Từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các chi nhánh Ngân hàng Công thương trên địa bàn Hà Nội” Thông qua đề tài n
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong xu thế mở cửa, hội nhập kinh tế hiện nay, hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng đã vươn ra trên phạm vi khu vực và thế giới Các Ngân hàng thương mại hiện nay đang có xu thế mở rộng nhiều nghiệp vụ kinh doanh hiện đại mới trên thị trường Cùng với các hoạt động mang tính chất truyền thống, hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã là một hoạt động chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng số lợi nhuận chung của Ngân hàng Tuy nhiên, cũng như các hoạt động kinh doanh khác, kinh doanh ngoại tệ cũng chứa đựng những rủi ro tiềm tàng có khả năng gây mất mát lớn nếu các Ngân hàng không có các biện pháp phòng ngừa và quản lý hợp lý Nếu các rủi ro này tác động quá nhiều đến Ngân hàng mà mức độ tác hại của nó là dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng thì tác động không dừng ở đó
mà nó còn lây lan ra toàn hệ thống Ngân hàng, toàn bộ nền kinh tế, hệ thống chính trị - xã hội…
Chính những biến động không ngừng trên thị trường thế giới cùng với những diễn biến bất thường về cung cầu ngoại tệ đẩy các ngân hàng vào khó khăn thách thức lớn Trong bối cảnh đó các chi nhánh Ngân Hàng TMCP Công Thương trên địa bàn Hà Nội đứng trước sức ép cạnh tranh không chỉ trong nước mà còn với các ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh Bên cạnh đó, do điều kiện còn nhiều hạn chế nên quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ của các chi nhánh Ngân Hàng Công Thương trên địa bàn Thành phố Hà Nội chưa phát huy hết năng lực vốn có của chính mình
Có thể khẳng định, môi trường ngành ngân hàng Việt Nam năm 2013 vẫn còn nhiều thách thức Để ứng phó nhanh nhạy với những biến động của thị trường tài chính – tiền tệ và cạnh tranh với các ngân hàng ngoại thì các ngân hàng trong nước cần nhanh chóng nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống QTRR của mình, đặc biệt là QTRR tín dụng Tóm lại, để hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có sức cạnh tranh cao, năng động, thực hiện tốt mục tiêu hoạt động an toàn và hiệu quả trong kinh doanh, tạo lập niềm tin khách hàng thông qua chiến lược toàn diện về quản trị rủi ro, việc nghiên cứu áp dụng các giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam là vô cùng cần thiết
Hà Nội, ngày 17/04/2013, IDG Vietnam tổng hợp Do đó, quản trị rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối là một vấn đề hết sức bức xúc, đòi hỏi sự
Trang 2nghiên cứu tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao khả năng quản trị rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối
Từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các chi nhánh Ngân hàng Công thương trên địa bàn Hà Nội”
Thông qua đề tài này tôi muốn đưa ra những giải pháp với hi vọng các chi nhánh Ngân Hàng Công Thương trên địa bàn Hà Nội áp dụng trong thực tiễn quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ của mình để có những chủ động cần thiết trước diễn biến thị trường, hạn chế những rủi ro không đáng có góp phần không nhỏ tạo nên sự vững chắc của thương hiệu TMCP Công Thương Việt Nam
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Sự biến động mạnh mẽ của thị trường tài chính tiền tệ trên thế giới trong những năm gần đây: khủng hoảng kinh tế, lạm phát, sự sụp đổ của các ngân hàng lớn trên thế giới
Sự bùng nổ trong lĩnh vực kinh doanh tài chính, đặc biệt là ngành ngân hàng trong vài năm trở lại đây tại Việt Nam: Sự góp mặt ngày càng nhiều của các ngân hàng thương mại tư nhân trong và ngoài nước… dẫn đến cạnh tranh gay gắt trong hoạt động kinh doanh ngân hàng buộc các NHTMCP phải tìm ra các sản phẩm mới phục vụ nhu cầu thanh toán cho khách hàng
Sự đa dạng trong các dịch vụ Ngân hàng hiện đại (mở ra các nguồn thu ngoài tín dụng cho các ngân hàng )
Sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ (về tỷ giá, chính sách XNK, kinh doanh ngoại tệ…) và ảnh hưởng tới các ngân hàng thương mại trong nước
Hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ ở Việt Nam nói chung, các Ngân hàng thương mại nói riêng tuy đang diễn ra rất sôi nổi từng giờ, từng ngày và thu hút không ít sự quan tâm của các nhà đầu tư, tuy nhiên đây vẫn chỉ
là những bước đi đầu tiên của thị trường ngoại hối Việt Nam
Theo Kim Thư, Báo Hà Nội Mới, 2011: “Tình trạng kinh doanh mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do ở Hà Nội khá đa dạng và phức tạp đã tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh ngoại hối nói chung của ngành Ngân hàng Việc mua bán ngoại tệ qua ngân hàng dù được quy định bằng các văn bản chính thức nhưng dựa trên điều kiện thực tế nên gần như chỉ được giới hạn trong phạm vi một vài đối tượng nhất định Các ngân hàng dường như chỉ cố
Trang 3gắng lo cho đủ nguồn ngoại tệ để phục vụ khách hàng của mình mà chủ yếu là các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa Còn đối với khách hàng cá nhân, việc mua ngoại tệ qua ngân hàng đòi hỏi nhiều thủ tục đi kèm nên chỉ một số ít đối tượng như cán bộ đi công tác nước ngoài, học sinh du học là được đáp ứng với
số lượng rất hạn chế Việc bán ra đã vậy, kết quả mua vào cũng chẳng mấy khả quan hơn khi nguồn cung ngoại tệ chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa phải bán lại ngoại tệ cho ngân hàng theo quy định Do chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự do với các ngân hàng trước đây có biên độ khá lớn nên việc mua lại ngoại tệ từ khách hàng cá nhân gần như không hề có Thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ tiến hành các giải pháp chống lạm phát, trong đó tập trung cho Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường Tăng cường quản lý ngoại hối, thực hiện các biện pháp cần thiết để các tổ chức, cá nhân trước hết là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp lý, bảo đảm thanh khoản ngoại tệ, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu
ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối đã gần như ngay lập tức tạo hiệu ứng tích cực mở ra cho các ngân hàng những triển vọng mới trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối”
Trên thực tế, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ tại Việt Nam, chủ yếu là những bài viết trên các tạp chí, Internet…, các đề tài nghiên cứu cấp Bộ đa số chỉ nghiên cứu về một vài khía cạnh như: khía cạnh về tỷ giá, nghiên cứu khả năng ứng dụng của các phương pháp phân tích kỹ thuật trong kinh doanh tiền tệ quốc tế, hay các Chính sách Vĩ mô của Nhà nước… chứ chưa đi sâu phân tích một cách đầy đủ và có hệ thống, nhằm ứng dụng vào thực tiễn hạn chế những mặt trái của hoạt động kinh doanh ngoại tệ của hệ thống Ngân hàng thương mại nói chung và tại các Chi nhánh Ngân hàng TMCP công thương trên địa bàn Hà Nội nói riêng như người viết muốn đề cập đến
3 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ tại các chi nhánh Ngân Hàng Thương mại Cổ Phần Công Thương trên địa bàn Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 4- Về nội dung : nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ với khách hàng của các Chi nhánh ngân hàng TMCP công thương Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Về không gian : tại các Chi nhánh Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam trên địa bàn Hà Nội
- Về thời gian: Khảo sát thực tiễn hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ tại các chi nhánh Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương trên địa bàn Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2012 và định hướng đến năm 2016
* Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng thương mại, khảo sát thực tiễn và qua
đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ tại các chi nhánh Ngân hàng TMCP Công Thương trên địa bàn Hà Nội
4.CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU
1 Thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ trên thị trường Việt Nam hiện nay như thế nào?
2 Yếu tố tác động đến hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ tại Ngân Hàng TMCP Công Thương?
3 Những hạn chế trong hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ tại Ngân Hàng TMCP Công Thương hiện nay?
4 Giải pháp nào giải quyết các hạn chế trong hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng TMCP Công Thương?
5.KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Phần mở đầu
Chương I: Tổng quan về quản trị rủi ro và hoạt động quản trị rủi ro
trong kinh doanh ngoại tệ của Ngân Hàng thương mại
Chương II: Phương pháp nghiên cứu và Thực trạng quản trị rủi ro trong
kinh doanh ngoại tệ của các chi nhánh Ngân Hàng Công Thương trên địa bàn
Hà Nội
Chương III: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động quản trị rủi ro trong kinh
doanh ngoại tệ của các chi nhánh Ngân Hàng Công Thương trên địa bàn Hà Nội
Kết luận
Trang 5Chương I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro
1.1 1 Khái niệm quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là một quá trình bao gồm các hoạt động nhằm hạn chế loại bỏ rủi ro hoặc khắc phục các hậu quả mà rủi ro gây ra đối với hoạt động kinh doanh từ đó tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp giảm đến mức thấp nhất các thiệt hại về người và của của doanh nghiệp
1.1.2.Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị được dùng để tiến hành thanh toán giữa các quốc gia Tuỳ theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia mà khái niệm ngoại hối có thể khác nhau, nhưng xét đại thể ngoại hối có thể gồm:
- Ngoại tệ: bao gồm cả ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ tín dụng
- Các phương tiện thanh toán quốc tế được ghi bằng ngoại tệ: Hối phiếu,
Kỳ phiếu, Séc, Thư chuyển tiền, Điện chuyển tiền, Thẻ tín dụng, Thư tín dụng ngân hàng
Các chứng khoán có giá trị bằng ngoại tệ như: Cổ phiếu, Trái phiếu công ty, Công trái quốc gia, Trái phiếu kho bạc Vàng bạc, kim cương, đá quý, ngọc trai được dùng làm tiền tệ Tiền tệ quốc gia có nguồn gốc là ngoại
tệ
Tuy nhiên, trong đó thành phần cơ bản của ngoại hối là ngoại tệ và các phương tiện có giá trị ngoại tệ Các ngoại tệ được giao dịch trên thị trường ngoại hối dưới hình thức tiền mặt chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, mà chủ yếu chúng tồn tại dưới các hình thức của các phương tiện thanh toán quốc tế và phương tiện lưu thông tín dụng như séc, hối phiếu
Thêm vào đó, không phải loại tiền nào cũng được mua bán rộng rãi trên thị trường ngoại hối mà chỉ có một số đồng tiền chính là đối tượng mua bán rộng rãi trên thị trường kinh doanh ngoại hối như: đồng Đô la Mỹ(USD), đồng Yên Nhật (JPY), đồng Bảng Anh (GBP), đồng tiền chung Châu Âu (EUR)
