1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát và đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tại bệnh viện đa khoa thành phố cần thơ

93 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát và đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tại bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ
Tác giả Lê Văn Phúc
Người hướng dẫn GS.TS Bùi Tùng Hiệp
Trường học Trường đại học Tây Đô
Chuyên ngành Dược lý – Dược lâm sàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Nhằm mục tiêu khảo sát đặc điểm của bệnh nhân sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và thực trạng sử dụng hợp lý

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

LÊ VĂN PHÚC

KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH

SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG PHẪU THUẬT

TIÊU HÓA, GAN MẬT TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

CẦN THƠ, 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

LÊ VĂN PHÚC

KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH

SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG PHẪU THUẬT

TIÊU HÓA, GAN MẬT TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC Chuyên ngành: Dược Lý – Dược Lâm Sàng

Mã số: 8720205

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS BÙI TÙNG HIỆP

CẦN THƠ, 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Bộ môn Dược lâm sàng, Phòng đào tạo Sau đại học Trường Đại học Tây Đô và Ban Giám đốc, Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ đã cho phép, tạo điều kiện thuận lợi nhất

để em được học tập và hoàn thành luận văn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH Bùi Tùng Hiệp, Giảng viên Cao cấp, trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của các thầy cô giáo Bộ môn Dược lâm sàng, trường Đại học Tây Đô đã chia sẻ, giải đáp các vướng mắc của em trong quá trình làm luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc, Khoa Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ đã cho phép, tạo điều kiện giúp em hoàn thành luận văn này Em xin cảm ơn, bạn bè đồng nghiệp tại đơn vị đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Tây Đô

em xin chân thành cảm ơn!

TP Cần Thơ, ngày tháng năm 2021

Học viên

Lê Văn Phúc

Trang 4

TÓM TẮT

Nhằm mục tiêu khảo sát đặc điểm của bệnh nhân sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cần

Thơ và thực trạng sử dụng hợp lý kháng sinh trong phẫu thuật tiêu hóa gan, mật

tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Khảo sát và đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật tiêu hóa,

gan mật tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ”

Nghiên cứu được tiến hành bằng phương pháp mô tả cắt ngang với cỡ mẫu là 100 bệnh nhân Kết quả đạt được như sau: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 49,23 ± 11,54; nhóm tuổi 40 - 60 chiếm tỷ lệ cao nhất (52%), tỷ lệ nam

giới (62,0%) cao hơn tỷ lệ nữ giới (38,0%) Thời gian nằm viện trung bình trước

phẫu thuật chung là 12,61 ± 5,87 ngày; thấy thời gian phẫu thuật trung bình ở

đối tượng nghiên cứu là 127,56 ± 74,92 phút Đa số các bệnh nhân được chỉ định sử dụng kháng sinh dự phòng là chủ yếu (46,0%) Ceftazidim là KSDP được sử dụng nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 58,0%; Metronidazol (28,0%), Ampicillin/ sulbactam (22,0%), cefazolin là KSDP sử dụng ít nhất (2,0%) Phần lớn bệnh nhân được sử dụng ít nhất 1 KSDP (90,0%), chỉ có 10 trường hợp phẫu thuật không có yếu tố nguy cơ không sử dụng KSDP (10,0%) Các phẫu thuật đa số sử dụng KSDP trong vòng 60 phút trước lúc rạch da (78,0%) Về đặc điểm các loại kháng sinh điều trị, ceftazidim và metronidazol là KSĐT được sử dụng nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 42,0% và 26,0% Thời gian sử dụng kháng sinh chủ yếu là từ 8-12 ngày chiếm tỉ lệ chủ yếu (57,0%) và tỉ lệ có sử dụng kháng sinh đồ chỉ là 12%

Về thực trạng tính hợp lý trong thời điểm sử dụng KSDP (82,0%), liều KSDP (72,0%), thời gian dùng KSDP (44,0%) và loại KSDP (36%), và có 28% tính hợp lý chung khi sử dụng kháng sinh dự phòng Sự lựa chọn loại KSĐT hợp

lý ở đạt tỷ lệ cao (82%) Tỷ lệ lựa chọn liều KSĐT hợp lý ở mức tương đối thấp

(28,0%) Đánh giá tính hợp lý chung về sử dụng kháng sinh điều trị chiếm 32%

Từ khóa: kháng sinh dự phòng, phẫu thuật tiêu hóa, gan mật, sử dụng

hợp lý kháng sinh

Trang 5

With the aim of examining the characteristics of patients using prophylactic situation in gastrointestinal and hepatobiliary surgery at Can Tho City General Hospital and the rational use of antibiotic in liver and bile digestion surgery At Can Tho City General Hospital, we conducted a study with the topic "Survey and evaluation of the use of antibiotics in gastrointestinal and hepatobiliary surgery at Can Tho City General Hospital"

The study was conducted by cross-sectional descriptive method with a sample size of 100 patients The results achieved are as follows: The average age of the patients was 49.23 ± 11.54; the 40-60 age group accounts for the highest rate (52%), the proportion of men (62.0%) is higher than the rate of women (38.0%) The average length of hospital stay before general surgery was 12.61 ± 5.87 days; found that the average surgery time in study subjects was 127.56 ± 74.92 minutes The majority of patients are for the primary use of prophylactic antibiotics (46.0%) Ceftazidim is KSDP used the most, accounting for 58.0% rate; Metronidazole (28.0%), Ampicillin / sulbactam (22.0%), cefazolin are the least used KSDP (2.0%) Most patients used at least 1 KSDP (90.0%), only 10 cases of surgery without risk factors did not use KSDP (10.0%) Most surgeries use KSDP within 60 minutes before skin incision (78.0%) In terms of antibiotic treatment characteristics, ceftazidim and metronidazole are used antibiotic most, accounting for 42.0% and 26.0% Time of using mainly is mainly from 8-12 days, accounting for the main proportion (57.0%) and the rate of using antibiotics is only 12%

Regarding the state of reasonableness in the time of using KSDP (82.0%), antibiotic dose (72.0%), time of taking antibiotics (44.0%) and type of KSDP (36%), and there are 28% general reasonableness when using prophylactic antibiotic The choice of appropriate urban KS type in the urban area reaches a high rate (82%) The rate of appropriate selection of antibiotic dose is relatively low (28.0%) Assessment of the general reasonableness of antibiotic treatment accounts for 32%

Keywords: antibiotic prophylaxis, gastrointestinal surgery, hepatobiliary

system, proper use of antibiotic

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

TP Cần Thơ, ngày tháng năm 2021

Tác giả luận văn

Lê Văn Phúc

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT ii

ABSTRACT iii

LỜI CAM ĐOAN iv

MỤC LỤC vi

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 TỔNG QUAN VỀ NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ 3

1.1.1 Khái niệm nhiễm khuẩn vết mổ 3

1.1.2 Phân loại 3

1.1.3 Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ 4

1.1.4 Các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ 6

1.1.5 Đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn trên bệnh nhân 11

1.1.6 Các biện pháp phòng tránh nhiễm khuẩn vết mổ 11

1.2 TỔNG QUAN VỀ KHÁNG SINH DỰ PHÒNG 12

1.2.1 Khái niệm kháng sinh dự phòng 12

1.2.2 Chỉ định sử dụng kháng sinh dự phòng 12

1.2.3 Lựa chọn kháng sinh dự phòng 12

1.2.4 Liều kháng sinh dự phòng 17

1.2.5 Đường dùng kháng sinh dự phòng 19

1.2.6 Thời gian sử dụng kháng sinh dự phòng 20

1.2.7 Lưu ý khi sử dụng KSDP 20

1.3 KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ SAU PHẪU THUẬT 21

1.3.1 Lựa chọn kháng sinh 21

1.3.2 Thời gian sử dụng kháng sinh 26

1.4 VAI TRÒ CỦA DSLS TRONG CAN THIỆP VỀ KHÁNG SINH 26

1.5 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH VÀ HIỆU QUẢ CỦA SỰ CAN THIỆP CỦA DSLS 29

1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới 29

1.5.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 31

Trang 8

1.6 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN

THƠ 31

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 33

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 33

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 33

2.2.2 Cỡ mẫu 33

2.3 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 34

2.3.1 Thu thập số liệu 34

2.3.2 Nội dung nghiên cứu 34

2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 38

2.4 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU 40

3.1.1 Đặc điểm chung về cá nhân 40

3.1.2 Đặc điểm chung về phẫu thuật trên đối tượng nghiên cứu 42

3.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG PHẪU THUẬT TIÊU HÓA, GAN MẬT 44

3.2.1 Đặc điểm về kháng sinh dự phòng 44

3.2.2 Đặc điểm về kháng sinh điều trị 47

3.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KS TRONG PHẪU THUẬT TIÊU HÓA, GAN MẬT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ 51

3.3.1 Thực trạng sử dụng kháng sinh dự phòng 51

3.3.2 Thực trạng sử dụng kháng sinh điều trị tại khoa Ngoại tổng hợp, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ 52

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54

4.1 VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU 54

4.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân 54

4.1.2 Đặc điểm của phẫu thuật 55

4.2 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG PHẪU THUẬT 56

4.2.1 Đặc điểm sử dụng kháng sinh dự phòng 56

Trang 9

4.2.2 Đặc điểm sử dụng kháng sinh điều trị 62

4.3 TÍNH HỢP LÝ SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG PHẪU THUẬT 66

4.3.1 Tính hợp lý về kháng sinh dự phòng 66

4.3.2 Tính hợp lý về kháng sinh điều trị 67

KẾT LUẬN 70

KIẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC xii

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tác nhân gây bệnh thường gặp trong NKVM 5

