1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại bộ luật lao động hiện hành bất cập và giải pháp hoàn thiện

67 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại bộ luật lao động hiện hành bất cập và giải pháp hoàn thiện
Tác giả Hồng Ngọc Huỳnh
Người hướng dẫn Th.S Lâm Hồng Loan Chị
Trường học Trường Đại Học Tây Đô
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG (13)
    • 1.1 L Ý LUẬN CHUNG VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI (13)
      • 1.1.1 Khái niệm về về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi (13)
      • 1.1.2 Quá trình hình thành quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi (14)
        • 1.1.2.1 Lịch sử hình thành quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trên thế giới (14)
        • 1.1.2.2 Các đặc trưng của quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi (16)
    • 1.2 K HÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI (18)
      • 1.2.1 Các giai đoạn hình thành của pháp luật lao động tại nước ta về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi (18)
        • 1.2.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1954 (18)
        • 1.2.1.2 Giai đoạn từ 1955 đến 1975 (20)
        • 1.2.1.3 Giai đoạn từ 1976 đến nay (21)
      • 1.1.3 Phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động tại nước ta về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi (0)
        • 1.1.3.1 Đối với thời giờ làm việc (0)
        • 1.1.3.2 Đối với thời giờ nghỉ ngơi (0)
      • 1.1.4 Các nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật nước ta về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi (0)
        • 1.1.4.1 Nguyên tắc do luật định (0)
        • 1.1.4.2 Nguyên tắc do các bên trong quan hệ lao động thỏa thuận (0)
        • 1.1.4.3 Nguyên tắc rút ngắn thời giờ làm việc đối với các đối tượng đặc biệt hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại (0)
    • 1.3 Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI (24)
  • CHƯƠNG 2. NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI (27)
    • 2.1 Q UY ĐỊNH VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG HIỆN HÀNH (27)
      • 2.1.1 Quy định về thời giờ làm việc trong điều kiện bình thường (27)
      • 2.1.2 Quy định về thời giờ làm việc vào ban đêm (28)
      • 2.1.3 Quy định về thời giờ làm thêm, làm thêm vào ban đêm (29)
      • 2.1.4 Quy định về thời giờ làm việc trong một số trường hợp khác (33)
        • 2.1.4.1 Quy định về thời giờ làm việc rút ngắn (33)
    • 2.2 Q UY ĐỊNH VỀ THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG HIỆN HÀNH (35)
      • 2.2.1 Quy định về các trường hợp nghỉ có hưởng lương (35)
        • 2.2.1.1 Quy định về trường hợp nghỉ giờ giữa ca, nghỉ chuyển ca (35)
        • 2.2.1.2 Quy định về trường hợp nghỉ hằng năm (35)
        • 2.2.1.3 Quy định về trường hợp nghỉ lễ, tết (38)
        • 2.2.1.4 Quy định về trường hợp nghĩ việc riêng (39)
      • 2.2.2 Quy định về trường hợp nghỉ không hưởng lương (39)
        • 2.2.2.1 Quy định về trường hợp nghỉ chuyển ca (39)
        • 2.2.2.2 Quy định về trường hợp nghỉ hằng tuần (40)
        • 2.2.2.3 Quy định về trường hợp nghỉ việc riêng (40)
    • 2.3 T HỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI CỦA MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG LAO ĐỘNG ĐẶT BIỆT (40)
      • 2.3.1 Đối với người lao động làm công việc sản xuất có tính thời vụ và công việc gia công hàng theo đơn đặt hàng (40)
      • 2.3.2 Đối với lao động là người giúp việc gia đình (41)
      • 2.3.3 Đối với lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt (42)
      • 2.3.4 Các đối tượng lao động đặc biệt khác (43)
        • 2.3.4.1 Đối với đối tượng lao động là nữ (43)
        • 2.3.4.2 Đối với đối tượng lao động là người khuyết tật (43)
        • 2.3.4.3 Đối với đối tượng lao động là người chưa thành niên (44)
        • 2.3.4.4 Đối với đối tượng lao động là người cao tuổi (45)
  • CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG VẤN ĐỀ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI (47)
    • 3.1 T HỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI (47)
      • 3.1.1 Vi phạm quy định về thời giờ làm việc (47)
      • 3.1.2 Lạm dụng lao động trẻ em (50)
      • 3.1.3 Bớt xén thời giờ nghỉ giữa ca (51)
    • 3.3 M ỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI (55)

Nội dung

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

L Ý LUẬN CHUNG VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI

1.1.1 Khái niệm về về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Trong quan hệ lao động, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi là hai khái niệm đối lập nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và áp lực cạnh tranh khốc liệt đã khiến người lao động làm việc với cường độ cao hơn, dẫn đến nhu cầu nghỉ ngơi ngày càng trở nên quan trọng.

Số giờ trong ngày không đổi, do đó, khi số giờ lao động tăng lên, thời gian nghỉ ngơi sẽ giảm Trong kinh tế học, đây là sự đánh đổi giữa thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi Khi thu nhập thấp, người lao động thường phải hy sinh thời gian nghỉ ngơi để kiếm sống, dẫn đến mức tiền công thực tế luôn ở mức thấp Ngược lại, khi thu nhập cao hơn, nhu cầu nghỉ ngơi cũng gia tăng Vì vậy, trong kinh tế, cần đạt được sự cân bằng giữa thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi để tối ưu hóa năng suất và hiệu quả lao động Thời gian làm việc được xem là khoảng thời gian cần thiết để hoàn thành công việc, trong khi thời gian nghỉ ngơi là thời gian để tái tạo sức lao động sau một ngày dài làm việc.

Thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi là các quy định pháp luật quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động (NLĐ) và khả năng kinh tế của người sử dụng lao động (NSDLĐ) Đây không chỉ là quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động mà còn thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa NLĐ và NSDLĐ Mặc dù các bên có thể tự do thỏa thuận về thời gian làm việc và nghỉ ngơi, nhưng không được vượt quá giới hạn pháp luật cho phép Thời giờ làm việc là khoảng thời gian NLĐ thực hiện nghĩa vụ lao động và tuân thủ nội quy, đồng thời được hưởng lợi ích trong thời gian này.

