Đã có nhiều bài báo cũng như những công trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng chủ yếu đề cập đến việc thực hiện pháp luật cạnh tranh nói chung, hoặc đề cập đến từng vấn đề về cạnh tranh,
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ GIÁ CƯỚC, KHUYẾN MẠI ĐẢM BẢO CẠNH
TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM -
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
HỒ HỒNG HẢI
Trang 2Hà Nội - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁP LUẬT VỀ GIÁ CƯỚC, KHUYẾN MẠI ĐẢM BẢO CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM -
Trang 3TS ĐỒNG NGỌC BA
HÀ NỘI - 2016
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Đồng Ngọc Ba Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các ví dụ phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn
và chú thích nguồn gốc Trường hợp phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Viện Đại Học
Mở Hà Nội không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi đưa ra trong nội dung nghiên cứu khoa học này (nếu có)
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2016
Tác giả
Hồ Hồng Hải
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Qua 2 năm học tập và rèn luyện sau đại học tại Viện Đại học mở Hà Nội, được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình của Quý thầy cô, đặc biệt là các thầy cô làm việc tại Khoa Sau Đại học, chuyên ngành Luật Kinh tế đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức cả về lý thuyết lẫn thực tiễn trong suốt quá trình học tập ở trường Cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Từ những kết quả đạt được này, tôi xin chân thành cám ơn: Quý thầy
cô giáo Viện Đại học mở Hà Nội, thầy cô giáo Khoa Sau đại học, ngành Luật Kinh tế của Viện Đại học mở Hà Nội và Trường Đại học Luật Hà Nội Đặc biệt, Tiến sỹ Đồng Ngọc Ba đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp này Sau cùng, cho phép tôi cảm ơn gia đình, bạn bè, anh chị
em đã giúp đỡ, ủng hộ tôi rất nhiều trong toàn bộ quá trình học tập cũng như nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Do kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót trong cách hiểu, lỗi trình bày Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và Ban lãnh đạo, để báo cáo tốt nghiệp đạt được kết quả tốt hơn
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2016
Tác giả
Hồ Hồng Hải
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
WTO : World Trade Organization, Tổ chức Thương mại Quốc tế TPP : Trans-Pacific Partnership Agreement, Hiệp định đối tác
xuyên Thái bình dương VMS-MobiFone Vietnam Mobile Telecom Services Company, Công ty
Thông tin Di động Việt Nam 3G : Third-generation technology, Công nghệ truyền thông thế hệ
thứ ba 4G : Fourth-generation, Công nghệ truyền thông không dây thứ tư
VNPT : Vietnam Posts and Telecommunications Group, Tập đoàn
Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT-Vinaphone : Tổng công ty dịch vụ viễn thông
Viettel : Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Gtel Mobie : Công ty Cổ phần Viễn Thông Di Động Toàn Cầu
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH 5
1.1 Khái niệm cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh 5
1.1.1 Khái quát chung về cạnh tranh 5
1.1.2 Pháp luật và thực hiện pháp luật về cạnh tranh 8
1.1.3 Quan điểm, cách nhìn nhận về cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam 11
1.2 Thực trạng cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam 12 1.2.1 Thực trạng về cạnh tranh ở Việt Nam 12
1.2.2 Thực trạng điều chỉnh pháp luật có liên quan đến cạnh tranh 17
1.2.3 Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông tại Việt Nam 26
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIÁ, CƯỚC, KHUYẾN MẠI CỦA VIỆT NAM 29
2.1 Đánh giá thị trường viễn thông Việt Nam 29
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các doanh nghiệp viễn thông 29
2.1.2 Môi trường pháp lý. 31
2.1.3 Quy định hiện hành về quản lý giá cước viễn thông tại Việt Nam 34
2.1.4 Quy định về quản lý giá cước viễn thông tại Luật Viễn thông 37
2.1.5 Quy định về quản lý giá cước viễn thông tại Nghị định 25/2011/NĐ-CP 39
2.1.6 Quy định về quản lý giá cước tại Luật Giá 43
2.1.7 Quy định về xử phạt các hành vi vi phạm quy định về giá cước viễn thông tại Nghị định 174/2013/NĐ-CP 45
2.1.8 Quy định về quản lý giá cước dịch vụ viễn thông tại Quyết định 39/2007/QĐ-TTg 47
Trang 82.1.9 Phân tích tổng hợp 50
2.2 Thực trạng quản lý khuyến mại dịch vụ viễn thông tại Việt Nam 52
2.2.1 Nội dung quản lý khuyến mại viễn thông tại Việt Nam 52
2.2.2 Các hình thức khuyến mại 53
2.2.3 Ảnh hưởng của khuyến mại dịch vụ 57
2.3 Đánh giá hành vi cạnh tranh bằng giá cước, khuyến mại của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam 60
CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ GIÁ, CƯỚC VÀ KHUYẾN MẠI TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG 65
3.1 Kinh nghiệm về quản lý cạnh tranh viễn thông của Nhật Bản 65
3.2 Kinh nghiệm về quản lý cạnh tranh viễn thông của Mỹ 67
3.3 Kinh nghiệm quản lý giá cước viễn thông của Trung Quốc 68
3.4 Kinh nghiệm quản lý giá cước viễn thông của Australia 70
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT QUẢN LÝ GIÁ CƯỚC, KHUYẾN MẠI ĐẢM BẢO CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰCVIỄN THÔNG 76
4.1 Quản lý về nội dung 76
4.2 Các biện pháp quản lý cạnh tranh của Nhà nước đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ di động nước ngoài 79
4.3 Đề xuất các hình thức đăng ký, thông báo chương trình khuyến mại bắt buộc với các doanh nghiệp viễn thông 82
4.3.1 Thực hiện đăng ký chương trình khuyến mại: 82
4.3.2 Thực hiện thông báo chương trình khuyến mại: 83
4.5 Đề xuất các cơ sở quản lý hoạt động khuyến mại 84
4.5.1 Về nhãn hiệu dịch vụ viễn thông cố định mặt đất phân biệt theo từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 85
4.5.2 Về nhãn hiệu dịch vụ thông tin di động mặt đất toàn quốc, nhãn hiệu hàng hoá chuyên dùng thông tin di động mặt đất toàn quốc 85
4.5.3 Về tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại 87
4.6 Đề xuất quản lý khách hàng thường xuyên trong khuyến mại viễn thông 88
Trang 94.7 Phân biệt giữa khuyến mại viễn thông với tài trợ, các hoạt động từ thiện 90 4.8 Đề xuất phối hợp với Bộ Tài chính để đưa ra các biện pháp xử lý các chương trình khuyến mại vi phạm nhằm phát triển bền vững thị trường viễn thông Việt Nam 91 4.9 Điều chỉnh quy định của Nghị định 25/2011/NĐ-CP và tăng các hạn mức
xử phạt tại Nghị định 174/2013/NĐ-CP 94 KẾT LUẬN 97
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, với chủ trương đi thẳng vào công nghệ hiện đại và với chiến lược tăng tốc hết sức mạnh dạn, ngành viễn thông Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc Các dịch vụ viễn thông không chỉ được phổ cập rộng rãi tới khắp mọi miền đất nước, mà còn thực sự tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển hơn Tuy nhiên, cũng như hầu hết các doanh nghiệp khác ở nước ta, mức độ sẵn sàng tham gia cạnh tranh và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của các doanh nghiệp viễn thông còn thấp
Hiện nay, ngoài 2 doanh nghiệp lớn trên thị trường là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel) thì trên thị trường dịch vụ viễn thông đã và đang cạnh tranh rất mạnh bởi sự tham gia của nhiều nhà khai thác viễn thông khác như: Gtel, Vishipel Telecom, Hanoi Telecom Chính sách tự do hóa thị trường dịch vụ viễn thông đang đặt ra cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông Việt Nam những thách thức to lớn - đó là cạnh tranh để tồn tại và phát triển Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của viễn thông và tin học cho phép các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới vào khai thác nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của xã hội Điều đó làm cho yếu tố cạnh tranh trên thị trường dịch vụ viễn thông càng thêm sôi động Vấn đề cạnh tranh cần được các doanh nghiệp cùng tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông coi trọng và hiểu rõ trong chiến lược phát triển của mình
