1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân lý luận và thực tiễn

60 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Lý luận và thực tiễn
Tác giả Huỳnh Cẩm Thúy
Người hướng dẫn Trần Thu Trang
Trường học Trường Đại học Tây Đô
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA TÀI SẢN TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN (14)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (14)
      • 1.1.1. Khái niệm thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (14)
      • 1.1.2. Đặc điểm của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (17)
      • 1.1.3. Ý nghĩa thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (19)
    • 1.2. Sơ lược về sự hình thành, phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (20)
      • 1.2.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trước năm 1945 (20)
      • 1.2.2. Chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam từ 1945 đến nay13 CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA TÀI SẢN (21)
    • 2.1. Quyền yêu cầu về thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (24)
      • 2.1.1. Căn cứ để thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (24)
      • 2.1.2. Chủ thể có quyền thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (25)
    • 2.2. Phương thức thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (26)
      • 2.2.1. Chia một phần tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (26)
      • 2.2.2. Chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (27)
    • 2.3. Hình thức và nội dung của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (28)
      • 2.3.2. Thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng (29)
      • 2.3.3. Nội dung của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (31)
    • 2.4. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (32)
    • 2.5. Thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu (37)
    • 2.6. Hậu quả pháp lý của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (39)
    • 2.7. Chấm dứt thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (41)
  • CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN (24)
    • 3.1. Một số vướng mắc, bất cập khi áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (46)
      • 3.1.1. Quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (46)
      • 3.1.2. Hình thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (47)
      • 3.1.3. Về hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (47)
      • 3.1.4. Về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (48)
      • 3.1.5. Về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung chưa được pháp luật quy định (50)
    • 3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng (51)
      • 3.2.1. Về hình thức của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (52)
      • 3.2.2. Về thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân ....................................................................................................... 44 3.2.3. Về thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu 45 (52)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA TÀI SẢN TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

1.1.1 Khái niệm thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Tài sản của vợ chồng được coi là một loại tài sản theo pháp luật dân sự, do đó, việc nghiên cứu vấn đề này cần được xem xét trong bối cảnh chế định tài sản nói chung Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, các quy định liên quan đến tài sản của vợ chồng sẽ được làm rõ hơn.

“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề nhạy cảm trong xã hội hiện nay Khi hai bên đồng ý kết hôn và xây dựng gia đình, họ cùng tạo lập tài sản chung như nhà cửa và đất đai Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội, tài sản chung ngày càng đa dạng và phong phú hơn Khi con người tạo ra nhiều của cải, nhu cầu phân chia tài sản cũng trở nên cần thiết hơn Truyền thống "của chồng công vợ" đã tồn tại lâu đời, nhưng ngày nay, cả vợ và chồng đều có khả năng kiếm tiền, dẫn đến sự tranh cãi trong việc sử dụng tài sản chung nếu không có sự đồng ý của cả hai bên.

Theo quy định pháp luật về tài sản chung của vợ chồng tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (HNGĐ 2014) như sau:

Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do cả hai tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh, cũng như hoa lợi và lợi tức từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, trừ các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật Ngoài ra, tài sản thừa kế chung, tài sản được tặng cho chung và các tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận cũng được xem là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn sẽ được coi là tài sản chung, ngoại trừ trường hợp một trong hai người được thừa kế, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng

3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như quy định tại Khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ năm 2014 đã nêu, vậy có thể xác định rằng tài sản chung của vợ chồng là:

Tài sản được hình thành từ lao động của vợ chồng, bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như hoa lợi và lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác.

- Tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân

Thời kỳ hôn nhân được quy định tại Khoản 13 Điều 3 Luật HNGĐ 2014 như sau:

Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian mà mối quan hệ vợ chồng tồn tại, bắt đầu từ ngày đăng ký kết hôn và kết thúc khi có sự kiện như một bên chết, bị tuyên bố chết, hoặc khi ly hôn theo bản án hoặc quyết định thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật.

Để xác định tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng, tài sản đó phải thỏa mãn hai điều kiện: phải là thu nhập hợp pháp do vợ chồng tạo ra và phải được hình thành trong thời gian hôn nhân.

Tài sản chung của vợ chồng được sử dụng để đáp ứng nhu cầu gia đình và thực hiện nghĩa vụ tài sản chung, theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và Gia đình Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, với quyền sở hữu ngang nhau bất kể mức độ đóng góp công sức Tài sản chung có thể do một trong hai vợ chồng tạo ra hoặc thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân Tài sản được tặng cho hoặc thừa kế chung cũng được coi là tài sản chung Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, trong khi hoa lợi từ tài sản riêng cũng có thể trở thành tài sản chung, trừ khi nó được chia từ tài sản chung Ngoài ra, tài sản chung còn bao gồm các thu nhập hợp pháp khác như tiền thưởng, trợ cấp, và các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung.

