1
Lý do chọn đề tài
Đầu thế kỷ XX, ngành Dược phẩm thế giới được hình thành và đã trải qua gần một thế kỷ với nhiều bước tiến vượt bậc Số lượng công ty Dược không ngừng tăng lên, sản phẩm ngày càng phong phú và quy trình sản xuất hiện đại hơn Ngành Dược Việt Nam cũng đang phát triển mạnh mẽ, nâng cao năng lực sản xuất, tạo dựng thương hiệu và đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Đại hội Đảng lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành Dược và nhận được nhiều ưu đãi từ chính phủ Với sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thu nhập ngày càng tăng, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và làm đẹp ngày càng cao, ngành Dược hứa hẹn sẽ có nhiều tiềm năng trong tương lai.
Nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập vào kinh tế thế giới khi trở thành thành viên thứ 150 của WTO và chuẩn bị gia nhập TPP, mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, điều này cũng mang đến thách thức lớn về cạnh tranh trong chất lượng sản phẩm, nguồn vốn và kinh nghiệm quản lý từ các công ty đa quốc gia Đặc biệt, các doanh nghiệp Dược ở Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn Để tồn tại và phát triển, Công ty cổ phần Dược phẩm Cửu Long (DCL) cần có nguồn nhân lực hợp lý và chiến lược rõ ràng nhằm nắm bắt thị phần trong môi trường kinh doanh cạnh tranh Công ty DCL cũng cần xác định điểm mạnh của mình để có tầm nhìn tổng quan về các hoạt động trong quá khứ và hướng đi trong tương lai.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc của nhân viên tại Công ty cổ phần Dược phẩm Cửu Long (DCL) ở tỉnh Vĩnh Long Bài viết cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng công việc của nhân viên tại DCL trong thời gian tới.
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài, mục tiêu cụ thể của đề tài nghiên cứu sẽ được hướng đến đó là:
Mục tiêu 1 của nghiên cứu là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc của nhân viên tại Công ty cổ phần Dược phẩm Cửu Long (DCL) ở tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam, nhằm đánh giá thực trạng hiện tại.
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc của nhân viên tại Công ty cổ phần Dược phẩm Cửu Long (DCL) và từ đó, xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng công việc của họ.
Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thực trạng nhân viên tại Công ty cổ phần Dƣợc phẩm Cửu Long sẽ hài lòng đối với công việc mà họ đảm nhận đến mức độ nào?
Các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên tại Công ty cổ phần Dược phẩm Cửu Long bao gồm môi trường làm việc, chính sách đãi ngộ, cơ hội thăng tiến, và sự hỗ trợ từ đồng nghiệp cũng như cấp trên Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một không khí làm việc tích cực, từ đó nâng cao mức độ hài lòng và hiệu suất làm việc của nhân viên.
Ban lãnh đạo Công ty DCL cần triển khai các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao mức độ hài lòng của nhân viên với công việc Các biện pháp có thể bao gồm cải thiện môi trường làm việc, tăng cường giao tiếp nội bộ, và tổ chức các chương trình đào tạo phát triển kỹ năng Bên cạnh đó, việc lắng nghe ý kiến phản hồi từ nhân viên cũng là yếu tố quan trọng để tạo ra sự gắn bó và động lực làm việc.
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc của nhân viên tại Công ty cổ phần Dƣợc phẩm Cửu Long Nghiên cứu dựa trên việc thu thập thông tin từ chuyên gia và số liệu từ nhân viên, phân tích dữ liệu từ các phiếu khảo sát hài lòng của nhân viên Công ty DCL Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng công việc của nhân viên ngày càng cao hơn.
Phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Giới hạn về không gian
Thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty DCL hiện nay đã mở rộng ra khắp các tỉnh thành trong nước và quốc tế Nghiên cứu và phân tích mức độ hài lòng của nhân viên tại Công ty DCL tại tỉnh Vĩnh Long được thực hiện thông qua việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng như tính chất công việc, tiền lương, phúc lợi, đánh giá hiệu quả công việc, cơ hội đào tạo và phát triển, sự tự chủ trong công việc, tính ổn định, chính sách quản lý, quy trình làm việc, phương tiện làm việc và an toàn lao động, cũng như mối quan hệ với lãnh đạo và đồng nghiệp.
1.5.2 Giới hạn về thời gian Đề tài giới hạn nghiên cứu mức độ hài lòng công việc của nhân viên tại Công ty DCL, chi nhánh của Công ty DCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp là số liệu từ năm 2013 đến năm 2017
Số liệu sơ cấp cho nghiên cứu được thu thập từ phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia và nhân viên tại Công ty DCL Qua quá trình phỏng vấn thử, bảng câu hỏi đã được chỉnh sửa và thiết kế lại cho phù hợp Cuộc phỏng vấn chính thức với nhân viên diễn ra vào quý 3 năm 2017, sử dụng bảng câu hỏi đã chuẩn bị sẵn.
Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này đƣợc thực hiện trong 06 tháng (từ 01 tháng 04 năm 2016 đến ngày 01tháng 10 năm 2017).
Lƣợc khảo tài liệu
Nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005) trong bài viết “Đo lường mức độ thỏa mãn đối với công việc trong điều kiện Việt Nam” đã sử dụng thang đo chỉ số mô tả công việc JDI để khảo sát 448 nhân viên toàn thời gian tại Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy chỉ số mô tả công việc được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt Nam bao gồm sáu thành phần: Bản chất công việc, Lãnh đạo, Cơ hội thăng tiến, Đồng nghiệp, Tiền lương và Phúc lợi Đặc biệt, Bản chất công việc và Lãnh đạo là hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ thỏa mãn công việc.
Cơ hội đào tạo và thăng tiến là một yếu tố quan trọng trong sự nghiệp Tác giả Trần Kim Dung đã áp dụng linh hoạt thang đo chỉ số mô tả công việc JDI tại Việt Nam, điều chỉnh và bổ sung thành bộ thang đo với sáu thành phần phù hợp với điều kiện khảo sát Điều này nhằm tối ưu hóa hiệu quả nghiên cứu và nâng cao độ chính xác trong công tác đánh giá.
Nghiên cứu của Phan Thị Minh Lý (2011) tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên ngân hàng thương mại tại Thừa Thiên – Huế Tác giả đã tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu để xác định những yếu tố chính tác động đến mức độ hài lòng của nhân viên trong ngành ngân hàng.
Nghiên cứu cho thấy 200 nhân viên tại 20 ngân hàng thương mại ở tỉnh Thừa Thiên – Huế tương đối hài lòng với công việc hiện tại Sáu nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của họ bao gồm: Tính chất và áp lực công việc, Thu nhập và chế độ đãi ngộ, Quan hệ và đối xử, Triển vọng phát triển của ngân hàng và năng lực lãnh đạo, Điều kiện làm việc, cùng với Cơ hội đào tạo và thăng tiến Tác giả đề xuất bốn giải pháp, nhấn mạnh rằng các ngân hàng cần cải thiện các yếu tố như Chế độ tiền lương, Chế độ đãi ngộ nhân viên, Áp lực công việc và vai trò của Lãnh đạo.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Phương (2012) về sự hài lòng trong quản lý nguồn nhân lực tại Trường Đại Học Tiền Giang đã thu thập thông tin từ 131 CBVC thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn Tác giả sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, so sánh, phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố và hồi quy đa biến để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng Kết quả cho thấy nhân tố hài lòng có giá trị trung bình 3,66, cho thấy CBVC tạm hài lòng với công tác quản lý nguồn nhân lực, nhưng vẫn có những yếu tố như chế độ lương thưởng và cơ hội đào tạo chưa đáp ứng được mong đợi Độ lệch chuẩn 0,792 cho thấy sự đồng nhất trong ý kiến của CBVC ở mức chấp nhận tốt.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy hai nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của cán bộ, viên chức (CBVC) là quan hệ công việc và điều kiện vật chất Trong đó, quan hệ làm việc có tác động lớn nhất đến sự hài lòng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa giới tính và thâm niên công tác của CBVC Dựa trên các yếu tố ảnh hưởng, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của CBVC tại Trường Đại Học Tiền Giang, bao gồm chính sách cải thiện chất lượng đánh giá đội ngũ CBVC, đào tạo bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, và tăng cường mối quan hệ giữa các cá nhân trong tổ chức.