Thị trường ngoại hối là thị trường thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi các loại ngoại hối, trong đó chủ yếu là trao đổi mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán quốc tế Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị
Trang 6trường liên ngân hàng, thông qua thị trường liên ngân hàng mọi giao dịch mua bán ngoại hối có thể được tiến hành trực tiếp với nhau
Các giao dịch chủ yếu trên thị trường ngoại hối bao gồm: Giao dịch giao ngay( Spot transaction), Giao dịch kỳ hạn (Forward transaction), Giao dịch hoán đổi (Swap transaction) và Giao dịch quyền chọn (Option transaction)
Có bốn hoạt động chủ yếu của một ngân hàng trên thị trường ngoại hối bao gồm:
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán các hợp đồng ngoại thương
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm mục đích thực hiện đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền đó để giảm rủi ro hối đoái
- Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính sự biến động của tỷ giá
Trong bốn hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên, hai hoạt động đầu ngân hàng thực hiện cho khách hàng để thu phí, do đó ngân hàng không phải hứng chịu rủi ro hối đoái Hoạt động thứ ba, ngân hàng tiến hành nghiệp
vụ phòng ngừa rủi ro hối đoái, tức là làm giảm rủi ro hối đoái Như vậy rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối ngoài các rủi ro thuần tuý do hoạt động kinh doanh đem lại thì có liên quan trực tiếp đến hoạt động thứ tư, tức là liên quan trực tiếp đến trạng thái hối đoái mở đối với những hoạt động mua bán mang tính đầu cơ
Rủi ro là một khái niệm chỉ khả năng xảy ra những biến cố mang lại kết quả xấu khi tiến hành một công việc nào đó Rủi ro gồm hai loại chính là rủi ro mang tính đầu cơ và rủi ro thuần tuý
Hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại
là một hoạt động hết sức nhạy cảm và không nằm ngoài quy luật, nó cũng tiềm ẩn những rủi ro Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối là những rủi ro làm sai lệch kết quả hoạt động kinh doanh do sự cố biến động về tỷ giá của các ngoại tệ có liên quan Đặc biệt trong hệ thống tỷ giá thả nổi hiện nay, tỷ giá hối đoái với tư cách là giá cả của một loại hàng hoá đặc biệt luôn biến động không ngừng do nhiều nhân tố tác động, thì vấn đề rủi ro hối đoái thường xuyên xuất hiện
Trang 7Các đối tượng thường xuyên chịu rủi ro hối đoái là các Ngân hàng và các công ty tham gia vào nền tài chính quốc tế Toàn bộ số tiền có thể chịu rủi
ro hối đoái là trạng thái hối đoái mở (open position), mỗi khi có một trạng thái hối đoái mở thì sẽ có một trạng thái rủi ro hối đoái Nếu như trạng thái hối đoái
ở trạng thái mở và tỷ giá hối đoái thay đổi thì sẽ thu thêm hay mất đi một lượng tiền liên quan đến trạng thái hối đoái mở
Để loại trừ và giảm bớt rủi ro trong kinh doanh ngoại hối, các ngân hàng phải thực hiện các biện pháp quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối, Ngân hàng đánh giá đúng mức độ của từng rủi ro trong kinh doanh ngoại hối và đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro thích hợp trong kinh doanh ngoại hối
1.1.3 Phân loại rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
Về mặt nguyên tắc, chúng ta có thể chia rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối ra làm bốn nhóm chính:
a.Rủi ro tỷ giá hối đoái
Rủi ro tỷ giá là loại rủi ro gây nên bởi sự biến động mạnh của tỷ giá dẫn đến thua lỗ trong giao dịch Nói một cách khác, rủi ro tỷ giá là rủi ro thua lỗ từ trạng thái không cân bằng không bảo hiểm (trạng thái mở) do sự biến động tỷ giá xác định
Đây là loại rủi ro có ý nghĩa rộng lớn trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ Trường hợp thường xảy ra nhất đối với loại rủi ro này là vịêc duy trì một trạng thái hối đoái mở của một đồng tiền nhất định Nếu như trạng thái hối đoái mở là dương (Long position) đối với một loại ngoại tệ hay tài sản
Có (Asset) lớn hơn tài sản Nợ (Liabilities) mà ngoại tệ đó bị giảm gía thì chắc chắn sẽ bị rủi ro Mặt khác nếu đồng tiền đó lên giá, người quản lý ngân quỹ đang dư thừa đồng tiền đó sẽ thu được lợi nhuận từ việc chuyển đổi bằng tỉ giá
đó Kết quả ngược lại nếu trạng thái hối đoái mở là âm hoặc tài sản Nợ lớn hơn tài sản Có đồng tiền đó Như vậy, rủi ro về tỷ giá sẽ xuất hiện nếu một trạng thái hối đoái mở được tạo ra
Trang 8Ví dụ, một ngân hàng Việt Nam mua của một khách hàng hay của một ngân hàng khác một lượng USD với tỷ giá nào đó, thì cho đến khi bán hết khối lượng này, ngân hàng mới hết lo lắng về rủi ro tỷ giá, rủi ro chỉ xảy ra cho đến khi san bằng trạng thái hối đoái mở này Rủi ro sẽ tăng lên theo thời gian trạng thái hối đoái mở tồn tại, nhưng nó cũng quan trọng ngay trong khoảng thời gian giữa lúc hình thành và khoá sổ trạng thái hối đoái mở này, thậm chí trong vòng một phút, khi có một biến động nhỏ của tỷ giá thì điều đó
đã dẫn tới hậu quả của một thất thoát lớn, nếu khối lượng ngoại tệ kinh doanh nhiều Nếu tỷ giá hối đoái khi bán ra giảm xuống thì ngân hàng sẽ bị thiệt hại Nếu giả sử ngân hàng vẫn muốn giữ khoản tiền này thêm thì rủi ro càng lớn hơn nữa Mối nguy hiểm này không hề phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái, tức là bất kỳ đồng tiền này theo tỷ giá thả nổi hay tỷ giá cố định Thật ra, biên
độ biến động hàng ngày của tỷ giá USD đã mở rộng nhiều trong giai đoạn chuyển sang cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi, thế nhưng trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định lại có những rủi ro khác đó là tăng hoặc giảm giá trị của đồng tiền
Bên cạnh quan hệ cung cầu ngoại hối làm cho tỷ giá hối đoái biến động còn có các nhân tố khác như mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước và mức chênh lệch lãi suất giữa các nước có đồng tiền liên quan
Xem xét mức chênh lệch lạm phát của hai nước ảnh hưởng đến
sự biến động của tỷ giá Giả sử, trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động của hai nước như nhau, quản lý hối đoái tự do Một loại hàng ở
Mỹ có giá trị 1 USD và ở Nhật là 100 JPY, có nghĩa là ngang giá sức mua đối nội của hai đồng tiền này là USD/JPY = 100 Nếu ở Mỹ có mức lạm phát là 5% và ở Nhật là 10% thì hàng hoá ở Mỹ tăng lên là 1,05 USD và ở Nhật là 110 JPY dã đó ngang sức mua đối nội sẽ là 1,05 USD= 110 JPY
Hay là USD/JPY= 104,761
Mức chênh lệch tỷ giá là 4,761 hay gần tương tự như mức chênh lệch lạm phát 5%
Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nước cũng ảnh hưởng đến
sự biến động tỷ giá Nước nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn các nước khác hoặc cao hơn LIBID thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm xuống, tỷ giá hối đoái cũng giảm
Tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau mà các nhân tố này thường xuyên thay đổi kéo theo sự biến động không ngừng của tỷ giá hối đoái Vấn đề này đặt ra với những công ty là những người thường xuyên có
Trang 9thu chi ngoại hối và đặc biệt là những nhà kinh doanh ngoại tệ, chấp nhận rủi ro để kiếm lời Đối với các ngân hàng thương mại cỡ lớn có giao dịch với các công ty thương mại lớn thì không những số lượng hợp đồng ký kết là rất nhiều mà khối lượng ngoại hối được giao dịch trong ngày cũng rất lớn do
đó mà những biến động nhỏ trong tỷ giá hối đoái của các ngoại tệ sẽ gây ra một ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả kinh doanh của ngân hàng
Trạng thái hối đoái mở của mỗi ngoại tệ có thể là dương hoặc âm Trạng thái ngoại hối dương khi tài sản Có lớn hơn tài sản Nợ Trạng thái ngoại hối âm khi tài sản Nợ lớn hơn tài sản Có Tại phòng kinh doanh nơi mà nhà kinh doanh phải thoả mãn các yêu cầu của khách hàng, thì trạng thái hối đoái thường xuyên xuất hiện Tình trạng này xuất hiện là do hàng ngày luôn có các nguồn luân chuyển vốn Mỗi khi một trạng thái mở xuất hiện là ngân hàng
ở trạng thái rủi ro hối đoái, nghĩa là khả năng thu được hay mất đi một số tiền nếu tỷ giá thay đổi Đặc biệt khi lượng ngoại hối dư thừa hoặc thiếu hụt đến mức nếu rủi ro hối đoái xảy ra sẽ đưa ngân hàng vào tình trạng phá sản, vì vậy ngân hàng phải luôn tìm cách cân bằng trạng thái hối đoái thực để hạn chế bớt những thiệt hại của rủi ro này Để làm được điều này thì ngân hàng phải có mối quan hệ bạn hàng rộng rãi với các công ty thương mại cỡ lớn cũng như hoạt động tích cực trên thị trường liên ngân hàng
b.Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất hay còn gọi là rủi ro tỷ lệ SWAP là rủi ro về lãi suất thường xảy ra trong trạng thái kỳ hạn Trạng thái kỳ hạn không cân bằng có thể gặp rủi ro lãi suất Ngay cả trong trường hợp trạng thái ròng cân bằng còn có thể gặp rủi ro lãi suất nếu như thời điểm đáo hạn của các hợp đồng mua và bán không khớp nhau Sở dĩ như vậy là vì rủi ro đối với trạng thái kỳ hạn nằm ở lãi suất của các ngoại tệ có mặt trong giao dịch mua bán ngoại tệ đó Nếu trước thời điểm đáo hạn của giao dịch có sự biến động về lãi suất của một trong hai đồng tiền giao dịch mà nằm ngoài mong muốn thì sẽ xuất hiện rủi ro lãi suất
Giao dịch SWAP là giao dịch gồm đồng thời hai giao dịch mua và bán của cùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác (chỉ có 2 đồng tiền được thực hiện trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng giao dịch hoán đổi Do đó giao dịch SWAP không có tác động đến trạng thái hối đoái mở Vì vậy lãi hay lỗ trong trạng thái SWAP chỉ phụ thuộc duy nhất vào biến động lãi suất của hai đồng tiền có liên quan
Trang 10Rủi ro tỷ lệ SWAP trở nên quan trọng nếu trạng thái hối đoái thời hạn với khối lượng kinh doanh đã thoả thuận xong nhưng thời hạn thanh toán thì chưa chấm dứt Ví dụ: một ngân hàng mua 5 triệu GBP theo 3 tháng và bán theo thời hạn 4 tháng thì hai khoản này về giá trị là bằng nhau nhưng thời hạn thì không đồng nhất Điều đó có nghĩa là ở đây không có rủi ro về tỷ giá, nhưng lại có rủi ro về tỷ lệ SWAP, tức là rủi ro sẽ nảy sinh vào cuối tháng thứ 3, nếu trạng thái hối đoái này được hình thành qua thực hiện một nghiệp vụ SWAP mà tỷ lệ SWAP lại phát triển không thuận lợi
Rủi ro này có ý nghĩa : Trong giao lưu với khách hàng, các ngân hàng phải ký kết các nghiệp vụ thời hạn, với thời hạn vòng, tức là thời hạn mà lúc đó thị trường không hoạt động Sau đó các ngân hàng ký thực hiện nghiệp vụ đối ứng với thời hạn tiêp theo trong thị trường và khắc phục những bất đồng về thời điểm, bằng cách ký hợp đồng SWAP ngắn hạn và luân chuyển (ví dụ SWAP theo ngày)
