Qua 10 năm công tác quản lý Nhà nước về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nói chung và chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân luôn được lãnh đạo quận
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam kết đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu kết quả nêu trong tập luận văn là trung thực và được trích dẫn đầy đủ nguồn tham khảo hoặc
từ các tài liệu được nêu ở mục các tài liệu tham khảo; các ý kiến và đề xuất của tác giả chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2014
Học viên
Ngô Thanh Xuân
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Quy trình nghiên cứu 4
4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 5
4.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 5
4.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 5
* Phỏng vấn sâu 5
* Điều tra, khảo sát 6
4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 8
5 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHẤP LÝ VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG 11
1.1 NĂNG LỰC VÀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ 11
1.1.1 Năng lực 11
1.1.2 Năng lực quản lý 15
1.2 TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG, XÃ, THỊ TRẤN 17
1.2.1 Khái niệm Ban Thanh tra nhân dân 17
1.2.2 Khái niệm Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn 21
1.2.3 Đặc điểm của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 22
1.2.4 Vai trò của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 22
1.2.5 Chức năng , nhiệm vụ của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 23
* Chức năng, nhiệm vụ của Trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 23
Trang 3* Chức năng, nhiệm vụ của Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 24
1.3 NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG 24
1.3.1 Khái niệm năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng ban thanh tra nhân dân phường 24
1.3.2 Tiêu chí đánh giá năng lực của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn 25
* Tiêu chí về kiến thức 26
* Tiêu chí về kỹ năng 26
* Tiêu chí về thái độ làm việc 28
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân 28
* Yếu tố thuộc về bản thân Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn 28
* Yếu tố thuộc về đơn vị sử dụng Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn 30
* Các yếu tố khác 31
1.4 BÀI HỌC NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG 32
Kết luận chương 1 33
CHƯƠNG 2: YÊU CẦU VÀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG 34
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG 34
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
2.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN 37
Trang 42.2.1 Cơ cấu, tổ chức Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long
Biên 37
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân phường tại quận Long biên 38
* Chức năng, nhiệm vụ 38
* Nguyên tắc hoạt động của ban Thanh tra nhân dân phường tại quận Long biên 39
2.3.THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ THANH TRA NHÂN DÂN VÀ TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG TẠI QUẬN LONG BIÊN 39
2.3.1 Số lượng, chất lượng thành viên Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên 40
* Về số lượng 40
* Về chất lượng 40
2.3.2 Số lượng, chất lượng đội ngũ Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên 40
* Về số lượng 40
* Về chất lượng 40
2.4 YÊU CẦU NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG TẠI QUẬN LONG BIÊN 44
2.5 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG TẠI QUẬN GIAI ĐOẠN 2010 - 2014 47
2.5.1 Thực trạng về kiến thức của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên tính đến thời điểm 7/2014 47
* Trình độ đào tạo 47
* Kiến thức về pháp luật 49
2.5.2 Thực trạng kỹ năng 50
* Kỹ năng tư duy tổng hợp 53
Trang 5* Kỹ năng lập kế hoạch công tác 54
* Kỹ năng thực thi nhiệm vụ 55
* Kỹ năng làm việc với con người 56
* Kỹ năng làm việc độc lập 59
2.5.3 Thực trạng ý thức thái độ 59
* Nhận thức về công việc: 61
* Yêu thích, tự hào với công việc 62
* Thái độ ứng xử trong thực thi nhiệm vụ 64
2.6 ĐÁNH GIÁ VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG 65
2.6.1 Điểm mạnh về năng lực quản lý củaTrưởng, Phó ban Thanh tra nhân dân phường 65