Trong bối cảnh xã hội và kinh tế ngày càng phát triển, các gia đình ngày càng chú trọng đến việc quản lý tài sản chung để phát triển kinh tế gia đình Tuy nhiên, việc sử dụng tài sản chung giữa vợ chồng không hề đơn giản, vì quyền quyết định thuộc về cả hai Khi một bên muốn sử dụng tài sản, cần có sự đồng thuận của bên còn lại, điều này có thể dẫn đến mâu thuẫn Để tránh những tranh cãi không cần thiết và phân định rõ ràng tài sản, các nhà làm luật đã ban hành quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tại Luật HNGĐ năm 2014, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cặp vợ chồng trong việc quản lý tài sản chung.

Hiện tại, khái niệm về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vẫn chưa được thống nhất, mặc dù đã được quy định trong các Luật HNGĐ năm 1986, 2000 và 2014 Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này Tác giả Phạm Thị Tươi đã đề xuất một khái niệm rõ ràng về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là quá trình chuyển đổi tài sản chung thành tài sản riêng của mỗi bên, dựa trên thỏa thuận giữa vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án Việc này nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cả hai bên và các bên thứ ba liên quan, mà không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp luật.

Cũng liên quan đến khái niệm chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì tác giả Phạm Hồng Minh Hoàng lại cho rằng:

Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể diễn ra khi một phần hoặc toàn bộ tài sản chung được chuyển thành tài sản riêng của mỗi bên, theo thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án Điều này thường xảy ra trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, hoặc vì lý do chính đáng khác Việc chia tài sản chung không làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo quy định của pháp luật.

Sơ lược về sự hình thành, phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

1.2.1 Chia tài sản chung của vợ chồng trước năm 1945

Pháp luật phong kiến Việt Nam thiếu sót trong việc quy định quan hệ tài sản giữa các thành viên gia đình, đặc biệt là trong việc chia tài sản chung của vợ chồng Bộ Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) dưới triều Lê chỉ quy định một số trường hợp chia tài sản khi một bên qua đời, trong khi Bộ Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) dưới triều Nguyễn hoàn toàn không có quy định nào về vấn đề này.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, các quy định về chia tài sản giữa vợ chồng thể hiện rõ sự bất bình đẳng và bất công đối với người vợ, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người chồng - người gia trưởng trong gia đình.

1.2.2 Chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam từ 1945 đến nay

Trong giai đoạn 1945 – 1954, vào năm 1950, Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 97/SL và sắc lệnh số 159/SL Theo hai sắc lệnh này, tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chia đôi, mỗi bên sẽ nhận một nửa giá trị tài sản chung.

Luật Gia đình năm 1959 ở miền Nam không đề cập đến việc chia tài sản chung trong trường hợp ly hôn hoặc khi một trong hai vợ chồng qua đời Sắc luật 15/64 chỉ quy định về việc chia tài sản chung khi vợ chồng ly thân hoặc ly hôn, trong khi Bộ Dân luật không có quy định rõ ràng cho các trường hợp khác.

Năm 1972 đã quy định ba trường hợp chia tài sản chung, bao gồm khi vợ hoặc chồng qua đời, khi vợ chồng ly thân và khi ly hôn Bên cạnh đó, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cũng có quyền yêu cầu Tòa án tuyên phán sự biệt sản trong những trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật.

Luật HNGĐ năm 1959 ở miền Bắc quy định chế độ tài sản chung, trong đó tài sản sẽ được chia khi một trong hai vợ chồng qua đời hoặc khi ly hôn Việc phân chia tài sản chung dựa vào sự đóng góp công sức của mỗi bên, tình hình tài sản và hoàn cảnh cụ thể của gia đình.

Từ năm 1975 đến nay, Luật HNGĐ đã có những thay đổi quan trọng về việc chia tài sản chung Luật HNGĐ năm 1986 bổ sung quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cho phép chia tài sản như khi ly hôn, với nguyên tắc chia đôi nhưng phải xem xét tình hình tài sản, tình trạng gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên Trong trường hợp một trong hai vợ chồng qua đời, tài sản chung có thể được chia theo nguyên tắc chia đôi mà không cần căn cứ vào công sức đóng góp.