Bảng 1.2 Điểm ASA đánh giá tình trạng người bệnh trước phẫu thuật [2] 7

Bảng 1.3 T-cut point của một số phẫu thuật 9

Bảng 1.4 Phân loại phẫu thuật [2] 10

Bảng 1.5 Khuyến cáo lựa chọn KSDP theo ASHP (2013) trong phẫu thuật tiêu hóa 13

Bảng 1.6 Khuyến cáo liều dùng KSDP theo ASHP (2013) 18

Bảng 1.7 Kháng sinh và liều tĩnh mạch ban đầu theo kinh nghiệm trong điều trị nhiễm khuẩn ổ bụng phức tạp cho người lớn theo IDSA năm 2010 [44] 22

Bảng 1.8 Hướng đẫn điều trị nhiễm khuẩn hoại tử da, mô và cơ theo IDSA năm 2014 [44] 23

Bảng 1.9 Kháng sinh, liều dùng và cách dùng trong điều trị viêm phúc mạc theo Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế năm 2015 [2] 25

Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá tính hợp lý của việc sử dụng kháng sinh dự phòng36 Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá tính hợp lý của việc sử dụng kháng sinh điều trị 36

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu 40

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính 40

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo BMI 41

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo bệnh mạn tính mắc kèm 41

Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo bệnh mạn tính mắc kèm 42

Bảng 3.6 Đặc điểm về thời gian nằm viện theo từng loại phẫu thuật 42

Bảng 3.7 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu theo loại phẫu thuật 43

Bảng 3.8 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về thời gian phẫu thuật 43

Bảng 3.9 Đặc điểm về sử dụng kháng sinh của đối tượng nghiên cứu 44

Bảng 3.10 Đặc điểm về loại KS dự phòng 44

Bảng 3.11 Đặc điểm về liều kháng sinh dự phòng ở đối tượng nghiên cứu 45

Bảng 3.12 Đặc điểm số loại kháng sinh dự phòng được sử dụng 45

Bảng 3.13 Đặc điểm về thời điểm sử dụng kháng sinh dự phòng 46

Trang 11

Bảng 3.14 Đặc điểm về thời gian sử dụng kháng sinh dự phòng 46

Bảng 3.15 Đặc điểm về loại KS điều trị được sử dụng 47

Bảng 3.16 Đặc điểm về liều kháng sinh điều trị ở đối tượng nghiên cứu 48

Bảng 3.17 Đặc điểm số loại kháng sinh điều trị được sử dụng 49

Bảng 3.18 Đặc điểm về thời gian sử dụng kháng sinh điều trị 50

Bảng 3.19 Đặc điểm về sử dụng kháng sinh đồ trong điều trị 50

Bảng 3.20 Thực trạng của việc lựa chọn kháng sinh dự phòng 51

Bảng 3.21 Thực trạng của việc lựa chọn liều kháng sinh dự phòng 51

Bảng 3.22 Thực trạng của việc lựa chọn thời gian sử dụng KSDP 51

Bảng 3.23 Thực trạng của việc lựa chọn thời điểm sử dụng kháng sinh dự phòng 52

Bảng 3.24 Hiệu quả về tính hợp lý chung khi sử dụng KSDP 52

Bảng 3.25 Thực trạng của việc lựa chọn loại kháng sinh điều trị 52

Bảng 3.26 Thực trạng của việc lựa chọn liều kháng sinh điều trị 53

Bảng 3.27 Hiệu quả về tính hợp lý chung khi sử dụng KSĐT 53

Trang 12

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chú giải

ADE Adverse drug event - Biến cố bất lợi của thuốc

ANSORP Asian Network for Surveillance of Resistance Pathogens -

Mạng lưới giám sát vi sinh vật kháng thuốc châu Á ATC Anatomical Therapeutic Chemical - phân loại thuốc dựa

theo tính chất hóa học, tác dụng điều trị và bộ phận giải phẫu

BA Bệnh án

BC Bạch cầu

CG Cephalosporin (các thế hệ 1, 2, 3, 4)

ClCr Hệ số thanh thải creatinin

COPD Chronic Obstructive Pulmonary Disease - Bệnh phổi tắc

nghẽn mãn tính DDD Defined Daily Dose - Liều xác định hàng ngày

DUE Drug Utilization Evaluation - Đánh giá sử dụng thuốc

DUR Drug Utilization Review - Đánh giá sử dụng thuốc

GRF Glomerular Filtration Rate - Mức lọc cầu thận

ICD International Classification of Diseases - Phân loại bệnh tật

quốc tế và những vấn đề liên quan đến sức khỏe

NNSI National Nosocomial Infections Surveillance - Hệ thống

quốc gia giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện của Hoa Kỳ

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kháng sinh đã được đưa vào sử dụng từ những năm đầu thế kỷ 20, nhưng cho đến nay, sử dụng kháng sinh hợp lý vẫn đang là một thách thức lớn của toàn thế giới, thuật ngữ “đề kháng kháng sinh” đã trở nên quen thuộc trong điều trị nhiễm khuẩn Nhiều nghiên cứu tiến hành trên thế giới và Việt Nam cho thấy đã xuất hiện nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc và tỷ lệ kháng đang tăng dần theo thời gian [10], [28]

Trong môi trường ngoại khoa, nhiễm khuẩn vết mổ là một biến chứng thường gặp, có thể gây nguy hiểm, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là hậu quả thường gặp nhất và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở người bệnh được phẫu thuật trên toàn thế giới Tại Hoa Kỳ, NKVM đứng hàng thứ hai sau nhiễm khuẩn tiết niệu bệnh viện [2] Tại Việt Nam, tỷ lệ NKVM được ghi nhận trong một nghiên cứu tại một số bệnh viện các tỉnh phía Bắc năm 2008 là 10,5% [28] NKVM gây kéo dài thời gian nằm viện của bệnh nhân, tăng tỷ lệ tử vong và tăng chi phí điều trị [11]

Ước tính khoảng một nửa số ca NKVM có thể phòng tránh được nếu sử dụng đúng các chiến lược can thiệp dựa trên bằng chứng [24] Sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) trong phẫu thuật là biện pháp hiệu quả nhất để kiểm soát NKVM [40] Sử dụng hợp lý KSDP giúp giảm chi phí điều trị, đồng thời, hạn chế tình trạng kháng thuốc [27] Tại một số bệnh viện ở Việt Nam, tỷ lệ sử dụng KSDP nhìn chung còn thấp và có nhiều rào cản trong việc áp dụng hướng dẫn sử dụng KSDP trên thực hành lâm sàng [28], [10] Sử dụng hợp lý kháng sinh dự phòng và kháng sinh điều trị là một biện pháp hữu hiệu để hạn chế nhiễm khuẩn vết mổ, tuy nhiên, sử dụng không đúng nguyên tắc sẽ là yếu tố nguy cơ làm gia tăng đề kháng kháng sinh Trước tình hình đó, việc thiết lập và thực hiện các chương trình quản lý kháng sinh tại bệnh viện là cần thiết nhằm phát hiện các vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng kháng sinh và có biện pháp can thiệp kịp thời, hiệu quả [32] Đặc biệt cần chú trọng nâng cao vai trò của dược sĩ lâm sàng trong việc sử dụng kháng sinh đối với các bệnh nhân phẫu thuật, đặc biệt là phẫu

Trang 14

thuật về tiêu hóa, gan mật Đây là những phẫu thuật có nhiều nguy cơ nhiễm khuẩn cao từ bên trong lòng ống tiêu hóa

Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ là bệnh viện tuyến tỉnh được thành lập vào năm 2009, với quy mô 500 giường bệnh Trong những năm gần đây, rất nhiều dịch vụ, kỹ thuật mới, trong đó, có nhiều loại phẫu thuật đã được triển khai tại bệnh viện, cơ bản đáp ứng nhiệm vụ khám, chữa bệnh trên địa bàn Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong các quy trình phẫu thuật vẫn chưa được kiểm soát đầy đủ và hiện cũng chưa có nghiên cứu nào phân tích tình hình sử dụng kháng sinh cũng như vai trò của dược sĩ lâm sàng trong việc sử dụng

kháng sinh Trên có sở đó đề tài được thực hiện “Khảo sát và đánh giá tình hình

sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ” với các mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm của bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ

2 Khảo sát và đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật tiêu hóa gan mật tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ

Từ kế quả thu được, nhóm nghiên cứu hy vọng đề xuất được các biện pháp góp phần sử dụng KSDP hợp lý, an toàn và hiệu quả trên các bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN VỀ NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ

1.1.1 Khái niệm nhiễm khuẩn vết mổ

Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là những nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong thời gian từ khi mổ cho đến 30 ngày sau mổ với phẫu thuật không có cấy ghép và cho tới một năm sau mổ với phẫu thuật có cấy ghép bộ phận giả (phẫu thuật implant) [2]

1.1.2 Phân loại

Theo vị trí xuất hiện nhiễm khuẩn, NKVM được chia thành 3 loại gồm: NKVM nông, NKVM sâu và nhiễm khuẩn cơ quan/khoang cơ thể

1.1.2.1 Nhiễm khuẩn vết mổ nông:

NKVM nông gồm các nhiễm khuẩn ở lớp da hoặc tổ chức dưới da tại vị trí rạch da NKVM nông phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:

- Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật;

- Chỉ xuất hiện ở vùng da hay vùng dưới da tại đường mổ;

- Có ít nhất một trong các triệu chứng sau:

+ Chảy mủ từ vết mổ nông

+ Phân lập vi khuẩn từ cấy dịch hay mô được lấy vô trùng từ vết mổ + Có ít nhất một trong những dấu hiệu hay triệu chứng sau: đau, sưng, nóng, đỏ và cần mở bung vết mổ, trừ khi cấy vết mổ âm tính