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nhanh, mạnh mẽ của lĩnh vực viễn thông, các quy định pháp lý của Nhà nước sẽ phải liên tục điều chỉnh, cập nhật cho phù hợp để hạn chế sự chồng chéo, mâu thuẫn với nhau, sự lạc hậu với tiến trình pháp triển, đảm bảo được sự bình đẳng trong kinh doanh, sự cạnh tranh lành mạnh
và chống độc quyền trong lĩnh vực viễn thông
Trang 11Đó là lý do tác giả lựa chọn đề tài "Pháp luật về giá cước, khuyến mại đảm
bảo cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị ”
làm luận văn thạc sỹ của mình Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn muốn đi sâu phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giá cước khuyến mại đảm bảo cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam trong gia đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông không phải là vấn
đề quá mới mẻ ở Việt Nam Đã có nhiều bài báo cũng như những công trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng chủ yếu đề cập đến việc thực hiện pháp luật cạnh tranh nói chung, hoặc đề cập đến từng vấn đề về cạnh tranh, độc quyền trong kinh doanh dịch
vụ viễn thông, nhiều bài viết về một số hiện tượng, hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông nhưng chưa có một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu
về nội dung cụ thể trong việc cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua giá cước, khuyến mại dịch vụ thể hiện thực tại cạnh tranh trong pháp luật Việt Nam lĩnh vực viễn thông
Cho đến nay, đây là đề tài thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu " Pháp luật về giá cước, khuyến mại đảm bảo cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam -Thực trạng và kiến nghị” Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sưu tầm nhiều sách, bài báo của nước ngoài cũng như trong nước, các thông tin trên mạng Internet
2.1 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là phân tích các quy định pháp luật hiện tại và dự báo xu hướng vận động của các quy định pháp luật về giá cước, khuyến mại đảm bảo cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông, từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông
ở Việt Nam Việc phân tích, dự báo xu hướng vận động các quy định pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông và các đề xuất kiến nghị phải đảm bảo yêu cầu trung thực, khách quan và toàn diện và phù hợp với các quy định của pháp luật
Trang 12Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Với mục đích trên, luận văn thực hiện một
số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam để làm cơ sở nghiên cứu các phần tiếp theo của luận văn Để thực hiện được nhiệm vụ này, luận văn đã xây dựng các khái niệm khoa học về cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh (kiểm soát độc quyền) Qua đó phân tích những đặc điểm và tìm ra mối liên hệ giữa chúng với chính sách quy định liên quan đến giá cước, khuyến mại các dịch vụ viễn thông
- Nghiên cứu thực trạng việc thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam và các quy định của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông và chủ yếu tập trong đến khía cạnh giá cước, khuyến mại có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách phát triển, cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông Với nhiệm vụ này, luận văn phân tích các quy định của Luật Cạnh tranh, Luật Viễn thông, Luật Công nghệ thông tin, phân tích và đánh giá những ví dụ cụ thể trong thực tiễn, trên cơ sở đó tìm ra những điểm bất cập, hạn chế đồng thời đưa ra những phương hướng hoàn thiện những quy định về giá cước khuyến mại ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường cạnh tranh lĩnh vực viễn thông
- Dự báo về sự thay đổi của thị trường viễn thông Việt Nam trong thời gian tới và đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông để phần nào đó giúp ích cho việc hoàn thiện hơn pháp luật về cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông nói riêng
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích các quy định của pháp luật về cạnh tranh, quy định về giá cước, khuyến mại đảm bảo việc cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, theo pháp luật trong hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Cơ sở lý luận nền tảng của thực tiễn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mọi vấn đề nghiên cứu luôn phải xem xét trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng, luôn đặt trong quan hệ tổng thể tác động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác Các hiện tượng luôn được xem xét trong cả quá trình từ sự hình thành đến sự phát triển qua các giai đoạn khác nhau Một số phương pháp tiếp cận cụ thể được áp dụng như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và phương pháp so sánh
2.4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam
Chương 3: Một số kinh nghiệm quốc tế về quản lý giá cước, khuyến mại trong lĩnh vực viễn thông
Chương 4: Đề xuất quản lý giá cước, khuyến mại đảm bảo cạnh trnh trong lĩnh vực viễn thông
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT
VỀ CẠNH TRANH
1.1 Khái niệm cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh
1.1.1 Khái quát chung về cạnh tranh
a/ Khái niệm cạnh tranh
Nền kinh tế Việt Nam đang trong cơ chế thị trường, là nền kinh tế có sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu được pháp luật thừa nhận và bảo hộ, cùng với nó là
sự tự do hóa thương mại, quyền tự do khế ước, quyền tự do định đoạt của các chủ thể và cạnh tranh xuất hiện - đó là quy luật của kinh tế thị trường
Cạnh tranh là lực lượng điều tiết trong hệ thống thị trường (đảm bảo cả người sản xuất và người tiêu dùng không thể bị lợi dụng ưu thế của nhau trên thị trường) Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ xuất hiện với tính cách là động lực phát triển nội tại của nền kinh tế, động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển Hơn nữa, cạnh tranh cũng chỉ xuất hiện thực sự với tính cách là một cuộc đua tranh của một ngành, một lĩnh vực kinh tế nào đó khi có sự tham gia của các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ bản mâu thuẫn nhau
Có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh và cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Adam Smith - nhà kinh tế học theo trường phái cổ điển Anh là người đầu tiên đưa ra lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về cạnh tranh trên cơ sở những tiếp thu và bổ sung những lý luận về giá trị tự nhiên của trường phái này, ông đòi hỏi sự đảm bảo tự do hành động cho mọi doanh nghiệp và hộ gia đình, nghĩa là đảm bảo sự tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng như sự lựa chọn tiêu dùng của các hộ gia đình Theo ông, cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi và phản ứng tạo ra cho mỗi thành viên tham gia thị trường tự do có giới hạn
Theo từ điển tiếng Việt thì cạnh tranh được hiểu là "sự tranh đua giữa những
cá nhân, tập thể có chức năng như nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về
Trang 15mình" Ngày nay, cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua hay ganh đua giữa các thành viên của một thị trường hàng hóa, sản phẩm cụ thể nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường Như vậy, về phương diện kinh tế, cạnh tranh được tồn tại trên cơ sở tiền đề là sự hiện diện của các thành viên trên thương trường có chạy đua vì mục tiêu kinh tế giữa các
thành viên và chúng đều diễn ra trên một thương trường hàng hóa cụ thể
Tuy nhiên, để đơn giản hóa có thể hiểu cạnh tranh là sự ganh đua giữa một nhóm người mà sự nâng cao vị thế của người này sẽ làm giảm vị thế của những người còn lại và điều kiện cho sự cạnh tranh trên thị trường là phải có ít nhất hai chủ thể quan hệ khách hàng và có sự tương ứng giữa sự cống hiến và phần được hưởng của mỗi thành viên trên thị trường
Có thể kết luận rằng, cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường
b/ Nhận dạng cạnh tranh
Ở mỗi một hình thái khác nhau, cạnh tranh lại có tính chất và mức độ biểu hiện khác nhau Để đánh giá tính chất và mức độ biểu hiện cạnh tranh theo từng hình thái thì việc nhận dạng và xác lập các tiêu chí phân loại hình thái thị trường là hết sức quan trọng Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời sống kinh tế, người ta phân chia thị trường thành hai hình thái: cạnh tranh tự do
và cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước
Cạnh tranh tự do là một hình thái thị trường thoát khỏi mọi sự can thiệp của nhà nước Đây là một hiện tượng không thể có trong thế giới hiện đại vì kinh tế thị trường hiện đại luôn có nhu cầu được điều tiết và nhà nước nào cũng phải có chính sách kinh tế riêng, vì thế luôn tìm cách hướng các hoạt động kinh tế vào mục tiêu kinh tế của mình
Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước là hình thái thị trường của các nền kinh tế thị trường hiện đại (tự do cạnh tranh trong hình thái thị trường này được bảo
vệ, nuôi dưỡng và giới hạn bởi thể chế, chính sách và pháp luật của nhà nước)
Trang 16Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh bằng khả năng vốn có của doanh nghiệp Đó là những hoạt động nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm, phù hợp với tập quán thương mại và đạo đức kinh doanh truyền thống như đăng ký nhãn hiệu thương phẩm, hạ giá bán hàng hóa trên cơ sở đổi mới công nghệ, giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, liên tục đổi mới phương thức giao tiếp với khách hàng
Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể của một chủ thể kinh doanh, nhằm mục đích cạnh tranh luôn thể hiện tính không lành mạnh (chứ không phải là trái pháp luật) và vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh tranh hay bạn hàng cụ thể
Tuy nhiên, vì được bảo hộ bởi các nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh, tự
do khế ước và tự do lập hội và sự hấp dẫn của lợi nhuận nên thực trạng trên thương trường luôn diễn ra theo hướng không lành mạnh Đây là một trong những tính tất yếu để pháp luật cạnh tranh ra đời
Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Như ta đã biết, cạnh tranh là tất yếu của một nền kinh tế thị trường Ngay từ khi xuất hiện, cạnh tranh đã có vai trò và ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế Ở
thế kỷ XVIII, A.Smith (nhà kinh tế học cổ điển Anh) trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc" (1776) đã thuyết minh vai trò quan trọng của cạnh tranh tự do trong bối cảnh nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đang ở giai đoạn hình thành bị rất nhiều ràng buộc bởi những thiết chế phi tự do của Nhà nước phong kiến Ông đưa
ra thuyết "bàn tay vô hình", với ông trật tự thị trường theo nguyên tắc "bàn tay vô hình" sẽ điều hòa các hoạt động kinh tế một cách hiệu quả
Hãy thử hình dung một nền kinh tế thị trường sẽ ra sao nếu không có cạnh tranh Ở trạng thái của cạnh tranh hoàn hảo, nền kinh tế sẽ đạt mức độ hiệu quả cấp phát lý tưởng, tức là nếu không có cạnh tranh thì nền kinh tế sẽ nằm ở giới hạn đường giới hạn tiềm năng sản xuất Như vậy, một bộ phận nguồn lực sẽ không được huy động vào sản xuất và gây ra sự lãng phí xét trên bình diện tổng thể nền kinh tế
xã hội Một doanh nghiệp rất khó trở thành doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh
Trang 17nếu không được dung dưỡng lâu năm trong một môi trường không có cạnh tranh
Do đó, trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường, ý nghĩa kinh tế của cạnh tranh là:
- Thông qua quy luật cung cầu, cạnh tranh có khả năng nhanh nhạy trong việc phát hiện và đáp ứng mọi nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Bên cạnh
đó, bằng phương thức cạnh tranh kinh điển là cạnh tranh qua giá mà nhờ đó giá cả của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được cải thiện theo hướng có lợi cho khách hàng
và người tiêu dùng
- Cạnh tranh còn là nguồn gốc, động lực để phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao do cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về mình ngày càng nhiều khách hàng nên nó buộc các nhà sản xuất công nghiệp và dịch vụ phải tạo ra những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao với giá thành ngày càng hạ Vì vậy, cạnh tranh cũng là cơ hội buộc các nhà doanh nghiệp phải áp dụng công nghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Trong điều kiện của cơ chế thị trường có sự cạnh tranh, nghĩa là mức độ của cạnh tranh đã tác động đến doanh nghiệp thì vì sự tồn tại của mình luôn phải toan tính để vượt lên trên các đối thủ của mình Điều đó có nghĩa là cạnh tranh có khả năng tạo sức ép để chống trì trệ, khắc phục suy thoái và buộc doanh nghiệp phải kinh doanh có hiệu quả
Môi trường cạnh tranh là môi trường mà ở đó các doanh nghiệp luôn phải vận động, đổi mới, cải tiến không chỉ công nghệ mà cả chủng loại, kiểu dáng, phương thức kinh doanh Theo đó, cạnh tranh tạo ra sự đổi mới liên tục và động lực phát triển liên tục Với tất cả những vai trò và ý nghĩa trên đây của cạnh tranh, một nhà nước văn minh của một nền kinh tế thị trường hiện đại cần phải có nhiệm vụ, chức năng phát hiện, thừa nhận và bảo vệ, khuyến khích những khả năng và thuộc tính tốt đẹp đó của cạnh tranh
1.1.2 Pháp luật và thực hiện pháp luật về cạnh tranh
- Nền kinh tế thị trường không những chỉ bảo vệ và khuyến khích những thuộc tính tốt đẹp của cạnh tranh mà còn phải khắc phục những mặt tiêu cực, những
Trang 18khuyết tật của thị trường qua cạnh tranh và độc quyền Ở các quốc gia đều có chính sách về cạnh tranh và từ đó điều tiết môi trường cạnh tranh của thị trường Chính sách của cạnh tranh phải bao gồm việc sử dụng một số công cụ điều tiết cạnh tranh như: Chính sách thuế; Kiểm soát giá cả; Điều chỉnh, kiểm soát độc quyền; Quốc hữu hóa; Ban hành pháp luật về cạnh tranh
- Trong các công cụ nói trên, pháp luật có vai trò quan trọng thể hiện là công
cụ có hiệu quả nhất vì nó là phương thức để đưa và bảo đảm cho các công cụ điều tiết cạnh tranh khác được thực thi trên thực tế của thương trường Theo thông lệ, pháp luật cạnh tranh ở các nước được chia thành hai lĩnh vực khác biệt: đó là pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh Sự phân biệt này căn cứ vào tính chất mức độ nguy hại đối với thị trường và theo đó là phương thức và tính cương quyết trong việc trừng trị của pháp luật đối với hai nhóm hành vi: cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh (độc quyền hóa) là rất khác nhau mặc dù chúng đều làm hại đến sự vận động bình thường
Ngăn cản: được thực hiện để chống đối thủ cạnh tranh về giá, tẩy chay nói xấu hay phân biệt đối xử
Bóc lột: loại hành vi này cũng có mục đích chống lại đối thủ song chủ yếu lại không nhằm vào sản phẩm của đối thủ Thực ra vấn đề này được giải quyết chủ yếu trong pháp luật về sở hữu công nghiệp Song tính không lành mạnh ở đây thể hiện
sự lợi dụng trái với tập quán những sản phẩm của người khác Chẳng hạn như bắt
Trang 19chước kiểu dáng công nghiệp, man trá về nguồn gốc của sản phẩm hay dựa dẫm vào
uy tín của sản phẩm khác (đặt tên giống với sản phẩm của người khác) hoặc lôi kéo khách hàng hoặc người làm công của đối thủ
Vi phạm pháp luật: những vi phạm loại này thường diễn ra trong lĩnh vực luật kinh tế hay luật thuế song chỉ bị coi là không lành mạnh khi hành vi vi phạm có chủ
ý can thiệp trái phép đến đối thủ cạnh tranh Ngoài ra vi phạm pháp luật khác cũng
có thể đồng thời bị coi là cạnh tranh không lành mạnh Những vi phạm hợp đồng cũng có thể đồng thời vi phạm pháp luật cạnh tranh nếu nó gắn liền với việc phá vỡ niềm tin cạnh tranh hoặc lạm dụng lòng tin của bạn hàng
Gây rối thị trường: loại hành vi này không nhằm vào một đối thủ cạnh tranh nào, song nó có tác động chung gây rối thị trường Chẳng hạn, doanh nghiệp lớn hạ giá sản phẩm làm ảnh hưởng đến những doanh nghiệp nhỏ, hay một doanh nghiệp quảng cáo giật gân gây tâm lý hoảng sợ
- Trong khi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh nhằm vào từng hành
vi, từng quan hệ thì pháp luật chống hạn chế cạnh tranh nhằm vào hiện tượng có tính chất độc quyền (độc quyền hành chính, độc quyền tự nhiên, độc quyền hay độc quyền nhóm), là pháp luật bảo vệ cơ cấu và tương quan thị trường Bao gồm ba nội dung: Cấm Cartel (thỏa thuận hạn chế cạnh tranh), Kiểm soát sáp nhập, Xác định và