2.6.2 Điểm yếu về năng lực của Trưởng, Phó ban Thanh tra nhân dân phường 67
2.6.3 Nguyên nhân của các điểm yếu 69
* Nguyên nhân thuộc về bản thân Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 69
* Nguyên nhân từ cơ quan hướng dẫn, chỉ đạo Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 70
* Các yếu tố khác 71
Kết luận chương 2 73
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG TẠI QUẬN LONG BIÊN GIAI ĐOẠN 2015 – 2020 74
3.1 ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG 74
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG 74
3.2.1 Hoạch định đội ngũ cán bộ công chức, Ban Thanh tra nhân dân phường74
Trang 63.2.2 Chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân
dân phường 75
3.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng 77
3.2.4 Tạo động lực việc làm 80
* Mục đích 80
* Các yếu tố tạo động lực trong lao động 82
* Các phương pháp tạo động lực trong lao động 84
* Sự cần thiết phải tạo động lực trong lao động 88
3.2.5 Giải pháp và cơ sở vật chất, tiến bộ KHKT trong quản lý 89
3.2.6 Các giải pháp khác 89
* Đổi mới bầu thành viên Ban Thanh tra nhân dân phường 89
* Đổi mới xây dựng quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân và các thành viên 90
* Đổi mới trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động của ban Thanh tra nhân dân, Trưởng, Phó trưởng ban Thanh tra nhân dân 91
* Đổi mới cách ghi chép sổ họp, giao ban của Ban Thanh tra nhân dân phường 91
* Đổi mới giao ban tháng, sơ kết quí, 6 tháng, tổng kết năm của Ban Thanh tra nhân dân phường 91
* Đổi mới kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân phường 92
* Kiện toàn thành viên Ban Thanh tra nhân dân 92
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG TẠI QUẬN LONG BIÊN 92
3.3.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước ở TW 92
3.3.2 Đối với cơ quan hành chính Nhà nước cấp tỉnh (thành phố) 94
3.3.3 Đối với UBND quận Long Biên 94
3.3.4 Đối với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận 94
Trang 73.3.5 Thanh tra quận 95
3.3.6 Đối với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường 95
3.3.7 Ủy ban nhân dân phường 95
3.3.8 Đối với Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
Sơ đồ 2.1 Ban Thanh tra nhân dân phường trong bộ máy hệ thống chính trị 37
Bảng 1.1 Thang điểm đánh giá năng lực được sử dụng 5 Bảng 1.2 Tổng hợp phiếu điều tra 7 Bảng 2.1 Tuổi đời của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên đến thời điểm tháng 7/2014 41 Bảng 2.2 Giới tính của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên (2010 – 2014) 42 Bảng 2.3 Thực trạng tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên (2010 – 2014) 44 Bảng 2.4 Khung năng lực quản lý đối củaTrưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 45 Bảng 2.5 Trình độ văn hóa của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên tính đến thời điểm tháng 7/ 2014 47 Bảng 2.6 Trình độ đào tạo của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên đến thời điểm tháng 7/2014 48 Bảng 2.7 Kết quả điều tra thực trạng về kỹ năngcủa Trưởng, phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 50 Bảng 2.8 Kết quả điều tra thực trạng về thái độ làm việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường 60
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năng lực của đội ngũ cán bộ Trưởng, phó ban Thanh tra nhân dân phường là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng và có tính quyết định đến kết quả hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân Trước tình trạng đội ngũ cán bộ Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường còn có những hạn chế về phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn Những năm qua công tác lãnh đạo chỉ đạo, triển khai thực hiện Luật Thanh tra, Nghị định 99/2005/NĐ-CP của Chính phủ; của các cấp ủy Đảng, chính quyền và Mặt trận tổ quốc các cấp ở thủ đô Hà Nội luôn thể hiện sự chủ động, tích cực, đồng bộ, thường xuyên liên tục phong phú về hình thức và đạt được hiệu quả thiết thực
Trong điều kiện phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay, thực hiện chính sách, pháp luật ở nước ta nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng còn bộc lộ một số vấn đề bất cập
Quận Long Biên thành phố Hà Nội được thành lập theo Nghị định 132/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động
