1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố tài chính tác động đến khả năng sinh lời tại công ty cổ phần dược hậu giang

89 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố tài chính tác động đến khả năng sinh lời tại công ty cổ phần Dược Hậu Giang
Tác giả Huỳnh Thị Xuân Hiền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Minh Tiến
Trường học Trường Đại Học Tây Đô
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI (13)
    • 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI (13)
    • 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU (14)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (14)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (14)
    • 1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN (15)
  • CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN (16)
    • 2.1. CÔNG TY CỔ PHẦN (16)
      • 2.1.1. Khái niệm (16)
      • 2.1.2. Ưu điểm của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường (16)
    • 2.2. HIỆU QUẢ KINH DOANH (18)
      • 2.2.1. Khái niệm (18)
      • 2.2.2. Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp (19)
      • 2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh (20)
    • 2.3. CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP (23)
      • 2.3.1. Các nhân tố bên trong (23)
      • 2.3.2. Các nhân tố vĩ mô (29)
    • 2.4. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU (31)
      • 2.4.1. Tài liệu trong nước (31)
      • 2.4.2. Tính kế thừa của đề tài (37)
    • 2.5. KẾT LUẬN (42)
  • CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 31 3.1. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (43)
    • 3.2. ĐO LƯỜNG, MÃ HÓA CÁC BIẾN (44)
      • 3.2.1. Biến phụ thuộc (44)
      • 3.2.2. Biến độc lập (44)
    • 3.3. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU (46)
    • 3.4. PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG (47)
      • 3.4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu (47)
      • 3.4.2. Phương pháp ước lượng OLS (47)
      • 3.4.3. Kiểm định các giả thiết của phương pháp ước lượng OLS (47)
  • CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (50)
    • 4.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG (50)
      • 4.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển (50)
      • 4.1.2. Mục tiêu hướng đến của Công ty (53)
      • 4.1.3. Cơ cấu tổ chức, quản lý (53)
      • 4.1.4. Công nghệ sản xuất (56)
      • 4.1.5. Tiềm lực tài chính (56)
      • 4.1.6. Các nhóm sản phẩm chính (56)
      • 4.1.7. Hệ thống phân phối của công ty (57)
      • 4.1.8. Thế mạnh và sản phẩm của Công ty và những lợi ích thiết yếu từ thế mạnh này (57)
      • 4.1.9. Tình hình cung ứng nguyên vật liệu của công ty (59)
      • 4.1.10. Hoạt động Marketing (59)
      • 4.1.11. Chiến lược quảng cáo (59)
    • 4.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG (60)
      • 4.2.1. Thực trạng kinh doanh của của Dược Hậu Giang (60)
      • 4.2.2. Chỉ tiêu khả năng sinh lợi (63)
    • 4.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG (64)
      • 4.3.1. Thống kê mô tả dữ liệu dùng cho nghiên cứu (64)
      • 4.3.2. Ma trận tương quan giữa các biến (66)
      • 4.3.3. Phân tích hồi quy ảnh hưởng của các yếu tố tài chính tới khả năng sinh lời của công ty cổ phần Dược Hậu Giang (67)
      • 4.3.4 Kiểm định khuyết tật của mô hình (68)
      • 4.3.5. Thảo luận kết quả nghiên cứu (68)
    • 4.4. KẾT LUẬN (71)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ (73)
    • 5.1. KẾT LUẬN (73)
    • 5.2. HÀM Ý QUẢN TRỊ (74)
    • 5.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI BỘ Y TẾ (77)
    • 5.4. HẠN CHẾ VÀ NGHIÊN CỨU TIẾP THEO (77)
      • 5.4.1. Hạn chế còn tồn tại (77)
      • 5.4.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai (78)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (79)
  • PHỤ LỤC (81)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN

CÔNG TY CỔ PHẦN

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà các thành viên hợp tác góp vốn, chia sẻ lợi nhuận và chịu lỗ tương ứng với phần vốn đã đầu tư Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong giới hạn vốn góp của mình.

