  tuân thủ điều trị chung - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.23 Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc theo dõi huyết áp với tuân thủ điều trị chung (Trang 52)
Bảng 3.25 Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ điều trị và đạt huyết áp mục tiêu - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.25 Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ điều trị và đạt huyết áp mục tiêu (Trang 53)
Bảng 3.24 Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ điều trị và sự hỗ trợ từ NVYT - Khảo sát tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại bệnh viện đa khoa huyện tri tôn
Bảng 3.24 Các yếu tố liên quan giữa tuân thủ điều trị và sự hỗ trợ từ NVYT (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w