3 Lưu Bình Nhưỡng (chủ biên,2009), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb.Công an nhân dân,

6 thì thời giờ còn lại là thời giờ nghỉ ngơi, NLĐ có thể tự do làm những việc theo ý muốn của cá nhân

Từ những phân tích trên, về mặt pháp lý có thể hiểu thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi như sau 4 :

Thời giờ làm việc là khoảng thời gian do pháp luật hoặc thỏa thuận giữa các bên quy định, trong đó người lao động phải có mặt tại nơi làm việc để thực hiện nhiệm vụ được giao, tuân thủ quy định nội bộ và sự điều hành của người sử dụng lao động, phù hợp với pháp luật và hợp đồng lao động.

Thời giờ nghỉ ngơi là khoảng thời gian do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận, trong đó người lao động không phải thực hiện nghĩa vụ lao động Trong thời gian này, người lao động có quyền sử dụng thời gian theo ý muốn để nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe và tái tạo khả năng lao động.

1.1.2 Quá trình hình thành quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong pháp luật lao động

1.1.2.1 Lịch sử hình thành quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trên thế giới

Lao động là quá trình sử dụng sức lực cá nhân và tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu con người Những sản phẩm từ lao động này được buôn bán và lưu thông, tạo nên quan hệ giao thương giữa các khu vực và châu lục, hình thành một thị trường thống nhất Kinh tế thị trường bắt đầu phát triển từ khoảng 1100 trước Công nguyên, với chế độ chiếm hữu nô lệ trong xã hội Hy Lạp - La Mã, nơi người dân bản xứ bị biến thành nô lệ và phải lao động khổ sai để phục vụ lợi ích của nhóm thống trị Thời kỳ này đánh dấu sự bắt đầu của sự bóc lột giai cấp và xâm hại quyền con người, lan rộng ra toàn thế giới.

Lợi nhuận là mục tiêu chính trong mọi hoạt động kinh tế của chủ nghĩa vào thời điểm đó Đến đầu thế kỷ XIX, việc tối đa hóa lợi nhuận trở thành ưu tiên hàng đầu trong các chiến lược kinh doanh.

4 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật Lao động, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam

5 Takya Đỗ, Nguyễn Chí Hoan, Nguyễn Chí Hiếu (biên dịch,2017), Lịch Sử Chiến Tranh Peloponnese, NXB.Thế Giới

Giai cấp tư sản thường lợi dụng nô lệ và người lao động, buộc họ làm việc từ 16 đến 18 giờ mỗi ngày với mức lương thấp Sự phát triển của công nghiệp ở châu Âu đã chuyển đổi lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, tạo ra một lượng lớn máy móc và nâng cao năng suất lao động gấp hàng trăm lần so với thời kỳ nô lệ và phong kiến Điều này đã tạo ra nguồn của cải lớn hơn rất nhiều so với tổng số của cải do nô lệ sản xuất trong nhiều năm Khi công nghiệp phát triển mạnh mẽ, cư dân thành thị gia tăng, họ liên kết và đấu tranh để cải thiện điều kiện lao động và giảm giờ làm.

Năm 1833, Vương quốc Anh công bố Luật Công xưởng, quy định ngày làm việc 15 giờ đối với người lao động là người lớn, 12 giờ đối với lao động 13 đến

Theo quy định, độ tuổi lao động tối thiểu là 18 tuổi, trong khi trẻ em từ 9 đến 12 tuổi chỉ được làm việc tối đa 8 giờ mỗi ngày và không được làm ca đêm Khẩu hiệu "ngày làm 8 giờ" lần đầu tiên được Các Mác đề xuất tại Đại hội đại biểu Đệ nhất Quốc tế ở Giơnevơ vào năm 1866.

Năm 1884, Mỹ và Canada đã quyết định thực hiện chế độ làm việc 8 giờ vào ngày 01/05/1886 Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, dưới áp lực của phong trào công nhân quốc tế, nhiều quốc gia đã lần lượt áp dụng ngày làm 8 giờ Vào ngày 25/01/1919, theo đề nghị của Vương quốc Anh, Ủy ban pháp luật quốc tế về lao động được thành lập nhằm chuẩn bị cho việc thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Ngày 11/04/1919, Tổ chức Lao động Quốc tế chính thức được thành lập và thông qua Công ước số.

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động liên quan đến thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi, nhằm cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ sức khỏe của người lao động trong ngành công nghiệp.

Vào đầu thế kỷ XIX, người lao động (NLĐ) phải làm việc từ 16 đến 18 giờ mỗi ngày mà không có văn bản pháp luật nào bảo vệ quyền lợi về thời gian làm việc và nghỉ ngơi, điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng của họ Sự ra đời của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) nhằm cải thiện điều kiện lao động và nâng cao mức sống toàn cầu, trong đó có quy định về thời giờ làm việc cho NLĐ.

6 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật Lao động, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.296

7 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Sách Giáo Khoa Địa Lí Lớp 7, NXB Giáo Dục Việt Nam, tr.164-167

8 Diệp Thành Nguyên (2016), Giáo trình Luật Lao động cơ bản, Đại học Cần Thơ, tr.70

9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, NXB Công an nhân dân

1.1.2.2 Các đặc trưng của quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

ILO đã thông qua các Công ước về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi như sau:

Quy định về thời giờ làm việc:

Công ước số 1 (1919) quy định rằng thời gian làm việc trong ngành công nghiệp không được vượt quá 48 giờ mỗi tuần, trong khi Công ước số 30 (1930) quy định thời gian làm việc trong lĩnh vực thương mại và văn phòng không quá 10 giờ mỗi ngày và cũng không vượt quá 48 giờ mỗi tuần.