Khi hạch toán các ngân hàng thường căn cứ vào tình hình lúc ký kết nghiệp vụ thời hạn Theo nguyên tắc các ngân hàng cũng dự tính một khoảng an toàn nhất định, nhưng khi xem xét tới góc độ cạnh tranh ngân hàng không thể dự tính khoảng an toàn lớn được Ví dụ, khi chênh lệch lãi suất có lợi cho đồng GBP là 3%/năm (lãi suất GBP=12%/năm, lãi suất SGD= 9% năm và cho các loại thời hạn) ngân hàng đã bán cho khách hàng 5 triệu GBP thời hạn 4 tháng Số GBP này ngân hàng đã phải huy động trên thị trường với thời hạn vay 3 tháng và tới cuối tháng thứ 3 thì chênh lệch lãi suất giảm quá mạnh xuống tới 3%/năm Do vậy, ngân hàng phải gánh chịu khoản lỗ của tháng 4 Giả sử tỷ giá giao ngay GBP/SGD vào lúc ký nghiệp vụ thời hạn với khách hàng là 2,80 hạch toán chuyển đổi này sẽ có kết quả sau (chưa tính đến lượng lợi nhuận và an toàn):
- Bán 5 triệu GBP cho khách hàng với thời hạn 4 tháng theo tỷ giá GBP/SGD là 2,7731:= 13.865.000 SGD
- Mua 5 triệu GBP trên thị trường theo thời hạn 3 tháng với tỷ giá GBP/SGD là 2,7769:=13.898.000 SGD
Nghiệp vụ SWAP gia hạn khi hết 3 tháng:
Nếu quan hệ lãi suất không đổi (tỷ giá giao ngay ổn định):
Bán 5 triệu GBP giao ngay với tỷ giá GBP/SGD là 2,8:=14.000.000 SGD
Mua 5 triệu GBP thời hạn 1 tháng với tỷ giá GBP/SGD là 2,793:
=13.965.500 SGD
Trang 11Sự chuyển đổi này được thực hiện không có lãi mà cũng không bị lỗ, khoản chênh lệch 2.000 SGD được tạo ra từ tỷ giá ngoại hối thời hạn
Chênh lệch lãi suất có lợi cho đồng GBP là 1%/năm:
Bán 5 triệu GBP giao ngay với tỷ giá GBP/SGD là 2,8 = 14.000.000 SGD
Mua 5 triệu GBP thời hạn 1 tháng với tỷ giá là 2,7977:=13.988.500 SGD
Ngân hàng chịu lỗ một khoản 21.000 SGD (chưa tính đến phần lãi suất duơng từ doanh thu tiền mặt phát sinh do từ cuối tháng thứ 3 ngân hàng thu được 14.000.000 SGD từ nghiệp vụ SWAP gia hạn, nhưng chỉ phải trả có 13.965.500 SGD Nếu tỷ giá GBP/SGD giảm thì doanh lợi về lãi suất sẽ trở thành thiệt hại về lãi suất)
So sánh với rủi ro về tỷ giá, không nghi ngờ rằng, rủi ro về tỷ lệ lãi suất
ít có ý nghĩa hơn, nhưng với khối lượng kinh doanh lớn cũng tạo ra điều đáng quan tâm Điều này ít có giá trị cho nghiệp vụ giao dịch với khách hàng, vì ngay từ đầu nghiệp vụ này bị giới hạn bởi số lượng khách hàng
và một phần hoạt động chuyển đổi đối ứng đã được các nhà xuất nhập khẩu tự cân đối với nhau Trong nghiệp vụ với khách hàng, khối lượng lợi nhuận tạo ra
đã tạo thành khối lượng đảm bảo Ngược lại trong trường hợp Arbitrage tỷ giá hối đoái kỳ hạn không thể có được một giới hạn rủi ro “tự nhiên” Nếu xét về khả năng ký kết các hợp đồng nghiệp vụ Arbitrage thời hạn có phạm vi rộng lớn Tương tự như vậy, ở đây sẽ xuất hiện nguy cơ làm thất thoát lớn
Tóm lại, rủi ro lãi suất hay gọi là rủi ro tỷ lệ SWAP chính là rủi ro về tỷ
lệ lãi suất, tuy nhiên nó khác rủi ro lãi suất trên hoạt động thị trường tiền tệ ở chỗ trên thị trường tiền tệ chúng ta chỉ quan tâm đến sự biến động lãi suất của một đồng tiền Nhưng khi hoạt động trên thị trường hối đoái qua giao dịch SWAP cần phải xem xét thay đổi lãi suất của cả hai đồng tiền
1 1.3.2 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng (rủi ro độ tin cậy) là tình trạng khách hàng hay đối tác của ngân hàng cố tình hoặc rơi vào tình trạng bất khả kháng, không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng giao dịch mua bán ngoại
tệ vào thời điểm phát sinh các nghĩa vụ cam kết đó Trong rủi ro tín dụng, có rủi ro đối tác và rủi ro do các nguyên nhân chính trị
a Rủi ro đối tác
Với mỗi nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối do ngân hàng ký kết, luôn xuất hiện rủi ro do bên đối tác không chịu hay không thể thực hiện trách nhiệm của
Trang 12họ do các nguyên nhân chủ quan, và hậu quả là hoạt động này sẽ kết thúc bằng thua lỗ
Giả sử một ngân hàng bán cho một khách hàng hay một ngân hàng khác 5 triệu GBP với tỉ giá GBP/SGD là 2,8005 và mua lượng này từ một ngân hàng khác theo tỉ giá GBP/SGD là 2,8 Sau khi đã ký kết hợp đồng với người mua thì người mua bị phá sản và không thể thực hiện trách nhiệm của mình Tỉ giá GBP/SGD trên thị trường hạ xuống còn 2,75, ngân hàng đành phải bán theo giá này cho đối tác khác và chấp nhận chịu lỗ 250.000 SGD
b Rủi ro chính trị
Là trường hợp rủi ro xảy ra khi đối tác giao dịch ở nước ngoài (có thể là chính phủ, ngân hàng hay khách hàng) không thể hoặc có thể không thực hiện được các nghĩa vụ cam kết trong giao dịch mua bán ngoại tệ vào thời điểm phát sinh các nghĩa vụ cam kết mà nguyên nhân dẫn đến rủi ro này là tình trạng bất khả kháng do chiến tranh, bạo động, cách mạng, hay tuyên bố ngừng hoạt động
hệ thống thanh toán ra nước ngoài của chính phủ quốc gia đó Điều này thực tế
đã xảy ra với ngân hàng Herstatt tại Đức trong năm 1974 Nhiều ngân hàng Đức và ngân hàng nước ngoài đã mua USD của ngân hàng Herstatt và phải trả tiền bằng đồng DEM 5-6 tiếng theo quy định trước khi nhận được USD Ngay sau khi các ngân hàng này trả tiền vào buổi trưa thì đồng loạt các quầy giao dịch của ngân hàng Herstatt bị đóng cửa theo chỉ định của Cục thanh tra liên bang ngành tín dụng Thông tin về việc đình chỉ thanh toán đã nhanh chóng lan ra trên toàn thế giới Các ngân hàng ở Mỹ đã không thực hiện được những hợp đồng bán USD đã ký với ngân hàng Herstatt mặc dù họ đã nhận đồng DEM và lượng ngoại tệ này bây giờ chỉ được xem là những khoản
nợ phải đòi đối với tài sản thanh lý còn lại
1.1.3.3 Rủi ro về khả năng thanh toán
Rủi ro về khả năng thanh toán trên thị trường hối đoái cũng xuất hiện trong trường hợp không có khả năng vã được vốn bằng đồng tiền như dự định
Ví dụ: một giao dịch SWAP mua SGD kỳ hạn 3 tháng bằng đồng USD đồng thời bán SGD lấy USD kỳ hạn 1 tháng Nếu ngân hàng trung ương Singapore quyết định dừng mọi giao dịch hối đoái của mình
vì lý do thị trường bất ổn định, chóng ta sẽ phải mua SGD trên thị trường khác, những người bán SGD này không thể giao dịch với khối lượng lớn, chẳng hạn 1000 triệu SGD hoặc hơn, thì khó có thể thực hiện được giao dịch như đã định Trong trường hợp giao dịch không được thực hiện như
Trang 13đã định, điều đó có nghĩa gần như chắc chắn xảy ra tình trạng phá sản đối với một số tổ chức tài chính
1.1.3.4.Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động thường thể hiện dưới ba hình thức chính là rủi ro trong việc dùng người, rủi ro vận hành và rủi ro tổ chức
a Rủi ro trong việc dùng người:
Là loại rủi ro xuất phát một cách chủ quan từ các nhân viên tham gia
vào quá trình thực hiện giao dịch kinh doanh ngoại hối, nguyên nhân chính là còn hạn chế về trình độ, mức độ tinh thông nghiệp vụ cũng như kinh
nghiệm còn ít
Chẳng hạn một người kinh doanh quên không lập chứng từ mua bán, sau khi thực hiện hợp đồng thì khoản kinh doanh trong bảng cân đối của ngân hàng sẽ không thống nhất với thực trạng giao dịch, và hậu quả là sẽ
phát sinh thiệt hại khi thanh toán sau này thông qua việc rút tiền vượt quá số tiền thấu chi (overdraft) qui định trên tài khoản của khách hàng nước ngoài Hay nếu nhân viên thiếu cẩn trọng dựa trên một địa chỉ sai để giao dịch cũng có thể gây ra thiệt hại lãi suất, nếu sau đó điều này được biết đến thì việc thanh toán đúng hạn là không thể thực hiện được
b Rủi ro vận hành
Rủi ro vận hành trong kinh doanh ngoại hối có thể gặp phải từ những sai sót của mạng điện thoại, của giao dịch qua Telex, Reuter, giao dịch Telerate, hỏng hóc của máy tính cá nhân, hệ thống mạng bị quá tải, hư hại đến thiết bị hay do mất điện
c Rủi ro tổ chức kiểm soát
Là những rủi ro do hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý đem lại Rủi ro này thường có nguồn gốc từ sự phân công trách nhiệm chưa rõ ràng giữa các
bộ phận tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoại hối: giao dịch, thanh toán, kiểm soát Nói cách khác loại rủi ro này xuất hiện khi mô hình tổ chức kinh doanh ngoại hối còn chưa hợp lý, hiệu quả kém
Đánh giá vai trò và mức độ các loại rủi ro
Vai trò và mức độ của mỗi loại rủi ro là khác nhau khi tham gia vào các giao dịch khác nhau Nếu chúng ta đang giao dịch với các tổ chức được xếp vào loại tín dụng hàng đầu và chóng ta cũng thuộc nhóm lựa chọn đó thì rủi ro
về tín dụng và khả năng thanh toán chỉ đóng vai trò thứ yếu nếu so sánh với rủi
ro về tỷ giá và rủi ro về tỷ lệ lãi suất do các rủi ro này làm mất đi khả năng thu lợi của chóng ta hoặc thậm chí khiến ta có thể bị thua lỗ do dự đoán sai
Trang 14Tuy nhiên khi chúng ta giao dịch với một khách hàng không có uy tín trên thế giới thì rủi ro tín dụng sẽ trở nên quan trọng hơn Hơn nữa nếu chúng
ta không thuộc một số các tổ chức có uy tín thì chúng ta cần phải chú trọng hơn đến rủi ro về khả năng thanh toán của mình
1.2 Thành viên tham gia quản trị rủi ro thị trường ngoại hối
Các bên tham gia thị trường ngoại hối là các ngân hàng thương mại cỡ lớn, người môi giới ngoại hối, ngân hàng trung ương, các công ty và nhà đầu
tư Ngoài ra, còn có các định chế tài chính khác như: các quỹ hưu trí, các công
ty bảo hiểm và cả cá nhân có vốn Khu vực chính yếu trong thị trường hối đoái là thị trường liên ngân hàng Ở đó các ngân hàng có thể giao dich trực tiếp với nhau hoặc thông qua các nhà môi giới
1.2.1 Các ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại có ảnh hưởng lớn đến sự vận động của thị trường ngoại hối Họ kinh doanh trên danh nghĩa thay mặt cho khách hàng hay cho chính
bản thân
Ngân hàng tiến hành giao dịch ngoại hối với hai mục đích:
+ Giao dịch kinh doanh cho chính mình
+ Cung cấp dịch vụ cho khách hàng Chẳng hạn, ngân hàng sẽ cung cấp dịch vụ bảo hiểm vốn cho các doanh nghiệp trước sự biến động của tỷ giá Mặt khác, đây là một nghiệp vụ để ngân hàng tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tận dụng thời cơ “mua rẻ - bán đắt” Các ngân hàng thương mại áp dụng hai loại tỷ giá Loại tỷ giá bán buôn áp dụng trên thị trường liên ngân hàng và tỷ giá bán
lẻ áp dụng đối với các giao dịch có doanh số nhỏ của khách hàng Kết quả của hoạt động này là ngân hàng thu phí
Các ngân hàng thương mại là hạt nhân của thị trường hối đoái, giữ vai trò quan trọng trên thị trường hối đoái Các ngân hàng thương mại lớn có các chi nhánh, đại lý ở nước ngoài, họ kinh doanh ngoại hối là chủ yếu, còn các ngân hàng khác đóng vai trò phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh dưới sự chỉ đạo của các ngân hàng thương mại lớn Các ngân hàng này có nhiệm vụ điều chỉnh mức dự trữ của từng loại ngoại tệ khác nhau Các ngân hàng thương mại chủ yêu là mua đi bán lại các loại ngoại tệ hoặc là các giao dịch có tính chất đầu cơ
1.2.2 Ngân hàng trung ương
Trang 15Với tư cách là người canh giữ hệ thống tiền tệ - Ngân hàng và người chủ của dự trữ ngoại hối quốc gia, các Ngân hàng trung ương đôi khi là thành phần
cơ bản trên thị trường hối đoái thông qua hành vi can thiệp trên thị trường
Các ngân hàng trung ương vẫn thường xuyên can thiệp vào thị trường ngoại hối với hai tư cách:
+ Ngân hàng trung ương thực hiện việc mua bán ngoại tệ để cân bằng hoạt động của các khách hàng của mình chủ yếu là các ngân hàng thương mại
+ Giám sát hoạt động của thị trường trong khuôn khổ quy định của luật pháp Sự can thiệp của ngân hàng trung ương nhằm để giúp nâng giá hoặc giảm giá đồng tiền bản tệ khi nó ở mức có thể làm tổn hại đến chính sách tiền tệ quốc gia hoặc để triệt tiêu hiện tượng đầu cơ trên thị trường