Luật công ty nước ta (bàn hành 21/12/1990) và được sửa đổi ngày 22/6/1994 quy định công ty cổ phần là công ty trong đó:

Số thành viên gọi là cổ đông phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy

Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần, với giá trị mỗi cổ phần được xác định là mệnh giá cổ phiếu Các cổ đông có quyền mua một hoặc nhiều cổ phiếu tùy ý.

Cổ phiếu có thể được phát hành dưới dạng có ghi tên hoặc không ghi tên Tuy nhiên, cổ phiếu của sáng lập viên và thành viên hội đồng quản trị phải luôn là cổ phiếu có ghi tên.

Cổ phiếu không ghi tên có thể tự do chuyển nhượng Cổ phiếu có ghi tên chỉ được chuyển nhượng nếu có sự đồng ý của hội đồng quản trị

2.1.2 Ưu điểm của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường

 Công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh huy động tập trung được nhanh số vốn quy mô lớn và hiệu quả cao

Công ty cổ phần có khả năng huy động vốn lớn thông qua việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu, giúp tập trung các khoản tiền nhỏ lẻ trong xã hội để đầu tư vào các lĩnh vực cần vốn lớn và dài hạn Đây là ưu điểm nổi bật của công ty cổ phần, vì chỉ loại hình doanh nghiệp này được phép phát hành cả cổ phiếu và trái phiếu Đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu mang lại lợi tức cao cho nhà đầu tư, đồng thời cổ đông còn có quyền tham gia đại hội, biểu quyết các quyết định quan trọng và có cơ hội được đề cử vào ban lãnh đạo công ty Nhờ những lợi ích này, việc mua cổ phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với gửi tiền vào quỹ tiết kiệm hay ngân hàng.

 Công ty cổ phần tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh

Vốn tập trung từ nhiều người giúp đầu tư vào các ngành công nghiệp lớn và công nghệ cao, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp cải thiện tổ chức quản lý Điều này không chỉ tạo uy tín mà còn xây dựng niềm tin với các nhà đầu tư.

Công ty cổ phần phát triển sẽ thay đổi cơ cấu kinh tế thông qua việc sử dụng vốn hiệu quả và khai thác tiềm năng lao động, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội tối ưu, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế năng động.

Công ty cổ phần thiết lập một cơ chế phân tán rủi ro, giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực đến kinh tế xã hội và ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp rơi vào khủng hoảng hoặc phá sản.

Công ty cổ phần hoạt động theo chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn, với sự phân biệt rõ ràng giữa tài sản công ty và vốn của cổ đông Trách nhiệm tài chính của công ty chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản và vốn của cổ đông theo tỷ lệ đóng góp, giúp giảm thiểu thiệt hại rủi ro và thua lỗ đến mức thấp nhất.

Dưới hình thức công ty cổ phần, nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu và trái phiếu từ nhiều công ty khác nhau, giúp phân tán rủi ro và mạo hiểm trong đầu tư Điều này giảm thiểu thiệt hại khi một công ty gặp khó khăn, tạo điều kiện cho những người có vốn mạnh dạn đầu tư vào các công ty mà họ tín nhiệm Nhờ đó, nền kinh tế phát triển và ổn định hơn.

 Công ty cổ phần thúc đẩy quá trình phân công chuyên môn hoá

Các công ty cổ phần với khả năng tập trung vốn lớn có thể tận dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại để đầu tư vào các ngành nghề mới, từ đó biến đổi cơ cấu nền kinh tế và tác động đến phân công lao động xã hội Đội ngũ công nhân không chỉ tăng về số lượng mà còn nâng cao trình độ chuyên môn, trong khi các chức năng của cán bộ quản lý cũng trở nên chuyên sâu và đa dạng hơn Sự phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh trong công ty cổ phần cho phép các nhà đầu tư tham gia quản lý, lựa chọn giám đốc và thành viên Hội đồng quản trị có năng lực, đảm bảo quyền lợi cho các chủ sở hữu Hình thức công ty cổ phần cũng giúp những người không quen biết về kinh doanh yên tâm, vì vốn của họ được các chuyên gia sử dụng để tạo ra thu nhập.