Công ước số 41 (1934) quy định rằng thời gian làm việc ban đêm phải kéo dài ít nhất 11 giờ liên tục, bao gồm khoảng thời gian từ 22 giờ đến 5 giờ sáng.

Công ước số 46 (1935) quy định rằng thời gian làm việc hàng ngày của công nhân mỏ than không được vượt quá 7 giờ 45 phút Thời gian này bao gồm cả khoảng thời gian công nhân di chuyển vào và ra khỏi mỏ than.

K HÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI

1.2.1 Các giai đoạn hình thành của pháp luật lao động tại nước ta về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Ở Việt Nam, vấn đề về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng rất được quan tâm, chứng minh là đã có rất nhiều văn bản pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được ban hành từ sau Cách mạng tháng tám cho tới những năm sau này Lịch sử hình thành pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về lao động nói riêng là sự gắn liền với lịch sử hình thành nước ta, lịch sử hình thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Vì thế pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng được phân ra thành các giai đoạn sau:

1.2.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1954 Đây là thời kì đầu tiên của cuộc thời kỳ Pháp thuộc, vô cùng non trẻ và mới mẻ Lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 về việc tạm giữ các luật lệ cũ cho đến khi ban hành luật lệ mới mà không trái với những ấn định trong sắc lệnh này Với nhiều sự cố gắng và nỗ lực, mà nhiều văn bản pháp luật ra đời, trong đó có văn bản pháp luật quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Đầu tiên là Sắc lệnh số 55 ngày 20/11/1945 của Chính Phủ về việc nghỉ có hưởng lương ngày 1/5, các ngày lễ, tết, ngày lễ tôn giáo 13 , Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới Từ đây, thành lập bản Hiến pháp 1946 - Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được quy định Để cụ thể chi tiết hơn về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, Chính phủ Việt Nam tiếp tục cho ban hành Sắc

Theo Điều 2 của Công ước số 30, thời gian mà người lao động bị quản lý bởi người sử dụng lao động không bao gồm thời gian nghỉ ngơi khi họ không còn dưới sự sắp đặt của người sử dụng lao động.

Dự án Xây dựng khung khổ quan hệ lao động mới của ILO (2018) nhằm đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động Dự án NIRF/USDOL cam kết thúc đẩy sự phát triển bền vững và công bằng trong môi trường lao động Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy trên trang web của ILO.

13 Bộ Công Thương Việt Nam (2018), Các thời kỳ phát triển, http://www.moit.gov.vn/web/guest/lanh- dao_mvcPath=%2Fhtml%2Fshow%2FviewDetailLichSuPhatTrien.jsp, truy cập 12/05/2020

Sắc lệnh số 29 ngày 12/03/1947 là văn bản luật đầu tiên quy định chi tiết về quan hệ lao động, được xem là tiến bộ và đầy đủ nhất Cụ thể, Điều 101 quy định thời gian làm việc không quá 48 giờ mỗi tuần cho công nhân, bất kể giới tính hay độ tuổi Đối với các cơ sở hầm mỏ và xưởng công nghệ, Điều 102 quy định thời gian làm việc tối đa là 45 giờ mỗi tuần Ngoài ra, văn bản cũng quy định về thời gian làm việc trong những trường hợp đặc biệt như thời tiết xấu hay ngày lễ, với giới hạn không quá 100 giờ phụ mỗi năm cho mỗi người lao động.

Nhà nước thể hiện sự quan tâm đến sức khỏe của công nhân qua quy định về ngày nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết và nghỉ ốm Theo Sắc lệnh, công nhân được nghỉ 24 giờ liên tục mỗi tuần và 9 ngày lễ, tết trong năm, bao gồm các ngày quan trọng như Tết Nguyên Đán và lễ lao động Công nhân làm việc một năm được nghỉ ít nhất 10 ngày có lương, trong đó 8 ngày không trùng vào chủ nhật hay ngày lễ Đặc biệt, Sắc lệnh số 29/SL bảo vệ quyền lợi của lao động nữ, cho phép họ được nghỉ 30 phút để cho con bú trong giờ làm việc và không bị trừ vào thời gian nghỉ phép Ngoài ra, nơi có 100 công nhân nữ cần có nhà giữ trẻ cho con bú Sắc lệnh này là văn bản pháp luật đầu tiên khẳng định quyền tự do và nhân quyền của người lao động, nhấn mạnh sự thỏa thuận giữa chủ và thợ về lương và thời gian làm việc, nhưng vẫn phải tuân thủ Hiến pháp.

14 Điều 103, Sắc lệnh số 29/SL của Chủ tịch Chính phủ (đã hết hiệu lực)

15 Điều 112, Sắc lệnh số 29/SL của Chủ tịch Chính phủ (đã hết hiệu lực)

16 Điều 124, Sắc lệnh số 29/SL của Chủ tịch Chính phủ (đã hết hiệu lực)

Cột mốc đầu tiên trong quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi trong pháp luật lao động Việt Nam là một bước quan trọng, mặc dù chỉ có 12 dụng cụ thực tế được áp dụng.

Trong giai đoạn đất nước chia thành hai miền Nam, Bắc, miền Bắc đã chuyển mình với những biến đổi kinh tế, hình thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hiện đại hóa trong công nghiệp và nông nghiệp Kinh tế tư nhân dần bị loại bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do nhà nước quản lý Pháp luật lao động chủ yếu áp dụng cho khu vực kinh tế Nhà nước, với nhiều văn bản quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi cho cán bộ, công chức như Nghị định số 28/TTg ngày 28/01/1959 và Thông tư số 08/LĐ-TT ngày 04/03/1961 Hội đồng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 118/TTg và 119/TTg vào năm 1963 để quy định rõ hơn về thời gian lao động và nghỉ ngơi của công nhân viên chức Mặc dù các văn bản này đã cụ thể hóa quy định, nhưng do chế độ kinh tế lúc bấy giờ, chúng chỉ điều chỉnh quan hệ lao động đối với công chức viên chức, dẫn đến nhiều hạn chế Để khắc phục, Nhà nước đã ban hành Thông tư số 06/LĐ-TT ngày 06/5/1971 hướng dẫn về thời gian làm việc của công nhân viên chức.