1.2.3.Các cá nhân hay các nhà kinh doanh
Nhóm thành viên này bao gồm những công dân trong và ngoài nước có nhu cầu mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để phục vụ cho hoạt động đầu tư, cho vay, đi công tác hay đi du lịch ở nước ngoài hoặc khi nhận được các khoản lợi tức đầu tư hay chuyển tiền
1.2.4.Các nhà môi giới ngoại hối
Người môi giới thực hiện các lệnh mua bán ngoại hối theo yêu cầu của khách hàng và hưởng phí Các nhà môi giới nắm vững tỷ giá của nhiều thị trường Vì vậy, tại các trung tâm tài chính quốc tế thường có một số nhà môi giới ngoại hối giúp các ngân hàng thương mại thực hiện lệnh mua và bán ngoại hối, từ đó cung cấp tỷ giá chào bán và tỷ giá chào mua cho khách hàng một cách nhanh nhất và ưu việt nhất, đồng thời nhận một khoản phí môi giới Có thể nói, các nhà môi giới là những trung gian giữa các ngân hàng và là trung gian giữa ngân hàng và khách hàng, qua đó góp phần tích cực vào hoạt động của thị trường bằng cách làm cho cung và cầu tiếp cận với nhau
1.2.5 Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp các chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu Các doanh nghiệp này vừa là chủ thể có nhu cầu về ngoại tệ để thanh toán các hợp đồng thương mại quốc tế, vừa là chủ thể cung ngoại tệ khi có các khoản thu về việc xuất khẩu hàng hóa dịch vụ… Các doanh nghiệp này được xem như là chủ thể hình thành nên khối lượng mua và bán các ngoại hối lớn nhất trên thị trường ngoại hối
Trang 161.3.Ngân hàng thương mại và các hoạt động quản tri kinh doanh của Ngân hàng thương mại
1.3.1.Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng Trong số đó NHTM chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô thị phần, số lượng cũng như về qui
mô tài sản
Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này
mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng
to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế
Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các điểm sau:
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế
- Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng
1.3.2.Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
- Huy động vốn : Nhận tiền gửi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, các
tổ chức xã hội và các tổ chức kháclà hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo
thỏa thuận
- T ổ chức trung gian tín dụng : Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
- Cho vay và tài trợ cho đầu tư: Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là
nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mại Ðây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng
Trang 17- Tổ chức trung gian thanh toán : Việc ngân hàng thương mại thực
hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,…Tùy theo nhu cầu, khách hàng
có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp
- Kinh doanh ngoại hối: mua bán các đồng tiên khác nhau trên thị trường ngoại hối, để phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu, thu lợi nhuận từ chênh lệch tỷ giá mua bán và đầu cơ…
Không có việc quản trị rủi ro thì giống như việc người đi trong đêm không trông thấy đường, không biết khi nào mình sẽ bị vấp ngã và liệu việc vấp ngã sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ như thế nào, có bị gãy chân hay chỉ bong gân mà thôi? Trong lịch sử, sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng Baring
Trang 18chính là một minh chứng cơ thế cho vai trò to lớn của quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
Hiện nay, vai trò của kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quan trọng, do đó việc phát triển giao lưu buôn bán quốc tế làm cho nhu cầu trao đổi tiền tệ giữa các nước ngày càng tăng với khối lượng lớn Thêm vào
đó, trong chế độ tỷ giá thả nổi hiện nay, do nhiều nhân tố tác động làm cho tỷ giá hối đoái các đồng tiền biến đổi không ngừng từng ngày, từng giờ, cũng như
do việc kinh doanh ngoại hối diễn ra trên phạm vi quốc tế nên việc quản lý các giao dịch cũng như việc hiểu biết kỹ về các bạn hàng là rất khó khăn Điều này khiến cho các nhà kinh doanh ngoại hối phải đối mặt với rất nhiều rủi ro
Chính vậy, để hạn chế bớt ảnh hưởng xấu của những rủi ro trong kinh doanh ngoại hối, các ngân hàng luôn phải tìm ra các biện pháp phòng ngừa các rủi ro Đặc biệt là rủi ro về tỷ giá hối đoái và rủi ro về lãi suất do sự biến động thường xuyên và khó lường trước được của chóng Bên cạnh đó các rủi ro về tín dụng, rủi ro về khả năng thanh toán và rủi ro tổ chức hoạt động cũng cần được quan tâm thích đáng
1.4 Các mô hình và biện pháp quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
1.4.1 Các mô hình quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
Có hai mô hình quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối:
1.4.1.1 Mô hình quản trị rủi ro tập trung
Hầu như các ngân hàng trên thế giới đều có nhiều chi nhánh tại một quốc gia nhưng đa số các ngân hàng đều có xu hướng tập trung quản
lý hoạt động của bộ phận kinh doanh ngoại hối về một hoặc một số đầu mối nhằm giảm chi phí quản lý, đào tạo và thống nhất các luồng tiền tệ, tận dụng các nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong hoạt động kinh doanh ngoại hối nhằm đem lại hiệu quả, thuận lợi lớn nhất trong mức rủi ro có thể chấp nhận được Thông qua việc tập trung các giao dịch kinh doanh ngoại tệ vào một đầu não chính, việc quản trị rủi ro cũng sẽ được tập trung vào một đầu mối, hạn chế, phân tán rủi ro tại các chi nhánh được phép cùng kinh doanh ngoại hối
1.4.1.2 Mô hình quản trị rủi ro phân tán
Đây là mô hình quản trị rủi ro được thực hiện trên cơ sở hoạt động kinh doanh ngoại hối tiến hành tại nhiều chi nhánh trong cùng một hệ thống ngân hàng tại một hay nhiều quốc gia Khi đó, do có nhiều chi nhánh cùng được phép hoạt động kinh doanh ngoại hối trực tiếp nên hoạt động quản lý rủi ro sẽ được thực hiện trên tại tất cả các chi nhánh này Hơn nữa, rủi ro trong hoạt
Trang 19động ngoại hối tại các chi nhánh không được tập trung quản lý, không được tách bạch giữa các hoạt động kinh doanh ngoại hối và hoạt động quản trị rủi ro, không có sự phân chia đầy đủ thành các bộ phận độc lập bao gồm bộ phận giao dịch trực tiếp, bộ phận thực hiện giao dịch, bộ phận kiểm soát và quản lý rủi ro
1.4.2.Các biện pháp quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
1.4.2.1 Quản trị rủi ro tài chính
a Quản trị rủi ro tỷ giá hối đoái
Giới hạn trạng thái hối đoái
Trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ là chênh lệch giữa tổng tài sản Có
và tổng tài sản Nợ của một ngoại tệ
Trạng thái ngoại tệ cuối ngày được tính trên cơ sở trạng thái ngoại tệ ngày hôm trước và chênh lệch giữa doanh số mua và doanh số bán phát sinh trong ngày của ngoại tệ đó, bao gồm cả giao dịch Spot và giao dịch Foward
Nhằm tránh thất thoát quá mức do biến động tỷ giá, từ lâu các ngân hàng đã áp dụng mức hình thành các trạng thái hối đoái cho các phòng kinh doanh ngoại hối Mức độ của các giới hạn này là phụ thuộc vào số hoạt động của ngân hàng, khả năng chấp nhận rủi ro và lòng tin vào khả năng kinh doanh của người điều hành kinh doanh ngoại hối
Giới hạn trạng thái ngoại hối (Limit of Foreign Exchange Position) là mức chênh lệch cao nhất hoặc thấp nhất giữa tài sản Có ngoại tệ và tài sản Nợ ngoại tệ
Từ hạn mức trạng thái hối đoái của các ngân hàng sẽ cho phép tính toán được mức của rủi ro và tất nhiên cả khả năng lợi nhuận thu được Trong mối quan hệ này cần lưu ý rằng lợi nhuận của ngân hàng này không nhất thiết phải tương ứng với thiệt hại của ngân hàng khác Vì lợi nhuận này sinh ra
từ nghiệp vụ khách hàng, tức chênh lệch tỷ giá giữa giá trị thanh toán ngoại tệ cho khách hàng và giá trị thanh toán trên thị trường, lợi nhuận này không liên quan gì đến các ngân hàng khác
- Giới hạn trạng thái hối đoái qua đêm (Overnight)
Việc đặt ra giới hạn trạng thái hối đoái cũng cần phải đặt ra một hạn mức qua đêm của từng đồng tiền, kể cả đồng bản tệ Sở dĩ phải đặt ra một hạn mức qua đêm là do các sự kiện chính trị và kinh tế xảy ra sau giờ làm việc của từng nước có thể ảnh hưởng quan trọng đến tỷ giá Nhà giao dịch không làm việc ban đêm nên không thể phản ứng tức thì đối với các thay đổi này nên có
Trang 20thể bị thiệt hại Ví dụ, các thông tin quan trọng về chính trị và kinh tế thường được cố tình thông báo sau khi thị trường trong nước đóng cửa và lúc đó các nhà giao dịch không còn ở trong phòng giao dịch, tuy nhiên, các nhà giao dịch ở các nơi khác trên thế giới vẫn có cơ hội phản ứng lại các tin tức và gây tác động lên tỷ giá thị trường Trong ngày, các nhà giao dịch cũng bị giới hạn trong các trạng thái mở của họ, nhưng họ được phép có các trạng thái thuần tuý lớn hơn mức qua đêm Điều này là cần thiết để đảm bảo cho các nhà giao dịch đáp ứng được các nhu cầu ngoại hối của khách hàng Hạn mức ban ngày thường lớn hơn rất nhiều lần hạn mức ban đêm
- Giới hạn tổng trạng thái hối đoái
Ngoài hạn mức trên ra, một vài ngân hàng đặt ra một hạn mức được gọi
là giới hạn tổng trạng thái ngoại hối Tổng trạng thái ngoại hối của tổ chức tín dụng là trạng thái ngoại hối (dương hoặc âm) cao nhất của các tiền tệ
Ví dụ, một nhà giao dịch có thể có hạn mức cho mỗi đồng tiền tương đương 1 triệu USD cho 10 đồng tiền riêng biệt, cùng với hạn mức tổng hợp là 6 triệu USD cho tổng các trạng thái của 10 đồng tiền trên Nếu không có hạn mức tổng hợp, nhà giao dịch có thể có một trạng thái mở tổng hợp là 10 triệu USD trong trường hợp không cho phép nhà giao dịch đạt đến hạn mức trạng thái mở của cả 10 đồng tiền và hạn mức trạng thái mở tổng cộng của nhà giao dịch ở mức 6 triệu USD Điều quan trọng là đặt ra một hạn mức trạng thái mở của đồng bản tệ và đưa nó vào trong hạn mức tổng hợp Nếu không thì các nhà giao dịch có thể mua hay bán theo hạn mức tối đa của tất cả các ngoại tệ của họ bằng đồng bản tệ Dĩ nhiên, điều này sẽ tạo ra một trạng thái thực dư mua hay dư bán rất lớn của đồng bản tệ, mà cũng như các đồng tiền khác nó có thể chịu sự phá giá hay tăng giá
Cân bằng trạng thái ngoại hối
Tại phòng giao dịch ngoại hối, các ngân hàng thường xuyên xuất hiện các trạng thái hối đoái do hàng ngày luôn có các luồng luân chuyển vốn Như đã nói ở phần trên để hạn chế bớt rủi ro hối đoái người ta đã đưa ra các hạn mức của trạng thái hối đoái, khi vượt qúa hạn mức này thì đòi hỏi cần phải cân bằng trạng thái hối đoái dư thừa hay thiếu hụt này Một biện pháp hạn chế rủi ro tỷ giá hết sức quan trọng đối với các nhà kinh doanh ngoại hối đó là dự đoán tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn cũng như dài hạn sẽ giúp cho nhà kinh doanh ngoại hối có những phản ứng thích hợp nhằm hạn chế rủi ro này đến mức thấp nhất Việc dự đoán tỷ giá dựa trên một số những phương pháp phân tích sau:
Trang 21Phân tích cơ sở (Fundermental Analysis)
Phân tích cơ sở dựa trên nguyên lý cơ bản là quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường hối đoái là kết quả của quá trình kinh tế hoàn toàn có thể quan sát và
dự đoán được Các nhà phân tích tìm cách để thiết lập mối quan hệ giữa sự biến động của tỷ giá hối đoái và các chỉ số kinh tế quan trọng Nếu thiết lập được mối quan hệ này thì đây là dữ liệu cơ bản để các nhà phân tích sử dụng trong
dự đoán tỷ giá Có rất nhiều phương pháp phân tích được các nhà phân tích thị trường sử dụng trong kỹ thuật dự đoán tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, từ trước tới nay không một phương pháp nào được coi là thực sự hoàn thiện Các phương pháp phân tích khác nhau được kết quả ở từng khía cạnh khác nhau của từng vấn đề và thường không mấy khi thống nhất
Phân tích dựa trên cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán quốc tế là bảng đối chiếu giữa những khoản tiền mà nước ngoài trả cho một nước và những khoản tiền mà nước đó trả cho nước ngoài trong một thời gian nhất định
Cán cân thanh toán của một quốc gia tại một thời điểm có thể cân bằng, có thể bội thu hoặc thâm hụt Trường hợp bội thu hay thâm hụt sẽ dẫn đến hệ quả tài sản ngoại hối của một nước có thể giảm xuống hoặc tăng lên
do luồng ngoại hối chảy ra nước ngoài hoặc ngược lại Do đó, người ta cho rằng cán cân thanh toán phản ánh trực tiếp thực trạng kinh tế- tài chính của một quốc gia, quyết định cung cầu tiền tệ của quốc gia đó và như vậy ảnh hưởng trực tiếp đến biến động tỷ giá hối đoái
Phân tích dựa trên ngang giá sức mua
Ngược lại với phương pháp phân tích dựa trên cán cân thanh toán, thuyết ngang giá sức mua của các đồng tiền (PPP-Purchasing Power Parity) lại coi nguồn hàng luân chuyển giữa hai quốc gia là kết quả tỷ giá hối đoái và biến động tỷ giá là do chênh lệch sức mua các đồng tiền gây ra Thuyết ngang giá sức mua được sử dụng để tính toán tỷ giá hối đoái thực và để dự đoán biến động tỷ giá trên các thay đổi giá cả trong tương lai
Phân tích dựa trên danh mục đầu tư (Portfolio Approach)
Phương pháp phân tích dựa trên danh mục vốn tập trung vào lượng ngoại tệ đang nắm giữ của một quốc gia (số dư ngoại tệ tại từng thời điểm) chứ không quan tâm nhiều đến sự luân chuyển các luồng tiền tệ Người ta coi việc
so sánh tình trạng rủi ro ngoại hối thực tế với dự tính là cơ sở để tính toán khả năng điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư (quyết định đầu tư vào đồng tiền nào, khối lượng bao nhiêu) Trong phương pháp này, dự tính thị trường của
Trang 22các thành viên thị trường đóng vai trò chủ đạo, quyết định về phân bổ tài sản có của một nhà đầu tư dựa trên dự tính về lợi nhuận và độ an toàn của danh mục vốn đầu tư Nếu cho rằng các khoản đầu tư ngoại tệ là quá mạo hiểm trong mối tương quan với lợi nhuận mà chóng đem lại thì nhà đầu tư đó chắc chắn chỉ giữ một phần rất nhỏ tài sản của mình bằng ngoại tệ Trường hợp dự tính lãi suất ngoại tệ đáng kể mạo hiểm thì nhà đầu tư sẽ mở rộng hơn phần ngoại tệ trong danh mục vốn đầu tư của mình Những điều chỉnh tương tự như vậy được thực hiện rất linh hoạt chẳng hạn số lượng các chứng khoán ngoại tệ trong một danh mục vốn đầu tư của mình Những điều chỉnh tương tự như vậy được thực hiện rất linh hoạt chẳng hạn số lượng các chứng khoán ngoại tệ trong một danh mục đầu tư tăng từ 5% đến 10% trong vòng 1 tuần hoàn toàn không phải là bất thường Như vật sự luân chuyển ngoại
tệ do việc phân bổ hạng mục đầu tư gây ra có thể dẫn đến biến động tỷ giá mạnh và đột ngột Do đó, cần phải dự đoántrước được sự thay đổi này một cách chính xác tương đối để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ
Phân tích kỹ thuật
Ngược lại với phân tích cơ sở, phân tích kỹ thuật tập trung quan sát sự biến động của bản thân tỷ giá hối đoái Sự biến động của tỷ giá hối đoái trong quá khứ được coi là cơ sở duy nhất cho việc dự đoán tỷ giá tương lai Sự diễn biến giá cả hay tỷ giá theo thời gian được biểu diễn trên một đồ thị Chính vì lẽ
đó mà phương pháp phân tích này thường được coi là phương pháp phân tích
đồ thị Bằng cách sử dụng đồ thị, những thông tin quan trọng có thể dự đoán tình hình giá cả trong tương lai
Đồ thị được chia làm ba loại tuỳ theo việc biểu diễn biến động tỷ giá như thế nào:
+ Đồ thị biểu diễn theo đường
+ Đồ thị biểu diễn theo vạch
+ Đồ thị biểu diễn theo điểm và theo hình
b Quản trị rủi ro tỷ lệ lãi suất (tỷ lệ SWAP)
Như đã nói ở phần trên về rủi ro tỷ lệ lãi suất (hay rủi ro tỷ lệ SWAP)
thực chất là rủi ro xảy ra khi chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền tham gia vào giao dịch biến đổi bất lợi Trong trạng thái hối đoái SWAP, việc mua bán một đồng tiền có những ngày giá trị khác nhau do biến đổi của chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền làm cho tỷ lệ SWAP cũng biến đổi trái với dự kiến ban đầu sẽ gây thiệt hại cho nhà kinh doanh ngoại hối khi khối lượng
Trang 23ngoại tệ tham gia vào giao dịch lớn Chính vậy, để phòng ngừa các rủi ro về tỷ
lệ SWAP người ta dùng một số công cơ hiệu quả sau:
Hợp đồng lãi suất kỳ hạn (Foward Rate Agreement- FRA)
Khi ký một hợp đồng kỳ hạn cho một đồng tiền là chóng ta tạo khả năng ấn định trước lãi suất của đồng tiền đó cho một thời hạn trong tương lai Đây là hình thức hợp đồng lãi suất được kinh doanh trên thông tin liên ngân hàng, và được các ngân hàng sử dụng như một công cơ phòng tránh rủi ro lãi suất cho từng khối lượng tiền, đồng tiền hay thời gian nhất định nào đó Một hợp đồng lãi suất có kỳ hạn có thể được thực hiện với mọi đồng tiền chuyển đổi Số lượng tối thiểu với mọi đồng tiền vào khoảng 5 triệu đơn vị (ví
dụ 5 triệu JPY hay 5 triệu SGD) Đặc điểm của các hợp đồng lãi suất kỳ hạn là
ở chỗ không bao giờ có sự chuyển đồi tiền gốc mà chỉ có những khoản chênh lệch lãi suất được trả theo số lượng tiền gốc vào ngày thanh toán, lãi suất
áp dụng ở đây là lãi suất LIBOR
Ví dụ: một hợp đồng lãi suất kỳ hạn được yết thị: FRA 6 tháng trên 9 tháng, nghĩa là lãi suất nói đến ở đây là cho khoản tín dụng thời hạn 3 tháng được tính đúng theo yêu cầu nguyên tắc: lãi suất của toàn bộ thời kỳ phải ngang bằng với lãi suất trung bình của hai giai đoạn ngắn Có nghĩa là lãi suất cho 9 tháng phải tương đương với lãi suất cho 6 tháng trước khi FRA cũng như cho cả thời hạn 3 tháng của FRA
Thường thì chênh lệch lãi suất được trả ngay khi tính toán hợp đồng, nghĩa là ngay khi bắt đầu thời gian này Như vậy chênh lệch này được thực hiện bằng chiết khấu bởi vì thường phải trả lãi suất vào cuối thời hạn tín dụng Như vậy, một trạng thái rủi ro lãi suất có thể thực hiện phòng chống bằng cách ký kết hợp đồng lãi suất kỳ hạn tương ứng Lợi nhuận hay thua lỗ của trạng thái này sau đó được bù trừ bằng thua lỗ hay lợi nhuận qua thực hiện hợp đồng lãi suất kỳ hạn
Một nguyên tắc quan trọng ở đây là người vay tiền đề phòng tình trạng lãi suất cao hơn thì phải mua còn người đầu tư muốn tránh tình trạng lãi suất hạ thì phải bán FRA
Quyền lựa chọn lãi suất (Option on Interest Rate Future)
Ngoài việc áp dụng các hợp đồng lãi suất kỳ hạn , trên thị trường tiền
tệ, người ta có thể dùng công cô quyền chọn lãi suất để phòng ngừa rủi ro lãi suất Một quyền lựa chọn lãi suất trao sau đem lại cho người mua một quyền chứ không phải nghĩa vụ được hưởng (trong trường hợp quyền chọn mua hợp đồng lãi suất kỳ hạn- call option) hay trả (trong trường hợp quyền
Trang 24chọn bán hợp đồng lãi suất kỳ hạn- put option), lãi suất cơ sở theo thoả thuận (hay còn gọi là lãi suất ước định- strike rate) với thời hạn
ấn định trước
Có thể, là quyền được mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ trong một khoảng thời gian hoặc một thời điểm xác định trong tương lai với một tỷ giá thoả thuận ấn định tại một thời điểm giao dịch Nói một cách khác, giao dịch quyền chọn này cho người mua “quyền” (không phải nghĩa vụ) để mua hoặc bán một lượng ngoại hối nhất định vào hoặc trước ngày đến hạn tại một tỷ giá đã thoả thuận, đồng thời phải trả cho người bán “quyền” một khoản phí nhất định Khoản phí này hay còn được gọi là giá mua quyền (Premium) cũng giống như mọi giá cả thị trường khác do quan hệ cung-cầu chi phối Những yếu tố sau đây sẽ tác động đến quyền lựa chọn:
+ Chênh lệch lãi suất ước định và lãi suất thị trường hiện thời
+ Thời hạn của hợp đồng quyền chọn
+ Độ biến động của các lãi suất tham chiếu nhất định
Trong thực tế, quyền lựa chọn đối với hợp đồng lãi suất kỳ hạn được kinh doanh rất phổ biến, các trạng thái có thể được tất toán bất cứ lúc nào bằng nghiệp vụ đối ứng - closing out Các quyền chọn có thể được tất toán tự động vào ngày giao dịch cuối cùng Vào thời điểm này, chênh lệch mang dấu dương (positive) giữa giá ước định và giá hiện hành của hợp đồng lãi suất kỳ hạn đối với người mua, quyền sẽ được ghi có cho người mua hoặc ghi nợ tương ứng cho người bán “quyền” Trong trường hợp chênh lệch này mang dấu âm (negative) đối với người mua “quyền” thì quyền này hết hạn và không có giá trị
Quyền lựa chọn có 3 loại:
1 Quyền lựa chọn lãi suất trần (CAP): là công cụ phòng chống rủi ro khi lãi suất tối đa
2 Quyền lựa chọn lãi suất sàn (Floor): là công cô tránh rủi ro khi lãi suất hạ bằng cách ấn định lãi suất tối thiểu
3 Kết hợp các quyền lựa chọn lãi suất trên
1.4.2.2 Quản trị rủi ro tín dụng
Các ngân hàng quản trị rủi ro tín dụng bằng cách chọn lựa kỹ
bạn hàng, quy định hạn mức song phương cho khối lượng ngoại hối giao dịch, cũng như trong giao dịch với khách hàng đòi hỏi một khoản bảo hiểm theo tỷ
lệ phần trăm nhất định, thường là 20% so với số giao dịch trong hợp đồng
Trang 25Trong giao lưu với các ngân hàng, việc đòi hỏi bảo hiểm thường không phổ biến ở đây chỉ có thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro thông qua việc từ chối chuyển đổi nhằm hạn chế rủi ro, bằng cách các ngân hàng quy định hạn mức song phương mà họ chỉ mua bán trong phạm vi đó với các ngân hàng khác Khi giới hạn bị vi phạm thì nhưng thoả thuận tiếp theo phải bị từ chối, với chú thích
là đã hết định mức hoặc chỉ ra cho bạn hàng thấy rằng trong thời điểm đó ngân hàng không muốn ký thoả thuận tiếp với họ nữa (ví dụ như thông qua việc lập
ra một khoảng cách tỷ giá)
Trong thực tế, việc quy định hạn mức cũng biến động, khác nhau giữa các ngân hàng Trong một đồ án được sử dụng rộng rãi, người ta quy định “hạn mức cân đối ngoại hối” và cả hạn mức cho khối lượng của các giao dịch chưa thanh toán, nhất là trong kinh doanh kỳ hạn Hạn mức cân đối ngoại
