ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân mắc ĐTĐ týp 2, được chẩn đoán và điều trị nội trú tại Khoa Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ trong khoảng thời gian từ 01/07/2020 đến 30/09/2020.
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ 01/07/2020 - 30/09/2020 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ
- BN được chẩn đoán xác định là ĐTĐ týp 2 đến khám bệnh; bác sĩ chỉ định điều trị bằng thuốc ĐTĐ và cho điều trị nội trú
- Có sức khỏe tâm thần bình thường, có khả năng giao tiếp và đối thoại trực tiếp bằng tiếng phổ thông
- BN ĐTĐ týp 2 điều trị ngoại trú, từ 18 tuổi trở lên
Các xét nghiệm thường quy được thực hiện tại thời điểm tham gia nghiên cứu bao gồm đường huyết lúc đói, HbA1c, cholesterol toàn phần, triglycerid, HDL-cholesterol, LDL-cholesterol, ASAT, ALAT, creatinin và ure.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Bệnh nhân điều trị các bệnh lý khác như nhiễm trùng nặng, bệnh tuyến tụy ngoại tiết, hoặc bệnh lý nội tiết có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị ĐTĐ Ngoài ra, việc sử dụng thuốc điều trị HIV và thuốc chống thải ghép cũng cần được xem xét kỹ lưỡng.
- Các thể ĐTĐ khác ĐTĐ týp 2
- Bệnh nhân mới bắt đầu điều trị tại thời điểm phỏng vấn
- Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu
- BN đang tham gia vào nghiên cứu khác.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp mô tả cắt ngang tiến cứu, không can thiệp, thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án và các phiếu khảo sát (xem phần phụ lục).
Trong quá trình nghiên cứu, bệnh nhân tiểu đường loại 2 được phỏng vấn trực tiếp tại Khoa Nội tiết bằng bộ công cụ nghiên cứu, bao gồm phiếu thông tin hành chính, bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ dùng thuốc (MMAS - 8) và 05 câu hỏi về kiến thức thuốc.
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu: bảng câu hỏi và phiếu thu thập thông tin bệnh nhân (phụ lục 3 - 5)
+ Thông tin hành chính của bệnh nhân (phụ lục 3)
+ Đánh giá tuân thủ điều trị bằng bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ điều trị dựa vào thang MMAS–8 (phụ lục 4)
+ Khảo sát kiến thức về thuốc sử dụng trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2 bằng bộ công cụ gồm 5 câu hỏi (phụ lục 5)
Chúng tôi đã tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên từ ngày 01/07/2020 đến 30/09/2020, thu thập tất cả các bệnh nhân đáp ứng tiêu chí lựa chọn và tiêu chí loại trừ Để xác định cỡ mẫu cần thiết, chúng tôi áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ.
𝑑 2 Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu α: Mức ý nghĩa thống kê α: Độ tin cậy
Z: Hệ số tin cậy là trị số tùy thuộc vào mức tin cậy mong muốn của ước lượng; mức tin cậy mong muốn là 95%, Z = 1,96
P: Trị số mong muốn của tỉ lệ Theo phân tích gộp của Bryson và cộng sự [38], tỷ lệ BN tuân thủ sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ týp 2 là 81%, do đó p = 0,81 d: Sai số mong muốn giữa tỷ lệ từ mẫu và tỷ lệ thật của quần thể
Trong nghiên cứu này, chọn mức sai số d =0,05
Thay các giá trị vào công thức:
= 236,49 d 2 0.05 2 Để tránh trường hợp mẫu nghiên cứu không đạt yêu cầu, tác giả thu thập thêm mẫu Do đó, cỡ mẫu trong nghiên cứu là 300 bệnh nhân
CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Đặc điểm bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
- Một số đặc điểm chung của bệnh nhân trong nghiên cứu: tuổi, giới tính, dân tộc, thời gian dùng thuốc điều trị ĐTĐ týp 2
- Đường huyết lúc đói, huyết áp, BMI của bệnh nhân vào thời điểm phỏng vấn
- Tỷ lệ bệnh nhân gặp ADR
- Các chỉ số cận lâm sàng khác tại thời điểm nghiên cứu
- Số BN có chỉ số xét nghiệm chức năng gan thận bất thường tại thời điểm lấy mẫu nghiên cứu