Thời giờ làm việc do Nhà nước quy định, yêu cầu công nhân viên chức có mặt tại nơi làm việc để thực hiện nhiệm vụ Thời gian làm việc tiêu chuẩn là 8 giờ/ngày và 48 giờ/tuần Đối với công nhân làm nghề nặng nhọc, nguy hiểm, thời gian làm việc không quá 6 giờ/ngày Thời gian làm thêm được giới hạn không quá 4 giờ/ngày và 150 giờ/năm, không được làm thêm quá 2 ngày nghỉ trong tháng, và không quá 4 giờ trong một ngày, trừ trường hợp khẩn cấp, theo quy định của Thông tư số 06/LĐ-TT.

17 Bộ Công Thương Việt Nam (2018), Các thời kỳ phát triển, http://www.moit.gov.vn/web/guest/lanh- dao_mvcPath=%2Fhtml%2Fshow%2FviewDetailLichSuPhatTrien.jsp, truy cập 12/05/2020

Theo quy định, có 13 nhóm đối tượng được miễn làm thêm giờ, bao gồm phụ nữ mang thai từ tháng thứ 5 trở đi, những bà mẹ có con nhỏ đang bú dưới 6 tháng tuổi, người lao động dưới 18 tuổi và công nhân làm việc theo chế độ ngày làm việc rút ngắn.

Theo Thông tư số 05/LĐ-TT ngày 06/5/1971, thời gian nghỉ ngơi được quy định rõ ràng Cụ thể, sau 06 ngày làm việc, công nhân viên chức có quyền được nghỉ.

Công nhân viên thường được nghỉ 01 ngày vào Chủ nhật hàng tuần Vào các dịp lễ, tết, tổng số ngày nghỉ là 07 ngày rưỡi, bao gồm 03 ngày Tết Nguyên Đán, 01 ngày Tết Dương Lịch, 01 ngày rưỡi (chiều 30/4 và ngày 1/5), cùng 02 ngày Quốc Khánh (2/9 và 3/9) So với Sắc lệnh số 29/SL, không có sự thay đổi nào.

Theo Thông tư số 05/LĐ-TT, người lao động có quyền nghỉ lễ vào 02 ngày lễ tôn giáo, nhưng sẽ được nghỉ thêm vào chiều 30/4 và ngày 3/9 Tuy nhiên, quy định không được nghỉ bù và không được hưởng thêm lương khi ngày lễ trùng vào chủ nhật là không hợp lý Về nghỉ hằng năm, công nhân viên chức cần làm việc liên tục trong 01 năm để đủ điều kiện nghỉ Thông tư cũng quy định hai mức nghỉ hằng năm là 10 ngày và 12 ngày có hưởng lương, cùng với việc thanh toán chi phí tàu xe, bao gồm ứng trước tiền tàu xe và tiền lương nếu chưa đến kỳ lĩnh lương.

1.2.1.3 Giai đoạn từ 1976 đến nay

Sau khi thống nhất đất nước, Nhà nước đã xây dựng nhiều văn bản pháp luật về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi dựa trên hai Thông tư, trong đó có Nghị định số 233 ngày 22/6/1990 Tuy nhiên, nghị định này không hiệu quả với kinh tế Việt Nam, vì các văn bản pháp luật lao động chủ yếu áp dụng cho khu vực Nhà nước Để khắc phục, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động (BLLĐ) đầu tiên có hiệu lực từ ngày 01/01/1995, và qua các lần sửa đổi, BLLĐ đã ngày càng bảo vệ quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động Hiện nay, BLLĐ 2012 và BLLĐ mới ban hành ngày 20/11/2019 sẽ có hiệu lực từ 01/01/2021, đồng thời đang trong quá trình dự thảo nghị định quy định chi tiết về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi Mặc dù ra đời muộn hơn nhiều nước, pháp luật lao động Việt Nam đã phát triển tương đối hoàn thiện, bảo vệ quyền lợi của người lao động và phù hợp với từng giai đoạn kinh tế.

1.2.2 Phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động tại nước ta về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi được quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành Những quy định này nhằm chi tiết hóa các quy tắc về thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi cho người lao động.

1.2.2.1 Đối với thời giờ làm việc

Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI

Quyền lao động và quyền nghỉ ngơi là những quyền cơ bản của con người, được pháp luật Việt Nam ghi nhận nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động (NLĐ) và tạo điều kiện cho họ làm việc lâu dài Pháp luật lao động quy định rõ về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, đảm bảo lợi ích cho cả NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ) Việc quy định chế độ này giúp NLĐ có thể sắp xếp thời gian làm việc và nghỉ ngơi một cách hợp lý, đồng thời giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa NLĐ và NSDLĐ, nơi mà NLĐ thường phụ thuộc vào NSDLĐ về kế hoạch công việc và phân phối lợi nhuận Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của NLĐ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

21 Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (ban hành kèm theo Thông tư số

15/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28 tháng 6 năm 2016 c ủa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)

Quy định pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi đóng vai trò quan trọng trong việc bảo hộ lao động và đảm bảo thời gian nghỉ ngơi cho người lao động Đối với người sử dụng lao động, những quy định này giúp họ lập kế hoạch sản xuất kinh doanh hiệu quả, xác định chi phí nhân công và quản lý lao động một cách linh hoạt Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện cho việc giám sát, kỷ luật lao động và thực hiện chế độ lương thưởng một cách công bằng Đối với nhà nước, quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi là công cụ quản lý quá trình lao động tại các cơ sở, đồng thời phản ánh trình độ phát triển và khả năng kinh tế của quốc gia, với các nước phát triển thường có thời gian làm việc ngắn hơn nhờ vào khoa học kỹ thuật tiên tiến.

Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, giúp hiểu rõ khái niệm và tầm quan trọng của chúng trong việc xây dựng pháp luật bảo vệ quyền lợi người lao động và lợi ích của người sử dụng lao động Bài viết cũng nêu rõ quy định của ILO về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, được áp dụng trên toàn cầu, cùng với sự phát triển của pháp luật lao động tại Việt Nam, nơi mà quyền lợi hợp pháp của người lao động được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật Lao động Sự cần thiết của pháp luật lao động trong đời sống xã hội được khẳng định, tạo cơ sở pháp lý cho các văn bản pháp luật sau này Tác giả sẽ phân tích các quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, đồng thời giới thiệu Bộ luật Lao động 2019, nhấn mạnh sự kế thừa từ Bộ luật 2012 và những tiến bộ trong quy định, làm nền tảng cho việc trình bày quy định hiện hành về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi.

NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI

Q UY ĐỊNH VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG HIỆN HÀNH

Thời giờ làm việc bình thường áp dụng cho hầu hết người lao động trong điều kiện lao động bình thường, với quy định không quá 8 giờ mỗi ngày và 48 giờ mỗi tuần Nếu làm việc theo tuần, thời gian có thể kéo dài tối đa 10 giờ trong một ngày nhưng vẫn phải tuân thủ giới hạn 48 giờ trong tuần Quy định này tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ quyền lợi người lao động và đảm bảo lợi ích lâu dài cho nhà sử dụng lao động.

Các thời gian sau đây cũng được tính vào thời giờ làm việc 24 :

- Nghỉ trong giờ làm việc theo quy định

- Nghỉ giải lao theo tính chất của công việc

- Nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính trong định mức lao động cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người

- Thời giờ nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi

- Nghỉ mỗi ngày 30 phút đối với lao động nữ trong thời gian hành kinh

- Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động

Thời gian dành cho việc học tập và huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động là rất quan trọng Ngoài ra, thời gian hội họp, học tập và tập huấn cũng cần được thực hiện theo yêu cầu hoặc sự đồng ý của người sử dụng lao động.

Thời gian hội họp, học tập và tập huấn do công đoàn cấp trên tổ chức nhằm triệu tập cán bộ công đoàn không chuyên trách được thực hiện theo quy định của pháp luật về công đoàn.

- Thời giờ làm việc được rút ngắn mỗi ngày ít nhất 01 giờ đối với người lao động cao tuổi trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu

Theo quy định, thời giờ làm việc trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể không được vượt quá mức thời gian tối đa đã được xác định Công ước số 47 của ILO quy định rằng thời gian làm việc không được vượt quá 40 giờ mỗi tuần.

23 “Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ” (Điều 104 BLLĐ 2012)

24 Điều 3, Nghị định 45/2013/NĐ-CP hướng dẫn Bộ Luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, mỗi nước thành viên phê chuẩn công ước phải thừa nhận nguyên tắc tuần làm việc 40 giờ mà không làm giảm mức sống Nhiều quốc gia như Philippines quy định thời gian làm việc không quá 8 giờ mỗi ngày, Campuchia giới hạn số giờ làm việc không vượt quá 8 tiếng mỗi ngày hoặc 48 tiếng mỗi tuần, Indonesia quy định không quá 7 giờ một ngày hoặc 40 giờ một tuần, và Lào quy định tối đa 8 giờ một ngày hoặc 48 giờ một tuần trong 6 ngày làm việc Pháp luật lao động ở Đông Nam Á thường quy định tối đa 8 giờ mỗi ngày và 48 giờ mỗi tuần nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Mặc dù Việt Nam chưa phê chuẩn Công ước số 47 của ILO về việc giảm giờ làm việc xuống còn 40 giờ mỗi tuần, nhưng quy định về thời giờ làm việc tiêu chuẩn tại Việt Nam vẫn tuân theo các quy định của pháp luật lao động quốc tế Điều này thể hiện xu hướng giảm giờ làm tiêu chuẩn và giới hạn tối đa thời giờ làm việc.

2.1.2 Quy định về thời giờ làm việc vào ban đêm

Làm việc vào ban đêm ảnh hưởng tiêu cực đến tâm sinh lý của người lao động, giảm sức đề kháng và có thể dẫn đến các bệnh lý nghiêm trọng như tim mạch, đái tháo đường và tăng huyết áp Theo Điều 105 của Bộ Luật Lao Động 2012, giờ làm việc ban đêm được quy định từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau Trước đây, theo Bộ Luật Lao Động 1994 (sửa đổi bổ sung 2002, 2006, 2007), thời gian làm việc ban đêm được xác định khác nhau cho hai miền Bắc và Nam, với miền Bắc là từ 22 giờ đến 6 giờ sáng và miền Nam từ 21 giờ đến 5 giờ sáng Tuy nhiên, sau khi đánh giá tác động của khí hậu và tính khả thi trong việc áp dụng các quy định, Điều 105 BLLĐ đã được điều chỉnh cho phù hợp.

2012 đã thống nhất khoảng thời gian chung để áp dụng trong cả nước là giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau

25 Điều 83, Luật Lao động Philippines 1974

26 Điều 137, Luật Lao động Vương quốc Campuchia 1997

27 Điều 77, Luật lao động Indonesia 2003

28 Điều 51, Luật Lao động Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 2007

Thời giờ làm việc ban đêm là thời gian làm việc bình thường, chủ yếu áp dụng cho các đơn vị sử dụng lao động theo ca Làm việc vào thời gian này có thể làm thay đổi nhịp sinh học của người lao động, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của họ Theo quy định tại khoản 2 Điều 108 BLLĐ 2012, người lao động được nghỉ giữa giờ làm việc dài hơn và được nghỉ khi chuyển ca làm việc theo Điều 109 BLLĐ 2012, đồng thời được hưởng ít nhất 30% tiền lương làm việc vào ban đêm theo quy định tại khoản 2 Điều 97 BLLĐ 2012 Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể làm việc ban đêm; những người lao động có đặc điểm như sức khỏe yếu, chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, hoặc đang thực hiện thiên chức làm mẹ sẽ bị hạn chế hoặc không được sử dụng làm việc ban đêm, mặc dù họ đồng ý.