tệ có mục đích hạn chế rủi ro trong cung ứng Nó đảm bảo rằng thời hạn thanh toán của kinh doanh ngoại hối trong từng ngày không vượt quá giới hạn cho phép Rủi ro tỷ giá hối đoái phát sinh từ việc cần thiết phải ký kết những nghiệp vô kinh doanh bỉ xung sẽ không bị hạn chế trực tiếp Điều này được tập hợp thông qua quy định hạn mức cho khối lượng của các giao dịch chưa thanh toán, mà ở đây chỉ lưu ý đến nghiệp vụ thời hạn hoặc nghiệp vụ giao ngay Tính chất hoàn chỉnh chỉ được đề cập khi các rủi ro tín dụng có thể bị loại trừ, nếu thoả thuận được với bạn hàng chỉ thanh toán trở lại sau khi đã nhận được giá trị đã thoả thuận Nhưng biện pháp này chỉ áp dụng trong trường hợp ngoại
lệ, tức là có nghi ngờ về uy tín thanh toán của bạn hàng hoặc đối với hợp đồng chuyển đổi có doanh số lớn
Rủi ro tín dụng có thể được giảm đáng kể nếu như hai khoản tiền phải trả của một hợp đồng được tất toán đồng thời Những điều này đòi hỏi lớn trong những thay đổi lớn trong tổ chức thanh toán quốc tế
- Xoá bỏ những gián đoạn trong thời gian vận hành của hệ thống thanh toán quy mô lớn
Liên kết các hệ thống thanh toán nhằm tiến đến “chung cuộc trong ngày” nghĩa là khoá sổ các giao dịch phát sinh trong cùng một ngày
Triển khai thực hiện các biện pháp này sẽ đòi hỏi những cải tổ căn bản trong các hệ thống thanh toán chủ chốt trong nước và sự cần thiết để tăng cường phối hợp giữa các ngân hàng trung ương, hạn chế việc bành chướng thanh toán ngoại hối của khu vực tư nhân
1.4.2.3 Quản trị rủi ro về khả năng thanh toán
Trang 26Rủi ro về khả năng thanh toán là rủi ro không thu được vốn khi cần, rủi
ro về khả năng thanh toán có thể lớn nếu duy trì một trạng thái hối đoái thực lớn và các đồng tiền giao dịch có khả năng chuyển đổi thấp và một khối lượng tiền quá lớn đến hạn thanh toán trong cùng một ngày Trong trường hợp này, nhà giao dịch có thể có khả năng bán tất cả đồng tiền cần thiết, nhà giao dịch buộc phải vay chúng trên thị trường tiền tệ tương ứng Điều này tỏ ra khó khăn, đặc biệt trong môi trường tỷ giá thả nổi trong đó không thể hy vọng với các ngân hàng sẽ mua hay bán ngoại tệ theo tỷ giá cố định Vì vậy, các hạn mức vốn luân chuyển áp dụng ở trên cũng phục vụ cho việc kiểm soát rủi ro về khả năng thanh toán trong các giao dịch này
1.5 Đặc trưng của hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động phức tạp chứa nhiều rủi ro Các rủi ro thường gặp là: rủi ro về giá và rủi ro về khả năng thanh toán
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường mở Vì vậy để thực hiện nó cần có cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại Đồng thời hoạt động này đòi hỏi nhà kinh doanh phải có đủ chuyên môn về nhiều lĩnh vực, có các kỹ năng nhất định và nhanh nhạy với thị trường để xác định những gì đang diễn ra trên thị trường, xác định được tỷ giá đang biến động theo hướng nào từ đó ra quýêt định hợp lí
1.5.1 Phân tích các hoạt động quản trị rủi ro KDNT
1.5.1.1 Phân loại theo chiều giao dịch bao gồm: nghiệp vụ mua vào và nghiệp vụ bán ra
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán hợp đồng ngoại thương;
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm mục đích thực hiện đầu tư nước ngoài trực tiếp hay gián tiếp;
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền có thể giảm rủi ro ngoại hối;
- Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính sự biến động của
tỷ giá
Hai hoạt động đầu tiên, ngân hàng thường thực hiện cho khách hàng để thu phí, và do đó, rủi ro ngoại hối ngân hàng không phải gánh chịu Hoạt động thứ ba, ngân hàng tiến hành nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối (phòng vệ),
Trang 27tức là nhằm giảm rủi ro ngoại hối Như vậy, rủi ro ngoại hối thực chất chỉ liên quan đến trạng thái ngoại hối mở (open position) đối với những hoạt động mua bán mang tính đầu cơ (unhedged position) tức là hoạt động thứ tư Trạng thái ngoại hối mở thường được thực hiện trong các giao dịch giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường ngoại hối và đặc biệt là đối với những ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư lớn là những ngân hàng tạo thị trường bằng cách niêm yết tỷ giá mua bán hai chiều “Bid – Ask” đối với ngoại tệ giao dịch
1.5.1.2 Phân loại theo nghiệp vụ kinh doanh bao gồm
* Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ giao ngay (SPOT)
Giao dịch hối đoái giao ngay là thoả thuận giữa hai bên về việc mua một đồng tiền và bán một đồng tiền khác tại một tỷ giá xác định với ngày thanh toán( hay ngày giá trị) thông thường là hai ngày kể từ khi kí hợp đồng
Như vậy trong mật hợp đồng giao ngay sẽ có các chi tiết như: ngày kí hợp đồng hay ngày giao dịch, ngày giá trị của hợp đồng, tỷ giá giao dịch và khối lượng giao dịch
Giao dịch giao ngay là loại hình giao dịch phổ biến nhất trên thị trường ngoại hối Tỷ giá trong giao dịch giao ngay có thể là tỷ giá được niêm yết sẵn trên thị trường còn đối với loại ngoại tệ không được niêm yết trực tiếp thì ngân hàng phải xác định tỷ giá bằng phương pháp tính chéo
Hàng ngày các nhà kinh doanh ngoại tệ của một ngân hàng phải theo dõi
số dư tài khoản kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng mình và lượng ngoại tệ mua vào bán ra để đánh giá tình trạng số dư tài khoản của từng loại ngoại
tệ Trường hợp số dư của một ngoại tệ quá cao hay quá thấp thì phải điều chỉnh ngay
Các ngân hàng tiến hành các giao dịch giao ngay theo nhu cầu của khách hàng và đầu cơ cho chính mình Khi ngân hàng dự đoán tỷ giá sẽ tăng trong thời gian tới nó sẽ mua ngoại tệ của một ngân hàng khác bằng một hợp đồng giao ngay sau đó khi ngoại tệ lên giá đúng như dự kiến nó sẽ bán ngay số ngoại tệ đã mua trước đó cũng bằng cách trao ngay Nếu dự đoán của ngân hàng là đúng thì ngân hàng sẽ có lãi còn nếu tỷ giá biến động theo xu hướng ngược lại thì ngân hàng sẽ bị lỗ Việc đầu cơ này có độ rủi ro cao và tương đối mạo hiểm nhưng đôi khi ngân hàng cũng vẫn thực hiện
Nghiệp vụ giao ngay là đảm bảo trôi chảy việc thanh toán ngoại tệ giữa các nước được ngân hàng thực hiện cho khách hàng và cho chính mình
* Kinh doanh chênh lệch tỷ giá
Trang 28Kinh doanh chênh lệch tỷ giá là việc tận dụng cơ hội giá cả không thống nhất giữa các thị trường nhằm mục đích kiếm lời mà không hề chịu rủi ro Nó liên quan đến việc mua ngoại tệ ở một thị trường và bán lại ở một thị trường khác nếu hai ngân hàng cùng yết tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra nhưng tỷ giá mua vào ở ngân hàng này lại lớn hơn tỷ giá bán ra ở ngân hàng kia thì có thể tận dụng cơ hội này để kinh doanh chênh lệch tỷ giá Như vậy việc làm này có thể được hiểu là mua ngoại tệ ở nơi rẻ và bán ra ở nơi đắt
+ Nghiệp vụ này thể hiện dưới hai dạng là kinh doanh giản đơn và kinh doanh phức tạp Kinh doanh giản đơn là chỉ tiến hành giao dịch trên hai thị trường còn kinh doanh phức tạp là tiến hành giao dịch trên ba thị trường trở lên tại cùng một thời điểm Nghiệp vụ này được áp dụng chủ yếu giữa các ngân hàng với nhau tuy nhiên trong thực tế các thành viên tham gia vào thị trường ngoại đều có thể kinh doanh, kể cả những nhà kinh tế có nguồn thu ngoại tệ cao, muốn kiếm lời khi phát hiện ra thị trường này có thể yêu cầu ngân hàng nơi họ có tài khoản thực hiện nghiệp vụ acbit cho họ Đây thường là những người rất nhanh nhạy với thị trường Ngân hàng khi đó sẽ thực hiện nghiệp vụ acbit với tư cách là thực hiện theo yêu cầu của khách hàng và thu phí
* Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có kỳ hạn (FORWARD)
- Định nghĩa: Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có kì hạn là một thỏa thuận giữa hai bên về việc thực hiện một giao dịch ngoại tệ trong đó các yếu tố của giao dịch như tỷ giá, trị giá hợp đồng, ngày giá trị được xác định tại thời điểm giao dịch nhưng việc thực hiện chúng lại là một thời điểm khác trong tương lai
Tỷ giá kì hạn được xác định thông qua tỷ giá giao ngay và lãi suất của các đồng tiền trên thị trường Tỷ giá kì hạn được tính sao cho nó bù đắp được chênh lệch lãi suất có thể thực hiện giữa hai đồng tiền giao dịch Tỷ giá kỳ hạn thường thấp hơn hoặc cao hơn tỷ giá giao ngay Công thức:
Tỷ giá kỳ hạn = tỷ giá giao ngay + ( hoặc trừ ) phần chênh lệch(PCL)
Tỷ giá giao ngay×số ngày×chênh lệch lãi suất cùng kỳ hạn PCL
=
360×100
Trang 29
Sự chênh lệch về lãi suất ngắn hạn giữa hai đồng tiền mua bán được lợi dụng như một nghiệp vụ acbit về lãi suất Theo đó các ngân hàng dùng bản tệ để mua số ngoại tệ cần thiết theo tỷ giá thanh toán ngay để gửi các ngân hàng nước ngoài trong một thời hạn nhất định và đồng thời bán số ngoại tệ đó theo tỷ giá có kì hạn Thời hạn này chính bằng thời hạn của khoản tiền gửi tại nước ngoài Vào ngày đến hạn, ngân hàng sẽ rút khoản ngoại hối gửi tại nước ngoài và thanh toán cho người mua
số ngoại hối đã thoả thuận
Tuy nhiên chức năng kinh tế chủ yếu của nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
có kì hạn là tránh rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại thương Thông qua việc thoả thuận một nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có kì hạn với ngân hàng, cả người xuất khẩu lẫn người nhập khẩu đêù có thể tính toán trước được hiệu qủa kinh doanh của mình Việc đảm bảo chống lại rủi ro về tỷ giá được thể hiện ở chỗ những khoản ngoại tệ trong tương lai mới thu về hoặc mới cần đến không phải được tính toán bằng tỷ giá giao ngay tại thời điểm đó được xác định ngay vào lúc nghiệp vụ có kì hạn được thoả thuận Với tư cách là một công cụ phòng chống rủi ro, hợp đồng kì hạn được dùng để cố định một khoản thu nhập hay chi trả trong tương lai theo một tỷ giá đã biết trước bất kể sự biến động của thị trường Có nghĩa là khi mua ngoại tệ có kì hạn, nhà nhập khẩu sẽ được bảo hiểm rủi ro trong trường hợp tỷ giá tăng, bằng cách dùng đồng bản tệ mua trước một khoản ngoại tệ trong tương lai mà chưa cần giao ngay số bản tệ Ngựơc lại bán ngoại tệ có kì hạn cho phép các nhà xuất khẩu bán trước một khoản ngoại tệ mà họ sẽ nhận được nhằm loại trừ rủi ro xảy ra khi tỷ giá ngoại
tệ giảm giữa thời điểm ký hợp đồng và thời điểm thanh toán hợp đồng
Giao dịch ngoại tệ có kỳ hạn còn được sử dụng nhằm mục đích đầu cơ của các ngân hàng Hầu hết nó phát sinh khi người ta chờ đợi biến động về tỷ giá giữa các đồng tiền trong thời gian sắp tới hoặc khi một loại tiền tệ bị mất giá trầm trọng do khủng hoảng chính trị Hậu quả là có sự dịch chuyển ồ ạt từ loại tiền tệ yếu sang loại tiền tệ được xem là chắc chắn hơn và điều đó dẫn đến
tỷ giá kỳ hạn của ngoại tệ yếu giảm một cách mạnh mẽ so với bình thường
Tóm lại: Việc thoả thuận một nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có kỳ hạn được thực hiện hôm nay
Việc hoàn tất nghiệp vụ này được thực hiện sau một thời gian nhất định Những thời hạn phổ biến là: 1, 2, 3, 6, 12 tháng
* Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ hoán đổi (SWAP)
Trang 30- Định nghĩa: Nghiệp vụ SWAP là nghiệp vụ mua bán đồng thời một khoản tiền nhất định theo tỷ giá giao ngay và tỷ giá kì hạn, do đó ngày giá trị của hai giao dịch là khác nhau