Nghiên cứu của Đổ Hữu Nghị (2013) xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc của nhân viên y tế tại Cần Thơ, dựa trên 330 khảo sát đối tượng là bác sĩ và điều dưỡng tại các bệnh viện công và tư Phương pháp lấy mẫu xác suất, phân tần ngẫu nhiên được áp dụng, với thang đo gồm 66 quan sát Kết quả cho thấy 5 nhân tố không ảnh hưởng đến sự hài lòng bao gồm Tính chất công việc, Đánh giá hiệu quả công việc, Tính ổn định, Phúc lợi, và Tự chủ trong công việc Ngược lại, 5 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng là Môi trường quản lý, Phương tiện làm việc, Tiền lương, Đồng nghiệp, và Đào tạo và phát triển, trong đó Tiền lương, Đồng nghiệp và Phương tiện làm việc là những yếu tố có tác động mạnh nhất.
Nghiên cứu của Trần Phương Quang (2013) tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc của cán bộ ngành giáo dục tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang Đề tài này nhằm đánh giá sự hài lòng của cán bộ giáo dục trong khu vực này.
Trong nghiên cứu này, 295 giáo viên tại các trường tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông trung học ở thành phố Vị Thanh đã được khảo sát Phương pháp lấy mẫu được áp dụng là lấy mẫu xác suất phân tầng ngẫu nhiên Thang đo được thiết kế nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc của cán bộ giáo dục trong khu vực này.
Nghiên cứu tại Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang với 48 quan sát cho thấy có bốn nhân tố chính ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của cán bộ giáo dục thành phố.
Vị Thanh là một địa điểm quan trọng với các yếu tố như lãnh đạo, tiền lương, cơ hội đào tạo và thăng tiến, cùng với việc khen thưởng Tuy nhiên, có bốn nhân tố không ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của cán bộ giáo dục tại thành phố Vị Thanh, bao gồm bản chất công việc, đồng nghiệp và phúc lợi, áp lực công việc, và ủy quyền Trong số đó, các yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng trong công việc của cán bộ ngành giáo dục tại thành phố là lãnh đạo và cơ hội phát triển.
Vị Thanh lần lƣợc là nhân tố Lãnh đạo, Cơ hội đào tạo và thăng tiến
Ngoài việc nghiên cứu các đề tài trong nước, việc phân tích các đề tài quốc tế cũng rất quan trọng, giúp tác giả tổng hợp thông tin và xây dựng một đề tài hoàn thiện hơn.
Nghiên cứu của Smith P.C., Kendal L.M và Hulin C.L (1969) về Chỉ số mô tả công việc (Job Description Index - JDI) đã xác định năm khía cạnh chính ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc, bao gồm Tiền lương, Cơ hội thăng tiến, Lãnh đạo, Bản chất công việc và Đồng nghiệp.
Paula E Lester (1987) trong nghiên cứu “Phân tích nhân tố của bảng hỏi sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên (TJSQ)” đã áp dụng phương pháp phân tích nhân tố để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc Nghiên cứu đã chỉ ra chín nhân tố chính, bao gồm: Sự giám sát, Đồng nghiệp, Điều kiện làm việc, Tiền lương, Sự tôn trọng, Sự tự chủ trong công việc, Thăng tiến, Sự an toàn và Được công nhận.