Công ty cổ phần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, với cấu trúc phức tạp tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng, giúp chuyên môn hóa kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất Loại hình này giải quyết hợp lý vấn đề lợi ích của các thành viên như cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc, cho thấy đây là tổ chức kinh doanh tiến bộ và ưu việt nhất Tại Việt Nam, sau khi chuyển sang cơ chế thị trường, mạng lưới công ty cổ phần đã hình thành, mặc dù số lượng chưa nhiều, nhưng đã chứng tỏ tính hiệu quả Do đó, Đảng và Nhà nước đã chủ trương phát triển mạnh hệ thống công ty cổ phần, trong đó có việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

HIỆU QUẢ KINH DOANH

Theo P Samerelson và W Nordhaus, “Hiệu quả sản xuất xảy ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng hàng hóa khác, và một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó.” Quan điểm này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong nền sản xuất xã hội Việc sử dụng các nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế Mức hiệu quả mà tác giả đề cập là tối ưu và không thể đạt được mức hiệu quả cao hơn nữa.

Một số quan điểm cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Tác giả Manfred Kuhn nhấn mạnh rằng "tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" Quan điểm này được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các quá trình.

Hai tác giả Wohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế

Tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật được định nghĩa là mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (như chiếc, kg) và lượng các nhân tố đầu vào (bao gồm giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu) Trong khi đó, tính hiệu quả xét về mặt giá trị là tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị, người ta hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào cũng tính bằng tiền.

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được định nghĩa là mức độ sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất và khả năng tổ chức, quản lý để đáp ứng nhu cầu xã hội và đạt được mục tiêu đã đề ra Nó thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra, cũng như sự tương quan giữa biến động của kết quả và chi phí trong những điều kiện nhất định.

2.2.2 Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp Ðối với nền kinh tế quốc dân: Hiệu quả của nền kinh tế quốc dân phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh cá biệt của các doanh nghiệp Nếu hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp được nâng cao sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, góp phần tạo sự tăng truởng kinh tế, nâng cao mức sống xã hội, giữ vững trật tự an ninh xã hội Ðối với doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh biểu hiện qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, được tối đa hoá và nó phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, trình độ công nghệ, quản lý vốn và nguồn lực của doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường, hiệu quả kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định khả năng cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp Khi có hiệu quả của doanh nghiệp mới có khả năng tái đầu tư để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất hoạt động, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Ðối với người lao động: Khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả sẽ mang lại cho nguời lao động công việc và thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh thần, điều kiện và môi trường làm việc của người lao động ngày càng được cải thiện, nâng cao Mặt khác khi người lao động yên tâm, gắn bó với doanh nghiệp thì họ sẽ toàn tâm toàn ý với công việc, khi đó năng suất lao động sẽ tăng lên góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh a Hiệu quả cá biệt

Hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được và giá trị tài sản Nếu sử dụng “giá trị sản xuất” để đo lường kết quả, ta có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách chính xác hơn.

Chỉ tiêu này cho thấy mỗi đồng tài sản đầu tư của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất Giá trị này càng cao, càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp lớn hơn.

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định là yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp sản xuất, vì giá trị sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của tài sản cố định Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định, có thể áp dụng các chỉ tiêu cụ thể.

Chỉ tiêu này cho thấy mỗi đồng nguyên giá tài sản cố định mang lại bao nhiêu đồng giá trị sản xuất hoặc doanh thu Khi trị giá các chỉ tiêu càng lớn, hiệu suất sử dụng tài sản cố định càng cao.

- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp được xem xét qua chỉ tiêu số vòng quay bình quân của vốn lưu động ố ủ ầ

Chỉ tiêu này phản ánh số lần vốn lưu động được quay vòng trong một kỳ phân tích, cho biết mỗi đồng vốn lưu động đầu tư mang lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ số này càng cao, chứng tỏ rằng vốn lưu động hoạt động hiệu quả và quay vòng nhanh hơn.