kể từ ngày 01/01/ 2004 Qua 10 năm công tác quản lý Nhà nước về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nói chung và chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân luôn được lãnh đạo quận quan tâm, chỉ đạo; năng lực, nề nếp, tác phong làm việc của đội ngũ Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân các phường đã có chuyển biến tốt, trình độ chuyên môn và lý luận chính trị được nâng lên đáng kể so với những ngày đầu mới thành lập quận Tuy nhiên một bộ phận thành viên Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân, còn bộc lộ một số hạn chế như năng lực thực tiễn trong thực thi nhiệm vụ, nắm bắt, hiểu biết các văn bản về pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm còn chưa cao
Vì vậy việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân các phường quận Long Biên, thành phố Hà Nội để có những giải pháp nhằm tạo sự chuyển biến về chất lượng Trưởng,
Trang 11Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân các phường quận Long Biên nhằm đáp ứng yêu cầu của Đảng bộ, chính quyền quận Long Biên trở thành nhiệm vụ cấp thiết; ngày 17/9/2001 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 Trong đó
đề ra mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010 là: Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Sau hơn 10 năm thực hiện chất lượng đội ngũ công chức nói chung đã được nâng lên, công chức các phòng, ban chuyên môn phường thuộc quận Long Biên nói riêng đã đáp ứng chuẩn về bằng cấp, cơ bản chuẩn về chuyên ngành đào tạo Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay với việc hình thành nền kinh tế tri thức, sự xuất hiện Chính phủ điện tử, thực hiện ứng dụng các thành quả của khoa học – công nghệ vào quản lý và quan trọng hơn cả là thực hiện mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 theo Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của chính phủ là: “Đến năm 2020 xây dựng được một nền hành chính thực sự trong sạch, minh bạch, chuyên nghiệp, hiện đại và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước” thì việc quan tâm đến năng lực quản lý để nâng cao chất lượng đội ngũ Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường là việc làm rất cần thiết
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận về năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường,
xã, thị trấn cũng như đánh giá năng lực hiện tại của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân này, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ Trưởng,
Trang 12Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn này trong hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước phường, xã, thị trấn
Từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường tại quận Long Biên” làm
đề tài nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Về đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên Luận văn sẽ không nghiên cứu năng lực của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh Tra nhân dân ở các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, Thanh tra chuyên ngành
+ Về không gian nghiên cứu: Trên địa bàn quận Long Biên
+ Thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng và đánh giá năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận Long Biên từ năm 2010 đến nay và kiến nghị giải pháp nâng cao năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận đến năm
2020
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quy trình nghiên cứu
Trang 13Yêu cầu năng lực quản lý của trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
Giải pháp nâng cao năng lực và thu hẹp khoảng cách
Thực trạng năng lực quản
lý của Trưởng, Phó trưởng Ban thanh tra nhân dân phường
Trang 144.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
4.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
- Thông qua hệ thống các văn bản Luật, văn bản quy phạm pháp luật, các nghiên cứu có liên quan để làm căn cứ xác định khung năng lực quản lý cho Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
- Thông qua số liệu thống kê, báo cáo, các nghiên cứu, chắt lọc từ sách báo, tạp chí liên quan đến thực trạng đội ngũ và năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường trên địa bàn quận