Evy George và cộng sự (2008) đã nghiên cứu "Sự hài lòng trong công việc của giáo viên trung học đô thị tại Namibia", khám phá vai trò của các yếu tố bên ngoài và bên trong trong việc xác định sự hài lòng của giáo viên Nghiên cứu dựa trên ý kiến của 337 giáo viên tại 17 trường công ở Windhoek, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá sự hài lòng và phương pháp phân tích bảng chéo để xem xét mối quan hệ giữa các biến như tiền lương và điều kiện làm việc với sự hài lòng công việc Govindasamy Muhiniswari (2009) trong nghiên cứu "Các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết cảm xúc của công nhân tri thức tại Malaysia" đã xây dựng mô hình với 5 yếu tố chính gồm Thực hành chia sẻ kiến thức, Định hướng công tác, Chính sách thưởng, Hiệu suất và xúc tiến, cùng Đào tạo và thăng tiến.
Bố cục của đề tài
Luận văn được tác giả trình bày sẽ bao gồm có 5 chương như sau: Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Chương này nêu bật tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, bao gồm các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu cụ thể, và đối tượng mà đề tài hướng đến Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến các tài liệu tham khảo làm cơ sở cho nghiên cứu Cuối cùng, chương sẽ trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên mà đề tài sẽ khai thác.
CƠ SỞ LÝ TUYẾT
2.1.1 Khái quát chung về nguồn nhân lực
Khái niệm về nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực, hay nguồn lực con người, được định nghĩa đa dạng tùy thuộc vào cách tiếp cận của mỗi người Đây là một trong những nguồn lực quý giá và quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế và xã hội Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa tiêu biểu về nguồn nhân lực, nhấn mạnh vai trò năng động của nó trong sự tiến bộ của xã hội.
Theo phát biểu của các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07
Theo Nick Moore (1980), nguồn nhân lực được định nghĩa là tổng thể dân số và chất lượng con người, bao gồm thể chất, tinh thần, sức khỏe, trí tuệ, năng lực và phẩm chất đạo đức của người lao động.
Theo Liên Hiệp Quốc (2000), nguồn nhân lực được định nghĩa là trình độ hành nghề, kiến thức và năng lực của con người, bao gồm cả những khả năng hiện có và tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng.
Nguyễn Tiệp (2005), tác giả phát biểu nguồn nhân lực nhƣ sau:
Nguồn nhân lực được định nghĩa là toàn bộ dân cư có khả năng lao động, thể hiện vai trò của nó như một nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Nguồn nhân lực được hiểu là nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, theo quy định của pháp luật lao động Khái niệm này nhấn mạnh nguồn nhân lực như là khả năng thực hiện lao động chính trong xã hội.
Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), nguồn nhân lực được định nghĩa là nguồn lực con người có khả năng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, thể hiện qua số lượng và chất lượng tại một thời điểm nhất định Khái niệm này nhấn mạnh sức mạnh tiềm ẩn của dân cư và khả năng tham gia của họ vào quá trình tạo ra của cải cho xã hội trong hiện tại và tương lai.
Nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng lao động của một tổ chức, địa phương hoặc quốc gia, thể hiện năng lực xã hội và tính năng động của con người trong nhóm đó Sự thống nhất này biến nguồn lực con người thành nguồn vốn con người, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Nguồn nhân lực theo cách tiếp cận mới bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức Nó còn phản ánh tính năng động xã hội, sức sáng tạo, cũng như phong tục tập quán, truyền thống lịch sử và văn hóa của đất nước.
Quản trị nguồn nhân lực
Trần Kim Dung (2003), ông phát biểu nguồn nhân lực nhƣ sau:
Nguồn nhân lực là tài sản quý giá của tổ chức, được hình thành từ những cá nhân với vai trò khác nhau, liên kết chặt chẽ để đạt được mục tiêu chung Khác với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực mang bản chất con người, với những năng lực và đặc điểm cá nhân đa dạng Nhân viên không chỉ có tiềm năng phát triển mà còn có khả năng tạo lập nhóm, tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi, đồng thời có thể đánh giá và đặt câu hỏi về hoạt động của quản trị viên, từ đó kiểm soát hành vi trong tổ chức.