2.3.2 Đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân
- Khảo sát sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân, tỷ lệ trả lời có/không cho mỗi câu hỏi trong MMAS - 8 (Phụ lục 4)
- Phân tích tỷ lệ tuân thủ thuốc: Tốt/trung bình/kém
- Mối liên quan giữa mức độ tuân thủ và mức độ kiểm soát đường huyết
2.3.3 Khảo sát kiến thức của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu về thuốc sử dụng
- Khảo sát kiến thức về thuốc sử dụng của bệnh nhân theo bộ 5 câu hỏi ở phụ lục
- Mối liên quan giữa kiến thức về thuốc và mức độ kiểm soát đường huyết của bệnh nhân
2.3.4 Phân tích thực trạng sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường týp 2 trên bệnh nhân khám và điều trị
- Danh mục các thuốc điều trị ĐTĐ týp 2 gặp trong nghiên cứu
- Liều dùng các thuốc điều trị ĐTĐ týp 2 cho BN trong mẫu nghiên cứu
- Tỷ lệ sử dụng các phác đồ điều trị trong mẫu nghiên cứu
- Tỷ lệ đổi phác đồ điều trị
- Lý do đổi phác đồ điều trị
- Lựa chọn thuốc và chức năng gan thận của bệnh nhân
- Tính phù hợp của việc lựa chọn phác đồ điều trị tại thời điểm ban đầu
- Các biến cố bất lợi (AE) gặp trong quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu về tương tác thuốc giữa các thuốc điều trị đái tháo đường týp 2 và các thuốc điều trị bệnh mắc kèm cho thấy cần thiết phải đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả và hợp lý Mục tiêu là cải thiện chất lượng điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại Bệnh Viện Đa Khoa thành phố Cần Thơ.
- Danh mục các thuốc điều trị bệnh mắc kèm
CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TRONG NGHIÊN CỨU
2.4.1 Chỉ tiêu đánh giá glucose máu lúc đói, HbA1c, lipid máu, huyết áp:
Mức độ kiểm soát đường huyết của bệnh nhân được đánh giá theo hướng dẫn
Chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường týp 2 theo hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2017 bao gồm việc thu thập các chỉ số sức khỏe của bệnh nhân tại thời điểm tái khám và tham gia phỏng vấn.
Bảng 2.1 Mục tiêu điều trị ĐTĐ týp 2 ở người trưởng thành, không có thai
Glucose huyết tương mao mạch lúc đói, trước ăn
80-130 mg/dL (4.4-7.2 mmol/L)* Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ
Huyết áp Tâm thu < 140 mmHg, Tâm trương < 90 mmHg Nếu đã có biến chứng thận: Huyết áp < 130/85-80 mmHg
Lipid máu LDL cholesterol < 100 mg/dL (2,6 mmol/L), nếu chưa có biến chứng tim mạch
LDL cholesterol < 70 mg/dL (1,8 mmol/L) nếu đã có bệnh tim mạch
Triglycerides < 150 mg/dL (1,7 mmol/L) HDL cholesterol >40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và >50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ
* Mục tiêu điều trị ở các cá nhân có thể khác nhau tùy tình trạng của bệnh nhân
Mục tiêu điều trị bệnh đái tháo đường có thể đặt ra nghiêm ngặt hơn, với chỉ số HbA1c dưới 6,5% (48 mmol/mol) nếu có thể đạt được mà không gây ra hạ đường huyết đáng kể hoặc tác dụng phụ nghiêm trọng từ thuốc Đối với những người mắc bệnh đái tháo đường trong thời gian ngắn, đặc biệt là bệnh nhân đái tháo đường týp 2, việc điều trị có thể chỉ cần thay đổi lối sống hoặc sử dụng metformin, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi hoặc không có bệnh tim mạch quan trọng.
- Ngược lại, mục tiêu điều trị có thể ít nghiêm ngặt (nới lỏng hơn): HbA1c
Mức HbA1c dưới 8% (64 mmol/mol) là phù hợp cho những bệnh nhân có tiền sử hạ glucose huyết nặng, người cao tuổi, mắc các biến chứng mạch máu nhỏ hoặc lớn, có nhiều bệnh lý kèm theo, hoặc những người đã sống với bệnh tiểu đường lâu năm và khó khăn trong việc đạt mục tiêu điều trị.
Nếu mục tiêu glucose huyết lúc đói đã đạt nhưng chỉ số HbA1c vẫn cao, cần xem xét lại mục tiêu glucose huyết sau ăn, đo vào khoảng 1-2 giờ sau khi bệnh nhân bắt đầu ăn.