4.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Việc thu thập dữ liệu sơ cấp được thực hiện qua hai hình thức là phỏng vấn sâu và điều tra khảo sát, cụ thể như sau:
* Phỏng vấn sâu
a Đối tượng phỏng vấn
Phỏng vấn cán bộ lãnh đạo quản lý thuộc HĐND, UBND phường, gồm: 24 lãnh đạo HĐND, UBND phường; 28 Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; 28 Trưởng, Phó trưởng Ban và thành viên Ban Thanh tra nhân dân phường nhằm: (1) Xây dựng khung năng lực cho Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường và (2) Đánh giá thực trạng năng lực của họ
b Nội dung phỏng vấn
Yêu cầu về năng lực quản lý và đánh giá năng lựcquản lý hiện tại của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường Thang điểm đánh giá năng lực là từ 1 đến 4, được mô tả cụ thể trong bảng 1 dưới đây:
Bảng 1.1 Thang điểm đánh giá năng lực được sử dụng
Trang 15Khi được phỏng vấn về yêu cầu năng lực quản lý của các đối tượng trả lời phỏng vấn đều cho rằng để thực hiện được nhiệm vụ Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, đáp ứng yêu cầu hiện tại cần đạt số điểm từ 3.00 – 3.49 thì mới có thể đáp ứng yêu cầu của Quận đặt ra
Tuy nhiên, để góp phần thực hiện thành công mục tiêu của công cuộc cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 theo đề án 30c của Chính phủ, đáp ứng với các yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH, xây dựng quận Long Biên là cơ quan điện
tử cấp quận theo Quyết định số 1909/QĐ-UBND ngày 08/5/2012 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành kế hoạch cải cách hành chính nhà nước của thành phố
Hà Nội giai đoạn 2011 – 2015 vận dụng vào thì năng lực quản lý hiện tại của Trưởng, phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường phải có điểm số từ 3.00 trở lên
về năng lực Riêng 02 tiêu chí về thực hiện nhiệm vụ gồm: (1) xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động của Ban thanh tra nhân dân và (2) xây dựng báo cáo, các văn bản kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân để gửi cơ quan có thẩm quyền phải đạt điểm tối đa 4
* Điều tra, khảo sát
Điều tra khảo sát bằng phiếu điều tra
- Đối tượng điều tra:
* (1) Phát phiếu điều tra tới lãnh đạo quản lý phường, trong đó có 70 lãnh đạo HĐND, UBND và 28 Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường.;
* (2) 28 Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân,
* (3) 70 thành viên Ban Thanh tra nhân dân phường);
* (42) 140 phiếu lấy ý kiến của Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác Mặt trận (nhân dân)
Kết quả điều tra như sau:
Trang 16Bảng 1.2 Tổng hợp phiếu điều tra
TT Đối tượng đánh giá
Số phiếu gửi đi
Số phiếu phản hồi
Tỷ lệ % phản hồi
2 Trưởng, Phó trưởng Ban
3 Thành viên Ban Thanh tra
(Nguồn: tổng hợp từ các phiếu điều tra)
- Nội dung điều tra: Đánh giá năng lực, trình độ, sức khỏe, thực hiện nhiệm
vụ của Trưởng, phó ban Thanh tra nhân dân; quan hệ Ban Thanh tra nhân dân với UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường; Ban Thanh tra nhân dân với Thanh tra nhà nước quận và với nhân dân
- Cách thiết kế phiếu điều tra: Trên cơ sở các yêu cầu về năng lực đối với Trưởng, Phó Ban Thanh tra nhân dân, tác giả đã tiến hành thiết kế mẫu phiếu điều tra để đánh giá năng lực củaTrưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường Mẫu phiếu được thiết kế chung dùng chung cho 4 đối tượng đánh giá là: Lãnh đạo HĐND, UBND; Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ phường, thành viên Ban Thanh tra nhân dân; Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tác Mặt trận tổ dân phố (nhân dân) Nội dung phiếu điều tra được thiết kế tập trung vào kiến thức về chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn và thái độ của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường (riêng trình độ đào tạo không thiết kế trong phiếu điều tra mà lấy số liệu khảo sát thực trạng Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường) Các yếu tố cấu thành của năng lực, được thiết kế bởi các tiêu chí năng lực
Trang 17khác nhau và theo thang đánh giá từ 1 – 4 ( trong đó: 1.00 – 1.90: yếu; 2.00 – 2.99:
Bình thường; 3.00 – 3.99: Khá; 3.99 – 4.00: Tốt) Nhóm tiêu chí kiến thức về trình
độ chuyên môn cũng như sự phù hợp của chuyên ngành đào tạo được lấy số liệu
theo báo cáo của Mặt trận Tổ quốc quận và phiếu khảo sát Trưởng, Phó trưởng Ban
Thanh tra nhân dân phường
+ Quy trình thiết kế phiếu điều tra sử dụng trong nghiên cứu, đánh giá được