+ Bác sĩ chẩn đoán NKVM nông

1.1.2.2 Nhiễm khuẩn vết mổ sâu

NKVM sâu gồm các nhiễm khuẩn tại lớp cân và/hoặc cơ tại vị trí rạch da NKVM sâu cũng có thể bắt nguồn từ NKVM nông để đi sâu bên trong tới lớp cân cơ NKVM sâu phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:

- Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật hay một năm đối với đặt implant;

- Xảy ra ở mô mềm sâu cân/cơ của đường mổ;

Trang 16

- Có ít nhất một trong các triệu chứng sau:

+ Chảy mủ từ vết mổ sâu nhưng không từ cơ quan hay khoang nơi phẫu thuật

+ Vết thương hở da sâu tự nhiên hay do phẫu thuật viên mở vết thương khi bệnh nhân có ít nhất một trong các dấu hiệu hay triệu chứng sau: sốt > 380C, đau, sưng, nóng, đỏ, trừ khi cấy vết mổ âm tính

+ Áp xe hay bằng chứng NKVM sâu qua thăm khám, phẫu thuật lại, Xquang hay giải phẫu bệnh

+ Bác sĩ chẩn đoán NKVM sâu

1.1.2.3 Nhiễm khuẩn cơ quan/khoang cơ thể

Nhiễm khuẩn cơ quan/khoang cơ thể gồm nhiễm khuẩn ở bất kỳ khoang giải phẫu/ cơ quan trong cơ thể khác với nhiễm khuẩn tại vị trí rạch ra NKVM tại cơ quan/khoang phẫu thuật phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:

- Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật hay 1 năm đối với đặt implant;

- Xảy ra ở bất kỳ nội tạng, loại trừ da, cân, cơ, đã xử lý trong phẫu thuật;

- Có ít nhất một trong các triệu chứng sau:

+ Chảy mủ từ dẫn lưu nội tạng

+ Phân lập vi khuẩn từ cấy dịch hay mô được lấy vô trùng ở cơ quan hay khoang nơi phẫu thuật

+ Áp xe hay bằng chứng khác của nhiễm trùng qua thăm khám, phẫu thuật

lại, Xquang hay giải phẫu bệnh

+ Bác sĩ chẩn đoán NKVM tại cơ quan/khoang phẫu thuật [2]

1.1.3 Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ

* Tác nhân gây bệnh:

Vi khuẩn là tác nhân chính gây NKVM, tiếp theo là nấm Rất ít bằng

chứng cho thấy virus và ký sinh trùng là tác nhân gây NKVM Các vi khuẩn chính gây NKVM thay đổi tùy theo từng cơ sở khám chữa bệnh và tùy theo vị trí phẫu thuật Các vi khuẩn gây NKVM có xu hướng kháng kháng sinh ngày càng

Trang 17

tăng và là vấn đề nổi cộm hiện nay, đặc biệt là các chủng vi khuẩn đa kháng

thuốc như: S aureus kháng methicillin, vi khuẩn Gram (-) sinh β-lactamase phổ

rộng Tại các cơ sở khám chữa bệnh có tỷ lệ người bệnh sử dụng kháng sinh

cao, thường gặp các vi khuẩn Gram (-) đa kháng thuốc như: E coli,

Pseudomonas sp, A baumannii Ngoài ra, việc sử dụng rộng rãi các kháng sinh

phổ rộng tạo thuận lợi cho sự xuất hiện các chủng nấm gây NKVM Các tác nhân gây NKVM thường gặp theo loại phẫu thuật được trình bày trong Bảng 1.1:

Bảng 1.1 Tác nhân gây bệnh thường gặp trong NKVM

Tim mạch

S.aureus, S.epidermidis E.coli và các vi khuẩn Enterobacteriaceae khác, Corynebacterium

Túi mật Ống mật

S.aureus, E.coli và các vi khuẩn

Enterobacteriaceae khác, cầu khuẩn ruột, Clostridia Vi khuẩn kỵ khí (nếu có tắc mật)

Cầu khuẩn ruột Vi khuẩn kỵ khí đặc biệt B.fragilis

khí, cầu khuẩn ruột

khí, liên cầu nhóm B

* Nguồn tác nhân gây bệnh và cơ chế lây truyền

Có 2 nguồn tác nhân gây NKVM gồm:

- Vi sinh vật trên người bệnh (nội sinh): Là nguồn tác nhân chính gây NKVM, gồm các vi sinh vật thường trú có ngay trên cơ thể người bệnh Các vi sinh vật này thường cư trú ở tế bào biểu bì da, niêm mạc hoặc trong các khoang/tạng rỗng của cơ thể như: khoang miệng, đường tiêu hóa, đường tiết

Trang 18

niệu - sinh dục Một số ít trường hợp vi sinh vật bắt nguồn từ các ổ nhiễm khuẩn ở xa vết mổ theo đường máu hoặc bạch mạch xâm nhập vào vết mổ và gây NKVM Các tác nhân gây bệnh nội sinh nhiều khi có nguồn gốc từ môi trường bệnh viện và có tính kháng thuốc cao

- Vi sinh vật ngoài môi trường (ngoại sinh): Là các vi sinh vật ở ngoài môi trường xâm nhập vào vết mổ trong thời gian phẫu thuật hoặc khi chăm sóc vết mổ Các tác nhân gây bệnh ngoại sinh thường bắt nguồn từ:

+ Môi trường phòng mổ: Bề mặt phương tiện, thiết bị, không khí buồng phẫu thuật, nước và phương tiện vệ sinh tay ngoại khoa

+ Dụng cụ, vật liệu cầm máu, đồ vải phẫu thuật bị ô nhiễm

+ Nhân viên kíp phẫu thuật: Từ bàn tay, trên da, từ đường hô hấp

+ Vi sinh vật cũng có thể xâm nhập vào vết mổ khi chăm sóc vết mổ không tuân thủ đúng nguyên tắc vô khuẩn Tuy nhiên, vi sinh vật xâm nhập vào vết mổ theo đường này thường gây NKVM nông, ít gây hậu quả nghiêm trọng

Các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào vết mổ chủ yếu trong thời gian phẫu thuật theo cơ chế trực tiếp, tại chỗ Hầu hết các tác nhân gây NKVM là các

vi sinh vật định cư trên da vùng rạch da, ở các mô/tổ chức vùng phẫu thuật hoặc

từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào vết mổ qua các tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp, đặc biệt là tiếp xúc qua bàn tay của kíp phẫu thuật [4], [5] [13]

1.1.4 Các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ

Có 4 nhóm yếu tố nguy cơ gây NKVM gồm:

* Yếu tố người bệnh:

Các đối tượng bệnh nhân có nguy cơ cao gặp NKVM bao gồm:

- Người bệnh phẫu thuật đang mắc nhiễm khuẩn tại vùng phẫu thuật hoặc tại vị trí khác ở xa vị trí rạch da như ở phổi, ở tai mũi họng, đường tiết niệu hay trên da

- Người bệnh đa chấn thương, vết thương dập nát

- Người bệnh đái tháo đường: Do lượng đường cao trong máu tạo thuận lợi để vi khuẩn phát triển khi xâm nhập vào vết mổ

Trang 19

- Người nghiện thuốc lá: Làm tăng nguy cơ NKVM do co mạch và thiểu dưỡng tại chỗ

- Người bệnh bị suy giảm miễn dịch, người bệnh đang sử dụng các thuốc

ức chế miễn dịch

- Người bệnh béo phì hoặc suy dinh dưỡng

- Người bệnh nằm lâu trong bệnh viện trước mổ làm tăng lượng vi sinh vật định cư trên người bệnh

Tình trạng người bệnh trước phẫu thuật càng nặng thì nguy cơ NKVM càng cao Theo phân loại của Hội Gây mê Hoa Kỳ (American Society of Anesthegiologists - ASA), người bệnh phẫu thuật có điểm ASA 4 điểm và 5 điểm có tỷ lệ NKVM cao nhất (Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Điểm ASA đánh giá tình trạng người bệnh trước phẫu thuật [2]

1 điểm Người bệnh khoẻ mạnh, không có bệnh toàn thân

2 điểm Người bệnh khoẻ mạnh, có bệnh toàn thân nhẹ

3 điểm Người bệnh có bệnh toàn thân nặng nhưng vẫn hoạt động bình

thường

4 điểm Người bệnh có bệnh toàn thân nặng, đe dọa tính mạng

5 điểm Người bệnh trong tình trạng bệnh nặng, có nguy cơ tử vong cao

cho dù được phẫu thuật

* Yếu tố môi trường:

- Vệ sinh tay ngoại khoa không đủ thời gian hoặc không đúng kỹ thuật, không dùng hoá chất khử khuẩn, đặc biệt là không dùng chế phẩm vệ sinh tay chứa cồn

- Chuẩn bị người bệnh trước mổ không tốt: Người bệnh không được tắm hoặc không được tắm bằng xà phòng khử khuẩn, vệ sinh khử khuẩn vùng rạch

da không đúng quy trình, cạo lông không đúng chỉ định, thời điểm và kỹ thuật

- Thiết kế buồng phẫu thuật không bảo đảm nguyên tắc kiểm soát nhiễm khuẩn

Trang 20

- Điều kiện khu phẫu thuật không đảm bảo vô khuẩn: Không khí, nước cho vệ sinh tay ngoại khoa, bề mặt thiết bị, bề mặt môi trường buồng phẫu thuật

bị ô nhiễm hoặc không được kiểm soát chất lượng định kỳ

- Dụng cụ y tế: Không đảm bảo vô khuẩn do chất lượng tiệt khuẩn, khử khuẩn hoặc lưu giữ, sử dụng dụng cụ không đúng nguyên tắc vô khuẩn