xử lý các hành vi lạm dụng quyền lực thị trường của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Như vậy, khi áp dụng pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, điều cần thiết phải xác định thị trường theo ba dấu hiệu về thị trường liên quan: Đối tượng của thị trường (loại hàng hóa), Giới hạn không gian của thị trường (khu vực, quốc gia, quốc tế), Giới hạn về thời gian của thị trường
- Cùng với sự phân biệt hai lĩnh vực pháp luật đó pháp luật của các nước có những quy định về xem xét, kiểm tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay hạn chế cạnh tranh Bên cạnh đó, quản lý Nhà nước về cạnh tranh cũng là một vấn đề lớn thuộc pháp luật cạnh tranh mà theo đó pháp luật thiệt lập cơ quan cạnh tranh và xác lập địa vị pháp lý của chúng Pháp luật cạnh tranh là công cụ điều tiết
Trang 20thị trường tiến bộ, văn minh và mạnh mẽ hơn cả Là lĩnh vực trụ cột của luật kinh tế truyền thống, nó có khả năng:
+ Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, trung thực, công bằng
+ Điều tiết cạnh tranh theo mức độ của thị trường nội địa và quốc tế
+ Bảo vệ lợi ích của người sản xuất, tiêu dùng, Nhà nước và xã hội
+ Tạo thế cạnh tranh trên trường quốc tế
+ Tạo động lực phát triển kinh tế
+ Chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền, góp phần điều tiết nền kinh tế theo chính sách kinh tế của Nhà nước
+ Định hướng chuẩn mực Giữ gìn đạo đức và tập quán trong kinh doanh đã được thừa nhận
- Với tất cả các đặc điểm của pháp luật cạnh tranh đó, việc xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam cần phải luôn xem xét trên cơ sở chính sách cạnh tranh trong cơ chế thị trường nước ta hiện nay Khác với pháp luật cạnh tranh của nhiều quốc gia khác, pháp luật cạnh tranh ở nước ta chắc là phải đối mặt với dạng độc quyền Nhà nước và bên cạnh đó cần bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cần đề cập đến hai khía cạnh của hành vi cạnh tranh: chống cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh (kiểm soát độc quyền)
1.1.3 Quan điểm, cách nhìn nhận về cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam
Cạnh tranh và độc quyền là hai vấn đề ngày càng được nhắc đến nhiều hơn khi xem xét nền kinh tế của Việt Nam Với mỗi vấn đề được đề cập bao giờ ta cũng
có những cách nhìn nhận, quan điểm khác nhau Theo quy luật chung, cạnh tranh luôn có xu hướng dẫn đến độc quyền Xu hướng này một mặt do sự tác động của quy luật hiệu quả kinh tế theo quy mô, mặt khác độc quyền là trạng thái đem lại cho
cá nhân các nhà cung cấp lợi nhuận siêu ngạch Do đó cạnh tranh kinh tế luôn có sự ganh đua quyết liệt để giành lấy vị thế độc quyền Có thể coi đây là một khía cạnh không hoàn hảo mang tính đạo đức mà cạnh tranh đáng bị lên án Tuy vậy, trong thực tế, người ta cố gắng hạn chế những nhân tố gây ra mức độ không hoàn hảo của
Trang 21thị trường càng nhiều càng tốt Xét về phương diện kinh tế, độc quyền (cạnh tranh bằng phương thức độc quyền) có những tác hại:
- Nền kinh tế nằm ở dưới tiềm năng sản xuất, một bộ phận nguồn lực phát triển kinh tế bị bỏ phí
- Tạo ra sự khan hiếm giả tạo để nâng giá thành sản phẩm, dịch vụ Do đó, người tiêu dùng đã phải trả thêm một khoản tiền không đáng mà chất lượng chưa chắc đã tăng, thậm chí có phần giảm sút
- Không có cạnh tranh, người sản xuất không có nhu cầu sáng tạo, đổi mới công nghệ, hạn chế áp dụng khoa học kỹ thuật vì vậy mà chất lượng hàng hóa, năng suất không được cải thiện
Từ đó cho thấy, độc quyền là vật cản sự tiến bộ kinh tế Độc quyền kiểu kinh
tế kế hoạch hóa tập trung dẫn đến những kết cục là khủng hoảng kinh tế mang tính
hệ thống buộc phải được thay thế bằng cơ chế thị trường có sự cạnh tranh Ở Việt Nam do chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, nên khác với nền kinh tế thị trường truyền thống, xu hướng độc quyền xuất phát từ bản thân các lực lượng thị trường trong quá trình cạnh tranh, độc quyền ở Việt Nam nằm ngay trong cơ chế quản lý Nhà nước Vì vậy, nền kinh tế Việt Nam hiện nay có mức độ cạnh tranh thấp Những yếu tố độc quyền (từ cơ chế) vẫn còn cản trở tính cạnh tranh của nền kinh tế Với quan điểm và cách nhìn nhận đó, nhiệm vụ tạo lập một môi trường kinh tế có tính cạnh tranh, kiểm soát độc quyền là chức năng riêng
có của Nhà nước Đối với nền kinh tế thị trường phát triển, vấn đề kiểm soát độc quyền (đảm bảo tính cạnh tranh của nền kinh tế) phải được đặc biệt chú ý
1.2 Thực trạng cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam
1.2.1 Thực trạng về cạnh tranh ở Việt Nam
- Cạnh tranh được xem như là yếu tố tất yếu, là thuộc tính vốn có của nền kinh tế thị trường Nhất là từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường có định hướng
xã hội chủ nghĩa, cạnh tranh đã từng bước được tiếp cận như một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, quản lý và điều hành nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, nền kinh tế
Trang 22Việt Nam nhập cuộc cạnh tranh từ một nền tảng công nghệ, kỹ thuật thấp kém, thiếu vốn và kinh nghiệp quản lý trong cơ chế thị trường, kinh tế còn dựa chủ yếu vào nông nghiệp và các yếu tố tự nhiên nên sức cạnh tranh thấp Nhất là dấu ấn của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại, đó là tình trạng độc quyền doanh nghiệp nhà nước Hầu hết các doanh nghiệp này được hình thành không phải
do kết quả của quá trình tích tụ, tập trung vốn và yếu tố sản xuất như ở các nước tư bản mà là sản phẩm của cơ chế kinh tế tập trung của nhà nước Trước đây, các doanh nghiệp kinh doanh độc quyền nhằm vào các rào cản hành chính không cho phép bất kỳ doanh nghiệp nào khác được cùng kinh doanh, hạn chế thương quyền thông qua giấy phép kinh doanh hay các chế định giá (như giá điện, giá cước viễn thông, giá vé máy bay ) và các hành vi của các quan chức nhà nước cao cấp (trong xét chọn thầu, cấp hạn ngạch.) Chính những điều đó đã làm giảm tính cạnh tranh ở thị trường Việt Nam và nguy hiểm hơn là sự kéo dài của cơ chế độc quyền đã không
đi cùng nhịp với xu thế tự do hóa đang phát triển trên khắp thế giới
- Bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã khởi đầu cho hoạt động cạnh tranh được công khai và mở rộng trong nền kinh tế nước ta Nhưng cạnh tranh thực sự diễn ra gay gắt khi Nhà nước cho thi hành hàng loạt các chính sách về chống lạm phát, xóa bỏ bao cấp qua giá và một phần qua vốn chủ yếu đối với khu vực kinh tế quốc doanh Sự cạnh tranh diễn ra ngay giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành, trong cùng một Bộ hay trong một địa phương, trong cùng một hình thức sở hữu; cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại Cùng với việc ban hành các chính sách đổi mới quản lý kinh tế đã giảm dần những ưu đãi về đầu tư, về tín dụng và thực hiện bình đẳng nghĩa vụ nộp thuế giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Cạnh tranh trên thị trường thực sự đã đem lại nhiều kết quả tích cực Nền kinh tế Việt Nam đã có những khởi sắc đáng mừng, hàng hóa trên thị trường dồi dào và phong phú, người bán, người mua được tự do lựa chọn hàng hóa và thỏa thuận giá cả trong trao đổi hàng hóa Các doanh nghiệp đã tự vươn lên
Trang 23đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng hàng hóa cho phù hợp với nhu cầu để đứng vững trong cạnh tranh Hơn nữa, cơ cấu kinh tế ở nước ta cho phép các doanh nghiệp thành lập nhiều trong một số ngành công nghiệp nhẹ, giải trí, dịch vụ khiến cho sự cạnh tranh giữa các đối thủ ngày càng trở nên gay go và quyết liệt Cạnh tranh bắt đầu đem lại một sức sống mới cho
nền kinh tế xã hội "Sức nóng" của thị trường cạnh tranh Việt Nam đã làm cho đời sống
kinh tế nước ta sôi động hẳn lên, mức sống của nhân dân ngày càng được cải thiện
- Song, những khuyết tật vốn có của thị trường không thể không bộc lộ trong thực tiễn Bên cạnh những kết quả tích cực của thị trường hàng hóa đang diễn ra một cuộc cạnh tranh sôi động không cân sức và không bình đẳng Cùng với thời gian và cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những thủ đoạn cạnh tranh ngày càng trở nên tinh vi và nguy hiểm gây ra hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng sâu sắc tới sự
ổn định của nền kinh tế Việt Nam cũng như sự sống còn của một số ngành nội địa
Có thể nhận thấy các thủ pháp kiểm soát độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh sau đã trở nên phổ biến:
+ Hạn chế cạnh tranh (kiểm soát chống độc quyền): Hiện nay, một số doanh nghiệp lạm dụng vị thế độc quyền hay vị thế thống lĩnh thị trường của mình để chèn
ép các doanh nghiệp khác, hạn chế các doanh nghiệp khác tham gia vào thị trường, mặt khác có những trường hợp các doanh nghiệp này cùng nhau thỏa thuận với nhau để cùng tăng giá Trường hợp 11 doanh nghiệp đầu mối xăng dầu trong nước (đều là doanh nghiệp quốc doanh), trong đó có Petrolimex chiếm 65% thị phần đột ngột và đồng loạt tăng giá xăng dầu gần đây đã gây ra những phản ứng bức xúc trong xã hội Đây là mặt hàng từ lâu nay nhà nước quản lý và trực tiếp điều chỉnh giá, tùy theo biên độ giá của thị trường thế giới Nhưng sau khi nhà nước tuyên bố trao quyền tự quyết giá cả cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, thì bức xúc mới thực sự xảy ra Bởi trước đó, khi Nhà nước quản lý giá xăng dầu bao giờ cũng phải nghĩ đến lợi ích của xã hội, lợi ích vĩ mô của nền kinh tế trong tương quan với giá xăng dầu, trước khi nghĩ đến lợi ích các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu Vì, nói cho cùng, những doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, dù là doanh nghiệp nhà
Trang 24nước, thì cũng không thể quan trọng hơn biết bao doanh nghiệp nhà nước khác cộng với toàn xã hội sử dụng xăng dầu Nếu trao quyền định giá cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu để giá cả trở nên cạnh tranh hơn, có lợi hơn cho người tiêu dùng Nhưng nếu trao quyền tự định giá xăng dầu trong lúc các doanh nghiệp nhà nước này vẫn kinh doanh xăng dầu theo kiểu cũ, cung cách của kẻ độc quyền có sự bảo
hộ của Nhà nước mà không hề có một kế hoạch hay lộ trình kinh doanh thực sự thị trường, nghĩa là chấp nhận cạnh tranh, vươn lên trong cạnh tranh Nếu bây giờ, mặt hàng kinh doanh xăng dầu không nằm trong danh mục "mặt hàng cấm kinh doanh
tự do" thì lẽ ra, để có một mặt bằng kinh doanh kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, một "sân chơi thị trường xăng dầu" đúng nghĩa thì Nhà nước phải cho phép các thành phần kinh tế, kể cả tư nhân, được quyền nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu
+ Cạnh tranh bằng giá cả: Bán phá giá là việc cung cấp hàng hóa hoặc dịch
vụ dưới giá trị bình thường của hàng hóa/ dịch vụ đó nhằm chiếm lĩnh thị phần và dần đẩy đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường tiêu thụ Trong cơ chế thị trường, nơi
mà quyền tự do kinh doanh được xác lập và bảo vệ thì nguyên tắc về việc tự do hình thành và xác định giá hàng hóa, sản phẩm là điều đương nhiên và đó cũng là nguồn sống của cơ chế thị trường Trong giai đoạn đầu mới mở cửa thị trường, phương thức cạnh tranh không lành mạnh bằng cách bán phá giá trở thành một công cụ hữu hiệu của các hãng nước ngoài sử dụng để thâu tóm thị phần của các đối thủ cạnh tranh Việt Nam Các doanh nghiệp nước ngoài nhờ ưu thế về tài chính, kinh nghiệm nên họ có thể tiến hành được những cuộc phá giá ngoạn mục và giành thắng lợi vang dội trước sự bất lực của các doanh nghiệp trong nước mà Cocacola là một ví
dụ điển hình
+ Cạnh tranh bằng khuyến mại quá lố:Lạm dụng thế mạnh tài chính, bên cạnh việc bán phá giá, các doanh nghiệp nhiều vốn đang thi nhau tiến hành các chiến dịch khuyến mãi với quy mô và giá trị ngày càng lớn, bỏ lại phía sau đường đua là các doanh nghiệp có vốn ít đang lắc đầu chịu thua và mệt nhoài vì trượt dốc
+ Cạnh tranh không lành mạnh qua hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn:Cạnh tranh không lành mạnh thông qua phương thức này chủ yếu là việc làm nhái tên sản
Trang 25phẩm chính hãng đang có trên thị trường Từ khi Việt Nam tiến hành chính sách mở cửa, hàng giả danh bắt đầu phát triển rầm rộ trên thị trường Đầu tiên là các loại mỹ phẩm với sản phẩm nhái Camay, Palmolive, Zest Sau đó là các sản phẩm bắt chước kiểu dáng của Cocacola, Pepsi Có nhiều cách giả danh: nhái tên cơ sở sản xuất, nhái tên sản phẩm, nhái mẫu mã bao bì Trên thị trường trong nước đã xuất hiện gần 30 dạng sản phẩm "nhái" theo kiểu dáng công nghiệp của công ty Lavie Một số cơ sở làm đề can giả đã phá vỡ hình tượng của lavie bằng cách đặt tên cho hàng giả nhưng tên lai quen tai như Covie, La Lavie, Bavi, Lavierge Việc này không chỉ là mối hiểm họa đến nguồn doanh thu của công ty Lavie mà còn là mối
đe dọa đến sức khỏe của khách hàng Việc nhái các nhãn hiệu nổi tiếng là một hành
vi ngày càng phổ biến trên thị trường Nhãn hiệu nổi tiếng là một lợi thế cạnh tranh
vô cùng to lớn của các hãng sản xuất bởi khi nói đến tên nhãn hiệu này, người tiêu dùng sẽ cảm nhận được ngay, phân biệt được tiềm lực, chất lượng, phương thức phục vụ của sản phẩm này so với sản phẩm cùng loại mang nhãn hiệu khác
+ Cạnh tranh không lành mạnh qua các hình thức khác: Có thể nói rằng, trong điều kiện hiện nay, khi mà sự cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực ngày càng mạnh mẽ và gay gắt hơn thì hình thức cạnh tranh qua giá hay qua khuyến mại không còn là phương thức cạnh tranh chiếm ưu thế nữa mà các công ty, doanh nghiệp thường sử dụng các thủ pháp cạnh tranh không lành mạnh qua nhiều hình thức khác tinh vi hơn
Trong thời gian gần đây, dư luận khá ồn ào về chuyện nước tương có chứa chất 3-MCPD có thể gây ưng thư cho người tiêu dùng Việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra một loạt các doanh nghiệp sản xuất nước tương và công bố rộng rãi trên thông tin đại chúng tên các sản phẩm nước tương không đủ chất lượng
là nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng Tuy nhiên, trường hợp công ty Masan (chủ sản phẩm nước tương Chinsu) copy, trình bày lại và phân phát các bài báo về 17 doanh nghiệp có sản phẩm chứa độc tố 3-MCPD gửi đi các nơi được xem
là một hành vi "cạnh tranh không lành mạnh" Trong mỗi phong bì của Công ty Masan có một bức thư ngỏ gửi khách hàng của Masan giới thiệu về chất lượng của
Trang 26nước tương hiệu Tam Thái Tử do Vitecfood (đơn vị thành viên của Masan) sản xuất, 2 phiếu kiểm định chất lượng 3-MCPD trong nước tương Trong các về nội dung của những bài báo này hoàn toàn bất lợi cho các cơ sở sản xuất nước tương
Về phía công ty Masan cho rằng họ chỉ phát các bài báo đó cho hệ thống đại lý, chứ không phân phát, phát tán lung tung và cho rằng họ không vi phạm vào Luật Cạnh
tranh Nhưng, khoản 4 điều 3 Luật Cạnh tranh có quy định "hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng" Có thể nói rằng, đây là một thủ pháp cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh vì vi phạm vào đạo đức kinh doanh Như vậy, có thể thấy rằng, hoạt động cạnh tranh ở Việt Nam càng ngày càng phát triển Với hoạt động kinh tế ngày càng phát triển thì những thủ pháp cạnh tranh không lành mạnh cũng ngày càng được đa dạng hơn dưới nhiều hình thức và phương thức khác nhau
1.2.2 Thực trạng điều chỉnh pháp luật có liên quan đến cạnh tranh
- Các nguyên tắc chung: Có thể nói rằng, pháp luật kinh tế của Việt Nam được hình thành trên một số nguyên tắc phản ánh đặc trưng mang tính quy luật trong sự vận động khách quan của các quan hệ kinh tế Việc điều chỉnh pháp luật cạnh tranh cũng không nằm ngoài sự vận động khách quan của các quan hệ kinh tế
đó và cũng chịu ảnh hưởng của các nguyên tắc đặc trưng đó Tuy nhiên, bên cạnh
đó, pháp luật cạnh tranh Việt Nam cũng có những nguyên tắc riêng của mình Đó là các nguyên tắc: nguyên tắc sử dụng tập quán trong kinh doanh, nguyên tắc tôn trọng
và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các nguyên tắc trong xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh
+ Nguyên tắc sử dụng tập quán trong kinh doanh: Khoản 4 điều 3 Luật cạnh tranh quy định: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà
Trang 27nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” Nguyên tắc sử dụng tập quán trong Luật cạnh tranh được áp dụng trong việc nhận dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh Nói cách khác, tập quán (luật gọi là các chuẩn mức thông thường về đạo đức kinh doanh) là tiêu chuẩn cho hành vi cạnh tranh Các tập quán được coi là chuẩn mực khi chúng được thừa nhận rộng rãi trong ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn kinh doanh có liên quan đã xảy ra hành vi vi phạm
+ Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng: Khoản 2 điều 4 Luật cạnh tranh quy định "Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên
tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền
và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của Luật này". Các quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh lấy sự xâm hại và khả năng xâm hại quyền lợi của người tiêu dùng là một trong những căn cứ cơ bản để xác định hành vi vi phạm (hành vi áp đặt giá mua, bán bất hợp lý, áp đặt giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng, hành vi hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, hành vi ngăn cản sự gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới, hạn chế quyền lựa chọn của khách hàng ) Nói cách khác, quyền hưởng thụ của người tiêu dùng, quyền lựa chọn, quyền được thông tin, quyền được đảm bảo an toàn là những căn cứ và nguyên tắc cơ bản để Luật cạnh tranh xác định các hành vi bị cấm đoán
+ Nguyên tắc trong xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh: Xuất phát từ đặc thù Luật cạnh tranh là tiếp cận từ mặt trái của các quan hệ cạnh tranh, nên việc xử lý
vi phạm đúng đắn, thống nhất và đúng mức độ quyết định giá trị thi hành và hiệu quả của đạo luật đối với thực tiễn Để thực hiện những yêu cầu đó, Luật cạnh tranh
và quá trình áp dụng phải đảm bảo những nguyên tắc chính yếu sau: việc xử lý phải tuyệt đối tuân theo các quy định của Luật cạnh tranh về nội dung và về thủ tục tố tụng; mỗi hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh chỉ bị xử lý một lần; các hình thức
xử phạt và mức xử phạt phải đảm bảo tương xứng với hành vi vi phạm trong điều kiện và hoàn cảnh thị trường tại thời điểm xảy ra vi phạm.
- Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cạnh tranh: Cạnh tranh được thừa nhận
Trang 28là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơ chế thị trường Trong nỗ lực tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, ngày 03/12/2004, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 và Luật này đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2005 Với 6 chương, 123 điều,
Luật Cạnh tranh được ban hành nhằm:
+ Kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc các hành vi có thể dẫn đến việc gây hạn chế cạnh tranh, đặc biệt khi mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế
+ Bảo vệ quyền kinh doanh chính đáng của các doanh nghiệp, chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
+ Tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng
Để nhanh chóng đưa Luật Cạnh tranh vào cuộc sống, Chính phủ và các cơ quan chức năng đã ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành Luật và quan trọng phải kể đến là Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 về việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, thông tư
số 19/2005/TT-BTM ngày 08/11/2005 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP Cho đến nay, có thể nói hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh đã tương đối hoàn thiện
Theo khoản 3 điều 3 Luật cạnh tranh quy định "Hành vi hạn chế cạnh tranh
là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế" Như vậy, kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh là kiểm soát các hành vi sau: Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền; Hành vi tập trung kinh tế được điều chỉnh cụ thể:
Trang 29+ Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: Trong kinh doanh, giữa các chủ
thể thường có sự thỏa thuận, hợp tác với nhau nhằm đạt được hiệu quả cao hơn Những thỏa thuận, hợp tác này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến môi trường tự do cạnh tranh trên thị trường, gây cản trở, khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp khác trong việc tạo những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng và giá thành phù hợp nhất với người tiêu dùng Theo Điều 8 Luật cạnh tranh quy định các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:
- Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Đây là loại thỏa thuận mà các doanh nghiệp thống nhất cùng hành động đồng thời dưới các hình thức như: thỏa thuận áp dụng thống nhất giá đối với một số hoặc tất
cả các khách hàng; thỏa thuận cùng tăng giá ở các mức độ cụ thể; thỏa thuận áp dụng chung công thức tính giá; thỏa thuận duy trì tỷ lệ cố định về giá của những sản phẩm cạnh tranh giống nhau nhưng không đồng nhất; thỏa thuận loại trừ việc chiết khấu giá hoặc thiết lập mức chiết khấu giá đồng bộ; thỏa thuận về việc không giảm giá nếu không thông báo cho các bên của thỏa thuận
- Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ Việc thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ dẫn đến mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được phép bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong một hoặc một
số khu vực địa lý nhất định; còn việc thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp, hàng hóa dịch vụ dẫn đến mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa, dịch vụ
từ một hoặc một số nguồn cung cấp nhất định
- Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ Thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ được hiểu là sự thống nhất cắt giảm số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan so với trước đó trong những trường hợp như: không có biến động lớn về quan hệ cung - cầu; không có sự
cố lớn về kỹ thuật đến mức cần nhiều thời gian để khắc phục hậu quả; không có khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa Thỏa thuận kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ được hiểu là việc thống nhất ấn định số lượng,
Trang 30khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ ở mức đủ để tạo sự khan hiếm trên thị trường
- Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ như mua phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng; thỏa thuận hạn chế đầu tư như thống nhất không đưa thêm vốn để mở rộng sản xuất, cải tiến chất lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc để nghiên cứu phát triển khác
- Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
- Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường như gây sức ép hoặc vận động để nhà phân phối, các nhà bán lẻ đang giao dịch với mình không mua, bán hàng hóa, không sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận; bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể tham gia thị trường liên quan
- Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận
- Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hoàng hóa, cung ứng dịch vụ
Tuy nhiên, tại Điều 9 Luật cạnh tranh có quy định một số hành vi cấm: thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ và đối với những thỏa thuận còn lại thì luật chỉ cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên
Điều 10 Luật cạnh tranh quy định một số thỏa thuận có thể xem xét được hưởng miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau đây nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng: hợp lý hóa cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh; thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng
Trang 31cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ; thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá; tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế
+ Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Theo quy định tại khoản 1 điều 11 Luật cạnh tranh thì doanh nghiệp được coi
là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Ngoài tiêu chí trên, Luật cạnh tranh cũng quy định doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể được xác định thông qua các căn cứ như: Năng lực tài chính của công ty mẹ hoặc của các bên đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp; Năng lực về công nghệ; Nhãn hiệu hàng hóa; Quy mô của hệ thống đại lý phân phối, văn phòng đại diện; Cấu trúc thị trường
Khoản 2 Điều 11 cũng quy định về nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Theo đó, nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau: Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan
Khi một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thì doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp đó chưa vi phạm pháp luật về cạnh tranh Chỉ khi doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đã thực hiện các hành vi làm dụng vị trí thống lĩnh thì mới bị coi là có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh Theo quy định tại Điều 13 Luật cạnh tranh thì doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm thực hiện các hành vi sau đây: Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại
bỏ đối thủ cạnh tranh; Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn
Trang 32định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng; Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh; Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh
mới
+ Lạm dụng vị trí độc quyền
Theo quy định tại Điều 12 Luật cạnh tranh thì doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan Cũng giống như doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, chỉ khi nào doanh nghiệp
có vị trí độc quyền thực hiện hành vi lạm dụng vị trí độc quyền thì mới bị coi là có hành vi vị phạm pháp luật về cạnh tranh Theo quy định tại điều 14 Luật cạnh tranh thì ngoài việc bị cấm các hành vi quy định tại điều 13 của Luật, doanh nghiệp có vị trí độc quyền còn bị cấm thực hiện các hành vi sau: Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng
+ Tập trung kinh tế
Điều 16, 17 Luật cạnh tranh quy định tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: hành vi sáp nhập doanh nghiệp, hành vi hợp nhất doanh nghiệp, hành vi mua lại doanh nghiệp, hành vi liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật, cụ thể: Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt
sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập; Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các
Trang 33doanh nghiệp bị hợp nhất; Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn
bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại; Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới
Luật cạnh tranh quy định về cấm tập trung kinh tế trong những trường hợp nhất định nhằm mục đích kiểm soát quá trình dẫn đến độc quyền thông qua tập trung kinh tế Điều 18 Luật quy định cấm khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan Tuy nhiên, trong trường hợp nếu một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị phá sản hoặc việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ; hoặc doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì có thể được xem xét cho hưởng miễn trừ
+ Xâm phạm bí mật kinh doanh:
Bí mật kinh doanh là thông tin có đủ các điều kiện sau đây: Không phải là hiểu biết thông thường; Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng
sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó; Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được Theo quy định tại Điều 41 Luật cạnh tranh, các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh bị cấm bao gồm: Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó; Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh; Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó; Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống
Trang 34lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm
+ Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh: Theo quy định của Điều
46 Luật cạnh tranh, doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hoạt động khuyến mại sau:
Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng; khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng; phân biệt đối xử với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại; tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình; các hoạt động khuyến mại khác
mà pháp luật có quy định cấm
+ Phân biệt đối xử của hiệp hội: Theo quy định tại Điều 47 Luật Cạnh tranh,
các hiệp hội ngành nghề bị cấm thực hiện các hành vi phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp Hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội được thể hiện dưới các hình thức sau: từ chối doanh nghiệp có đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội nếu việc từ chối đó mang tính phân biệt đối xử và làm cho doanh nghiệp đó bị bất lợi trong cạnh tranh; hạn chế bất hợp lý hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động khác
có liên quan tới mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên
+ Các hành vi khác theo quy định của Chính phủ
Do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể diễn ra trên nhiều phương diện, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, với những hình thức biểu hiện đa dạng, các quy định của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh cần phải được bổ sung, cập nhật thường xuyên Trong trường hợp thực tiễn phát sinh các dạng hành
vi cạnh tranh không lành mạnh mới, phù hợp với các tiêu chí được quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh (hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
Trang 35pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng), Chính phủ sẽ có quy định mới điều chỉnh
1.2.3 Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông tại Việt Nam
Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với lượng dân số đông đảo và sức tiêu dùng lớn Do đó, các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ viễn thông đã có rất nhiều các chính sách cạnh tranh nhằm thu hút khách hàng Tuy nhiên như chúng ta
đã biết hiện nay, hình thức cạnh tranh phổ biến nhất của các doanh nghiệp viễn thông vẫn là cạnh tranh về giá cước Các doanh nghiệp liên tiếp hạ giá cước nhằm thu hút khách hàng bằng các biện pháp như chiết khấu, khuyến mại
- Cạnh tranh về chính sách dịch vụ
Đó là các công cụ khác biệt ở chủng loại dịch vụ, chất lượng dịch vụ và các dịch vụ GTGT (bán kèm theo) Do các dịch vụ viễn thông thường phải tuân theo các tiêu chuẩn có tính quốc tế nên việc đưa ra các nhóm dịch vụ, chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp khá đồng đều và về lý thuyết các DN đều có thể nhanh chóng triển khai theo một sự khác biệt về dịch vụ mà DN khác đã thực hiện
Ở chính sách này các DN chủ yếu cạnh tranh nhau về dịch vụ GTGT bán kèm theo dịch vụ chính Ví dụ như dịch vụ thuê bao di động sẽ có các dịch vụ kèm theo như nhạc chuông, nhạc chờ, các bản tin, các dịch vụ bình chọn,…Dịch vụ cố định thì có các dịch vụ giải đáp, báo giờ, nhắn tin SMS
- Cạnh tranh về chính sách giá cước
Đó là các công cụ về gói cước khác nhau Về lý thuyết thì các DN có thể học tập nhau rất nhanh trong việc ra gói cước Tuy nhiên do cơ chế quản lý giá bất đối xứng của các cơ quan điều tiết ngành (quản lý giá cước của các DN có vị trí thống lĩnh thị trường) nên thông thường các DN không bị quản lý giá cước thường có mức giá thấp hơn từ 10 – 15% giá cước của các DN có vị trí thống lĩnh thị trường
Do đặc thù ngành viễn thông, rất khó xác định chi phí tính giá thành cho một nhóm dịch vụ (một dòng sản phẩm cá biệt) vì tính kinh tế về quy mô rất lớn của ngành viễn thông và phần lớn chi phí máy móc, nhân công đều mang tính cố định
Do các DN không bị quản lý về giá cước cũng có thể đưa ra các công cụ cạnh tranh
Trang 36có tính khác biệt hẳn: các gói cước rất thấp, tiệm cận chi phí (thậm chí có thể chỉ cần bù đắp được chi phí bán hàng) cho các nhóm khác hàng có mức tiêu dùng rất thấp Phần doanh thu từ các cuộc gọi đến được coi như là phần bù đắp thêm một phần chi phí cho hệ thống đã được đầu tư
Bên cạnh các công cụ giá trực tiếp, về mặt pháp lý các DN viễn thông còn được sử dụng các công cụ về chiết khấu bán hàng và thanh toán
Nhược điểm của cơ chế quản lý nhà nước quản lý giá bất đối xứng là với một
số dịch vụ khi tham gia đấu thầu, chào hàng cạnh tranh theo các yêu cầu của khách hàng lớn (các doanh nghiệp sử dụng nhiều, các cơ quan nhà nước) gần như các doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống lĩnh thị trường rất khó trong việc thắng thầu (vì giá cước đã bị quản lý, không thể điều chỉnh được)
- Cạnh tranh về kênh phân phối