thực hiện như sau:
Thiết kế các tiêu chí năng lực cần
Hoàn chỉnh phiếu điều tra
Tiến hành điều tra trên diện rộng
đến các đối tượng
4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
- Kết quả phỏng vấn được tập hợp trên các bảng nhằm thống kê, tổng hợp
việc đánh giá về năng lực hiện tại của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân
phường Mặt khác, kết quả phỏng vấn này được so sánh với các tiêu thức khác nhau
Trang 18để làm căn cứ xây dựng yêu cầu năng lực quản lý đối với Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
- Kết quả điều tra khảo sát sẽ được phân tích trên phần mềm Excel để tổng hợp số liệu, tính điểm trung bình cho các tiêu chí (kết quả điều tra thực tế được thể hiện tại phụ lục 02)
Để đánh giá được khoảng cách về năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường so với yêu cầu năng lực cần phải thực hiện tổng hợp các phương pháp so sánh kết quả điều tra với yêu cầu năng lực quản lý củaTrưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
- Phương pháp so sánh kết quả được thực hiện trên hai khía cạnh sau:
Thứ nhất: So sánh điểm giữa các nhóm tiêu chí để xác định năng lực nào tốt
hơn năng lực nào, sự so sánh này chỉ mang tính tương đối, miêu tả sự hơn kém giữa các nhóm năng lực; đồng thời, so sánh với yêu cầu đặt ra để thấy được tiêu chí nào
đã đạt yêu cầu, tiêu chí nào cần phải được nâng cao
Thứ hai: So sánh kết quả đánh giá giữa các đối tượng đánh giá khác nhau
Khi tiến hành điều tra, kết quả thu được từ đánh giá của lãnh đạo, của chính bản thânTrưởng, Phó trưởng Ban và thành viên Ban Thanh tra nhân dân phường và của
Tổ trưởng tổ dân phố, trưởng Ban công tác mặt trận có thể khác nhau vì mỗi đối tượng đánh giá trên những góc độ, cách nhìn khác nhau, họ có những mong đợi khác nhau từ năng lực quản lý của Trưởng, Phó Ban Thanh tra nhân dân phường Mong đợi của Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, UBND, Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường về năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường được thể hiện ở đánh giá của lãnh đạo; Kỳ vọng của người dân về năng lực của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường được thể hiện ở đánh giá của họ Nhận thức về thực trạng năng lực quản lý của bản thân được thể hiện thông qua đánh giá của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
Trang 195 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về năng lực quản lý của Trưởng, Phó
trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
Chương 2: Yêu cầu và thực trạng năng lực của quản lý của Trưởng, Phó
trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường tại quận Long Biên giai đoạn 2010 - 2014
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý của
Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường tại quận Long Biên đến năm
2020
Formatted: Left
Formatted: Left
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN
LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA
NHÂN DÂN PHƯỜNG
1.1 1.1 NĂNG LỰC VÀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ
1.1.1 Năng lực
Có rất nhiều nghiên cứu về năng lực, theo quan điểm của những nhà tâm lý
học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với
yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt
hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá
nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do
tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và
năng lực chuyên môn Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt
động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá,
năng lực học tập, năng lực tưởng tượng Năng lực chuyên môn là năng lực đặc
trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc,
năng lực kinh doanh, hội họa, toán học Năng lực chung và năng lực chuyên môn
có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên
môn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ đạt được thành năng lực chuyên môn
Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định
lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế mọi hoạt
động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát
triển ở trình độ cần thiết và có các năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực
công việc của mình
Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được giáo