+ Nghiệp vụ hoán đổi là một nghiệp vụ đặc biệt kết hợp giữa nghiệp vụ giao ngay và nghiệp vụ kỳ hạn Ngân hàng đồng thời thực hiện một giao dịch theo
tỷ giá giao ngay và một giao dịch theo tỷ giá kì hạn theo hướng ngược lại với cùng một bạn hàng và cùng một khoản tiền
+ Ví dụ: một ngân hàng dùng EURO mua USD của một ngân hàng khác theo tỷ giá thanh toán ngay, đồng thời bán luôn cho ngân hàng đó số USD trên theo
tỷ giá có kì hạn để thu ERO Hoặc người ta cũng có thể thực hiện theo hướng ngược lại Nghĩa là ngân hàng bán USD cho một ngân hàng khác theo tỷ giá thanh toán ngay đồng thời mua lại của ngân hàng đó số USD theo tỷ giá có kì hạn Nói chung nghiệp Swap được xem là việc trao đổi ngoại tệ có các kì hạn thanh toán khác nhau
Sự chênh lệch giữa tỷ giá mua bán ngay và tỷ giá mua bán có kì hạn được gọi là mức SWAP
Tỷ giá giao ngay×chênh lệch lãi suất×thời hạn/360 Mức Swap
1+lãi suất nội tệ × thời hạn/360
Trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ giao ngay hay có kì hạn, ngân hàng chỉ hoạt động một chiều để phục vụ khách hàng, điều đó nghĩa là ngân hàng mua hoặc bán ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay hoặc tỷ giá kì hạn mà không đồng thời thoả thuận với khách hàng nghiệp vụ đối ứng bán hoặc mua lại Do
đó ngân hàng không tự cân bằng được trạng thái ngoại tệ của mình mà luôn đối mặt với rủi ro về trạng thái ngoại tệ Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ có thể khắc phục được rủi ro trên
Trong giao dịch Swap số tiền mua và bán luôn bằng nhau nên không làm thay đổi trạng thái ngoại tệ của ngân hàng Đồng thời nghiệp vụ này cũng
là một công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá của ngân hàng khi mà tỷ giá thay đổi ngựơc với dự đoán
Nghiệp vụ Swap có ưu điểm hơn nghiệp vụ giao ngay và nghiệp vụ kì hạn trong một số trường hợp sau: một doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu Doanh nghiệp này vừa nhận được một khoản thu ngoại tệ từ xuất khẩu và muốn đổi lượng ngoại tệ này ra nội tệ để tiếp tục đầu tư vào sản xuất kinh doanh và chi trả trong nước Đồng thời doanh nghiệp cũng có nhu cầu về
Trang 31ngoại tệ trong thời gian tới để thanh toán lô hàng nhập khẩu Thay vì kí kết hợp đồng để bán ngoại tệ giao ngay và mua ngoại tệ bằng hợp đồng kì hạn, doanh nghiệp này sẽ sử dụng hợp đồng Swap Như vậy doanh nghiệp sẽ vừa tránh được rủi ro tỷ giá vừa giảm chi phí giao dịch phải trả cho ngân hàng khi chỉ dùng một hợp đồng Swap thay cho hai hợp đồng riêng biệt
Đối với Ngân hàng thương mại, Swap là công cụ hữu hiệu tạo ra trạng thái vốn của hai đồng tiền mà không làm ảnh hưởng tới trạng thái ngoại hối
Vì vậy giao dịch này thường được các ngân hàng thực hiện với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng một đồng tiền nhất định mà không phải đi vay trên thị trường Nghiệp vụ Swap còn giúp các ngân hàng cân bằng được tình trạng mất cân đối về hối đoái trong các nghiệp vụ nhận gửi và cho vay
* Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ theo hợp đồng tương lai (FUTURE)
Kinh doanh ngoại tệ tương lai là một thoả thuận mua bán một số lượng
ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao ngoại được thực hiện vào một ngày trong tương lai
Qua định nghĩa thì hợp đồng tương lai có điểm giống hợp đồng kì hạn
đó là tỷ giá được xác định tại thời điểm giao dịch nhưng việc thực hiện hợp đồng lại là một thời điểm trong tương lai Tuy nhiên nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ theo hợp đồng tương lai ra đời sau nghiệp vụ kì hạn và có một số điểm khác biệt:
Về loại ngoại tệ giao dịch: hợp đồng kì hạn áp dụng đối với tất cả các loại
ngoại tệ còn hợp đồng tương lai chỉ giới hạn cho một lố loại ngoại tệ: GBP, CAD,
JPY, CHF, AUD
Về thời hạn giao dịch: các bên tham gia hợp đồng kì hạn có thể lựa chọn
bất kì thời hạn nào, thường là hệ số của 30 ngày nhưng trong hợp đồng tương lai
chỉ có một vài ngày giá trị nhất định trong một năm: ngày thứ tư của tuần thứ ba các tháng 3,6,9,12
Về trị giá của giao dịch: trị giá giao dịch kì hạn thường rất lớn còn trị giá của giao dịch tương lai được qui định là bội số của một con số nào đó theo từng
loại ngoại tệ cụ thể, trị giá của hợp đồng tương lai có thể nhỏ đủ để thu hút
nhiều người tham gia
Về việc thực hiện hợp đồng: việc thực hiện hợp đồng đối với giao dịch
kì hạn là bắt buộc vào thời điểm đến hạn của hợp đồng, trong khi chủ thể của hợp đồng giao sau có thể chuyển nhượng hợp đồng vào bất cứ thời điểm nào
trước khi đến hạn Nói chung hợp đồng tương lai ít khi tồn tại cho đến lúc đến
Trang 32hạn của hợp đồng, theo số liệu thống kê thông thường, chỉ có 2% số hợp đồng được duy trì đến thời điểm cuối
Tóm lại hợp đồng tương lai thực chất chính là hợp đồng kì hạn được tiêu
chuẩn hoá về loại ngoại tệ giao dịch, khối lượng ngoại tệ giao dịch và ngày được chuyển giao ngoại tệ
Ngoài ra hợp đồng tương lai còn có một đặc điểm nổi bật đó là tính
thanh khoản cao Măc dù hợp đồng kì hạn rất linh hoạt về phương diện thời hạn
và loại ngoại tệ, số tiền giao dịch nhưng chúng hạn chế về mặt thanh khoản bởi
vì các bên tham gia hợp đồng không thể bán hợp đồng khi thấy có lời cũng
không thể xoá bỏ hợp đồng khi thấy bất lợi Trong khi đó hợp đồng tương lai
có tính thanh khoản cao hơn vì người mua hợp đồng tương lai có thể chuyển nhượng hợp đồng vào bất cứ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng Người mua hợp đồng tương lai luôn phải có một khoản kí quỹ tại sở giao dịch Tài khoản kí quĩ được điều chỉnh hàng ngày theo mức lãi hay mức lỗ của hợp đồng Nếu tỷ giá giao ngay của ngày hôm nay lớn hơn tỷ giá thoả thuận thì người có hợp đồng tương lai được hưởng một khoản lãi và được ghi tăng tài khoản kí quỹ còn nếu tỷ giá thấp hơn tỷ giá trong hợp đồng thì tài khoản kí quĩ
sẽ ghi giảm Nếu tài khoản kí quĩ giảm xuống dưới mức qui định thì khách hàng có hợp đồng giao sau sẽ phải nộp thêm tiền vào để tiếp tục duy trì hợp đồng
Hợp đồng tương lai là một công cụ dùng để đầu cơ và tránh được rủi ro
tín dụng nhờ biện pháp kí quĩ còn nó không thực sự có ý nghĩa trong việc phòng chống rủi ro hối đoái
* Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ theo hợp đồng quyền chọn (OPTION)
+ Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bằng quyền chọn là một sự thoả thuận bằng hợp đồng giữa người mua và người bán về quyền chọn mua( call- option) hoặc quyền chọn bán( put-option) một loại ngoại tệ nhất định với một khối lượng nhất định theo một tỷ giá cố định vào một thời điểm cụ thể trong tương lai
Người mua quyền có quyền chứ không phải là nghĩa vụ mua hay bán một loại ngoại tệ nào đó Do đó người mua quyền phải trả cho người bán quyền một lượng tiền nhất định, đó là giá của quyền mua hoặc quyền bán Từ đó sinh
ra một thị trường thứ hai là thị trường mua bán các quyền chọn mua và quyền chọn bán Người mua quyền chọn cũng có thể không thực hiện quyền của mình nếu thấy bất lợi Nếu huỷ hợp đồng người mua sẽ mất tiền đã bỏ ra để mua quyền nhưng nếu thực hiện thì họ còn bị mất một lượng lớn hơn rất nhiều tương đương với trị giá hợp đồng Người bán quyền chọn có nghĩa vụ thực hiện
Trang 33hợp đồng nếu người mua muốn Theo quyền chọn kiểu Mỹ thì việc thực hiện giao dịch có thể được tiến hành vào bất kì thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực hợp đồng Còn đối với quyền chọn Châu Âu thì việc thực hiện giao dịch chỉ được tiến hành vào ngày đến hạn của hợp đồng
+ Quyền chọn mua
Người mua quyền chọn mua ngoại tệ có quyền chọn mua một lượng ngoại tệ cụ thể theo tỷ giá cố định từ trước vào ngày đến hạn hợp đồng Để giành được quyền chọn đó anh ta phải trả cho người bán một khoản tiền đảm bảo ngay khi kí hợp đồng
Quyền chọn mua thường được các nhà nhập khẩu dùng để đảm bảo sẽ mua được lượng ngoại tệ trong tương lai với tỷ giá biết trước Vào ngày đến hạn của hợp đồng nếu tỷ giá tăng anh ta sẽ thực hiện quyền chọn mua của mình
và người bán có nghĩa vụ cung cấp một lượng ngoại tệ với tỷ giá như đã thoả thuận Còn nếu tỷ giá giảm anh ta sẽ huỷ bỏ hợp đồng và mua ngoại tệ trên thị trường, người bán quyền sẽ được hưởng khoản chi phí mua quyền Phần lỗ của nhà nhập khẩu là giá của quyền chọn mua
+ Quyền chọn bán
Người mua quyền chọn bán có quyền bán một lượng ngoại tệ nhất định theo một tỷ giá cố định vào ngày đến hạn hợp đồng và cũng phải trả cho người bán một khoản tiền nhất định ngay khi kí hợp đồng
Quyền chọn bán thường được các nhà xuất khẩu áp dụng Vào thời điểm đến hạn của hợp đồng nếu tỷ giá trên thị trường thấp hơn tỷ giá trên hợp đồng thì người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện hợp đồng và người bán quyền chọn bán có nghĩa vụ phải mua số ngoại tệ tại tỷ giá như đã thoả thuận còn nếu lúc
đó tỷ giá trên thị trường cao hơn tỷ giá trong hợp đồng thì người có quyền chọn
sẽ huỷ bỏ hợp đồng mà bán ngoại tệ ra thị trường , bỏ qua phí quyền chọn và người bán quyền là người được hưởng số tiền đó
Như vậy hợp đồng quyền chọn là công cụ đảm bảo tỷ giá thực sự cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu và các nhà đầu tư
Các ngân hàng thường là bên bán quyền chọn và họ là người đưa ra các loại phí cho quyền chọn bán và quyền chọn mua vừa đảm bảo sự có lợi cho ngân hàng và tính cạnh tranh trên thị trường
So với nghiệp vụ kì hạn và nghiệp vụ Swap thì nghiệp vụ quyền chọn có
ưu điểm hơn ở chỗ:
Trang 34Tóm lại nghiệp vụ quyền chọn về ngoại tệ không những phòng chống rủi ro do sự biến động tỷ giá mà còn tận dụng được các cơ hội của thị trường để kiếm lời do đó rất phổ biến trên thị trường ngoại hối quốc tế và được các ngân hàng sử dụng ngày càng nhiều Tuy nhiên để sử dụng nghiệp vụ này đòi hỏi một thị trường phát triển tương đối hoàn chỉnh, các chủ thể tham gia thị trường
có khả năng phân tích dự đoán sự biến động thị trường
1.5.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ của NHTM
Hoạt động của một ngân hàng ảnh hưởng rất nhiều tới toàn bộ nền kinh
tế vì nó đáp ứng được nhu cầu cho nền tảng của mọi hoạt động đó là vốn Trong đó kinh doanh ngoại tệ cũng đóng một vai trò không nhỏ vì nó gắn bó chặt chẽ với nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân Nhưng cũng chính từ nhu cầu khác nhau của nền kinh tế thì hoạt động kinh doanh ngoại tệ mới có điều kiện tồn tại và phát triển Mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng của mình thể hiện sức mạnh của nền kinh tế và khả năng tài chính của mỗi quốc gia
đó thông qua sức mạnh đồng tiền mà quốc gia sử dụng và thế giới biết đến Các nước lại có quan hệ kinh tế với nhau và phát triển trong sự hợp tác, hoà nhập Kinh nghiệm cho thấy không một quốc gia nào có thể tự phát triển một cách riêng rẽ Từ nguyên lí chung đó thương mại quốc tế dựa trên lí thuyết về lợi thế