- Nhân viên tham gia phẫu thuật không tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn trong buồng phẫu thuật làm tăng lượng vi sinh vật ô nhiễm: Ra vào buồng phẫu thuật không đúng quy định, không mang hoặc mang phương tiện che chắn cá nhân không đúng quy định, không vệ sinh tay/không thay găng sau mỗi khi tay đụng chạm vào bề mặt môi trường,… [34]

* Yếu tố phẫu thuật

- Thời gian phẫu thuật: Thời gian phẫu thuật càng dài thì nguy cơ NKVM càng cao Theo Hệ thống Giám sát quốc gia về Nhiễm khuẩn bệnh viện (National Nosocomial Infection Surveillance - NNIS) của Trung tâm Kiểm soát

và Phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention - CDC), trong trường hợp thời gian cuộc phẫu thuật vượt quá tứ phân vị 75% của thời gian phẫu thuật cùng loại thì nguy cơ NKVM sẽ tăng lên Tứ phân vị 75% (hay còn gọi là T-cut point) của một số loại phẫu thuật được trình bày trong Bảng 1.3 [30]

Trang 21

Bảng 1.3 T-cut point của một số phẫu thuật

- Loại phẫu thuật: Phẫu thuật cấp cứu, phẫu thuật nhiễm và bẩn có nguy

cơ NKVM cao hơn các loại phẫu thuật khác Phân loại phẫu thuật dựa trên nguy

cơ nhiễm trùng ngoại khoa của của Altemeier được trinh bày trong Bảng 1.4

Trang 22

Bảng 1.4 Phân loại phẫu thuật [2]

Loại vết

NKVM (%)

Sạch

Là những phẫu thuật không có nhiễm khuẩn, không mở

vào đường hô hấp, tiêu hóa, sinh dục và tiết niệu Các vết

thương sạch được đóng kín kỳ đầu hoặc được dẫn lưu kín

Các phẫu thuật sau chấn thương kín

1-5

Sạch

nhiễm

Là các phẫu thuật mở vào đường hô hấp, tiêu hoá, sinh

dục và tiết niệu trong điều kiện có kiểm soát và không bị ô

nhiễm bất thường Trong trường hợp đặc biệt, các

phẫu thuật đường mật, ruột thừa, âm đạo và hầu họng

được xếp vào loại vết mổ sạch nhiễm nếu không thấy có

bằng chứng nhiễm khuẩn/ không phạm phải lỗi vô khuẩn

trong khi mổ

5-10

Nhiễm

Các vết thương hở, chấn thương có kèm vết thương

mới hoặc những phẫu thuật để xảy ra lỗi vô khuẩn lớn hoặc

phẫu thuật để thoát lượng lớn dịch từ đường tiêu hoá

Những phẫu thuật mở vào đường sinh dục tiết niệu, đường

mật có nhiễm khuẩn, phẫu thuật tại những vị trí có nhiễm

khuẩn cấp tính nhưng chưa hóa mủ

10-15

Bẩn

Các chấn thương cũ kèm theo mô chết, dị vật hoặc ô

nhiễm phân Các phẫu thuật có nhiễm khuẩn rõ hoặc có

mủ

>25

- Thao tác phẫu thuật: Phẫu thuật làm tổn thương, bầm dập nhiều mô tổ chức, mất máu nhiều hơn 1500ml trong phẫu thuật, vi phạm nguyên tắc vô khuẩn trong phẫu thuật làm tăng nguy cơ mắc NKVM [2], [25]

* Yếu tố vi sinh vật

Mức độ ô nhiễm, độc lực và tính kháng kháng sinh của vi khuẩn càng cao xảy ra ở người bệnh được phẫu thuật có sức đề kháng càng yếu thì nguy cơ mắc NKVM càng lớn Sử dụng rộng rãi các kháng sinh phổ rộng ở người bệnh phẫu

Trang 23

thuật là yếu tố quan trọng làm tăng tình trạng vi khuẩn kháng thuốc, qua đó làm tăng nguy cơ mắc NKVM [8]

Ngoài ra, phẫu thuật lấy thai có một số yếu tố nguy NKVM cơ đặc thù so với các nhóm phẫu thuật khác như mổ cấp cứu, thừa cân (BMI ≥ 30) thất bại dẫn lưu với độ dày tổ chức dưới da ≥ 3 cm, thời gian mổ dài, kỹ thuật mổ kém, ối vỡ [22], [35]

1.1.5 Đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn trên bệnh nhân

Để đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn trên bệnh nhân, có thể sử dụng thang điểm NNIS Đây được coi là phương pháp dự đoán tốt hơn rõ rệt so với phân loại phẫu thuật truyền thống và có thể áp dụng trên phạm vi rộng các nhóm phẫu thuật Thang điểm NNIS bao gồm ba nhóm yếu tố nguy cơ thành phần: tình trạng bệnh nhân (điểm ASA càng cao nguy cơ NKVM càng lớn); loại phẫu thuật (nguy cơ NKVM tăng dần theo thứ tự phẫu thuật sạch, phẫu thuật sạch - nhiễm, phẫu thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn.); độ dài phẫu thuật (nguy cơ NKVM cao trên các ca phẫu thuật kéo dài hơn T – cutpoint của loại phẫu thuật đó) Điểm số NNIS được tính bằng tổng các điểm số thành phần theo quy ước sau:

+ ASA ≥ 3 (1 điểm); ASA < 3 (0 điểm);

+ Phẫu thuật sạch và sạch nhiễm (0 điểm); Phẫu thuật bẩn và nhiễm (1 điểm);

+ Thời gian phẫu thuật nhỏ hơn T-cut point (0 điểm); lớn hơn hoặc bằng T-cut point (1 điểm)

Với nhiều nhóm phẫu thuật tỷ lệ NKVM tăng rõ rệt khi điểm NNIS tăng

từ 0 – 3 [29], [30]

1.1.6 Các biện pháp phòng tránh nhiễm khuẩn vết mổ

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế các biện pháp cần thực hiện để phòng tránh NKVM, bao gồm:

- Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật - Sử dụng KSDP trong phẫu thuật

- Các biện pháp phòng ngừa trong phẫu thuật - Chăm sóc vết mổ sau phẫu thuật

Trang 24

- Giám sát phát hiện NKVM

- Kiểm tra giám sát tuân thủ quy trình vô khuẩn ở nhân viên y tế

- Bảo đảm các điều kiện, thiết bị, phương tiện và hóa chất thiết yếu cho phòng ngừa NKVM [2]

1.2 TỔNG QUAN VỀ KHÁNG SINH DỰ PHÒNG

1.2.1 Khái niệm kháng sinh dự phòng

Kháng sinh dự phòng (KSDP) là việc sử dụng kháng sinh trước khi xảy ra nhiễm khuẩn nhằm mục đích ngăn ngừa hiện tượng này KSDP nhằm giảm tần suất nhiễm khuẩn tại vị trí hoặc cơ quan được phẫu thuật, không dự phòng nhiễm khuẩn toàn thân hoặc vị trí cách xa nơi được phẫu thuật[1], [6]

1.2.2 Chỉ định sử dụng kháng sinh dự phòng

Theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh Bộ Y tế (2015), KSDP được chỉ định cho: tất cả các can thiệp phẫu thuật thuộc phẫu thuật sạch- nhiễm; trong phẫu thuật sạch, liệu pháp KSDP nên áp dụng với một số can thiệp ngoại khoa nặng,

có thể ảnh hưởng tới sự sống còn và/hoặc chức năng sống (phẫu thuật chỉnh hình, phẫu thuật tim và mạch máu, phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật nhãn khoa); phẫu thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn: kháng sinh đóng vai trò trị liệu KSDP không ngăn ngừa nhiễm khuẩn mà ngăn ngừa nhiễm khuẩn đã xảy ra không phát triển [1]

Theo hướng dẫn của Hội Dược sĩ bệnh viện Hoa Kỳ (American Society of Health-System Pharmacists - ASHP) (2013) KSDP được chỉ định trên các phẫu thuật sạch kèm theo có yếu tố nguy cơ tùy theo loại phẫu thuật, tất cả các phẫu thuật sạch nhiễm và phẫu thuật nhiễm

Theo CDC, KSDP nên được chỉ định cho tất cả các loại phẫu thuật trong

đó KSDP đã chứng minh được hiệu quả làm giảm tỷ lệ NKVM trên các nghiên cứu lâm sàng Phân tầng nguy cơ NKVM theo thang điểm nguy cơ NNIS được

áp dụng rộng rãi cho nhiều nhóm phẫu thuật [33]

1.2.3 Lựa chọn kháng sinh dự phòng

KSDP lý tưởng nhất cần đạt các mục tiêu (1) dự phòng được NKVM, (2)

Trang 25

phòng bệnh và tử vong liên quan đến NKVM, (3) giảm thời gian và chi phí nằm viện, (4) không gây tác dụng không mong muốn, (5) không tác dụng bất lợi đến

hệ vi khuẩn bình thường trên người bệnh [14] Để đạt được các mục tiêu này cần lựa chọn KSDP tác dụng trên căn nguyên vi khuẩn có thể gây NKVM Thuốc được lựa chọn cần đảm bảo an toàn, dùng trong thời gian ngắn nhất để giảm tối thiểu tác dụng không mong muốn, giảm chi phí và giảm tác động trên vị hệ bình thường của bệnh nhân Dựa trên nhiều nghiên cứu, ASHP đã đưa ra khuyến cáo lựa chọn KSDP phù hợp cho từng loại phẫu thuật

Nội dung chi tiết của khuyến cáo này được trình bày trong Bảng 1.5:

Bảng 1.5 Khuyến cáo lựa chọn KSDP theo ASHP (2013) trong phẫu thuật tiêu hóa

Nhóm phẫu thuật tiêu

Dạ dày ruột

Các phẫu thuật mở

vào trong khoang của

ông tiêu hóa (cắt khối u

tụy e)

Cefazolin

Clindamycin hoặc vancomycin + aminoglycosid f hoặc aztreonam hoặc fluoroquinolon g-i

A

Các phẫu thuật

không mở vào trong

khoang của ống tiêu hóa

Cefazolin

Clindamycin hoặc Vancomycin +

aminoglycosid f hoặc aztreonam hoặc

fluoroquinolon g-i A

Đường mật

Phẫu thuật mở

Cefazolin, cefoxitin, cefotetan, ceftriaxonj ampicillin - sulbactamg

Clindamycin hoặc vancomycin + aminoglycosid f hoặc aztreonam hoặc fluoroquinolon g-i hoặc Metronidazol + Aminoglycosid f hoặc fluoroquinolon h-j

A

Trang 26

Clindamycin hoặc vancomycin + aminoglycosid f hoặc aztreonam hoặc fluoroquinolon g-i hoặc Metronidazol + aminoglycosid f hoặc fluoroquinolon g-i

A

Cắt ruột thừa, viêm ruột

thừa không biến chứng

Cefoxitin, cefotetan, cefazolin + metronidazol

Clindamycin hoặc vancomycin + aminoglycosid f hoặc aztreonam hoặc fluoroquinolon g-i hoặc Metronidazol + aminoglycosid f hoặc fluoroquinolon g-i

A

Ống tiêu hóa

Không tắc ruột Cefazolin

Clindamycin + aminoglycosid f hoặc aztreonam hoặc fluoroquinolon g-i C

Tắc ruột Cefazolin+metronidazol,

cefoxitin, cefotetan

Metronidazol + aminoglycosid f hoặc fluoroquinolon g-i C

Thoát vị (hernioplasty

và herniorrhaphy) Cefazolin

Clindamycin,

Trang 27

Đại trực tràng

Cefazolin+metronidazol, cefoxitin, cefotetan, ampicillin-sulbactamg ceftriaxon+metronidazolm, ertapenem

Clindamycin + aminoglycosid f hoặc aztreonam hoặc

fluoroquinolon g-imetronidazol + aminoglycosid fhoặc fluoroquinolon g-i

- chứng thiết kế tốt Mức V là dữ liệu từ các nghiên cứu không đối chứng, không thiết kế tốt Mức VI là từ các bằng chứng không đồng thuận, có xu hướng theo các khuyến cáo Mức VII là từ quan điểm chuyên gia

c: Với các phẫu thuật có thể có mầm bệnh ngoài tụ cầu, liên cầu, có thể cân nhắc bổ sung thêm kháng sinh có phổ phù hợp Ví dụ, nếu dữ liệu vi sinh cho thấy vi khuẩn gram âm gây NKVM cho 1 loại phẫu thuật, bác sỹ nên xem xét kết hợp clindamycin hoặc vancomycin với KSDP khác (cefazolin nếu bệnh nhân không dị ứng β-lactam; aztreonam, gentamicin, fluoroquinlon đơn liều nếu bệnh nhân dị ứng với β-lactam)

d: KSDP nên được cân nhắc cho bệnh nhân có nguy cơ cao nhiễm khuẩn

dạ dày ruột sau phẫu thuật như bệnh nhân có pH dịch vị tăng (bệnh nhân đang dùng thuốc kháng thụ thể H2-receptor hoặc thuốc ức chế bơm proton), thủng dạ dày, ruột, giảm nhu động ruột, xuất huyết dạ dày, béo phì, ung thư, hẹp môn vị KSDP không cần thiết khi không mở vào trong ống tiêu hóa

e: Cân nhắc bổ sung kháng sinh có phổ phù hợp nếu có nhiễm khuẩn ở đường mật

Trang 28

f: Gentamicin hoặc tobramycin

g: Đặc điểm vi sinh tại cơ sở nên được cân nhắc trước khi sử dụng KSDP

do tăng mức độ đề kháng kháng sinh của E.coli với fluoroquinolon và ampicillin-sulbactam

h: Ciprofloxacin hoặc levofloxacin

i: Fluoroqionolon tăng nguy cơ viêm gân, đứt gân với mọi lứa tuổi Tuy nhiên nguy cơ thấp khi dùng liều đơn để dự phòng Mặc dù fluoroquinolon có thể cần thiết với một số bệnh nhi nhưng đây không phải lựa chọn đầu tiên trên nhóm bệnh nhân này do tăng tỷ lệ gặp phản ứng có hại (ADR)

j: Ceftriaxon nên giới hạn sử dụng trên bệnh nhân đòi hỏi KS điều trị viêm túi mật cấp hoặc các nhiễm khuẩn cấp đường mật mà trước khi rạch ra chưa chẩn đoán xác định rõ, không dùng trên bệnh nhân cắt túi mật không do nhiễm khuẩn đường mật [20], [21] Nguy cơ cao NKVM trên bệnh nhân cắt túi mật nội soi gồm: mổ cấp cứu, đái tháo đường, thời gian phẫu thuật dài, vỡ túi mật trong phẫu thuật, trên 70 tuổi, chuyển sang mổ mở, ASA ≥ 3, đau bụng nặng trong 30 ngày trước phẫu thuật, có can thiệp biến chứng không phải nhiễm khuẩn trong vòng 1 tháng, Viêm túi mật cấp, chảy dịch mật, vàng da, phụ nữ có thai, rối loạn chức năng túi mật, ức chế miễn dịch, có đặt thiết bị nhân tạo Do phần lớn các yếu tố nguy cơ này không thể được xác định trước phẫu thuật nên

có thể dùng KSDP trên tất cả các trường hợp phẫu thuật nội soi cắt túi mật

l: Với hầu hết bệnh nhân, làm sạch ruột bằng phác đồ kết hợp neomycin sulfat + erythromycin + metronidazol đường uống nên được lựa chọn thay cho chọn KSDP đường tiêm

m: Ở cơ sở có tình trạng vi khuẩn phân lập từ NKVM gia tăng kháng thuốc với cephalosporin thế hệ 1 và 2, việc sử dụng liều đơn ceftriaxon + metronidazol thích hợp hơn so với carbapenem thường quy [23]

n: Sự cần thiết của việc tiếp tục kháng sinh tại chỗ sau phẫu thuật chưa được định

Trang 29

o: KSDP không phải chỉ định thường quy trên các phẫu thuật động mạch vùng cánh tay đầu Mặc dù không có dữ liệu chứng minh nhưng bệnh nhân được thực hiện những phẫu thuật này có thể hưởng lợi từ việc sử dụng KSDP

p: Những hướng dẫn này là những khuyến cáo về việc sử dụng KSDP để

dự phòng NKVM không phải khuyến cáo để phòng nhiễm trùng cơ hội trên bệnh nhân ghép tạng có suy giảm miễn dịch

q: Việc sử dụng kháng sinh có phổ bao trùm các vi khuẩn gây bệnh có thể đem lại hiểu quả trên bệnh nhân có đặt thiết bị hỗ trợ thất trái và bệnh nhân nhiễm khuẩn mạn tính

r: Phác đồ KSDP cần thay đổi để bao phủ tác nhân gây bệnh tiềm tàng gồm vi khuẩn gram âm (Pseudomonas aeruginosa) hoặc nấm, phân lập từ phổi người cho hoặc người nhân trước ca ghép Bệnh nhân tiến hành ghép phổi có kết quả nuôi cấy âm tính trước ca ghép nên được dùng KSDP tương tự các phẫu thuật tim mạch lồng ngực khác Bệnh nhân tiến hành ghép phổi do xơ nang nên điều trị trong 7 -14 ngày với độ nhạy cảm của kháng sinh cần xác định dựa vào kháng sinh đồ trước ca ghép Trong quá trình điều trị, có thể bổ sung kháng sinh diệt khuẩn hoặc thuốc kháng nấm

s: Phác đồ KSDP cần thay đổi để bao phủ tác nhân gây bệnh tiềm tàng (các cầu khuẩn ruột kháng vancomycin) được phân lập từ người nhận trước ca ghép

1.2.4 Liều kháng sinh dự phòng

KSDP cần sử dụng với liều thích hợp để đảm bảo được nồng độ trong máu, tại vị trí phẫu thuật đủ để làm giảm tối đa sự khả năng xâm nhiễm vi khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong suốt khoảng thời gian thực hiện phẫu thuật Khuyến cáo cụ thể về liều từng loại KSDP thường dùng được trình bày trong bảng 1.6:

Trang 30

Bảng 1.6 Khuyến cáo liều dùng KSDP theo ASHP (2013)

≤40kg: 100 mg/kg theo piperacillin

Trang 31

Ghi chú:

a: Liều người lớn được tham khảo từ nhiều nghiên cứu Khi các nghiên cứu

sử dụng các mức liều khác nhau, lựa chọn liều được nhiều chuyên gia khuyến cáo nhất

b: Liều tối đa cho trẻ em không được vượt quá liều người lớn

c: Các kháng sinh có thời gian bán thải ngắn (cefazolin, cefoxitin) dùng trong các phẫu thuật dài, cần bổ sung liều trong phẫu thuật khi thời gian phẫu thuật dài hơn 2 lần t1/2 của thuốc trên bệnh nhân có chức năng thận bình thường "NA" là không áp dụng bổ sung liều

d: Mặc dù liều 1g được phê duyệt trong nhãn thuốc được cấp phép tại Hoa

Kỳ, chuyên gia khuyến cáo liều 2g trên bệnh nhân béo phì

e: Khi sử dụng liều đơn kết hợp metronidazol cho các phẫu thuật đại trực tràng

f: Thường dự phòng bằng liều đơn với các fluoroquinolon do tăng nguy cơ ADR như viêm gân, đứt gân trên mọi lứa tuổi

g: Thông thường, dự phòng bằng gentamicin nên giới hạn ở liều đơn đưa trước phẫu thuật Liều dùng dựa trên cân nặng lý tưởng (IBW) Nếu cân nặng thực tế ≥ 20% cân nặng lý tưởng Liều dùng theo cân nặng (DW) được tính như sau: DW = IBW + 0.4 x (cân nặng thực - IBW) [14]