 Phân tích khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp

- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ỷ ấ ươ ế

- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần: chỉ tiêu này thể hiện mức sinh lãi của một đồng doanh thu khi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa ỷ ấ ợ ậ ợ ậ ầ ầ

- Tỷ suất lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh ỷ ấ ạ ộ ấ

 Phân tích khả năng sinh lời tài sản

- Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) ỷ ấ ờ ả ợ ậ ế ổ

Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) giúp nhà quản lý doanh nghiệp đánh giá khả năng sử dụng hiệu quả các tài sản hiện có Giá trị ROA cao phản ánh năng lực quản lý tốt của doanh nghiệp Tỷ suất này là kết quả từ nỗ lực nâng cao hiệu quả của các yếu tố sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh số và tiết kiệm chi phí Sự liên kết này được thể hiện rõ qua sơ đồ phương trình Dupont.

Phương trình Dupont cho thấy cách nâng cao sức sinh lời tài sản của doanh nghiệp bằng cách phân tích chênh lệch hiệu quả kinh doanh giữa kỳ phân tích và kỳ gốc Kết quả này phản ánh sự ảnh hưởng tổng hợp của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản.

ROA = AHLN/DT + AHDT/TS

KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA TS

LỢI NHUẬN/DOANH THU DOANH THU/TÀI SẢN

TS NGẮN HẠN LỢI NHUẬN ĐỊNH PHÍ BIẾN PHÍ

AH LN/DT phản ánh sự tác động của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, thể hiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí Chỉ số này chủ yếu liên quan đến hoạt động tiêu thụ và bán hàng tại doanh nghiệp, được tính theo công thức cụ thể.

AH LN/DT = H DT/TS (1) x (H LN/DT(1) – H LN/DT(0) )

AH DT/TS phản ánh tác động của sự thay đổi tỷ suất doanh thu trên tài sản, thể hiện hiệu quả quản lý và sản xuất của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tổ chức sản xuất hiệu quả và tiết kiệm vốn, số vòng quay vốn sẽ tăng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động.

AH LN/DT = H LN/DT (0) x (H DT/TS(1) – H DT/TS(0) ) Với H LN/DT (0,1) là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của kỳ gốc, kỳ phân tích

Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) là chỉ tiêu quan trọng giúp doanh nghiệp theo dõi hiệu quả sử dụng tài sản qua thời gian và so sánh với các đối thủ trong ngành Nghiên cứu của Patricia Fairfield và Teri Lombardi Yohn đã chỉ ra rằng việc phân tích sự thay đổi của ROA có vai trò thiết yếu trong việc dự đoán tình hình hoạt động kinh doanh trong tương lai.

- Tỷ suất sinh lợi kinh tế của tài sản (RE)

CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp thể hiện mức độ hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được mục tiêu Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và chi phí, cũng như cách sử dụng nguồn lực, có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

2.3.1 Các nhân tố bên trong a Cơ cấu nguồn vốn

Mọi doanh nghiệp đều cần vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó việc bố trí nguồn tài trợ hợp lý là rất quan trọng Các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn bao gồm vốn chủ sở hữu, vay ngắn hạn, vay dài hạn từ ngân hàng và phát hành trái phiếu Cơ cấu tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của chủ sở hữu, vì vậy các công ty cần hoạch định một cơ cấu vốn mục tiêu hiệu quả.

Cơ cấu vốn mục tiêu của công ty là sự kết hợp hợp lý giữa nợ và vốn chủ sở hữu, nhằm đạt được các mục tiêu tài chính đã đề ra Việc hoạch định chính sách cơ cấu vốn liên quan đến việc cân nhắc giữa lợi nhuận và rủi ro, đảm bảo sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.

Lý thuyết Modigliani & Miller về cơ cấu vốn

Trái với quan điểm truyền thống, Modigliani và Miller (1958) đã nghiên cứu tác động của việc vay mượn đến chi phí vốn của doanh nghiệp Họ đưa ra một số giả định đơn giản hóa, bao gồm thị trường vốn hoàn hảo, không có chi phí giao dịch, và tỷ lệ vay bằng tỷ lệ cho vay không có rủi ro Ngoài ra, họ cũng bỏ qua yếu tố thuế và xem xét rủi ro thông qua tính không ổn định của các luồng tiền.