Cơ sở để lựa chọn
Glucose huyết tương lúc đói hoặc trước ăn (mg/dL)
Glucose huyết tương lúc đi ngủ (mg/dL)
Mạnh khỏe Còn sống lâu < 7,5% 90-130 90-150 < 140/90
Kỳ vọng sống trung bình
Rất phức tạp/ sức khỏe kém
* Đánh giá về kiểm soát đường huyết:
Xét nghiệm HbA1c nên được thực hiện ít nhất 2 lần mỗi năm cho những bệnh nhân đạt được mục tiêu điều trị và có mức đường huyết ổn định.
- Thực hiện xét nghiệm HbA1c hàng quý ở những người bệnh được thay đổi liệu pháp điều trị hoặc những người không đáp ứng mục tiêu về glucose huyết
- Thực hiện xét nghiệm HbA1c tại thời điểm người bệnh đến khám, chữa bệnh để tạo cơ hội cho việc thay đổi điều trị kịp thời hơn [10]
2.4.2 Chỉ tiêu đánh giá chỉ số khối cơ thể (BMI)
Bảng 2.3 Phân loại thể trạng theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế 2020 [10]
2.4.3 Chỉ tiêu đánh giá chức năng gan thận:
Bảng 2.4 Chỉ tiêu đánh giá chức năng gan thận
Mức độ Đối với thận Đối với gan
- Xác định tương tác thuốc–thuốc trong quá trình điều trị:
- Xác định nguy cơ tương tác thuốc dựa trên các nguồn tài liệu: www.Drugs.com; Drugs Interaction Facts 2009; Stockley’s Drug Interaction (Karen Baxter, 2009)
Lựa chọn các cặp tương tác thuốc có ý nghĩa là rất quan trọng, vì chúng có thể làm biến đổi độc tính hoặc thay đổi tác dụng điều trị của thuốc Những cặp tương tác này cần phải được can thiệp y khoa hoặc yêu cầu hiệu chỉnh liều Để đánh giá mức độ ý nghĩa của một cặp tương tác thuốc, cần xem xét các yếu tố như mức độ nghiêm trọng, phạm vi điều trị của thuốc, ghi nhận bằng chứng lâm sàng và khả năng sử dụng kết hợp của hai thuốc trong lâm sàng.
2.4.4 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ tuân thủ
Bộ câu hỏi đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân bao gồm 7 câu hỏi với câu trả lời "Có/Không" và một câu hỏi cuối cùng có 5 đáp án (bảng 2.5) Mức độ tuân thủ được xác định qua tổng điểm của bệnh nhân (bảng 2.6).
Bảng 2.5 Thang điểm đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân
Dựa trên thang điểm đánh giá mức độ tuân thủ, các tiêu chuẩn đánh giá được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.6 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân
Mức độ tuân thủ Tổng điểm
2.4.5 Khảo sát kiến thức về thuốc sử dụng của bệnh nhân
- Tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng ở mỗi câu hỏi
Tỷ lệ bệnh nhân có tổng điểm từ 0 đến 8 cho thấy mức độ hiểu biết của họ về thuốc đang sử dụng; điểm số cao hơn tương ứng với sự hiểu biết tốt hơn về các loại thuốc.
- Mối liên hệ giữa kiến thức về thuốc sử dụng và mức độ kiểm soát đường huyết của bệnh nhân.
PHƯƠNG PHÁP THU THẬP, ĐÁNH GIÁ VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
Bảng thu thập số liệu, hồ sơ bệnh án của đối tượng nghiên cứu tại Bệnh Viện Đa Khoa TP Cần Thơ
Chọn lọc hồ sơ bệnh án phù hợp với tiêu chí chọn mẫu
2.5.4 Phương pháp kiểm soát sai số
Nghiên cứu do cán bộ điều tra tự điền, ghi chép thông tin khảo sát
- Khi thu thập thông tin, làm thử nghiệm trước khi tiến hành chính thức
Người thu thập số liệu cần hiểu rõ nội dung cần thu thập và các sai số có thể xảy ra trong quá trình này Việc thu thập số liệu phải được thực hiện một cách cẩn thận và chính xác để tránh những sai lệnh không mong muốn.
Các số liệu được thu thập thông qua một mẫu phiếu điều tra thống nhất, sau đó được nhập vào phần mềm Microsoft Office Excel 2016 và xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0.
ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã được sự chấp thuận của Ban lãnh đạo bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên sự tham gia tự nguyện của các đối tượng, đảm bảo không ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của họ, đồng thời hạn chế gây phiền toái cho bệnh nhân.