Luật HNGĐ năm 2000 quy định ba trường hợp chia tài sản chung: trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn và khi một trong hai vợ chồng qua đời Mặc dù luật đã đưa ra các quy định chi tiết về việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần được cải thiện.

Luật HNGĐ năm 2014 quy định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm chia tài sản chung khi ly hôn, chia tài sản chung khi vợ hoặc chồng chết hoặc mất tích, cũng như trường hợp chia tài sản chung bị vô hiệu.

4 Điều 29, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959

5 Điều 42, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986

Luật HNGĐ hiện hành quy định về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đã khắc phục những thiếu sót của Luật HNGĐ năm 2000 Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội và sự phức tạp trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng yêu cầu pháp luật phải điều chỉnh và cập nhật Mặc dù có những quy định chi tiết hơn về chia tài sản chung trong hôn nhân, nhưng vẫn còn thiếu sót trong các văn bản pháp luật liên quan.

Sự vận động không ngừng của các quan hệ xã hội yêu cầu pháp luật phải được ban hành kịp thời, đặc biệt là chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Điều này không chỉ phù hợp với nhu cầu cuộc sống mà còn phản ánh tâm lý và nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân Việc quy định chia tài sản chung đã được chú ý từ sớm bởi các nhà làm luật, mang những đặc điểm riêng so với các hình thức sở hữu chung khác Tuy nhiên, mặc dù có những quy định tích cực, vẫn tồn tại thiếu sót như việc thiếu định nghĩa cụ thể về phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, dẫn đến những hiểu lầm về vấn đề này.

Tác giả tiến hành phân tích các quy định pháp luật liên quan đến thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, và sẽ làm rõ hơn những phân tích này trong chương 2 của khóa luận.

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

Quyền yêu cầu về thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

2.1.1 Căn cứ để thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Căn cứ vào các quy định pháp luật, vợ chồng có thể thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Tòa án sẽ xem xét và quyết định tính hợp lệ của thỏa thuận này.

Thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau:

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận về việc chia sẻ tài sản chung, toàn bộ hoặc một phần Tuy nhiên, trường hợp này phải tuân theo quy định tại Điều 42 của Luật Nếu không đạt được thỏa thuận, họ có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp để giải quyết.

Theo quy định, vợ chồng có quyền thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Nếu không tự thỏa thuận được, họ có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản, trừ các trường hợp quy định tại Điều 42 Luật HNGĐ 2014.

Ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của gia đình, đặc biệt là đối với con chưa thành niên và con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và tài sản để tự nuôi sống bản thân.

2 Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây: a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

6 Khoản 1, Điều 38, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Nếu thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vi phạm các quy định, thỏa thuận đó sẽ bị tuyên bố vô hiệu và không có giá trị pháp luật.

Căn cứ thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được lập khi vợ chồng có nhu cầu chia tài sản, nhưng phải tuân thủ các điều kiện theo Điều 42 Luật HNGĐ năm 2014 và thực hiện công chứng, chứng thực nếu tài sản thuộc loại bắt buộc Nếu vợ chồng không thể tự thỏa thuận, họ có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết Việc xác định căn cứ cụ thể giúp việc áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng hơn Nếu thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 42, nó sẽ không có giá trị pháp lý và bị coi là vô hiệu.

2.1.2 Chủ thể có quyền thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được lập ra giữa vợ và chồng nhằm mục đích chia sẻ tài sản Theo Khoản 1 Điều 38 Luật HNGĐ năm 2014, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ những trường hợp được quy định tại Điều 42 của Luật này Nếu không thể đạt được thỏa thuận, vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo quy định, chỉ có vợ và chồng mới là chủ thể của thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Không có bất kỳ ai khác có thể tham gia vào thỏa thuận này Điều này được nêu rõ trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khẳng định quyền thỏa thuận của vợ chồng về tài sản chung.

Chủ thể của quan hệ pháp luật bao gồm các cá nhân và tổ chức có năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật Họ tham gia vào các quan hệ pháp luật và có quyền cũng như nghĩa vụ pháp lý nhất định Điều này giúp xác định vai trò và trách nhiệm của các chủ thể trong hệ thống pháp luật.

Trong thời kỳ hôn nhân, việc chia tài sản chung chỉ được thực hiện giữa vợ và chồng, không có sự can thiệp của bên thứ ba nào khác Cả hai bên đều có quyền yêu cầu chia sẻ tài sản này.