Trong một thị trường vốn hoàn hảo, các doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh và lãi suất mong đợi hàng năm giống nhau sẽ có tổng giá trị tương đương, bất kể cấu trúc vốn Giá trị của doanh nghiệp phụ thuộc vào giá trị hiện tại của hoạt động, không phải cách thức cấp vốn Do đó, nếu các công ty có lãi suất mong đợi và giá trị giống nhau, chúng cũng sẽ có WACC tương đương ở mọi tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu Mặc dù giả định về thị trường vốn hoàn hảo không tồn tại, hai giả thiết quan trọng cần được nhấn mạnh vì chúng ảnh hưởng lớn đến kết quả.

Theo Modigliani và Miller, tác động của việc sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu được cân bằng một cách chính xác Mặc dù nợ có thể mang lại tỷ suất lợi tức cao hơn cho chủ sở hữu, nhưng lợi tức này chỉ bù đắp cho rủi ro gia tăng do tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn Do đó, giả thuyết này cho thấy rằng cơ cấu vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp, nghĩa là doanh nghiệp không thể gia tăng giá trị của mình chỉ bằng cách thay đổi cơ cấu vốn.

Năm 1963, Modigliani và Miller đã nghiên cứu và loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp Họ cho rằng, khi có thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp Điều này xảy ra vì chi phí lãi vay được khấu trừ thuế, dẫn đến một phần thu nhập của doanh nghiệp sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư Kết quả là giá trị doanh nghiệp tăng lên nhờ lợi ích từ lá chắn thuế.

Lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu, hay còn gọi là cách tiếp cận truyền thống, cho rằng khi doanh nghiệp vay mượn, lợi ích vượt trội hơn rủi ro Chi phí nợ thấp và lợi thế thuế giúp giảm chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) khi nợ tăng Tuy nhiên, khi tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở hữu (VCSH) tăng, các cổ đông sẽ yêu cầu lợi tức cao hơn, dẫn đến chi phí VCSH tăng Đồng thời, việc gia tăng nợ có thể làm tăng chi phí sản xuất, từ đó giảm lợi nhuận doanh nghiệp Nếu doanh thu tăng do vốn vay nhưng lợi nhuận giảm do chi phí tăng, hiệu quả hoạt động kinh doanh sẽ bị suy giảm.

Lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu cho rằng cơ cấu vốn ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn bình quân và giá trị công ty Có một tỷ lệ nợ tối ưu, nơi chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp đạt mức thấp nhất, đồng thời giá trị của doanh nghiệp được tối đa hóa.

Theo lý thuyết Modigliani & Miller và lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu, việc lựa chọn và sử dụng vốn có tác động đáng kể đến hiệu quả kinh doanh (HQKD) của doanh nghiệp Nghiên cứu của Zeitun & Tian (2007), Onaolapo & Kajola (2010), Abbasali Pouraghajan & Esfandiar Malekian (2012), Maja Pervan & Josipa Višić (2012), và Gleason, K.Mathur & I.Mathur (2000) đều chỉ ra rằng cơ cấu vốn có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Vì vậy với 3 chỉ tiêu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ và tỷ lệ nợ ngắn hạn, tác giả đặt ra giả thuyết:

Giả thuyết 1: Cơ cấu vốn có ảnh hưởng nghịch đối với hiệu quả kinh doanh

Nghiên cứu của Schiantarelli, Fabio & Sembenelli (1999) cho thấy cơ cấu nợ kỳ hạn ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty tại Ý và Vương quốc Anh, với mối quan hệ tích cực giữa nợ ngắn hạn và hiệu suất doanh nghiệp Điều này cho thấy lựa chọn cơ cấu nợ có thể tác động đến hiệu suất hoạt động kinh doanh Do đó, tác giả sẽ xem xét ảnh hưởng của cơ cấu nợ kỳ hạn đến hiệu quả kinh doanh trong nghiên cứu về cấu trúc nguồn vốn.