1.2.5 Đường dùng kháng sinh dự phòng

Đường dùng KSDP được khuyến cáo khác nhau theo loại phẫu thuật Tuy nhiên, phần lớn phẫu thuật KSDP được khuyến cáo dùng đường tĩnh mạch do khi sử dụng qua đường này, thuốc được hấp thu nhanh vào trong huyết tương và

vị trí phẫu thuật với nồng độ có thể dự đoán được [37] Đường tiêm bắp cũng có thể sử dụng nhưng không đảm bảo về tốc độ hấp thu của thuốc và không ổn định Đường uống chỉ được dùng khi chuẩn bị phẫu thuật trực tràng, đại tràng Đối với đường dùng tại chỗ, hiệu quả thay đổi theo từng loại phẫu thuật (trong phẫu thuật thay khớp, sử dụng chất xi măng tẩm kháng sinh) [1]

Trang 32

1.2.6 Thời gian sử dụng kháng sinh dự phòng

Theo hướng dẫn sử dụng KSDP của ASHP (2013), kháng sinh nên bắt đầu trong vòng 60 phút trước rạch da (120 phút với vancomycin hoặc fluoroquinolon) Đa số phẫu thuật thường sử dụng một liều dự phòng là đủ, thời gian dùng KSDP phẫu thuật nên dưới 24 giờ Trường hợp KSDP có thời gian bán thải ngắn, nên bổ sung liều nếu thời gian phẫu thuật dài hơn 2 lần t1/2 của thuốc hoặc trong trường hợp mất một lượng máu lớn hoặc có yếu tố khác ảnh hưởng đến dược động học của thuốc (bỏng nặng) Không nên bổ sung liều trong trường hợp người bệnh có thể bị kéo dài t1/2 của thuốc [15]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization - WHO), thời điểm sử dụng liều đầu KSDP muộn nhất trong vòng 120 phút trước thời điểm rạch da KSDP đưa trước 120 phút trước rạch da tăng nguy cơ gặp NKVM đáng

kể so với đưa trong vòng 120 phút trước rạch da Sự khác nhau về nguy cơ NKVM là không đáng kể ở các khoảng thời gian: trong vòng 120 đến 60 phút trước rạch da, 60 đến 30 phút trước rạch da và trong vòng 30 phút trước rạch da Với phẫu thuật lấy thai, KSDP nên bắt đầu trước khi rạch da để giảm nguy cơ NKVM ở người mẹ [40]

Trong một số trường hợp, cần bổ sung liều kháng sinh trong thời gian phẫu thuật Trong phẫu thuật tim kéo dài hơn 4 giờ, cần bổ sung thêm một liều kháng sinh Trong trường hợp mất máu với thể tích trên 1500ml ở người lớn, và trên 25ml/kg ở trẻ em, nên bổ sung liều KSDP sau khi bổ sung dịch thay thế [1]

Trang 33

1.3 KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ SAU PHẪU THUẬT

1.3.1 Lựa chọn kháng sinh

Trong phẫu thuật sạch, sạch nhiễm nếu bệnh nhân không có yếu tố nguy

cơ thì ngưng sử dụng KSDP sau 24 giờ (ngoại trừ mổ tim hở)

Trong phẫu thuật nhiễm, dơ thì lựa chọn kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ hoặc theo hướng dẫn trong nước hoặc trên thể giới

Nếu có tĩnh trạng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật thì lựa chọn kháng sinh phù hợp với hướng dẫn trong nước hoặc trên thế giới

Nhiễm khuẩn phổ biến thường gặp (nếu có) sau phẫu thuật tiêu hóa là nhiễm khuẩn màng bụng và nhiễm khuẩn da - mô mềm [19] Khi có dấu hiệu nhiễm khuẩn toàn thân thì phải tìm nguyên nhân (cấy mủ, nước tiểu, dịch tiết, máu) để tim vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí, đồng thời cho kháng sinh phổ rộng, tạm thời dựa vào nhóm vi khuẩn tìm thấy do nhuộm Gram trong khi đợi kết quả nuôi cấy và kháng sinh đồ Kháng sinh lựa chọn theo kinh nghiệm phải có khả năng đến được vị trí nhiễm khuẩn với nồng độ hiệu quả nhưng không gây độc Khi có kết quả kháng sinh đồ thì sử dụng kháng sinh phối hợp theo kháng sinh

đồ [17], [18], [29]

Một số hướng dẫn lựa chọn kháng sinh điều trị (KSĐT) trong phẫu thuật tiêu hóa, gan mật trên thế giới và trong nước được trình bày sau đây:

* Hướng dẫn của IDSA

Trong phạm vi luận văn, nhóm nghiên cứu chỉ trình bày các hướng dẫn sau:

- Kháng sinh và liều tĩnh mạch ban đầu theo kinh nghiệm trong điều trị nhiễm khuẩn bụng phức tạp cho người lớn theo IDSA 2010 (bảng 1.4)

- Hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn hoại tử da, mô và cơ theo IDSA 2014 (bảng 1.5)

- Phác đồ điều trị nhiễm khuẩn da và mô mềm do Staphylococcus và Streptococcus theo IDSA năm 2014 (Phụ lục 4)

- Kháng sinh điều trị NKVM trong phẫu thuật tiêu hóa theo BDSA 2014 (Phụ lục 5)

Trang 34

Bảng 1.7 Kháng sinh và liều tĩnh mạch ban đầu theo kinh nghiệm trong điều trị nhiễm khuẩn ổ bụng phức tạp cho người lớn theo IDSA năm 2010 [44]

Phối hợp P-lactam/ p-lactamase

Piperacillin-tazobactam 3,375 g mỗi 6 giờ b

Ticarcillin-clavulanic acid 3,1 g mỗi 6 giờ

Carbapenem

Imipenem/cilastatin 500 mg mỗi 6 giờ hoặc 1 g mỗi 8 giờ

Cephalosporin

Tigecyclin Liều khởi đầu 100 mg, sau đó 50 mg mỗi 12

giờ

Fluoroquinolon

Metronidazol 500 mg mỗi 8-12 giờ hoặc 1500 mg mỗi 24

giờ

Aminoglycosid

Gentamicin hoặc Tobramycin 5-7 mg/kgc mỗi 24 giờd

Amikacin 15-20 mg/kgc mỗi 24 giờd

Vancomycin 15-20 mg/kge mỗi 8-12 giờ d

a: Liều dựa trên chức năng thận và gan bình thường

b: Đối với nhiễm Pseudomonas aeruginosa, liều có thể tăng lên 3,375 g

mỗi 4 giờ hoặc 4,5 g mỗi 6 giờ

c: Phác đồ liều ban đầu cho aminoglycosid nên dựa trên cân nặng đã được điều chỉnh

d: Xem xét theo dõi nồng độ thuốc trong huyết thanh để cá nhân hoá liều lượng

e: Các chế độ liều ban đầu cho vancomycin nên dựa trên tổng trọng lượng

cơ thể

Trang 35

Bảng 1.8 Hướng đẫn điều trị nhiễm khuẩn hoại tử da, mô và cơ theo IDSA năm

2014 [44]

Loại nhiễm

khuẩn

Lựa chọn ưu tiên

Liều người lớn

Liều trẻ em sau sơ sinh

thay thế ở

bệnh nhân dị ứng nặng với penicillin

Nhiễm khuẩn

hỗn hợp

Piperacillin- tazobactam +

Vancomycin

3,37 g mỗi 6-8 giờ, tiêm TM

30 mg/kg/ngày chia 2 liều

60-75 mg/kg/liều mỗi

6 giờ, tiêm TM 10-13

mg/kg/liều mỗi

8 giờ, tiêm TM

Clindamycin, metronidazol với

aminoglycosid, fluoroquinolon

Imipenem- cilastatin

1 g mỗi 6-8 giờ, tiêm TM N/A N/A

Meropenem 1 g mỗi 8 giờ,

tiêm TM

20 mg/kg/liều mỗi 8 giờ, tiêm

+ Metronidazol hoặc

Clindamycin

2 g mỗi 6 giờ, tiêm TM

500 mg mỗi 6 giờ, tiêm TM 600-900 mg mỗi 8 giờ, tiêm TM

50 mg/kg/liều mỗi 6 giờ, tiêm

TM 7,5 mg/kg/liều mỗi 6 giờ, tiêm

TM 10-13 mg/kg/liều mỗi

8 giờ, tiêm TM

N/A

Streptococcus

Penicillin +

Clindamycin

2-4 triệu đơn

vị mỗi 4-6 giờ, tiêm TM 600-900 mg mỗi 8 giờ, tiêm TM

60.000 - 100.000 đơn vị/kg/liều mỗi

6 giờ, tiêm TM 10-13

mg/lcg/liều mỗi 8 giờ, tiêm

TM

Vancomycin Linezolid Quinupristin/ Dalfopristin Daptomycin

Staphylococc

us Aureus Nafcillin

1-2 g mỗi 4 giờ, tiêm TM

50 rag/kg/liều mỗi 6 giờ, tiêm

TM

Vancomycin Linezolid Quinupristin/

Trang 36

Dalíbpristin Daptomycin

Oxacillin 1-2 g mỗi 4

giờ, tiêm TM

50 mg/kg/liều mỗi 6 giờ, tiêm

TM Cefazolin 1 g mỗi 8 giờ,

tiêm TM

33 mg/kg/liều mỗi 8 giờ, tiêm

TM Vancomycin

(với chủng kháng)