- Lao động nữ là người đang mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ

06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo 29

- Lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi 30

- Lao động là người dưới 15 tuổi 31

- Người khuyết tật suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên 32

Lao động từ 15 đến dưới 18 tuổi có thể làm việc vào ban đêm trong một số nghề và công việc theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

2.1.3 Quy định về thời giờ làm thêm, làm thêm vào ban đêm

Thời gian làm thêm là khoảng thời gian lao động ngoài giờ làm việc bình thường theo quy định pháp luật hoặc thỏa ước lao động Có hai trường hợp làm thêm giờ: trong ngày làm việc bình thường và vào ngày nghỉ hoặc ngày lễ Pháp luật lao động quy định nguyên tắc hạn chế làm thêm giờ nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, ngăn chặn việc người sử dụng lao động ép buộc nhân viên làm việc quá mức để tối đa hóa lợi nhuận mà không phải tuyển thêm lao động.

22 gian để NLĐ tái tạo sức lao động Vì vậy, NSDLĐ được sử dụng NLĐ làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các nguyên tắc sau đây:

- Được sự đồng ý của NLĐ;

- Bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không vượt quá định mức số giờ làm thêm trong ngày, trong tháng, trong năm tối đa;

Thời gian làm thêm không được vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong mỗi ngày và tổng số giờ làm việc, bao gồm cả giờ làm thêm, không vượt quá 12 giờ mỗi ngày Mỗi năm, số giờ làm thêm tối đa là 200 giờ, nhưng trong các trường hợp đặc biệt như sản xuất hàng dệt may, chế biến nông sản, cung cấp điện và viễn thông, có thể tăng lên tối đa 300 giờ.

Theo Bộ luật Lao động 2012, yêu cầu làm thêm giờ cần có sự đồng ý của người lao động, tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ mà không thể từ chối, nhưng vẫn phải tuân thủ giới hạn giờ làm thêm tối đa theo quy định Cụ thể, điều này áp dụng trong các trường hợp như thực hiện lệnh động viên cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, hoặc khi cần bảo vệ tính mạng và tài sản trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai, hỏa hoạn Bộ luật Lao động 2019, có hiệu lực từ 01/01/2021, đã quy định rõ ràng hơn về thời giờ làm thêm, nhấn mạnh rằng ngoài việc cần có sự đồng ý của người lao động, còn phải đảm bảo số giờ làm thêm không vượt quá mức quy định.

50% số giờ làm bình thường, số giờ làm bình thường và làm thêm không quá

Theo BLLĐ 2019, thời gian làm thêm giờ đã được điều chỉnh từ 30 giờ/tháng lên 40 giờ/tháng, nhằm tạo điều kiện cho người lao động tăng thu nhập Tuy nhiên, vẫn có nhiều ý kiến trái chiều cho rằng việc tăng thời gian làm thêm giờ lên 400 giờ/năm có thể đi ngược lại với sự tiến bộ của xã hội.

Trong trường hợp người sử dụng lao động muốn tổ chức làm thêm giờ tối đa 300 giờ/năm, họ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý Nhà nước về lao động tại địa phương, theo quy định tại khoản 2, Điều 4 NĐ 45/2013/NĐ-CP.

37 Điều 107 BLLĐ 2019 (có hiệu lực từ 01/01/2021)

Nhiều người lao động hiện nay không có đủ thời gian để nghỉ ngơi và chăm sóc gia đình, dẫn đến việc Quốc hội quyết định giới hạn số giờ làm việc tối đa là 200 giờ mỗi năm, với những trường hợp đặc biệt có thể lên đến 300 giờ.

Ngoài ra, BLLĐ 2019 (có hiệu lực 01/01/2021) đã quy định cụ thể về các ngành, nghề, công việc mà NSDLĐ được sử dụng NLĐ làm thêm không quá

Q UY ĐỊNH VỀ THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG HIỆN HÀNH

2.2.1 Quy định về các trường hợp nghỉ có hưởng lương

2.2.1.1Quy định về trường hợp nghỉ giờ giữa ca, nghỉ chuyển ca

Thời gian nghỉ giữa ca là khoảng thời gian do NSDLĐ bố trí cho NLĐ để nghỉ ngơi hợp lý trong suốt thời gian làm việc liên tục Việc này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe và tái tạo sức lao động mà còn nâng cao năng suất và chất lượng công việc, đồng thời giảm thiểu tai nạn lao động Theo Điều 108 BLLĐ 2012, NLĐ làm việc liên tục 8 giờ hoặc 6 giờ trong những công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sẽ được hưởng thời gian nghỉ này.

Theo quy định, nếu làm việc liên tục từ 08 hoặc 06 giờ, người lao động sẽ được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút, thời gian này được tính vào giờ làm việc Đối với ca làm việc ban đêm, thời gian nghỉ giữa giờ tối thiểu là 45 phút, cũng tính vào giờ làm Ngoài ra, người lao động làm việc trong ngày sẽ có thêm thời gian nghỉ ngơi cố định trong ca làm việc.

10 giờ trở lên cho dù thuộc trường hợp làm việc theo tuần hay làm thêm giờ thì đều được nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc

Lao động nữ trong thời gian hành kinh có quyền nghỉ 30 phút mỗi ngày, và trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, họ được nghỉ 60 phút mỗi ngày trong giờ làm việc Đối với người lao động làm việc theo ca, họ phải được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca làm việc khác.

Pháp luật cho phép người sử dụng lao động (NSDLĐ) linh hoạt trong việc bố trí thời gian và phương thức nghỉ ngơi cho người lao động (NLĐ) phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh NLĐ có thể nghỉ theo cách thay phiên, không nhất thiết phải nghỉ cùng lúc, có thể nghỉ một lần hoặc chia nhỏ thành nhiều lần Thời gian nghỉ có thể diễn ra giữa hoặc gần cuối ca làm việc, nhưng NSDLĐ cần xác định rõ ràng thời gian và phương thức nghỉ, đồng thời quy định cụ thể trong nội quy lao động.