Trong quá khứ, có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng công việc Theo từ điển Oxford Advance Learner’s Dictionary, "sự hài lòng" được hiểu là việc đáp ứng nhu cầu hay mong muốn, do đó sự hài lòng công việc có thể được coi là việc nhân viên được thỏa mãn các nhu cầu và mong đợi khi làm việc Các khía cạnh và môi trường khác nhau sẽ dẫn đến những phát biểu khác nhau về hài lòng công việc Robert Hoppock (1935) cho rằng sự hài lòng công việc là sự kết hợp của tâm lý, hoàn cảnh sinh lý, môi trường văn hóa và môi trường làm việc, và các yếu tố này ảnh hưởng đến mức độ hài lòng chung của nhân viên.
Theo Paul E Spector (1997), hài lòng công việc phản ánh cảm giác của nhân viên về nhiều khía cạnh khác nhau của công việc Nó thể hiện mức độ yêu thích hoặc không yêu thích công việc mà họ đang làm, vì vậy sự hài lòng và không hài lòng có thể xuất hiện trong mọi tình huống công việc.
Theo Ellickson và Logsdon (2002), hài lòng công việc được định nghĩa là mức độ mà nhân viên yêu thích công việc của mình, phản ánh thái độ dựa trên cả nhận thức tiêu cực và tích cực về công việc cùng với môi trường làm việc.
Theo Mullins (2005) cho rằng hài lòng công việc là một khái niệm phức tạp và mang nhiều ý nghĩa khác nhau cho từng người Hài lòng công việc thường liên quan đến động lực, nhưng mối quan hệ giữa chúng lại không rõ ràng và khó nhận diện.
Sự hài lòng trong công việc không giống như động lực làm việc của nhân viên Nó thể hiện thái độ và trạng thái nội tâm của mỗi cá nhân.
Theo Aziri (2011), sự hài lòng trong công việc là cảm giác phát sinh từ việc nhận thức rằng công việc đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.
THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾNCÔNG TY CỔ PHẦN DƢỢC PHẨM CỬU LONG
CỔ PHẦN DƢỢC PHẨM CỬU LONG
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty DCL
Hình 2.3 Hình ảnh Công ty cổ phần dƣợc phẩm Cửu Long
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN DƢỢC PHẨM CỬU LONG
- Tên nước ngoài: CUU LONG PHAMARCEUTICAL JOINT STOCK COMPANY
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 1500202535 đăng ký lần đầu ngày 09 -11- 2004, đăng ký thay đổi lần thứ 14 ngày 22 – 04 - 2016
- Địa chỉ trụ sở chính: Số 150 đường 14 tháng 9, phường 5, Thành phố Vĩnh Long, Tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam
- Mã số cổ phiếu: DCL
Năm 1992, tỉnh Cửu Long được chia thành hai tỉnh là Vĩnh Long và Trà Vinh Sau đó, Xí nghiệp liên hiệp dược Cửu Long đã tái lập Công ty dược Cửu Long, và đổi tên thành Công ty dược và vật tư y tế Cửu Long (Pharimexco) theo quyết định số 538/QĐ-YBT ngày 20 tháng.
11 năm 1992 của UBND tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam
Vào năm 2000, công ty đã hợp tác với đối tác Canada để xây dựng nhà máy Vicancap, áp dụng công nghệ hiện đại từ Canada trong sản xuất viên nang rỗng cứng.