Nếu bên thứ ba muốn yêu cầu vợ chồng thực hiện nghĩa vụ với mình, họ chỉ có thể khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền lợi, mà không thể yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng.

Phương thức thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Theo Từ điển Tiếng Việt, phương thức được hiểu là “phương pháp, cách thức tiến hành.” Do đó, phương thức thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là cách thức thực hiện việc phân chia tài sản chung này Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Khoản 1 Điều 38 quy định rõ về vấn đề này.

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận về việc chia sẻ tài sản chung, bao gồm cả việc chia một phần hoặc toàn bộ tài sản Tuy nhiên, trường hợp này phải tuân theo quy định tại Điều 42 của Luật Nếu hai bên không đạt được thỏa thuận, họ có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp để giải quyết.

Như vậy, theo quy định đã nêu trên thì phương thức chia tài sản chung của vợ chồng bao gồm hai phương thức:

 Chia toàn bộ tài sản chung

 Chia một phần tài sản chung

2.2.1 Chia một phần tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Khi vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, phương thức chia tài sản có thể là chia một phần tài sản Điều này có nghĩa là chỉ một phần trong khối tài sản chung sẽ được phân chia, trong khi phần còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của cả hai Tài sản được chia sẽ khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu của mỗi bên, và nguyên tắc bình đẳng về tài sản đảm bảo rằng mỗi bên vợ, chồng sẽ nhận được phần tương ứng khi thực hiện việc chia tài sản.

Trong trường hợp thỏa thuận phân chia tài sản chung phục vụ cho mục đích kinh doanh riêng, vợ hoặc chồng có thể chỉ chia một phần tài sản hoặc một nhóm tài sản cụ thể Tài sản này có thể bao gồm quyền sử dụng đất, tiền mặt, ngoại tệ hoặc các loại tài sản khác, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất.

8 Điều 5, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Các phương thức kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài sản Trong trường hợp ly hôn, các tài sản chưa chia sẽ vẫn thuộc quyền sở hữu chung của cả hai vợ chồng.

Trong một số trường hợp, vợ chồng có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không phải do mâu thuẫn về tình cảm, mà đơn giản là để tạo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh riêng, đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ tài sản và tạo sự an toàn cho lợi ích chung của gia đình Việc chia tài sản chung này vẫn phải tuân thủ các quy định của pháp luật và đảm bảo quyền, nghĩa vụ bình đẳng của vợ chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan.

2.2.2 Chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Pháp luật cho phép vợ chồng chia toàn bộ khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, không chỉ giới hạn ở việc chia một phần tài sản Việc chia toàn bộ tài sản có nghĩa là phân chia tất cả tài sản chung tại thời điểm chia, bao gồm tài sản của hai vợ chồng, tài sản đang vay hoặc cho người khác vay, trừ khi có thỏa thuận khác giữa các bên.

Việc chia toàn bộ tài sản chung giữa vợ chồng thường diễn ra khi họ cần một lượng lớn tài sản để thực hiện nghĩa vụ tài sản với bên thứ ba hoặc để phát triển dự án kinh doanh riêng Một lý do khác là để tách bạch tài sản, giúp người kinh doanh chủ động hơn và giảm thiểu rủi ro cho bên còn lại Tuy nhiên, việc chia tài sản này cần tuân thủ quy định pháp luật nhằm tránh tình trạng trốn tránh nghĩa vụ tài chính và bảo vệ lợi ích hợp pháp của cộng đồng.

Luật HNGĐ năm 1986 quy định rằng tài sản chung của vợ chồng có thể được chia trong thời kỳ hôn nhân nếu một bên có yêu cầu hợp lý, theo Điều 42 của Luật Điều này đồng nghĩa với việc tài sản sẽ được chia như khi ly hôn, chấm dứt sở hữu chung Tuy nhiên, Luật HNGĐ năm 2000 không nêu rõ trường hợp này Đến Luật HNGĐ năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, các quy định đã được cụ thể hóa và khắc phục những thiếu sót từ các văn bản pháp luật trước đó về việc chia tài sản chung của vợ chồng.

Hình thức và nội dung của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Theo quy định của pháp luật, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại Điều 42 Nếu không đạt được thỏa thuận, một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Điều này cho thấy pháp luật cho phép chia tài sản chung nếu hai vợ chồng không thể tự thỏa thuận, và Tòa án sẽ căn cứ theo quy định tại Điều liên quan để thực hiện việc này.

Theo quy định hiện hành, vợ chồng có thể tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án can thiệp Nếu Tòa án giải quyết, tài sản chung sẽ được chia theo quy định như trong trường hợp ly hôn.