30 mg/kg/ngày chia 2 liều, tiêm TM

15 mg/kg/liều mỗi 6 giờ, tiêm

TM

Clindamycin

600-900 mg mỗi 8 giờ, tiêm TM

10-13 mg/kg/liều mỗi

8 giờ, tiêm TM

Kìm khuẩn; Khả năng kháng chéo và xuất hiện các chủng đề kháng với erythromycin;

có khả năng đề khángMRSA

Cỉostridium

Species

Clindamycin +

Penicillin

600-900 mg mỗi 8 giờ, tiêm TM 2-4 triệu đơn vị mỗi 4-6 giờ, tiêm TM

10-13 mg/lcg/ỉiều mỗi 8 giờ, tiêm

TM 60.000- 100.000 đơn vị/kg/liều mỗi

Ciproíloxacin hoặc

Không nên dùng cho trẻ

em trừ các tình huống nguy hiểm đến tính mạng

N/A

Vibrio

vulniýìcus

Doxycyclin +

Ceữriaxon hoặc Cefotaxim

100 mg mỗi

12 giờ, tiêm

TM 1.1 g, 4 lần 1 ngày, tiêm

TM 1.2 g, 3 lần 1 ngày, tiêm

TM

Không nên dùng cho trẻ

em trừ các tình huống nguy hiểm đến tính mạng

N/A

Trang 37

Nếu có hoặc nghi ngờ có Staphylococcus, thêm 1 tác nhân phù hợp Nếu

có hoặc nghi ngờ có MRSA, thêm vancomycin không vượt quá mức tối đa của người lớn/ngày

* Hướng dẫn của The Sanford Guide To Antimicrobial Therapy 2016

- Điều trị nhiễm khuẩn tiêu hóa theo The Sanford Guide to Antimicrobial Therapy 2016 [31]

- Hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn da và mô mềm theo The Sanford Guide

To Antimicrobial Therapy 2016 [31]

* Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế năm 2015 [2]

Các hướng dẫn về lựa chọn kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn tiêu hóa theo Bộ Y tể (2015): hướng dẫn về lựa chọn kháng sinh, liều dùng, cách dùng trong điều trị viêm phúc mạc, điều trị viêm mô mềm, và điều trị nhiễm khuẩn đường mật [2]

Bảng 1.9 Kháng sinh, liều dùng và cách dùng trong điều trị viêm phúc mạc theo Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế năm 2015 [2]

Ciprofloxacin Truyền TM 400 mg, mỗi 12 giờ

Levofloxacin Truyền TM 750 mg, mỗi 24 giờ

Moxifloxacin Truyền TM 400 mg, mỗi 12-24 giờ

Ceftriaxon Tiêm TM 1-2 g, mỗi 12-24 giờ

Cefotaxim Tiêm TM 1-2 g, mỗi 6-8 giờ

Ertapenem Truyền TM 1 g, mỗi 24 giờ

Piperacilin-tazobactam Truyền TM 4,5 g, mỗi 8 giờ

Imipenem- cilastatin Truyền TM 500 mg, mỗi 6 giờ hoặc 1 g mỗi 8 giờ

Meropenem Tiêm/truyền TM lg, mỗi 8 giờ

Doripenem Truyền TM 500 mg, mỗi 8 giờ

Metronidazol Truyền TM 500 mg, mỗi 8-12giờ

Trang 38

1.3.2 Thời gian sử dụng kháng sinh

- Phác đồ điều trị nhiễm khuẩn đã được xác lập nên được giới hạn trong 4-7 ngày, trừ khi việc kiểm soát nguồn nhiễm không tốt Thời gian điều trị dài hơn không liên quan đến cải thiện kết quả điều trị

- Ở những bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng thường xuyên hoặc liên tục về nhiễm khuẩn bụng sau 4-7 ngày điều trị, nên tiến hành kiểm tra chẩn đoán thích hợp Điều này nên bao gồm chụp cắt lớp hoặc siêu âm cần tiếp tục điều trị nhiễm khuẩn theo kinh nghiệm [17]

- Những bệnh nhân đang hồi sức từ những triệu chứng phức tạp trong ổ bụng có thể được điều trị bằng liệu pháp kháng sinh uống

- Thời gian sử dụng KSDP phải ngắn, nếu có thể giới hạn trong khi mổ, nhưng không quá 24 giờ ngay cả khi đặt các dẫn lưu hay các catheter, trừ trường hợp ngoại lệ Phải tôn trọng nguyên tắc này để giới hạn các vi khuẩn kháng kháng sinh và giảm độc tố [12]

1.4 VAI TRÒ CỦA DSLS TRONG CAN THIỆP VỀ KHÁNG SINH

Theo Hội Dược sĩ của Hệ thống Y tế Hoa Kỳ (ASHP), trong các chương trình quản lý kháng sinh, phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn của hệ thống y

tế, sự can thiệp của DSLS góp phần quan trọng vào việc sử dụng kháng sinh hợp

lý, nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân nhiễm khuẩn và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn cho các bệnh nhân và nhân viên y tế khác

Vai trò của dược sĩ đối với việc quản lý kháng sinh và phòng chống nhiễm khuẩn bao gồm thúc đẩy việc sử dụng tối ưu kháng sinh, giúp ngăn ngừa

và giảm sự lây lan nhiễm khuẩn, tham gia các hoạt động giáo dục các chuyên gia

Trang 39

quan đến kháng sinh (ví dụ: hỗ trợ lựa chọn kháng sinh thích hợp, liều lượng tối

ưu, tác dụng nhanh ) cũng như phát triển các quy trình kiểm soát việc sử dụng kháng sinh, liệu pháp thay thế, điều tộ theo hướng dẫn và kế hoạch chăm sóc trên lâm sàng

+ Làm việc trong khoa Dược và các khoa điều trị liên quan đến bệnh truyền nhiễm để đảm bảo rằng số lượng và các loại kháng sinh sử dụng phù hợp với đặc điểm bệnh nhân Lựa chọn kháng sinh dựa trên đặc điểm của bệnh nhân

và đặc điểm vi khuẩn trong bệnh viện, cần ưu tiên việc phát triển các chính sách

về sử dụng kháng sinh để đảm bảo kết quả trị liệu tối ưu đồng thời giảm thiểu nguy cơ xuất hiện các dòng vi khuẩn kháng thuốc

+ Vận hành chương trình quản lý kháng sinh đa lĩnh vực, sử dụng các kết quả điều trị của bệnh nhân để đánh giá hiệu quả của chương trinh này trong toàn

+ Sử dụng công nghệ thông tin để xây dựng các công cụ hỗ trợ quyết định lâm sàng thông qua giám sát, sử dụng, báó cáo kêt quả tình hình sử dụng kháng sinh và đề lcháng kháng sinh [39]

- Giúp ngăn ngừa và giảm lây nhiễm

Dược sĩ tham gia vào các chương trĩnh giúp ngăn ngừa hoặc giảm lây nhiễm giữa các bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và nhân viên y tế Điều này có thể được thực hiện thông qua:

+ Tham gia các ban phòng chống nhiễm khuẩn (hoặc tương đương)

+ Thiết lập các chính sách, phương thức và các chương trình kiểm soát chất lượng nội bộ để ngăn ngừa lây nhiễm thuốc được khoa Dược chuẩn bị hoặc cấp phát Đây là điều vô cùng quan trọng trong việc chuẩn bị và xử lý các sản

Trang 40

phẩm vô khuẩn Các công tác khác bao gồm: xây dựng các quy định về làm sạch thiết bị dược phẩm và thiết lập các chính sách nhân sự phù hợp (ví dụ, hạn chế hoạt động của nhân viên có biểu hiện bệnh hô hấp do virus hoặc các bệnh truyền nhiễm khác)

+ Khuyến khích việc sử dụng các gói đơn liều các sản phẩm thuốc vô khuẩn thay vì các gói đa liều, ngoại trừ trong mỗi trường vô khuẩn

+ Kiến nghị ghi nhãn, hạn dùng, và lưu trữ các sản phẩm vô khuẩn và hộp chứa sản phẩm vô khuẩn nhiều liều (nếu được sử dụng)

+ Khuyến khích tiêm chủng thông thường (như tiêm chủng cúm) cho nhân viên bệnh viện và những người khác ảnh hưởng đến mỗi trường chăm sóc bệnh nhân, thúc đẩy việc sàng lọc định kỳ các bệnh truyền nhiễm được lựa chọn (như bệnh lao) theo chính sầch hệ thống y tế tại địa phương

+ Phổi hợp trong việc xây dựng hướng dẫn đánh giá, điều tra và giám sát rủi ro cho bệnh nhân và nhân viên chăm sóc sức khoẻ đã tiếp xúc với người có bệnh truyền nhiễm [39]

- Tham gia các hoạt động giáo dục

Vai trò của dược sĩ bao gồm cung cấp kiến thức và thông tin về quản lý kháng sinh và phòng chống nhiễm khuẩn cho các chuyên gia y tế, bệnh nhân và các thành viên trong cộng đồng tiếp xúc với điều trị của hệ thống y tể Bên cạnh

đó, DSLS còn tiến hành can thiệp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả của cảc hoạt động giáo dục trong chăm sóc bệnh nhân Các hoạt động cụ thể bao gồm:

+ Tổ chức các hội thảo, cung cấp thông tin cho các chuyên gia y tế về các chủ đề như sử dụng kháng sinh và đề kháng kháng sinh, sử dụng chất tẩy uế, chất sát khuẩn, kỹ thuật vô khuẩn