Tháng 08 năm 2004, thực hiện theo chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp của Chính phủ, Công ty dƣợc và vật tƣ y tế Cửu Long bắt đầu chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang hình thức Công ty cổ phần Ngày 01 tháng 01 năm 2005 công ty có tên gọi mới là Công ty Cổ phần Dƣợc phẩm Cửu Long, với vốn điều lệ của công ty là 56 tỷ Việt Nam đồng Tháng 07 năm 2008, Cổ phiếu DCL chính thức đƣợc niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, mã cổ phiếu DCL Đầu năm 2016, Công ty Cổ phần đầu tƣ F.I.T trở thành cổ đông lớn của Công ty DCL với tỷ lệ vốn sở hữu hiện nay là 80% tổng số vốn
Qua hơn 40 năm hoạt động trong ngành Dược, thương hiệu
Pharimexco – VPC, thuộc công ty cổ phần dược phẩm Cửu Long, là một thương hiệu uy tín và quen thuộc với người tiêu dùng, các nhà thuốc và nhiều bệnh viện lớn trên toàn quốc cũng như trong khu vực Châu Á.
2.2.2 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh và sản phẩm chính
Công ty DCL chuyên cung cấp các sản phẩm dược phẩm đa dạng, bao gồm viên nang rỗng, thiết bị y tế, kim tiêm, dây truyền dịch, dược liệu, hóa dược, cũng như nguyên liệu và các dạng bào chế khác.
Công ty DCL chuyên cung cấp dược phẩm với nhiều dạng khác nhau, bao gồm viên nén, bột, cốm, viên bao phim, nang mềm, viên nang, dung dịch uống, dung dịch pha tiêm, dịch truyền, thuốc nhũ dịch, kem và thuốc mỡ.
Sản phẩm dụng cụ y tế là các loại ống kim tiêm, dây ống dịch truyền, dây truyền màu kim cánh bướm, kim tiêm dưới da,…
Sản phẩm viên nang rỗng cứng gồm có các size nhƣ size 00, size 0, size 1, size 2, size 3, size 4, dùng làm bao gói đặc biệt cho việc đóng thuốc
2.2.3 Thành tựu của công ty và mạng lưới phân phối
Thành tựu của công ty
Năm 2015, công ty vinh dự nhận giải thưởng Top 50 nhãn hiệu nỗi tiếng nhất Việt Nam năm 2015 với nhãn hiệu Vicancap - viên nang rỗng
Tháng 07 năm 2014, công ty vinh dự đạt danh hiệu “Hàng Việt Tốt do người tiêu dùng Việt Nam bình chọn năm 2014”
Tháng 04 năm 2014, công ty vinh dự nhận được giải thưởng “Ngôi Sao Thuốc Việt năm 2014”
Tháng 12 năm 2013, công ty vinh dự đón nhận giải thưởng “Sản phẩm vàng – dịch vụ vàng Việt Nam” dành cho sản phẩm vỏ viên nang rỗng
Tháng 10 năm 2011, đơn vị được vinh dự nhận giải thưởng “Cúp vàng – top ten thương hiệu Việt - ứng dụng khoa học và công nghệ năm 2011”
Chi nhánh miền Bắc gồm Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Thanh Hóa
Chi nhánh miền Trung gồm Nghệ An, Gia Lai, Thành phố Đà Nẵng
Chi nhánh miền Nam gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Cần Thơ, An Giang, Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà mau
Các công ty thành viêntrực thuộc Công ty DCL:
+ Công ty TNHH MTV dƣợc phẩm Mekong:
Chúng tôi chuyên cung cấp và nhập khẩu trực tiếp các loại dược phẩm, viên nang rỗng, dụng cụ và trang thiết bị y tế, thiết bị ngành dược, cùng với các nguyên liệu và dược phẩm bào chế khác.
+ Công ty liên doanh tại Lào
Chúng tôi chuyên phân phối dược phẩm, viên nang rỗng cứng, kim tiêm, và trang thiết bị cho ngành dược Ngoài ra, chúng tôi còn cung cấp hóa dược, thực phẩm chức năng, và dược phẩm nhập khẩu, cũng như hàng liên doanh liên kết.