Giả thuyết 2: Cơ cấu nợ có ảnh hưởng dương đến hiệu quả kinh doanh b Quy mô doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp được xác định bởi doanh thu, tài sản, nguồn vốn và số lượng công nhân Doanh nghiệp lớn thường có lợi thế về uy tín, thương hiệu và thị phần, giúp họ tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn với điều kiện vay tốt hơn Với sức mạnh tài chính và khả năng quản lý, những doanh nghiệp này có thể tận dụng lợi thế quy mô để giảm chi phí đầu vào và tăng hiệu quả đầu ra Lợi thế kinh tế từ quy mô là yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Trong sản xuất kinh doanh, các yếu tố đầu vào cần thiết để duy trì hoạt động của doanh nghiệp, được gọi là chi phí cố định, không thay đổi theo mức sản lượng Khi sản lượng tăng, doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, vì chi phí cố định được chia cho nhiều đơn vị sản phẩm, dẫn đến giảm chi phí bình quân Doanh nghiệp quy mô lớn thường tận dụng máy móc hiện đại, giúp phân bổ chi phí khấu hao cho số lượng sản phẩm lớn, từ đó giảm chi phí bình quân và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Quy mô sản lượng lớn giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí giao dịch Khi bán hàng với khối lượng lớn, chi phí cho việc đàm phán và liên lạc, như qua thư từ, điện thoại hay fax, không tăng tương ứng như khi bán hàng với khối lượng nhỏ hơn.

Quy mô sản lượng lớn giúp doanh nghiệp tận dụng lợi thế chuyên môn hóa, cho phép phân bổ lao động và máy móc một cách hiệu quả Khi có đủ số lượng đầu vào, doanh nghiệp có thể tổ chức sản xuất theo từng công đoạn riêng biệt, từ đó nâng cao năng suất Ngược lại, nếu sản lượng quá nhỏ và số lượng đầu vào không đủ, những lợi ích này sẽ không thể đạt được.

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Nghiên cứu của Nguyễn Lê Thanh Tuyền (2013) về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của 45 công ty sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2010-2012 đã hệ thống hóa lý luận và thiết kế mô hình nghiên cứu Tác giả xem xét các biến như cơ cấu vốn, quy mô, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đầu tư tài sản cố định, quản trị nợ phải thu khách hàng, rủi ro kinh doanh và thời gian hoạt động Kết quả cho thấy quản trị các khoản phải thu, đầu tư tài sản cố định, cơ cấu vốn và rủi ro kinh doanh có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh, trong khi tốc độ tăng trưởng có ảnh hưởng tích cực Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Huỳnh Thị Tuyết Phượng (2016) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 180 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, thông qua tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu Kết quả cho thấy, tỷ suất sinh lợi này chịu tác động ngược chiều từ cơ cấu vốn, quản trị nợ phải thu, đầu tư tài sản cố định và thời gian hoạt động, trong khi quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng có mối tương quan dương Yếu tố rủi ro kinh doanh chỉ ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản mà không tác động đến vốn chủ sở hữu Nghiên cứu cũng đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga (2016) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngành Điện lực phía Nam giai đoạn 2011-2015, sử dụng phương pháp ước lượng FE và RE Các yếu tố được xem xét bao gồm tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, quy mô doanh nghiệp, hiệu quả quản lý tài sản, và tốc độ tăng trưởng kinh tế, với suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu là biến phụ thuộc Kết quả cho thấy tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng kinh tế có tác động nghịch chiều đến suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, trong khi quy mô doanh nghiệp có mối tương quan cùng chiều Các yếu tố còn lại không ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nghiên cứu của R Zeitun và G G Tian (2007) trong bài viết "Cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: bằng chứng từ Jordan" đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và giá trị thị trường của 167 công ty niêm yết tại Amman, Jordan từ năm 1989 đến 2003 Trong thời gian này, các sự kiện chính trị quan trọng như chiến tranh vùng Vịnh và phong trào Intifadah đã diễn ra Nghiên cứu sử dụng các chỉ số như Tobin’s Q và ROA để đại diện cho hiệu quả hoạt động, cho thấy chỉ có mô hình ROA và Tobin Q có ý nghĩa thống kê cao Mô hình hồi quy áp dụng là mô hình tác động ngẫu nhiên dữ liệu bảng không cân bằng, nhằm kiểm soát hiệu quả ngành và tác động của các ngành Các yếu tố tác động được xem xét bao gồm cấu trúc vốn, quy mô doanh nghiệp, rủi ro kinh doanh, thuế thu nhập, tỷ trọng tài sản cố định và khủng hoảng chính trị.