Tất cả đối tượng nghiên cứu nhận được thông tin tóm tắt về nghiên cứu và có quyền từ chối hoặc chấm dứt tham gia bất kỳ lúc nào Mọi thông tin cá nhân của họ được mã hóa và bảo mật, chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH NHÂN TRONG MẪU NGHIÊN CỨU
Các đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu được mô tả trên bệnh nhân nghiên cứu thỏa mãn các tiêu chuẩn nghiên cứu với những đặc điểm như sau:
3.1.1 Đặc điểm về tuổi và giới của bệnh nhân
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới
Trong số 300 bệnh nhân được phỏng vấn có 169 bệnh nhân nữ chiếm 56,3%, bệnh nhân nam chỉ có 131 chiếm 43,7%
Hình 3.1 Phân bố bệnh nhân theo giới tính
Hình 3.2 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Nhận xét: Độ tuổi trung bình của cả hai giới là 63,89±13,38 tuổi
Bệnh nhân trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 83,0%, tiếp theo là nhóm từ 41 đến 50 tuổi với 11,7% Độ tuổi bệnh nhân dao động từ 17 đến 98.
Bảng 3.2 Phân bố theo BMI ở đối tượng nghiên cứu
Phân loại BMI Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Hình 3.3 Phân bố theo BMI ở đối tượng nghiên cứu
Gầy Bình thường Thừa cân Béo phì
Chỉ số BMI trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 24,01±5,37 kg/m 2
Theo nghiên cứu, thể trạng bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được phân loại theo tiêu chuẩn của WHO cho người châu Á cho thấy tỷ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 18% và 34% Nhóm có chỉ số BMI bình thường chiếm 38%, trong khi nhóm có thể trạng gầy có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 10%.
3.1.3 Đặc điểm về dân tộc
Bảng 3.3 Đặc điểm về dân tộc của đối tượng nghiên cứu
Hình 3.4 Đặc điểm về dân tộc ở đối tượng nghiên cứu
Số lượng bệnh nhân thuộc nhóm dân tộc Kinh nhiều hơn bệnh nhân thuộc nhóm dân tộc thiểu số, tỷ lệ chiếm lần lượt là 63%, 37% trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh
Thời gian mắc bệnh Số BN %
Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh trong 10 năm là thấp nhất, chỉ chiếm 3,7% mẫu Ngược lại, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh từ 1 đến 5 năm cao nhất, đạt 44,3% Bên cạnh đó, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh dưới 1 năm là 22,3%.
3.1.5 Các chỉ số liên quan đến bệnh lúc vào viện
Bảng 3.5 Các chỉ số cơ bản của bệnh nhân lúc vào viện
Chỉ số Đơn vị X ±SD Max - Min
Glucose máu lúc đói mmol/l 13,2±8,5 29,2–5,1
Huyết áp tối đa mmHg 145,4±35,9 210–109
Chỉ số glucose máu lúc đói tại thời điểm vào viện là khá cao, có trung bình (13,2±8,5 mmol/l), thậm chí có BN glucose máu lúc đói lên tới 29,2 mmol/l
Chỉ số HbA1c cũng ở mức cao, trung bình (8,3±3,2%)
Chỉ số huyết áp tối đa trung bình ở mức kém 145,4±35,9 mmHg, có những BN huyết áp được đo lúc nhập viện rất cao (210/109 mmHg)
Giá trị trung bình của các chỉ số lipid đều nằm trong giới hạn bình thường, riêng Triglycerid máu của BN hơi cao
Giá trị trung bình của các chỉ số chức năng thận như creatinine và ure ở mức cao, trong khi các chỉ số chức năng gan như ASAT và ALAT lại nằm trong giới hạn bình thường.
Bảng 3.6 Mức độ kiểm soát các chỉ số cơ bản của bệnh nhân
Chỉ số Tốt Chấp nhận Kém n (%) n (%) n (%)
Đối với huyết áp tối đa, tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát huyết áp tốt đạt 39,7% Về các chỉ số lipid máu khi nhập viện, có 45% bệnh nhân có cholesterol toàn phần ở mức kiểm soát tốt, 57,7% đối với HDL-cholesterol và 48% đối với LDL-cholesterol Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân có mức kiểm soát kém về triglycerid máu lại cao, lên tới 41,3%.