2.2.1.2 Quy định về trường hợp nghỉ hằng năm

Thời gian nghỉ hằng năm ở các quốc gia trên thế giới được quy định khác nhau, tùy thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước Ví dụ, một số quốc gia có chính sách nghỉ lễ dài hơn nhằm hỗ trợ người lao động, trong khi những nước khác có thể áp dụng thời gian nghỉ ngắn hơn.

46 Theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành

Theo quy định tại Philippines, người lao động (NLĐ) phải làm việc ít nhất 01 năm để đủ điều kiện nghỉ hằng năm Tại Việt Nam, nghỉ hằng năm là khoảng thời gian NLĐ được nghỉ trong 01 năm và vẫn nhận nguyên lương, giúp họ giảm bớt căng thẳng trong công việc Pháp luật quy định NLĐ có 12 tháng làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một nhà sử dụng lao động (NSDLĐ) sẽ được hưởng quyền lợi nghỉ hằng năm với nguyên lương, và thời gian nghỉ này được tính theo năm dương lịch Thời gian làm việc của NLĐ cho một NSDLĐ để xác định ngày nghỉ hằng năm bao gồm tổng các khoảng thời gian quy định.

- Thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ theo cam kết trong hợp đồng học nghề, tập nghề

- Thời gian thử việc theo hợp đồng lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động

- Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo quy định của pháp luật

- Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được NSDLĐ đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng

- Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng

-Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 02 tháng

- Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội

- Thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn

- Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của NLĐ

- Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc

Thời gian bị tạm giữ hoặc tạm giam nhưng sau đó được trở lại làm việc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội là một vấn đề quan trọng Tại một số quốc gia đang phát triển như Indonesia, thời gian này là 12 ngày Ở Việt Nam, thời gian nghỉ hằng năm của người lao động phụ thuộc vào tính chất công việc và yêu cầu có đủ 12 tháng làm việc cho một nhà sử dụng lao động, với chế độ hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động.

- 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

49 Điều 95-a, Luật Lao động Philippines 1974

51 Điều 6, Điều 7 Nghị định 45/2013/NĐ-CP

52 Điều 79, Luật lao động Indonesia 2003

Theo quy định, người lao động làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc ở những khu vực khắc nghiệt sẽ được nghỉ làm 14 ngày Điều này áp dụng cho các đối tượng như lao động chưa thành niên, người khuyết tật, và danh mục này được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

Theo quy định mới trong Bộ Luật Lao động 2019, những người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc trong điều kiện sinh sống khắc nghiệt sẽ được hưởng chế độ làm việc 16 ngày Quy định này được ban hành bởi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế, nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong những ngành nghề đặc thù.

Năm 2012, số ngày nghỉ hằng năm vẫn giữ nguyên là 12 ngày cho người lao động làm việc trong điều kiện bình thường, trong khi đó, người lao động chưa thành niên và người lao động khuyết tật được ưu tiên với 14 ngày nghỉ Điều này thể hiện sự quan tâm của pháp luật đối với người lao động trong mối quan hệ lao động Đối với những người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, số ngày nghỉ được quy định là 14 ngày, trong khi người làm nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sẽ có 16 ngày nghỉ, được quy định riêng.

Theo Điều 113 Bộ Luật Lao động 2019, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, quy định rằng người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động sẽ được hưởng số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.

Theo BLLĐ 2012, khi nghỉ hằng năm, nếu NLĐ sử dụng phương tiện đường bộ, đường sắt hoặc đường thủy và thời gian đi đường cả đi lẫn về vượt quá 02 ngày, thì từ ngày thứ 03 trở đi sẽ được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm, nhưng chỉ áp dụng cho 01 lần nghỉ trong năm Ngoài ra, số ngày nghỉ hằng năm còn được tính theo thâm niên làm việc, với quy định cứ sau 05 năm làm việc cho một NSDLĐ, NLĐ sẽ được cộng thêm 01 ngày nghỉ hằng năm.

Nếu tổng thời gian làm việc của người lao động (NLĐ) cho một nhà sử dụng lao động (NSDLĐ) chưa đủ 12 tháng, số ngày nghỉ hằng năm của NLĐ trong năm đó sẽ được tính bằng cách lấy tổng số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), sau đó chia cho 12 tháng và nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm Kết quả sẽ được làm tròn số hàng đơn vị, với quy tắc làm tròn lên 01 đơn vị nếu phần thập phân lớn hơn hoặc bằng 0,5.

Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn do nghỉ phép theo quy định, pháp luật cho phép người sử dụng lao động (NSDLĐ) quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến người lao động (NLĐ) và thông báo trước cho NLĐ NLĐ có thể thỏa thuận với NSDLĐ để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc gộp tối đa 03 năm một lần Trong quá trình nghỉ hằng năm, NLĐ còn được hưởng thêm một số quyền lợi nhất định.

- Thứ nhất, được tạm ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ hằng năm

Vào thứ hai, người lao động từ các vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo làm việc ở miền xuôi có thể được thanh toán tiền tàu xe trong một số trường hợp đặc biệt.

T HỜI GIỜ LÀM VIỆC , THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI CỦA MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG LAO ĐỘNG ĐẶT BIỆT

2.3.1 Đối với người lao động làm công việc sản xuất có tính thời vụ và công việc gia công hàng theo đơn đặt hàng

Thông tư số 54/2015/TT-BLĐTBXH quy định chế độ làm việc và nghỉ ngơi cho người lao động trong các công việc sản xuất theo mùa vụ và gia công hàng hóa theo đơn đặt hàng.