Hai ông đã sử dụng năm thước đo đòn bẩy tài chính trong nghiên cứu của mình, bao gồm: tổng nợ trên tổng tài sản, tổng nợ trên tổng vốn chủ sở hữu, nợ dài hạn trên tổng tài sản, nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và tổng nợ trên tổng vốn chủ sở hữu Mỗi thước đo này được đưa vào một mô hình nghiên cứu riêng.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ có tác động mạnh mẽ nhất đến hiệu quả kinh doanh (HQKD), trong khi tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, quy mô công ty và thuế suất đều có tác động tích cực Các công ty có tỷ trọng tài sản cố định cao thường gặp khó khăn trong việc cải thiện HQKD do đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định Bên cạnh đó, yếu tố ngành nghề kinh doanh cũng ảnh hưởng đáng kể đến HQKD, đặc biệt trong các lĩnh vực như bất động sản, dịch vụ giáo dục, hóa chất, dầu mỏ và thuốc lá Hơn nữa, HQKD của các doanh nghiệp tại Jordan còn chịu ảnh hưởng lớn từ nền kinh tế vĩ mô và môi trường khu vực.

Bài viết tổng hợp nhiều nghiên cứu để xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả doanh nghiệp thông qua cả biện pháp kế toán và biện pháp thị trường Nhiều yếu tố tài chính và phi tài chính đã được đưa vào mô hình, đồng thời tác giả cũng nghiên cứu tình hình kinh tế chính trị tại khu vực Trung Đông trong giai đoạn khảo sát.

Nghiên cứu của Yana Safarova (2010) xem xét các yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết ở New Zealand trong giai đoạn 1996-

Năm 2007 chứng kiến một cuộc suy thoái kinh tế, nghiên cứu này sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) làm biến phụ thuộc để xác định các yếu tố quyết định ROA Tác giả cũng xem xét liệu tầm quan trọng của các yếu tố này có thay đổi theo tình trạng kinh tế hay không Mô hình hồi quy bao gồm tám yếu tố chính tác động lớn đến hiệu suất hoạt động của các công ty trên thị trường, bao gồm tài sản vô hình, cơ cấu quản trị doanh nghiệp, tiền mặt, đòn bẩy, rủi ro kinh doanh, quy mô, tốc độ tăng trưởng và tài sản hữu hình Kết quả cho thấy kích thước là yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu suất công ty, tiếp theo là tăng trưởng và đòn bẩy, trong khi các yếu tố khác có mối quan hệ với ROA ở các mức ý nghĩa khác nhau.

Nghiên cứu của Onaolapo và Kajola (2010) về "Cấu trúc vốn và hiệu quả doanh nghiệp: bằng chứng từ Nigeria" đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, được đo lường qua chỉ số ROA và ROE Các yếu tố tác động bao gồm tỷ lệ nợ, quy mô doanh nghiệp, tỷ trọng tài sản cố định, tốc độ tăng trưởng, vòng quay tài sản, số năm thành lập công ty và ngành nghề kinh doanh.

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 30 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria trong giai đoạn 2001 – 2007 Kiểm định Hausman chỉ ra rằng mô hình tác động ngẫu nhiên phù hợp với mức ý nghĩa trên 5% Tuy nhiên, kết quả từ mô hình này không có sự khác biệt đáng kể so với mô hình ước lượng OLS, do đó tác giả quyết định dựa vào kết quả của mô hình hồi quy OLS để đưa ra kết luận.

Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nợ và tỷ trọng tài sản cố định có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh (HQKD), trong khi vòng quay tài sản lại có tác động tích cực Ngoài ra, các yếu tố ngành nghề, đặc biệt là ngành rượu bia, thực phẩm và đồ uống, hóa chất, in ấn và xuất bản, thuốc lá, cùng với ngành máy tính và thiết bị văn phòng, đều ảnh hưởng mạnh đến HQKD của doanh nghiệp.

Abbasali Pouraghajan và Esfandiar Malekian (2012) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu suất doanh nghiệp, với dữ liệu từ 400 công ty thuộc 12 ngành công nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2006-2010 Nghiên cứu này chỉ ra tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.

Nghiên cứu này đã áp dụng các yếu tố như tỷ lệ nợ, vòng quay tài sản, quy mô công ty, tỷ trọng tài sản hữu hình, tuổi công ty và tốc độ tăng trưởng để phân tích.

Chỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là những chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả tài chính của các công ty Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ nghịch giữa tỷ lệ nợ và hiệu quả kinh doanh (HQKD), đồng thời các yếu tố như vòng quay tài sản, quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản hữu hình và tốc độ tăng trưởng đều có tác động tích cực đến ROA và ROE Biến kiểm soát trong nghiên cứu này cho thấy những nhân tố này ảnh hưởng đến HQKD của doanh nghiệp Ngoài ra, không có mối quan hệ ý nghĩa giữa năm hoạt động của doanh nghiệp và HQKD Kết quả từ mô hình thứ hai cho thấy các công ty trong các ngành như sản phẩm khoáng sản phi kim loại, thực phẩm và đồ uống, kim loại cơ bản, ô tô và phụ tùng có tác động tiêu cực đến HQKD, trong khi các công ty thuộc ngành vật liệu và sản phẩm hóa chất lại có ảnh hưởng tích cực và đáng kể.

Nghiên cứu của Maja Pervan và Josipa Višić (2012) trong bài viết “Ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp đến thành công của kinh doanh” nhằm mục tiêu phân tích tác động của quy mô doanh nghiệp đối với hiệu quả kinh doanh (HQKD) Ngoài ra, tác giả cũng điều tra các yếu tố chủ quan nội lực và yếu tố khách quan bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

KẾT LUẬN

Chương 2 khái quát chung lý thuyết về hiệu quả kinh doanh, các chỉ tiêu dùng để đánh giả hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thảo luận một số yếu tố nội tại doanh nghiệp có thể tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Cơ cấu vốn, quy mô doanh nghiệp, cơ sở máy móc thiết bị và năng lực quản trị tài chính Các nhân tố này sẽ được phân tích và chọn lọc để đưa vào mô hình hồi quy nhằm kiểm nghiệm tác động của chúng đối với thực tiễn hiệu quả kinh doanh của các Công ty cổ phần Dược Hậu Giang.

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31 3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 29/08/2023, 17:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Giáo trình “Kinh tế học trích bản tiếng Việt” – P.Samerelson và W.Nordhaus 3. Vũ Quang Kết và Nguyễn Quang Tấn (2007), Quản trị tài chính, Học viện công nghệ bưu chính viễn thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính
Tác giả: P.Samerelson, W.Nordhaus, Vũ Quang Kết, Nguyễn Quang Tấn
Nhà XB: Học viện công nghệ bưu chính viễn thông
Năm: 2007
4. Phan Thị Hằng Nga, 2016, Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngành Điện lực phía Nam, Tạp chí Công thương, tháng 8-2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngành Điện lực phía Nam
Tác giả: Phan Thị Hằng Nga
Nhà XB: Tạp chí Công thương
Năm: 2016
5. Huỳnh Thị Tuyết Phượng, 2016, Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết, Tạp chí Tài chính tháng 11-2016, p47-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết
Tác giả: Huỳnh Thị Tuyết Phượng
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2016
6. Nguyễn Hải Sản, 2005, Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính 7. Võ Thanh Thu và Nguyễn Thị Mỵ (2001), Kinh tế và Phân tích hoạt động doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hải Sản
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2005
8. Nguyễn Lê Thanh Tuyền, 2014, Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lê Thanh Tuyền
Nhà XB: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w