+ Công ty TNHH MTV Dƣợc phẩm VPC – Sài Gòn
Chúng tôi chuyên cung cấp các sản phẩm dược phẩm, bao gồm viên nang rỗng cứng, kim tiêm, dây dịch truyền, và dụng cụ y tế Ngoài ra, chúng tôi còn phân phối vật tư y tế, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, hóa dược, hóa chất, và nguyên liệu dùng để bào chế thuốc.
2.2.4 Nguồn nhân lực công ty
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, công ty cần cạnh tranh để tồn tại và phát triển, yêu cầu người lao động có trình độ và chuyên môn để tiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật Người lao động đóng vai trò quyết định trong sự thành công và phát triển bền vững của công ty Doanh nghiệp cần phân bổ và tổ chức lao động hợp lý để hoạt động hiệu quả Kể từ khi chuyển đổi mô hình, số lượng và chất lượng lao động tại Công ty DCL đã tăng trưởng liên tục qua các năm, cụ thể như năm 2017.
Trình độ Số người Tỷ lệ (%)
Thạc sĩ kinh tế quản trị kinh doanh Đại học dƣợc Đại học kinh tế Đại học cơ khí
Trình độ sơ cấp và công nhân
Nguồn: Phòng tổ chức hành chính Công ty DCL, năm 2017
2.2.5 Sơ đồ tổ chức công ty
Hình 2.4 Sơ đồ tổ chức Công ty cổ phần Dƣợc phẩm Cửu Long
Nguồn Phòng hành chính Công ty DCL Đánh giá tổng quát về hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty DCL
Công ty DCL đã gặt hái nhiều thành công trong lĩnh vực kinh doanh, với những kết quả hoạt động ấn tượng qua các năm gần đây.
Sáu tháng đầu năm 2017: 368,549 tỷ đồng
Dựa trên số liệu tổng kết doanh thu hàng năm của Công ty DCL, có thể thấy rằng các chỉ tiêu doanh thu của công ty đang có xu hướng tăng dần qua các năm Các chỉ tiêu đạt được cụ thể như sau.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty DCL tăng dần qua ba năm, cụ thể 2013 so với 2012 tăng 44.453 tỷ đồng, tương ứng 14%,
2014 so với 2013 tăng 37.889 tỷ đồng, tương ứng 18%, 2015 so với 2014 có doanh thu cao nhất so với các năm trong giai đoạn 2012 - 2014
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong năm 2012 đạt 637.371 tỷ đồng Năm 2013, doanh thu tăng lên 681.824 tỷ đồng, tăng 44.453 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 14% so với năm 2012 Đến năm 2014, doanh thu tiếp tục tăng lên 719.712 tỷ đồng, tăng 33.889 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 18% so với năm 2013.
Nhìn chung khoản chênh lệch thu chi của Công ty DCL có sự biến động tăng giảm không đều qua các năm
Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả kinh doanh DCL 2012 - 2014
Chỉ tiêu ĐVT Doanh thu
Tỷ lệ (%) Doanh thu thuần Tỷ đ 611,8 674,6 709,6 62,8 10 35 5
Giá vốn hàng bán Tỷ đ 440,9 461,1 469,7 20,2 5 8,6 2
Chi phí bán hàng Tỷ đ 66,9 82,7 115,3 15,8 24 32,6 39
Lợi nhuận sau thuế Tỷ đ 19,1 30,3 31,7 11,2 59 1,4 5
Nguồn Báo cáo thường niên công ty DCL năm 2014
Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả kinh doanh DCL 2014 - 2016
Chỉ tiêu ĐVT Doanh thu
Tỷ đ 31,7 60,6 90,1 28,9 91 29.5 49 Nguồn Báo cáo thường niên Công ty DCL năm 2017
Chương này tóm tắt cơ sở lý thuyết nghiên cứu và các nghiên cứu trước đó đã được công nhận, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với thực tế tại Công ty DCL và tình hình công ty DCL ở Vĩnh Long Để hiểu rõ hơn về mức độ hài lòng công việc của nhân viên tại Công ty DCL, hãy tiếp tục khám phá ở chương tiếp theo.