63 Điều 60, Luật Lao động Malaysia 1955

Về thời giờ làm việc

Quỹ thời giờ làm việc tiêu chuẩn trong năm được xác định bằng tổng số giờ làm việc của người lao động sau khi trừ đi các ngày nghỉ hằng tuần, ngày lễ, tết (10 ngày), và nghỉ hằng năm (từ 12 đến 16 ngày, có thể tăng theo thâm niên) Cụ thể, quỹ thời gian này được tính bằng cách nhân số ngày làm việc thực tế với số giờ làm việc bình thường trong một ngày (08 giờ) Đối với người lao động trong các nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, và nguy hiểm, thời gian làm việc tiêu chuẩn là 06 giờ mỗi ngày theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Hằng năm, dựa trên quỹ thời gian làm việc tiêu chuẩn, NSDLĐ lập kế hoạch xác định số giờ làm việc tiêu chuẩn hàng ngày của NLĐ trong các trường hợp cụ thể.

Ngày làm việc tiêu chuẩn cho người lao động là 8 giờ, nhưng đối với những công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, thời gian làm việc chỉ là 6 giờ.

Ngày làm việc tiêu chuẩn cho người lao động thường là hơn 8 giờ nhưng không vượt quá 12 giờ Đối với những công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, số giờ làm việc tối đa là hơn 6 giờ nhưng không quá 9 giờ.

Ngày làm việc tiêu chuẩn cho người lao động thường dao động từ 4 đến dưới 8 giờ Đối với các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại hoặc nguy hiểm, số giờ làm việc được quy định từ 3 đến dưới 6 giờ.

Về thời giờ nghỉ ngơi

Theo quy định của Bộ luật Lao động, người lao động (NLĐ) có quyền nghỉ trong giờ làm việc và nghỉ chuyển ca Đặc biệt, nếu NLĐ làm việc từ 10 giờ trở lên trong một ngày, người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải đảm bảo họ được nghỉ thêm ít nhất 30 phút, thời gian này được tính vào giờ làm việc, bên cạnh thời gian nghỉ ngơi thông thường trong ca làm việc.

Doanh nghiệp cần sắp xếp cho người lao động được nghỉ hoặc nghỉ bù đầy đủ số ngày lễ, Tết, nghỉ hằng năm và các ngày nghỉ có hưởng lương khác theo quy định của Bộ luật Lao động.

2.3.2 Đối với lao động là người giúp việc gia đình

Công việc thường bị ảnh hưởng bởi yếu tố giới tính, dẫn đến môi trường làm việc tại gia dễ bị lạm dụng Người lao động gặp khó khăn trong việc tiếp cận các hỗ trợ từ tư nhân hoặc tổ chức công đoàn Nhiều trường hợp, họ phải làm việc không đúng theo thỏa thuận ban đầu, và thời gian làm việc có thể kéo dài bất thường.

Nhiều người lao động (NLĐ), đặc biệt là những NLĐ làm việc trong lĩnh vực giúp việc gia đình, không được hưởng bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội Để giải quyết vấn đề này, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP đã được ban hành nhằm hướng dẫn các quy định về lao động cho người giúp việc gia đình.

Về thời giờ làm việc

Thời gian làm việc và nghỉ ngơi sẽ được hai bên thỏa thuận, tuy nhiên người lao động phải được đảm bảo ít nhất 8 giờ nghỉ, trong đó có 6 giờ nghỉ liên tục trong vòng 24 giờ.

- Thời giờ làm việc đối với lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới

18 tuổi không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần

Về thời giờ nghỉ ngơi

Nghỉ hằng tuần: Được nghỉ trọn ngày Thời điểm nghỉ do hai bên thỏa thuận

Nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết:

- NLĐ có đủ 12 tháng làm việc cho một NSDLĐ thì được nghỉ hằng năm là

Người lao động có quyền nghỉ 12 ngày làm việc trong năm với đầy đủ lương, và thời gian nghỉ sẽ được thỏa thuận giữa hai bên Họ có thể chọn nghỉ hằng năm theo nhiều lần hoặc gộp lại tối đa 03 năm một lần.

- Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày nghỉ lễ, tết (10 ngày)

- Khi nghỉ hằng năm, NLĐ được ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương cho những ngày nghỉ

2.3.3 Đối với lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt Đối với các công việc có tính chất đặc biệt được quy định tài Điều 117 BLLĐ 2012 (lĩnh vực vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, thăm dò khai thác dầu khí trên biển; làm việc trên biển; sử dụng kỹ thuật bức xạ hạt nhân;… )thì thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phải tuân thủ theo quy định cơ bản của BLLĐ Tuy nhiên, pháp luật vẫn còn bỏ sót quy định đối với phần lớn các ngành nghề đặc thù và chỉ quy định về thời giờ làm việc của NLĐ làm việc trong các ngành nghề, lĩnh vực sau:

- NLĐ làm các công việc bức xạ, hạt nhân tại Thông tư số 31/2007/TT- BKHCN do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành

- NLĐ làm công việc tính chất đặc biệt trong vận tải đường sắt tại Thông tư số 21/2015/TT-BGTVT do Bộ Giao thông vận tải ban hành

- NLĐ làm công việc tính chất đặc thù trong ngành hàng không tại Thông tư số 42/2011/TT-BGTVT do Bộ Giao thông vận tải ban hành

- NLĐ là thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam tại Thông tư số 05/2012/TT-BGTVT do Bộ Giao thông vận tải ban hành

2.3.4 Các đối tượng lao động đặc biệt khác

2.3.4.1 Đối với đối tượng lao động là nữ Điều 155 BLLĐ 2012 quy định:

NSDLĐ không được phép cho lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa khi họ đang mang thai từ tháng thứ 07 trở đi, hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở các khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; cũng như đối với những lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 07 cần được chuyển sang công việc nhẹ hơn hoặc được giảm 01 giờ làm việc mỗi ngày, đồng thời vẫn nhận đủ lương.

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG VẤN ĐỀ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI

Ngày đăng: 29/08/2023, 22:42

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w