2.3 Hình thức và nội dung của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

2.3.1 Hình thức của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Hình thức của thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Khoản 2 Điều 38 Luật HNGĐ năm 2014 như sau:

Thỏa thuận chia tài sản chung cần được lập thành văn bản và phải được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Theo quy định hiện hành, thỏa thuận phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân chỉ có hiệu lực nếu được lập bằng văn bản; các hình thức khác không được công nhận Nếu thỏa thuận không được lập bằng văn bản, nó sẽ không có giá trị pháp lý Ngoài ra, thỏa thuận này cần phải được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải tuân theo các quy định về công chứng, chứng thực, đặc biệt đối với những tài sản như nhà ở gắn liền với đất và bất động sản, theo các luật liên quan như Luật Đất đai và Luật Nhà ở.

10 Khoản 1 Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

11 Khoản 3 Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Trong trường hợp A và B là vợ chồng, họ đã thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Theo thỏa thuận, A sẽ được chia một căn nhà cấp 4 tại địa chỉ 12a/104, đường Trần Chiên, phường Lê Bình, quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ, phục vụ cho mục đích kinh doanh Để thỏa thuận này có hiệu lực pháp luật, việc chia phần tài sản phải được công chứng và chứng thực tại tổ chức hành nghề công chứng.

Việc công chứng thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, tuy nhiên, nếu người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại hoặc có lý do chính đáng khác, việc công chứng có thể diễn ra ngoài trụ sở Biện pháp bắt buộc công chứng chỉ áp dụng cho những loại tài sản nhất định, và nếu tài sản là tiền hoặc không thuộc diện bắt buộc công chứng, việc quản lý thỏa thuận phân chia tài sản sẽ gặp khó khăn, nhất là trong trường hợp các quy định pháp luật có thể bị lợi dụng để trốn tránh nghĩa vụ tài sản hoặc nghĩa vụ trả nợ.

Vợ chồng anh H đã sử dụng tài sản chung để kinh doanh, nhưng do thua lỗ, anh H mắc nợ Để tránh nghĩa vụ trả nợ, họ đã lập thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên, vì các tài sản trong thỏa thuận không thuộc trường hợp bắt buộc công chứng, việc quản lý tình huống của họ trở nên khó khăn.

2.3.2 Thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là thời điểm mà thỏa thuận này có giá trị pháp luật và có thể được áp dụng Theo quy định của pháp luật, thời điểm này được xác định rõ ràng trong các điều khoản liên quan đến phân chia tài sản chung trong hôn nhân.

12 Điều 44, Luật Công chứng năm 2014

Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung giữa vợ chồng được xác định theo thỏa thuận trong văn bản Nếu văn bản không chỉ rõ thời điểm, thì hiệu lực sẽ bắt đầu từ ngày lập văn bản.

2 Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định

3 Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật

4 Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.” 13

Theo quy định, thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực từ thời điểm ghi trong văn bản Nếu văn bản không chỉ định thời gian cụ thể, thỏa thuận sẽ có hiệu lực từ ngày lập ra.

Vợ chồng anh A và chị B đã thỏa thuận phân chia tài sản chung vào ngày 02 tháng 03 năm 2020, với tài sản là tiền mặt nên không cần công chứng để có hiệu lực pháp luật Nếu họ quy định thời điểm có hiệu lực là ngày 10 tháng 12 năm 2020, thỏa thuận sẽ có hiệu lực từ thời điểm đó Ngược lại, nếu không quy định thời gian, thỏa thuận sẽ có hiệu lực từ ngày lập, tức là ngày 02 tháng 03 năm 2020, theo Điều 39 Luật HNGĐ năm 2014.

Nếu vợ chồng có thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và được công chứng, chứng thực, thời điểm có hiệu lực sẽ theo ghi chú trong thỏa thuận Nếu không quy định rõ, thời điểm có hiệu lực sẽ là khi thỏa thuận được công chứng, chứng thực tại tổ chức hành nghề công chứng.

Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho các hoạt động liên quan đến việc giải quyết yêu cầu chia tài sản chung.

Hiện nay, pháp luật đã quy định nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc áp dụng Việc chia tài sản chung cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản để đảm bảo tính công bằng và hợp lý.

 Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng về tài sản

Nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc cơ bản trong các quan hệ pháp luật, đặc biệt là giữa vợ chồng Nguyên tắc này được khẳng định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật cao nhất, quy định quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật Bộ luật Dân sự 2015 xác nhận mọi cá nhân và pháp nhân đều bình đẳng, trong khi Luật HNGĐ năm 2014 nhấn mạnh sự bình đẳng giữa vợ chồng Cụ thể, Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc tạo lập, phát triển và quản lý tài sản chung, thể hiện sự bình đẳng trong mọi quan hệ xã hội, đặc biệt là trong quan hệ tài sản.

Luật HNGĐ năm 2014 nhấn mạnh quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, theo Điều 17, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình và thực hiện quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và các luật liên quan Quyền bình đẳng này được thể hiện qua việc vợ chồng cùng bàn bạc và quyết định các vấn đề về nhân thân, tài sản, chăm sóc và nuôi dưỡng con cái, cũng như xây dựng và phát triển kinh tế gia đình.

Quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng được thể hiện qua việc yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản này Nếu yêu cầu Tòa án, việc chia tài sản sẽ tuân theo Điều 59 Luật HNGĐ năm 2014, tức là chia tài sản như khi ly hôn Tài sản sẽ được chia đôi, nhưng cần xem xét các yếu tố như hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập và duy trì tài sản chung, cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh.

Năm 2014 đã thúc đẩy nguyên tắc bình đẳng tài sản giữa vợ chồng Dù sự đóng góp của mỗi bên vào tài sản chung trong thời gian hôn nhân có sự khác biệt, pháp luật vẫn đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong việc chia sẻ tài sản chung giữa vợ và chồng.

Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần đảm bảo quyền bình đẳng giữa hai bên, nhằm thực hiện quyền sở hữu tài sản và bảo vệ sự bền vững của cuộc sống gia đình.

 Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng

Luật HNGĐ năm 2014 và BLDS năm 2015 tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Vợ chồng có quyền thỏa thuận chia tài sản chung, và sự thỏa thuận này không bị can thiệp bởi người thứ ba Việc chia tài sản chung có thể xuất phát từ nhu cầu thực tế của một trong hai bên và có thể vì mục đích kinh doanh hoặc lý do chính đáng khác Tuy nhiên, thỏa thuận này chỉ hợp pháp khi được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối hay cưỡng ép, và phải dựa trên sự nhận thức rõ ràng về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản.

Luật HNGĐ năm 2014 quy định rõ ràng về hình thức và nội dung chính của thỏa thuận phân chia tài sản chung giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Theo đó, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và bao gồm các nội dung chủ yếu như: lý do chia tài sản, phần tài sản được chia và phần tài sản còn lại không được chia.

Vợ chồng có quyền yêu cầu cơ quan công chứng chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc nhờ người khác làm chứng Những quy định này nhằm ngăn chặn việc trốn tránh nghĩa vụ tài sản với bên thứ ba và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, đồng thời khẳng định sự tự do tuyệt đối của vợ chồng trong việc định đoạt tài sản chung.

Pháp luật tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của vợ chồng trong việc chia tài sản chung trong hôn nhân Tuy nhiên, sự tự do này bị hạn chế khi ảnh hưởng đến lợi ích gia đình, quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động, cũng như trong các trường hợp trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.

 Nguyên tắc sự thỏa thuận của vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội

Luật HNGĐ năm 2014 cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận và định đoạt tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tạo điều kiện cho họ đáp ứng nhu cầu cá nhân và đầu tư kinh doanh Khi đáp ứng đủ điều kiện pháp luật về phân chia tài sản, vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án hoặc tự thỏa thuận về việc chia tài sản chung Tuy nhiên, sự thỏa thuận này không được gây bất lợi cho Nhà nước hoặc bên thứ ba; nếu vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thỏa thuận sẽ không được công nhận Pháp luật điều chỉnh quyền định đoạt tài sản của vợ chồng dựa trên sự tôn trọng quyền lợi của cả hai bên và các chủ thể khác.

Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 2 Điều 29 Luật HNGĐ năm 2000 và Điều 42 Luật HNGĐ năm 2014, nhấn mạnh rằng thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ bị vô hiệu nếu có mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài chính như nuôi dưỡng, bồi thường thiệt hại, hoặc nghĩa vụ khác đối với Nhà nước Lợi ích của cộng đồng và xã hội được bảo vệ bởi pháp luật và đạo đức xã hội, giới hạn sự tự do ý chí của các bên trong quan hệ hôn nhân gia đình Mục đích của nguyên tắc này là tôn trọng lợi ích của cộng đồng, xã hội và lợi ích chính đáng của cá nhân.