Trong số 300 BN nghiên cứu, chỉ số xét nghiệm creatinin và ure máu thì có 126
Trong số các bệnh nhân, có 42% có nồng độ creatinine máu cao và 35,7% có nồng độ ure máu cao Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát tốt các chỉ số này lại cao hơn, với 58% đối với creatinine và 64,3% đối với ure.
Nồng độ ASAT và ALAT ở mức kiểm soát tốt rất cao, với 84,7% đối với ALAT và 80,7% đối với ASAT Tỷ lệ kiểm soát kém chỉ chiếm 15,3% đối với ALAT và 19,3% đối với ASAT Điều này cho thấy ngay từ khi nhập viện, bệnh nhân có sự suy giảm chức năng gan ít, và đa số bệnh nhân có chức năng gan bình thường.
3.1.6 Đặc điểm về thời gian sử dụng thuốc của bệnh nhân
Bảng 3.7 Đặc điểm thời gian sử dụng thuốc điều trị của bệnh nhân
Thời gian mắc bệnh Số BN Tỷ lệ (%)
Hình 3.5 Đặc điểm thời gian sử dụng thuốc điều trị của bệnh nhân
Thời gian sử dụng thuốc trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 2,89±2,12 Tỷ lệ bệnh nhân dùng thuốc dưới 1 năm chiếm tỉ lệ thấp chiếm 17,7% mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ bệnh nhân dùng thuốc nhiều nhất là từ 1 đến 5 năm chiếm 52,3% Và có 90/300 bệnh nhân dùng thuốc điều trị trên 5 năm
3.1.7 Mức độ kiểm soát đường huyết của bệnh nhân
Mức độ kiểm soát đường huyết của bệnh nhân được phân loại thành ba nhóm: kiểm soát tốt, kiểm soát trung bình và kiểm soát kém Kết quả khảo sát về mức độ kiểm soát đường huyết trong mẫu nghiên cứu được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 3.8 Mức độ kiểm soát đường huyết của bệnh nhân
Chỉ số Tốt Chấp nhận Kém n (%) n (%) n (%)
Trong nghiên cứu, chỉ có 17% bệnh nhân đạt được mức kiểm soát tốt về chỉ số glucose máu, trong khi 26% bệnh nhân có HbA1c ở mức kiểm soát tốt Ngược lại, tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát kém glucose máu lên tới 76% và HbA1c là 61,3%.
3.1.8 Các bệnh mắc kèm với ĐTĐ trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3.9 Các bệnh mắc kèm với ĐTĐ ở người cao tuổi gặp trong nghiên cứu
Bệnh mắc kèm ĐTĐ Số BN Tỷ lệ (%)
Bệnh tim thiếu máu cục bộ MT 23 7,7
Bệnh lý về hệ tiêu hóa 93 31,0
Hình 3.6 Các bệnh mắc kèm với ĐTĐ ở người cao tuổi gặp trong nghiên cứu
Tăng huyết áp Bệnh tim thiếu máu cục bộ MT
Bệnh lý thận Bệnh lý gan Bệnh lý về hệ tiêu hóa
Trong số các bệnh nhân được nghiên cứu, bệnh lý tiêu hóa chiếm tỉ lệ cao nhất với 31%, tiếp theo là bệnh lý tăng huyết áp với 30,7% Bệnh gan đứng ở mức 18%, trong khi bệnh tim thiếu máu cục bộ mãn tính và bệnh lý về thận có tỉ lệ thấp nhất.
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP
3.2.1 Danh mục các thuốc điều trị ĐTĐ týp 2 gặp trong nghiên cứu
Bảng 3.10 Đặc điểm các loại thuốc bệnh nhân sử dụng
Nhóm thuốc Hoạt chất Tên thương mại Số BN %
Novomix 30 Flexpen 100UI/mlx3ml
Lantus Solostar 100 UI/10ml Mixtard 30HM
Humulin R Novorapid Flexpen Levemir Flexpen 100UI/ml
Hình 3.7 Đặc điểm các loại thuốc bệnh nhân sử dụng
Tại khoa Nội tiết, các thuốc điều trị ĐTĐ týp 2 trong mẫu nghiên cứu bao gồm nhóm Biguanid, Sulfonylure và Insulin Trong đó, Insulin là loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất, chiếm tới 84,7%, với các loại Insulin tác dụng nhanh như Novorapid Flexpen, Actrapid HM, Humulin R, và Insulin tác dụng kéo dài như Levemir Flexpen 100UI/ml.