+ Giáo dục và tư vấn cho bệnh nhân nội trú, ngoại trú, bệnh nhân chăm sóc tại nhà, gia đình bệnh nhân và người chăm sóc trong các lĩnh vực sau: tuân thủ các hướng dẫn sử dụng kháng sinh, lưu trữ, sử dụng thuốc và dụng cụ quản

lý, các thủ tục phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn khác

Ngày đăng: 29/08/2023, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Y tế - Cục Quản lý Dược (2017), "V/v đăng ký, nhập khẩu đơn hàng thuốc chứa hoạt chất Ceftezol", (Công văn số 14433/QLD-DK) Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v đăng ký, nhập khẩu đơn hàng thuốc chứa hoạt chất Ceftezol
Tác giả: Bộ Y tế - Cục Quản lý Dược
Năm: 2017
4. Badia J. M., Casey A. L., Petrosillo N., Hudson P. M., Mitchell S. A., Crosby C. (2017), "Impact of surgical site infection on healthcare costs and patient outcomes: a systematic review in six European countries", J Hosp Infect, 96(1), pp. 1-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of surgical site infection on healthcare costs and patient outcomes: a systematic review in six European countries
Tác giả: Badia J. M., Casey A. L., Petrosillo N., Hudson P. M., Mitchell S. A., Crosby C
Năm: 2017
5. Balk Robert A. (2014), "Systemic inflammatory response syndrome (SIRS): where did it come from and is it still relevant today?", Virulence, 5(1), pp. 20- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Systemic inflammatory response syndrome (SIRS): where did it come from and is it still relevant today
Tác giả: Balk Robert A
Năm: 2014
6. Berrios-Torres S. I., Umscheid C. A., Bratzler D. W., et al. (2017), "Centers for disease control and prevention guideline for the prevention of surgical site infection, 2017", JAMA Surgery, 152(8), pp. 784-791 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Centers for disease control and prevention guideline for the prevention of surgical site infection, 2017
Tác giả: Berrios-Torres S. I., Umscheid C. A., Bratzler D. W., et al
Năm: 2017
7. Bratzler D. W., Dellinger E. P., Olsen K. M., Perl T. M., Auwaerter P. G., Bolon M. K., Fish D. N., Napolitano L. M., Sawyer R. G., Slain D., Steinberg J. P., Weinstein R. A. (2013), "Clinical practice guidelines for antimicrobial prophylaxis in surgery", Am J Health Syst Pharm, 70(3), pp. 195- 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical practice guidelines for antimicrobial prophylaxis in surgery
Tác giả: Bratzler D. W., Dellinger E. P., Olsen K. M., Perl T. M., Auwaerter P. G., Bolon M. K., Fish D. N., Napolitano L. M., Sawyer R. G., Slain D., Steinberg J. P., Weinstein R. A
Nhà XB: Am J Health Syst Pharm
Năm: 2013
8. Bratzler D. W., Houck P. M., Richards C., Steele L., Dellinger E. P., Fry D. E., Wright C., Ma A., Carr K., Red L. (2005), "Use of antimicrobial prophylaxis for major surgery: baseline results from the National Surgical Infection Prevention Project", Arch Surg, 140(2), pp. 174-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use of antimicrobial prophylaxis for major surgery: baseline results from the National Surgical Infection Prevention Project
Tác giả: Bratzler D. W., Houck P. M., Richards C., Steele L., Dellinger E. P., Fry D. E., Wright C., Ma A., Carr K., Red L
Năm: 2005
9. Trần Văn Châu, Đinh Trung Kiên (2005), "Nhận xét về kháng sinh dự phòng trong một số phẫu thuật nội soi ổ bụng tại bệnh viện quân y 211", Y học Việt Nam (136), pp. 242 - 250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét về kháng sinh dự phòng trong một số phẫu thuật nội soi ổ bụng tại bệnh viện quân y 211
Tác giả: Trần Văn Châu, Đinh Trung Kiên
Năm: 2005
11. Cheng Hang, Chen Brian Po-Han, Soleas Ireena M., Ferko Nicole C., Cameron Chris G., Hinoul Piet (2017), "Prolonged Operative Duration Increases Risk of Surgical Site Infections: A Systematic Review", Surgical infections, 18(6), pp. 722-735 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prolonged Operative Duration Increases Risk of Surgical Site Infections: A Systematic Review
Tác giả: Cheng Hang, Chen Brian Po-Han, Soleas Ireena M., Ferko Nicole C., Cameron Chris G., Hinoul Piet
Năm: 2017
12. De Jonge Stijn Willem, Gans Sarah L., Atema Jasper J., Solomkin Joseph S., Dellinger Patchen E., Boermeester Marja A. (2017), "Timing of preoperative antibiotic prophylaxis in 54,552 patients and the risk of surgical site infection: A systematic review and meta-analysis", Medicine, 96(29), pp.e6903-e6903 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Timing of preoperative antibiotic prophylaxis in 54,552 patients and the risk of surgical site infection: A systematic review and meta-analysis
Tác giả: De Jonge Stijn Willem, Gans Sarah L., Atema Jasper J., Solomkin Joseph S., Dellinger Patchen E., Boermeester Marja A
Năm: 2017
13. Fennessy B.G., O'sullivan M. J., Fulton G. J., Kirwan W. O., Redmond H. P. (2006), "Prospective study of use of perioperative antimicrobial therapy in general surgery", Surgical Infections, 7(4), pp. 355-360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prospective study of use of perioperative antimicrobial therapy in general surgery
Tác giả: Fennessy B.G., O'sullivan M. J., Fulton G. J., Kirwan W. O., Redmond H. P
Năm: 2006
14. Gould I.M., van der Meer J.W.M (2005), Antibiotic Policies: Theory and Practice, Plenum Bup Corp, pp. 68 - 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plenum Bup Corp
Tác giả: Gould I.M., van der Meer J.W.M
Năm: 2005
15. Gyssens IC (1999), "Preventing postoperative infections: current treatment recommendations", Drugs, 57(2), pp. 175-185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preventing postoperative infections: current treatment recommendations
Tác giả: Gyssens IC
Năm: 1999
17. Hsueh P.R., Hawkey P.M. (2007), "Consensus statement on antimicrobial therapy of intra-abdominal infections in Asia", International journal of antimicrobial agents, 30(2), pp. 129-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consensus statement on antimicrobial therapy of intra-abdominal infections in Asia
Tác giả: Hsueh P.R., Hawkey P.M
Năm: 2007
18. Kirby J.P., Mazuski J.E. (2009), "Prevention of surgical site infection", Surgical Clinics of North America, 89(2), pp. 365-389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevention of surgical site infection
Tác giả: Kirby J.P., Mazuski J.E
Năm: 2009
20. Lee H., Jung D., Yeom J.S., Son J.S., Jung S.I., Kim Y.S., Kim C.K., Chang H.H., Kim S.W., Ki H.K. (2009), "Evaluation of ceftriaxone utilization at multicenter study", The Korean Journal of Internal Medicine, 24(4), pp. 376- 377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of ceftriaxone utilization at multicenter study
Tác giả: Lee H., Jung D., Yeom J.S., Son J.S., Jung S.I., Kim Y.S., Kim C.K., Chang H.H., Kim S.W., Ki H.K
Năm: 2009
21. LeMire M., Wing L., Gordon DL (1996), "An audit of third generation cephalosporin prescribing in a tertiary care hospital", Australian and New Zealand journal of medicine, 26(3), pp. 386-390 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An audit of third generation cephalosporin prescribing in a tertiary care hospital
Tác giả: LeMire M., Wing L., Gordon DL
Năm: 1996
24. Gaynes Robert P., Culver David H., Horan Teresa C., Edwards Jonathan R., Richards Chesley, Tolson James S., (2001), "Surgical Site Infection (SSI) Rates in the United States, 1992–1998: The National Nosocomial Infections Surveillance System Basic SSI Risk Index", Clinical Infectious Diseases, 33(Supplement_2), pp. S69-S77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical Site Infection (SSI) Rates in the United States, 1992–1998: The National Nosocomial Infections Surveillance System Basic SSI Risk Index
Tác giả: Gaynes Robert P., Culver David H., Horan Teresa C., Edwards Jonathan R., Richards Chesley, Tolson James S
Năm: 2001
25. Gouvea M., Novaes Cde O., Pereira D. M., Iglesias A. C. (2015), "Adherence to guidelines for surgical antibiotic prophylaxis: a review", Braz J Infect Dis, 19(5), pp. 517-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adherence to guidelines for surgical antibiotic prophylaxis: a review
Tác giả: Gouvea M., Novaes Cde O., Pereira D. M., Iglesias A. C
Năm: 2015
26. Hung N. V., Thu T. A., Anh N. Q., Quang N. N., Lennox A. K., Salmon S., Pittet D., McLaws L. M. (2011), "Surgical site infections in Vietnamese hospitals: incidence, pathogens and risk factors", BMC Proceedings, 5(Suppl 6), pp. O54-O54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical site infections in Vietnamese hospitals: incidence, pathogens and risk factors
Tác giả: Hung N. V., Thu T. A., Anh N. Q., Quang N. N., Lennox A. K., Salmon S., Pittet D., McLaws L. M
Năm: 2011
27. Phạm Thị Kim Huệ, Đặng Nguyễn Đoan Trang (2018), "Khảo sát việc dử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật Sạch, Sạch nhiễm tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh", Y Học TP. Hồ Chí Minh, 22(1), pp. 83-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát việc dử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật Sạch, Sạch nhiễm tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Thị Kim Huệ, Đặng Nguyễn Đoan Trang
Năm: 2018

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w