Việc phân chia tài sản chung giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần phải bảo vệ quyền lợi của con cái, bao gồm cả những trẻ em chưa thành niên và những người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.

So với Luật HNGĐ năm 2000, Luật HNGĐ năm 2014 đã quy định chi tiết hơn về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái trong việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Cụ thể, Khoản 4 Điều 68 của Luật HNGĐ năm 2014 nêu rõ các quy định liên quan.

Thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu có nghĩa là thỏa thuận này sẽ không có giá trị pháp lý Điều 42 Luật HNGĐ năm 2014 quy định cụ thể các trường hợp mà thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ trở nên vô hiệu.

“Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1 Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;”

Pháp luật quy định rằng thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ bị vô hiệu nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của con cái và gia đình Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với quyền lợi của những cá nhân yếu thế, đặc biệt là trẻ em Việc bảo vệ quyền lợi của con cái trong quá trình phân chia tài sản chung là ưu tiên hàng đầu, nhằm đảm bảo rằng các bậc phụ huynh phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con cái và gia đình để duy trì thỏa thuận này.

Nhằm tránh thực hiện các nghĩa vụ quan trọng, bao gồm: nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ thanh toán theo quyết định của Tòa án về phá sản, nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân hoặc tổ chức, nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước, cùng với các nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các quy định pháp luật liên quan.

Quy định pháp luật nêu rõ những trường hợp mà thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ không còn giá trị pháp lý Điều này giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan đến tài sản của vợ chồng.

Trong trường hợp anh A và vợ quyết định phân chia tài sản chung nhằm trốn tránh nghĩa vụ nợ với chị B, chị B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận này vô hiệu theo Khoản 2 Điều 42 Luật HNGĐ năm 2014 Điều này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị B, đặc biệt khi anh A đang nợ chị số tiền lên tới 10 tỷ đồng do kinh doanh thua lỗ.

Theo quy định, pháp luật xác định các trường hợp thỏa thuận vô hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan Cụ thể, Khoản 1 Điều 42 Luật HNGĐ năm 2014 quy định rằng thỏa thuận sẽ bị vô hiệu nếu

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã có những bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, đặc biệt là con chưa thành niên và những người không có khả năng lao động Điều 42 của luật này nhấn mạnh rằng việc chia tài sản chung trong hôn nhân không được gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình và quyền lợi hợp pháp của trẻ em So với Luật HNGĐ năm 2000, quy định mới đã khắc phục những lỗ hổng trong việc xác định điều kiện vô hiệu của thỏa thuận phân chia tài sản, từ đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi của trẻ em, những người dễ bị tổn thương nhất trong các thỏa thuận này Sự ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em không chỉ là một yêu cầu pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội, vì trẻ em chính là tương lai của xã hội.

Hậu quả pháp lý của thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Hậu quả pháp lý của thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc cần được dự liệu và hiểu rõ trước khi thực hiện Mặc dù pháp luật chỉ quy định một số trường hợp cụ thể, thỏa thuận này có thể dẫn đến nhiều hệ quả khác mà cả vợ và chồng phải chấp nhận khi áp dụng Việc nắm rõ những hậu quả này là rất quan trọng để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan.

Hậu quả pháp lý của thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được pháp luật quy định tại Điều 40 Luật HNGĐ năm 2014 như sau:

Trong quá trình chia tài sản chung của vợ chồng, phần tài sản được chia cùng với hoa lợi và lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia sẽ trở thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng, trừ khi có thỏa thuận khác Phần tài sản chưa được chia vẫn giữ nguyên là tài sản chung của vợ chồng.

2 Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.”

Theo quy định hiện hành, hậu quả pháp lý sau khi thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đã chia của vợ chồng sẽ trở thành tài sản riêng của mỗi bên Quyền định đoạt và sử dụng các hoa lợi, lợi tức này thuộc về một bên vợ hoặc chồng, không còn là quyền lợi chung Tuy nhiên, nếu có thỏa thuận khác, việc sử dụng hoa lợi, lợi tức sẽ theo thỏa thuận của vợ chồng Luật HNGĐ năm 2014 có điểm mới so với Luật HNGĐ năm 2000, trong đó quy định rằng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trong khi phần tài sản chưa chia vẫn thuộc sở hữu chung.

Luật HNGĐ năm 2014 mở rộng quy định về mối quan hệ tài sản giữa vợ chồng, không chỉ dừng lại ở hậu quả pháp lý mà còn đề cập đến việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và các nghĩa vụ tài sản đã xác lập trước đó Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ nợ và các giao dịch liên quan, đồng thời ngăn chặn việc vợ chồng lợi dụng thỏa thuận phân chia tài sản để trốn tránh nghĩa vụ tài sản với bên thứ ba.