Lantus Solostar (100 UI/10 ml) and insulin mixtures such as Novomix 30 Flexpen (100 UI/ml x 3 ml) and Mixtard 30HM are commonly used in diabetes treatment Metformin is widely prescribed, accounting for 28.3% of usage Additionally, oral medications from the Sulfonylurea group, including Gliclazid (22.3%) and Glimepiride (7%), are also significant in managing diabetes.
3.2.2 Tỷ lệ sử dụng các phác đồ điều trị trong mẫu nghiên cứu
Trong quá trình điều trị bệnh ĐTĐ týp 2, các phác đồ thuốc có thể được điều chỉnh dựa trên tình trạng kiểm soát glucose máu của bệnh nhân và phản ứng với thuốc Việc thay đổi phác đồ cũng có thể xảy ra do các biến cố bất lợi Kết quả khảo sát về các phác đồ điều trị của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được trình bày từ thời điểm nhập viện đến trước khi xuất viện.
Bảng 3.11 Các phác đồ điều trị ĐTĐ týp 2 áp dụng trong mẫu nghiên cứu
Phác đồ Lúc nhập viện Lúc xuất viện
Tỷ lệ (%) Đơn trị liệu 270 90,0 257 85,7
Kết quả nghiên cứu cho thấy có tất cả 07 kiểu phác đồ được áp dụng trong đó có
Trong điều trị, có 3 kiểu đơn trị liệu và 4 kiểu đa trị liệu Các phác đồ đơn trị liệu chiếm 90% khi bệnh nhân mới nhập viện và vẫn giữ nguyên trong suốt quá trình điều trị, với tỷ lệ 85,7% trước khi xuất viện Metformin và insulin là hai phác đồ đơn trị liệu chủ yếu, trong đó insulin được sử dụng cho 77,7% bệnh nhân khi mới nhập viện, giảm xuống còn 69,3% trước khi xuất viện; Metformin được sử dụng lần đầu cho 9% bệnh nhân và tăng lên 10,7% trước khi xuất viện Đối với các phác đồ đa trị liệu, tỷ lệ là 10% lúc mới nhập viện và tăng nhẹ lên 14,3% trước khi xuất viện Phác đồ Metformin + Sulfonylure là phác đồ đa trị liệu chủ yếu, chiếm 8% bệnh nhân khi mới nhập viện, tăng lên 10% trước khi xuất viện.
3.2.3 Lý do đổi phác đồ điều trị
Bảng 3.12 Lý do đổi phác đồ điều trị
Lý do đổi phác đồ Số BN Tỷ lệ (%)
Do gặp biến cố bất lợi 3 7,7
Do đáp ứng được điều trị 5 12,8
Do không đáp ứng được điều trị 31 79,5
Hình 3.8 Lý do đổi phác đồ điều trị
Nghiên cứu cho thấy có 39 bệnh nhân (BN) phải đổi phác đồ điều trị, trong đó lý do chính là do không kiểm soát được đường huyết (79,5%) Việc thay đổi phác đồ là cần thiết để phù hợp với tình trạng của BN Ngoài ra, 12,8% trường hợp đổi phác đồ là do BN có đáp ứng tốt với điều trị Trong nghiên cứu cũng ghi nhận 3 trường hợp cụ thể.
BN đổi phác đồ do gặp biến cố bất lợi như buồn nôn, nôn, tiêu chảy và hoa mắt chóng mặt nhiều có biểu hiện của hạ đường huyết
3.2.4 Lựa chọn thuốc và chức năng gan thận của bệnh nhân
Bảng 3.13 Lựa chọn thuốc và chức năng gan thận của bệnh nhân
Phác đồ thuốc Tăng Creatinin Tăng AST và/hoặc
Tăng Creatinin và/hoặc tăng AST/ALT
Số Bn % Số Bn % Số Bn %
Nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn thuốc dựa trên chức năng gan thận của bệnh nhân rất quan trọng Trong ba phác đồ điều trị cho bệnh nhân có chức năng gan thận không bình thường, bao gồm biguanid, insulin và sulfonylurea, insulin là phác đồ chủ yếu được chỉ định cho những bệnh nhân có tăng creatinine và/hoặc tăng ASAT/ALAT.
Do gặp biến cố bất lợi 7,7%
Do đáp ứng được điều trị 12,8%
Do không đáp ứng được điều trị 79,5%
Trong trường hợp này, có 53 bệnh nhân sử dụng thuốc uống Những bệnh nhân dùng metformin và sulfonylurea đơn độc cần có mức creatinine máu bình thường Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy có 7 bệnh nhân sử dụng metformin và 3 bệnh nhân sử dụng sulfonylurea mặc dù men gan tăng.