so sánh ra đời và ngày càng phát triển Không những chỉ buôn bán hàng hoá trong và ngoài nước, các chính sách mở cửa thu hút đầu tư từ nước ngoài vào ngày càng nhiều dẫn đến đầu tư quốc tế tăng đáng kể trong một số năm gần đây Đây là hai nhân tố chính tạo điều kiện cho kinh doanh ngoại tệ ra đời và
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có kì
hạn, Swap
Nghiệp vụ quyền chọn mua bán ngoại tệ
Vào ngày đến hạn cả hai bên đều phải
thực hiện hợp đồng
Vào ngày đến hạn người mua quyền chọn có thể thực hiện hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã kí để tận dụng những cơ hội thị trường lúc đó
Tỷ giá phụ thuộc vào sự tăng giảm lãi
suất của các loại ngoại tệ tham gia
Tỷ giá được xác định trước, là sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng Không phải trả phí Luôn phải trả phí quyền chọn mua hoặc
quyền chọn bán cho người bán quyền chọn
Trang 35tồn tại Thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế là biểu hiện của một nền kinh tế mở_ bối cảnh cho kinh doanh ngoại tệ phát triển
1.5.2.1 Nhân tố nội tại của ngân hàng
Đây là những nhân tố thuộc về chủ quan của mỗi ngân hàng như: cơ sở vật chất, trình độ cán bộ, nhân viên ngân hàng, chiến lược kinh doanh, mục tiêu phát triển, uy tín và khả năng tài chinh của ngân hàng, mạng lưới khách hàng
Vì là những nhân tố chủ quan nên ngân hàng có thể thường xuyên kiểm soát được
Hoạt động quản trị kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động phức tạp và là một trong những nghiệp vụ của một ngân hàng hiện đại nên nó đòi hỏi một sự đầu tư lớn cả về con người lẫn công nghệ Về mặt công nghệ, nó đòi hỏi phải
có mạng cập nhật và xử lý thông tin hiện đại Về mặt con người nó đòi hỏi phải
có trình độ cao, kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn tương đối vững, có khả năng nắm bắt và phân tích thị trường linh hoạt, nhanh nhạy để có những quyết định phù hợp nhất đông thời cũng cần có những nhân viên giao dịch có khả năng thu hút khách hàng và tạo hình ảnh tốt cho ngân hàng trong nhận thức của khách hàng
Chiến lược quản trị kinh doanh của hoạt động kinh doanh ngoại tệ cũng phải phù hợp với mục tiêu phát triển chung của ngân hàng Đó là tăng khả năng sinh lợi, an toàn trong kinh doanh và tăng sức mạnh trong cạnh tranh Chiến lược này cũng nằm trong chiến lược tổng hợp cua rmột ngân hàng, do đó có mối quan hệ tác nghiệp với các chiến lược hoạt động khác như hoạt động tín dụng, thanh toán quốc tế… giúp cho các hoạt động ngân hàng phát triển đồng
bộ và có hiệu quả
Rất nhiều nghiệp vụ khác của Ngân hàng thương mại liên quan đến ngoại tệ ngoài hoạt động kinh doanh ngoại tệ như: huy động vốn bằng ngoại tệ, cho vay ngoại tệ, thanh toán quốc tế… Các nghiệp vụ này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, do đó phát triển nghiệp vụ này sẽ có điều kiện phát triển
và mở rộng nghiệp vụ khác Trong đó hoạt động thanh toán quốc tế và cho vay ngoại tệ có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ
1.5.2.2 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái
Trong nền kinh tế mở mỗi chính phủ phải quyết định việc lựa chọn chế
độ tỷ giá là như thế nào: cố định, thả nổi hoàn toàn hay thả nổi có điều tiết Trong mỗi quyết định về chế độ tỷ giá thì đòi hỏi phải có những chính sách kinh tế phù hợp để đạt được những mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế Tuy nhiên
Trang 36những chính sách đó cũng có tác động rất lớn đến tỷ giá Nói cách khác giữa tỷ giá hối đoái và các biến số vĩ mô khác trong nền kinh tế có mối quan hệ tác động nhiều chiều với nhau Tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở cung cầu về ngoại tệ Một số yếu tố cơ bản tác động lên tỷ giá hối đoái là: lạm phát, trạng thái cán cân thanh toán quốc tế, chênh lệch lãi suất giữa các nước, cá cú sốc chính trị, khủng hoảng kinh tế, thói quên nắm giữ tiền của người dân Một biến động nhỏ của tỷ giá cũng ảnh hưởng lớn tới hoạt động của nền kinh tế như: tỷ giá tăng hay đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ sẽ làm tăng cạnh tranh trong thương mại quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài làm cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ phát triển, nhưng đồng thời cũng có thể dẫn đến phá giá đồng nội tệ Từ đó chính phủ lại phải có biện pháp để nâng giá nội tệ lên bằng cách mua ngoại tệ vào Tất cả các nhân tố tác động lên tỷ giá hối đoái đều có tác động, chi phối đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng thương mại và của thị trường ngoại hối làm thêm phần sôi động của hoạt động mang tính chất quốc tế này Do đó có thể nói biến động của tỷ giá hối đoái có tác động rất sâu sắc tới hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ
đó Trường hợp đặc biệt, Thống đốc Ngân hàng nhà nước có thể xem xét cho phép tổ chức tín dụng được duy trì trạng thái ngoại tệ vượt quá giới hạn quy định Các tổ chức tín dụng kinh doanh ngoại hối sẽ phải gửi báo cáo cho Ngân hàng nhà nước về trạng thái ngoại tệ ngày hôm trước vào trước 13h ngày làm việc hôm sau và báo cáo trạng thái ngoại tệ tháng trước ngày 10 tháng tiếp sau Quyết định này áp dụng cho tất cả các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối tại Việt Nam, trừ các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động mua bán liên quan đến các đồng tiền nên chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi nước Thực tế cho thấy các quốc gia có nền kinh tế phát triển là quốc
Trang 37gia có mối quan hệ kinh tế đa dạng với các nước do đó hoạt động ngoại hối hay hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở quốc gia đó cũng rất phát triển Sự phát triển này ban đầu nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các hoạt động trong nền kinh
tế như thương mại và đầu tư nước ngoài, mặt khác đến một trình độ nào đó các ngân hàng sẽ tham gia vào thị trường ngoại hối quốc tế, kinh doanh cho chính mình để kiếm lời và bảo hiểm rủi ro Còn ở các nước đang phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ nói chung còn đơn giản, nhu cầu giao dịch ngoại tệ không lớn, trình độ thành viên tham gia thị trường hạn chế
Một quốc gia có tình hình kinh tế, chính trị ổn định sẽ tạo môi trường tốt thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển và các hoạt động tài chính tiền tệ cũng trở nên sôi động hơn Đồng bản tệ của quốc gia cũng có giá trị hơn và ổn định trên thị trường, giành được một tỷ giá hối đoái thuận lợi trong giao dịch kinh doanh ngoại tệ với nước ngoài Hoạt động ngoại thương phát triển dẫn đến hoạt động thanh toán quốc tế phát triển, góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ vì buôn bán với nước ngoài là bộ phận lớn tuyệt đối trong việc cung và cầu ngoại tệ Ngược lại một quốc gia có nền kinh tế không ổn định, tình hình chính trị phức tạp sẽ kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế và làm giảm sút hiệu quả việc buôn bán quốc tế, gây tâm lí lo ngại cho các nhà đầu tư Lúc đó, mọi yếu tố như cung cầu ngoại tệ, sự biến động của tỷ giá và sự tồn tại của thị trường hối đoái sẽ không còn ý nghĩa sâu sắc nữa Do đó có thể nói biến động của tình hình kinh tế chính trị xã hội
có tác động sâu xắc tới hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ
Trang 38Chương II : THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA CÁC CHI NHÁNH NHTMCP CÔNG THƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1 Khái quát về tình hình kinh doanh của NH TMCP Công Thương Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NH TMCP Công Thương Việt Nam
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam là một trong những ngân hàng thương mại quốc doanh đầu tiên của hệ thống ngân hàng Việt Nam, được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Sau hơn 20 năm thành lập và trưởng thành, toàn bộ hệ thống VietinBank Việt Nam
đã góp phần tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước nói chung và cho ngành ngân hàng nói riêng Cho đến nay, VietinBank đã có một hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 1 Hội sở chính, 1 Sở Giao dịch, 3 đơn vị sự nghiệp, 2 văn phòng đại diện, 149 chi nhánh cấp 1, 892 điểm/ phòng giao dịch
và 56 quỹ tiết kiệm tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước
Tại ngày 31 tháng 12 năm 2010, Ngân hàng có công ty hoạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính TNHH một thành viên, Công ty Cổ phần Chứng khoán, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản, Công ty TNHH một thành viên Bảo hiểm, Công ty TNHH một thành viên vàng bạc đá quý, Công ty TNHH một thành viên quản lý quỹ và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin, Trung tâm Thẻ và Trường Đào tạo & Phát triển nguồn nhân lực VietinBank còn là sáng lập viên và đối tác liên doanh của Ngân hàng INDOVINA, là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội các ngân hàng Châu Á, Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), Tổ chức Phát hành và Thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế
Hiện nay, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam Với hệ thống công nghệ thông tin hiện đại không ngừng được nâng cấp, cải tiến, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam đã đem lại cho khách hàng sự tiện lợi trong việc giao dịch trực tuyến qua các dịch
vụ như: thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống rút tiền tự động ATM 24/24h Đồng thời, với chính sách phát triển luôn luôn chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam ngày càng khẳng định mình là một hệ thống ngân hàng đứng đầu trong cả nước và cả trên trường quốc tế
Trang 392.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Công Thương
Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Công thương
(Nguồn Vietinbank)
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Trụ sở chính
Trang 40Sơ đồ 2.3: Sơ đồ bộ máy tổ chức điều hành của Sở giao dịch, chi nhánh cấp 1, cấp 2
(Nguồn Vietinbank)
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam là một trong những đơn vị đứng đầu của hệ thống các ngân hàng thương mại quốc doanh và cổ phần, vì vậy Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam luôn luôn đặt ra các nhiệm vụ,
- Phát huy lợi thế sẵn có về kinh doanh quốc tế
- Mở rộng, phát triển mạng lưới và dịch vụ ngân hàng bán lẻ, phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng dựa trên các nền tảng công nghệ hiện đại
- Cơ cấu lại tổ chức theo mô hình hướng tới khách hàng là mục tiêu chính của ngân hàng, nắm bắt các nhu cầu cụ thể của khách hàng, đơn giản hoá các thủ tục, kết hợp các sản phẩm chất lượng và tiện ích cao
- Nâng cao năng lực cán bộ, tổ chức điều hành phù hợp với mục tiêu kinh doanh, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng
- Phát huy vai trò chủ đạo trên thị trường tiền tệ, hoạt động xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