Hậu quả pháp lý của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân gia đình.

“1 Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định

2 Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì phần tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng

3 Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng.” Điều 14 NĐ 126/2014 quy định chi tiết hơn về các hậu quả pháp lý khi chia tài sản chung như việc chia tài sản chung không làm ảnh hưởng, làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định Theo như NĐ 126/2014/NĐ-CP thì việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân chỉ là phân chia về phần tài sản hiện có của hai vợ chồng mà không làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng, sau khi chia tài sản chung mà tài sản phát sinh sau này từ phần tài sản không được đề cập đến trong thỏa thuận – phần tài sản không chia vẫn được coi như là tài sản chung của vợ chồng vì chế độ tài sản chung của vợ chồng vẫn được giữ nguyên, trừ trường vợ chồng có thỏa thuận khác về chế độ tài sản Nếu không thì tài sản phát sinh sau này không phải từ tài sản riêng của vợ chồng thì vẫn được coi là tài sản chung của vợ chồng

Nhà nước tôn trọng quyền tự thỏa thuận của cá nhân, chỉ can thiệp vào các hậu quả pháp lý khi vợ chồng không đạt được thỏa thuận Nếu có thỏa thuận, việc xử lý hậu quả pháp lý liên quan đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

Ngày đăng: 29/08/2023, 22:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Văn Cừ, 2008. Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn Nhân và Gia Đình Việt Nam. NXB Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn Nhân và Gia Đình Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2008
15. TS Phan Trung Hiền, 2009. Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật. NXB Chính trị Quốc gia.C. Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật
Tác giả: TS Phan Trung Hiền
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
17. Đặng Lê Phương Uyên, 2019. Hậu quả về quan hệ tài sản của vợ chồng khi chia tài sản chung. https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/hau-qua-ve-quan-he-tai-san-cua-vo-chong-khi-chia-tai-san-chung, truy cập ngày 15 tháng 05 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu quả về quan hệ tài sản của vợ chồng khi chia tài sản chung
Tác giả: Đặng Lê Phương Uyên
Năm: 2019
16. Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/home, truy cập ngày 10 tháng 06 năm 2020 Link
18. Đoàn Thị Ngọc Hải, 2019. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2438, truy cập ngày 02 tháng 06 năm 2020 Link
20. Thư viện pháp luật, https://thuvienphapluat.vn/, truy cập ngày 18 tháng 06 năm 2020 Link
1. Quốc hội, 2013. Ngày 28/11/2013, Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khác
3. Quốc hội, 1986. Số 21-LCT/HĐNN7, ngày 29/12/1986, Luật Hôn Nhân và Gia Đình Khác
4. Quốc hội, 2013. Số 45/2013/QH13, ngày 29/11/2013, Luật Đất Đai Khác
5. Chính phủ, 2013. Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014, Nghị định Quy Định Chi Tiết Một Số Điều Và Biện Pháp Thi Hành Luật Hôn Nhân và Gia Đình Khác
6. Quốc hội, 2014. Số 52/2014/QH13, ngày 19/06/2014, Luật Hôn Nhân và Gia Đình Khác
7. Quốc hội, 2014. Số 53/2014/QH13, ngày 20/06/2014, Luật Công Chứng Khác
8. Quốc hội, 2014. Số 65/2014/QH13, ngày 25/11/2014, Luật Nhà Ở Khác
9. Quốc hội, 2015. Số 91/2015/QH13, ngày 24/11/2015, Bộ Luật Dân Sự Khác
10. Quốc hội, 2015. Số 92/2015/QH13, ngày 25/11/2015, Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự.B. Sách, giáo trình Khác
11. Nguyễn Hồng Hải, 2003. Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành. Tạp chí Luật học. Số 5 Khác
12. Nguyễn Văn Cừ, 2002. Quyền sở hữu của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Tạp chí Luật học. Số 6: 3-9 Khác
14. Trường Đại học Luật Hà Nội, 2009. Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình. NXB Công an nhân dân Khác
19. Phùng Trung Tập, 2012. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Lapphap.vn, truy cập ngày 12 tháng 04 năm 2020 Khác
21. Trương Thanh Đức, 2014. Bình luận chế định tài sản của vợ chồng trong dự luật HN & GĐ sửa đổi. thongtinphapluadansu.edu.vn, truy cập ngày 31 tháng 05 năm 2020.D. Tài liệu tham khảo khác Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w