3.2.5 Tính phù hợp của việc lựa chọn phác đồ điều trị tại thời điểm ban đầu
Bảng 3.14 Lựa chọn phác đồ điều trị tại thời điểm ban đầu
Phác đồ Số phác đồ Phù hợp n(%) Chưa phù hợp n(%) Đơn trị liệu 270 (90,0%) 262 (97) 8 (3)
Insu: Insulin; Met: Metformin; Sulfo: Sulfonylure
Khi nhập viện điều trị, phần lớn phác đồ đơn trị liệu (97%) và đa trị liệu (96,7%) được sử dụng phù hợp Tổng cộng, 291/300 phác đồ điều trị (97%) được chọn là phù hợp Tuy nhiên, vẫn còn 8 trường hợp (3%) có phác đồ chưa phù hợp với hướng dẫn sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ týp 2.
Bảng 3.15 Lựa chọn phác đồ có chứa Insulin tại thời điểm ban đầu Đánh giá Lý do (n#7) Số BN (%)
HbA1c >9,0% + Glucose máu >15,0 78 (32,91) Men gan tăng cao hoặc viêm gan 12 (50,63) HbA1c >9,0% + Glucose máu >15,0 và men gan tăng cao
HbA1c >9,0% + Glucose máu >15,0 và suy thận
Người mắc ĐTĐ lâu năm 112 (33,23)
Chưa phù hợp Sử dụng ngoài các chỉ định dùng Insulin theo hướng dẫn điều trị ĐTĐ của Bộ Y tế
Đối với việc sử dụng Insulin, 99,15% chỉ định trên bệnh nhân tại thời điểm ban đầu là phù hợp, tương đương với 235/237 trường hợp Chỉ có 0,85% trường hợp sử dụng Insulin không phù hợp theo hướng dẫn điều trị ĐTĐ của Bộ Y tế.
3.2.6 Các biến cố bất lợi (AE) gặp trong quá trình nghiên cứu
Kết quả về các biến cố bất lợi trong quá trình dùng thuốc điều trị trên bệnh nhân nghiên cứu được thể hiện ở bảng sau
Bảng 3.16 Các AE gặp trong quá trình nghiên cứu
Các biến cố bất lợi Số BN Tỷ lệ (%)
Hoa mắt, chóng mặt 72 24,0 Đau đầu 20 6,7
Dị ứng (mẩn ngứa, ban đỏ ngoài da) 5 1,7
Sưng, viêm tại chỗ tiêm 17 5,7 Đau khớp, đau lưng 6 2,0
Hình 3.9 Các AE gặp trong quá trình nghiên cứu
Kết quả cho thấy các biến cố bất lợi (AE) phổ biến nhất bao gồm mệt mỏi chiếm 31,7%, hoa mắt và chóng mặt chiếm 24% Các triệu chứng liên quan đến hệ tiêu hóa như nôn và buồn nôn chiếm 13,7%, chướng bụng và đầy hơi chiếm 10%, chán ăn và đắng miệng chiếm 4,7%, trong khi tiêu chảy chiếm 7% Ngoài ra, chỉ có 5 trường hợp ghi nhận dị ứng với triệu chứng mẩn đỏ và ngứa ngoài da.
Nôn, buồn nôn Chướng bụng, đầy hơi Chán ăn, đắng miệng
Tiêu chảy Mệt mỏi Hoa mắt, chóng mặt Đau đầu
Dị ứng (mẩn ngứa, ban đỏ ngoài da)
Sút cân Sưng, viêm tại chỗ tiêm Đau khớp, đau lưng
3.2.7 Tương tác thuốc gặp trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3.17 Tương tác thuốc gặp trong nghiên cứu
Các biến cố bất lợi Số BN (%) Hậu quả
Combining insulin with various antihypertensive medications has been shown to enhance the hypoglycemic effect Notably, insulin paired with Enalapril and Losartan resulted in the highest increase in blood sugar-lowering effects, with scores of 41 (13.7) Other combinations, such as insulin with Perindopril (18; 6.0), Captopril (11; 3.7), and Metformin (13; 4.3), also demonstrated significant improvements Additionally, insulin combined with Metoprolol (10; 3.3), Bisoprolol (8; 2.7), and Telmisartan (19; 6.3) contributed to enhanced hypoglycemic activity Meanwhile, combinations involving Metformin and various antihypertensives, such as Enalapril (2; 0.7) and Captopril (2; 0.7), exhibited lower but notable increases in blood sugar reduction Gliclazid combined with Enalapril (11; 3.7) and Glimepirid with Enalapril (2; 0.7) also showed potential in augmenting hypoglycemic effects.