Dịch vụ viễn thông có đặc thù quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ (trừ một số dịch vụ mang tính trung gian như: thẻ nạp tiền trả trước) Do đó chính sách kênh phân phối cũng có đặc thù cần thiết phải gắn với người tiêu dùng dịch vụ, các DN cố gắng thiết lập hệ thống phân phối đến tận người sử dụng do đó số lượng lao động trong đội ngũ phân phối thường rất lớn - mang tính đặc trưng của một ngành dịch vụ Hệ thống phân phối có thể chia làm hai nhóm:
+ Các nhân viên của mình: người lao động của DN, hưởng lương và các chính sách với lao động;
+ Các đối tượng liên kết qua chính sách hoa hồng: Tổng đại lý, đại lý, mạng lưới thu cước, phát triển dịch vụ
Nhìn chung các DN đều cố gắng phát huy được những điểm mạnh trong các kênh phân phối mà doanh nghiệp có thể thiết lập: VNPT - hệ thống các Bưu điện rộng khắp; Viettel - hệ thống các hội, chi hội cựu chiến binh…
- Cạnh tranh về bán hàng:
Bao gồm các hoạt động khuyến mại, quảng cáo, truyền thông, chăm sóc khách hàng sau bán hàng Nhìn chung đây là nhóm công cụ được các DN hay sử dụng để kích thích nhu cầu sử dụng, tiêu dùng của khách hàng Ví dụ cụ thể có thể thấy đối
Trang 37với dịch vụ di động và ADSL các doanh nghiệp liên tục đưa các các đợt khuyến mại, trung bình từ 3-4 đợt /năm, mỗi đợt thường kéo dài từ 30-45 ngày Các hoạt động quảng cáo, khuyến mại của các DN cũng rất đa dạng, phong phú: tặng hiện vật, tặng dịch vụ, tặng cước,… Và đây cũng là nhóm công cụ có nguy cơ vi phạm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhất
Khi thực hiện các đợt khuyến mại, các hoạt động quảng cáo phần lớn các DN
đã cố gắng tuân thủ các quy định của pháp luật (Luật Thương mại, Pháp lệnh Quảng cáo và các văn bản hướng dẫn) Tuy nhiên, các quy định tại các văn bản trên quy định cho nhiều ngành, mang nhiều tính chất định tính dễ dẫn đến việc hiểu và áp dụng tại các DN viễn thông khác nhau
Ví dụ dịch vụ lắp đặt hoà mạng có thể được hiểu là một dịch vụ riêng mà cũng
có thể được hiểu là một thành phần trong cả chuỗi các dịch vụ liên quan
Mặc dù áp dụng rất nhiều các chính sách cạnh tranh khác nhau như vây nhưng cạnh tranh nhau thông qua yếu tố giá cước và khuyến mại vẫn là hình thức được các doanh nghiệp viễn thông sử dụng chủ yếu Giá cước và khuyến mại là một đích nhắm của các nhà kinh doanh viễn thông trong cuộc đua quyết liệt nhằm thu hút thuê bao mới và giữ chân thuê bao cũ mà ít quan tâm tới công tác chăm sóc khách hàng và chất lượng dịch vụ
Trang 38CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIÁ, CƯỚC, KHUYẾN MẠI CỦA
VIỆT NAM
2.1 Đánh giá thị trường viễn thông Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các doanh nghiệp viễn thông
- Năm 1995, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập 02 Doanh nghiệp viễn thông ngoài VNPT là Công ty cổ phần bưu chính viễn thông Sài gòn (SPT) và Tổng công ty viễn thông quân đội (Viettel) nhằm tạo cạnh tranh trên thị trường dịch
vụ viễn thông
- Tháng 7-2003, thị trường thông tin di động Việt Nam đã có bước ngoặt quan trọng, chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh khi mạng di động S-Fone chính thức đi vào hoạt động Mặc dù được kỳ vọng S-Fone sẽ đem lại "luồng gió mới" cho thị trường vốn trước đây độc quyền bởi hai mạng di động là VinaPhone và MobiFone (đều thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - VNPT) nhưng S-Fone đã không làm được điều đó bởi sự hạn chế về công nghệ CDMA cũng như chiến lược phủ sóng không hợp lý của mạng di động này Chỉ đến khi Viettel Mobile xuất hiện vào năm 2004 thì thị trường mới chính thức bước vào giai đoạn cạnh tranh sôi động Sau Viettel Mobile, lần lượt các DN khác như EVN Telecom, Hanoi Telecom, Gtel Mobile gia nhập thị trường, đưa tổng số các mạng di động trên
cả nước lên con số 7
- Năm 2010, (sau 15 năm), thị trường dịch vụ viễn thông mới đạt được cạnh tranh toàn diện với 03 doanh nghiệp lớn chiếm hơn 85% thị phần là Viettel, Mobifone và Vinaphone (VNPT), chủ yếu trong lĩnh vực thông tin di động, ngoài
ra có một số các doanh nghiệp khác tham gia kinh doanh viễn thông với thị phần nhỏ
Trang 39- Năm 2011 thị trường thông tin di động nước ta bắt đầu bước vào giai đoạn mới khi tốc độ tăng trưởng thuê bao di động chững lại Những khó khăn trên thị trường dần xuất hiện: mật độ điện thoại tiệm cận mức bão hòa, cạnh tranh giảm giá khiến giá cước tiến tới sát giá thành, doanh thu trên từng thuê bao giảm dần làm lợi nhuận của doanh nghiệp suy giảm, buộc các doanh nghiệp phải cạnh tranh khốc liệt với nhau để giành giật thị phần Mặc dù thị trường có tới 06 DN cạnh tranh nhưng đến năm 2011, thị phần chủ yếu vẫn thuộc về ba mạng lớn là VinaPhone, MobiFone
và Viettel với khoảng 95% thị phần 5% thị phần còn lại dành cho các mạng nhỏ như S-Fone, Vietnamobile, Beeline và EVN Telecom Chính sự cạnh tranh không tương xứng đó đã đẩy các DN nhỏ, mới tham gia thị trường gặp khó khăn, có DN kinh doanh không hiệu quả, đứng bên bờ vực phá sản
- Năm 2011, thị trường đã ghi nhận sự kiện EVN Telecom chính thức sáp nhập vào Viettel; VimpelCom, đối tác nước ngoài chính trong liên doanh Gtel Mobile cũng chính thức rút thương hiệu Beeline khỏi thị trường Việt Nam sau khi bán toàn bộ 49% cổ phần trong liên doanh Gtel Mobile cho Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Truyền dẫn và dịch vụ hạ tầng (Gtel), đưa Gtel Mobile trở thành công ty 100% vốn trong nước Trước đó, tháng 7-2009, liên doanh Gtel Mobile giữa Gtel và VimpelCom đã khai trương mạng di động Beeline, mạng thứ bảy tại Việt Nam Thế nhưng, sau ba năm hoạt động, VimpelCom đã không thành công trong việc đạt mục tiêu trở thành mạng di động lớn thứ tư tại Việt Nam, phải rút lui khỏi thị trường Đến cuối năm 2014, mạng thông tin di động S-Phone chính thức ngừng cung cấp dịch vụ thông tin di động cho người sử dụng do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan đã có nhiều tác động đến thị trường thông tin di động hiện nay
Như vậy tính đến đầu năm 2016, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp giấy phép thiết lập hạ tầng mạng viễn thông cho 13 doanh nghiệp còn đang hoạt động là:
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT);
Tập đoàn Viễn thông quân đội (VIETEL);
Công ty cổ phần Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT);
Trang 40Công ty Thông tin điện tử hàng hải (Vishipel);
Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội (Hanoi Telecom);
Công ty Cổ phần Viễn thông FPT (FPT Telecom);
Tổng Công ty Truyền thông đa phương tiện (VTC);
Công ty Cổ phần Viễn thông Toàn Cầu (GTEL MOBILE);
Công ty cổ phần Viễn thông Đông Dương (Indochina Telecom);
Công ty cổ phần hạ tầng viễn thông CMC (CMC TI);
Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu (AVG);
Công ty Viễn thông thế hệ mới (NGT);
Công ty Truyền hình cáp Saigontourist (SCTV)
Đánh giá chung: Thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường dịch vụ viễn thông Việt Nam
trong thời gian qua đã mang lại các kết quả rất tích cực, được các tổ chức quốc tế, các nước trên thế giới, xã hội và người tiêu dùng đánh giá cao Mạng lưới hạ tầng viễn thông được đầu tư, phát triển và bao phủ đến mọi vùng miền của đất nước, dịch vụ viễn thông từ một dịch vụ xa xỉ trở thành dịch vụ bình dân, mặc dù Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo nhưng đa số mọi người dân đều có thể tiếp cận với các dịch vụ viễn thông tiên tiến với giá cước thấp, thị trường dịch vụ viễn thông Việt Nam hoàn toàn do các doanh nghiệp Việt Nam làm chủ, mặc dù mở cửa hội nhập song các doanh nghiệp nước ngoài lớn vẫn không cạnh tranh nổi với các doanh nghiệp Việt Nam, với kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh tốt, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam đã tiến hành đầu tư ra nước ngoài mang lại lợi ích về kinh tế, chính trị, ngoại giao cho đất nước Có thể nói viễn thông Việt Nam do tiếp cận với cơ chế thị trường nên đã có những bước phát triển vượt bậc, là lĩnh vực đi đầu theo cơ chế thị trường, thúc đẩy cạnh tranh song vẫn giữ vững được vị thế của Việt Nam và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên thị trường
2.1.2 Môi trường pháp lý
- Môi trường pháp lý đã thay đổi từ Nghị định 109/1997/NĐ-CP đến Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ban hành năm 2002 với việc từng bước mở cửa thị