Nghiên cứu về các cặp tương tác thuốc ở đối tượng bệnh nhân ĐTĐ týp 2 cho thấy không có trường hợp nào gặp tương tác nghiêm trọng hoặc chống chỉ định Hầu hết các cặp tương tác đều cần thận trọng và giám sát nồng độ glucose huyết để điều chỉnh liều thuốc phù hợp với đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân.
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TUÂN THỦ DÙNG THUỐC CỦA BỆNH NHÂN
3.3.1 Kết quả phỏng vấn tuân thủ của bệnh nhân Để đánh giá mức độ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân tác giả sử dụng thang đánh giá MMAS–8 (phụ lục 4) Mỗi bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp ngay sau khi nhập viện điều trị tại Khoa Nội tiết, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ Kết quả được trình bày trong bảng sau
Bảng 3.18 Kết quả phỏng vấn tuân thủ thuốc của bệnh nhân
STT Câu hỏi Số BN Tỷ lệ
1 Đôi khi quên uống thuốc 174 58,0
2 Trong 2 tuần vừa qua có lúc quên uống thuốc 66 22,0
3 Giảm hoặc ngưng uống thuốc mà không nói với bác sỹ 90 30,0
4 Quên mang thuốc khi đi xa 62 20,7
5 Chưa uống thuốc ngày hôm qua 6 2,0
6 Ngừng thuốc khi thấy đường huyết ở dưới mức cần kiểm soát 96 32,0
7 Cảm thấy phiền khi phải điều trị dài ngày 162 54,0
8 Gặp khó khăn khi phải nhớ uống thuốc nhiều
Không bao giờ/hiếm khi 223 74,3
Một lần trong khoảng thời gian điều trị 2 0,7
Kết quả tuân thủ điều trị ở bệnh nhân trước khi vào viện cho thấy tỷ lệ bệnh nhân quên uống thuốc rất cao, lên tới 58% Trong 2 tuần gần đây, có 66 bệnh nhân (22%) đã quên sử dụng thuốc, trong khi chỉ có 6 bệnh nhân (2%) chưa uống thuốc vào ngày trước khi khám Đáng chú ý, 162 bệnh nhân (54%) cảm thấy phiền phức với liệu trình sử dụng thuốc lâu dài Hơn nữa, 96 bệnh nhân đã tự ý ngừng sử dụng thuốc mà không thông báo cho bác sĩ, và 90 bệnh nhân (32%) cho biết đã ngừng thuốc khi đường huyết đạt hoặc dưới mức cần kiểm soát.
3.3.2 Mức độ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
Đánh giá mức độ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân được thực hiện thông qua tổng điểm đạt được sau khi hoàn thành thang đánh giá MMAS - 8 Mức độ tuân thủ được phân loại thành ba mức: tuân thủ tốt, tuân thủ trung bình và tuân thủ kém Kết quả đánh giá được trình bày trong bảng 3.19 về mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân.
Mức độ tuân thủ Tổng điểm Số BN (n00) Tỷ lệ (%)
Hình 3.10 Mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân
Kết quả điều tra về mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân cho thấy có 146 bệnh nhân tuân thủ tốt, chiếm 48,7% tổng số Đứng sau đó, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ trung bình là 102 bệnh nhân.
Trong số các bệnh nhân nghiên cứu, tỷ lệ tuân thủ thuốc tốt đạt 57 bệnh nhân, chiếm 34%, trong khi đó, có 52 bệnh nhân tuân thủ kém, chiếm 17,3% Điều này cho thấy tỷ lệ tuân thủ thuốc tốt cao hơn so với tỷ lệ tuân thủ trung bình và kém.
3.3.3 Mối liên quan giữa mức độ tuân thủ và mức độ kiểm soát đường huyết
Liên quan giữa mức độ tuân thủ và mức độ kiểm soát đường huyết được trình bày trong bảng sau
Bảng 3.20 Liên quan giữa mức độ tuân thủ và mức độ kiểm soát đường huyết
Mức độ tuân thủ Mức độ kiểm soát đường huyết
Số Bn % Số Bn % Số Bn %
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê giữa mức độ tuân thủ dùng thuốc và kiểm soát đường huyết của bệnh nhân với giá trị p = 0,012 (