dục phát triển và bồi dưỡng ở con người Năng lực của một người phối hợp trong
mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở mỗi cá
nhân được hình thành trong quá trình sống và giáo dục của mỗi người
Formatted: Heading 1, Left, Line spacing: single
Formatted: Heading 2, Left, Line spacing: single, No bullets or numbering
Formatted: Font: Not Italic
Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Heading 3, Left, Line spacing: single
Formatted: Font: Not Bold
Trang 21Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động Trong điều kiện bên ngoài như nhau những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp
độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng Thực tế cuộc sống có một số hình thức hoạt động như nghệ thuật, khoa học, thể thao Những hình thức mà chỉ những người có một số năng lực nhất định mới có thể đạt kết quả
Để nắm được cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau: Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia, nếu một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung nào
Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm như thế nào chính năng lực thể hiện
ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật chất mà kết quả lại tốt Cần phân biệt năng lực với trí thức, kỹ năng, kỹ xảo Trí thức là những hiểu biết thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình
Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm vào thức tế để tiến hành một hoạt động nào đó Kỹ xảo là những kỹ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần
Trang 22đến mức thuần thục cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức vào việc mình đang làm Còn năng lực là một tổ hợp phẩm chất tương đối ổn định, tương đối
cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện có kết quả một hoạt động, do đó người
có trình độ học vấn cao đại học, trên đại học hoặc có nhiều kinh nghiệm sống do công tác lâu năm và kinh qua nhiều cương vị khác nhau nhưng vẫn có thể thiếu về năng lực cần thiết khác như năng lực tổ chức, năng lực trí tuệ Nếu chỉ căn cứ vào bằng cấp hay quá trình công tác mà bầu, chọn Trưởng, Phó trưởng ban Thanh tra nhân dân phường là chưa đủ, chỉ có căn cứ và hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao để đánh giá năng lực cán bộ Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân
phường thì mới đúng đắn, tuy nhiên cũng cần thấy rằng giữa năng lực và tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo có quan hệ mật thiết với nhau, năng lực tư duy không thể phát triển cao ở người có trình độ học vấn thấp
Từ các nhận định trên, ta có thể mô tả năng lực theo công thức:
Năng lực thể hiện bằng: Kiến thức; Kỹ năng; Thái độ làm việc
Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về vị trí việc làm (sau đây viết tắt là VTVL) và cơ cấu ngạch công chức và Thông tư
số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định
số 36/2013/NĐ-CP có thể nói là một bước đi nhằm cụ thể hóa đề án "Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức" theo Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18 tháng
10 năm 2012; trong đó có nội dung đẩy mạnh phân cấp quản lý và hoàn thiện việc
tổ chức công vụ gọn, nhẹ; giảm quy mô công vụ, tránh chồng chéo, tiếp tục tinh
giảm biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức "Khung năng lực" có thể là một trong những khái niệm khá mới mẻ với nền công vụ Việt Nam
được đề cập đến trong Nghị định và Thông tư nêu trên
Tuy nhiên, nội dung này được định nghĩa khá sơ sài trong Thông tư số BNV là: "Khung năng lực của từng vị trí việc làm được xây dựng gồm các năng lực
Trang 2305/2013/TT-và kỹ năng phải có để hoàn thành các công việc, các hoạt động nêu tại Bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm" và chưa có bất kỳ hướng dẫn hay nội hàm cụ thể nào được cụ thể hóa
Thực chất, khái niệm về Khung năng lực bắt nguồn từ định nghĩa về năng lực đã được nghiên cứu, áp dụng trong quản lý nhân sự ở cả lĩnh vực công và tư tại nhiều quốc gia Theo Cục quản lý nhân sự (Office of Personnel Management) của
Mỹ, năng lực được hiểu là đặc tính có thể đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái độ, các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ và là yếu tố giúp một
cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác Năng lực có thể phát triển, nâng cao và duy trì thông qua các khóa tập huấn, việc luân chuyển vị trí, kinh nghiệm thực tiễn, quá trình học tập hoặc tự bản thân phát triển Việc có đạt được cấp độ nào đó của một năng lực được đánh giá thông qua khả năng áp dụng năng lực đó trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau [11]
Vì thế, Khung năng lực (Competences framework) là bảng mô tả tổ hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm một cá nhân cần để hoàn thành tốt công việc
Nói cách khác, khung năng lực có thể hiểu là tiêu chuẩn chức danh công chức và tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương trở lên Đây là một
trong những công cụ quản lý nhân sự khoa học, giúp định hướng những tố chất,
Trang 24năng lực cần có ở công chức nhằm đạt mục tiêu đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, tạo nên một nền hành chính "chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch và hiệu quả" Kết cấu của khung năng lực thường gồm 3 nhóm năng lực chính sau:
Nhóm năng lực chung: Phản ánh văn hoá và năng lực cốt lõi của tổ chức,
yêu cầu tất cả cá nhân trong tổ chức phải có và thể hiện được trong quá trình làm việc
Nhóm năng lực chuyên môn/ đặc thù: Là những năng lực thuộc lĩnh vực
chuyên môn, mang tính đặc thù cho vị trí công việc hoặc bộ phận mà cá nhân cần có để có thể đảm nhận vị trí công việc đó
Nhóm năng lực quản lý: Là các yêu cầu đối với các công việc có tính chất
quản lý bao gồm hoạch địch, tổ chức, điều phối nguồn lực (ngân sách, con người…) và thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá công việc Tùy theo tính chất phức tạp, mức độ và phạm vi quản lý mà mỗi chức danh có những yêu cầu về tiêu chuẩn năng lực quản lý khác nhau[11]
1.1.2 Năng lực quản lý
Qua phân tích ở trên ta có thể thấy năng lực quản lý phụ thuộc vào bối cảnh
và mục đích sử dụng những năng lực đó Năng lực quản lý còn là những đòi hỏi của các công việc, các nhiệm vụ và các vai trò Vì vậy, năng lực quản lý được xem như
là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc
Có rất nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu về năng lực quản lý, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình:
- Những mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”;
- Những mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình;
Trang 25- Những mô hình dựa trên cơ sở các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc” Mô hình tiếp cận với sản phẩm đầu ra được các nhà nghiên cứu và thực hành trên thế giới ủng hộ rất nhiều
Theo McLagan (1989), thì năng lực được hiểu là một tập hợp các kiến thức, thái độ, và kỹ năng hoặc cách chiến lược tư duy mà tập hợp này là cốt lõi và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng
Theo Bernard Wyne và David Stringer (1997), thì năng lực là kỹ năng, hiểu biết, hành vi, thái độ được tích luỹ mà một người sử dụng để đạt được kết quả công việc mong muốn của họ
Từ các nhận định trên, ta có thể mô tả năng lực theo công thức:
Năng lực quản lý là tổng thể: Kiến thức; Kỹ năng; Thái độ làm việc
Trong đó:
* Kiến thức: Là những hiểu biết về một sự vật hoặc hiện tượng mà con người
có được thông qua trải nghiệm thực tế hoặc được tích lũy từ giáo dục
* Kỹ năng: Là khả năng áp dụng tri thức khoa học vào thực tiễn để giải quyết một công việc cụ thể nào đó
* Hành vi, thái độ: Hành vi, thái độ đối với một công việc được hiểu là quan điểm, quan niệm về giá trị, thế giới quan, suy nghĩ, tình cảm, ứng xử của cá nhân ấy với công việc đang đảm nhận
Như vậy, năng lực quản lý là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ được tích luỹ mà một người sử dụng để đạt được kết quả công việc mong muốn của
Trang 26không thể phân tích chung cho mọi công việc Điều này có nghĩa là các năng lực quản lý luôn bị chi phối bởi bối cảnh cụ thể: Môi trường, bối cảnh cụ thể của đất nước, tổ chức, và vị trí cụ thể trong tổ chức đó
1.2 TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG,
XÃ, THỊ TRẤN
1.2.1 Khái niệm Ban Thanh tra nhân dân
Thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật
để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi, vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Có nhiều hình thức Thanh tra khác nhau:
Thanh tra là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ nhữngcá nhân, tổ chứcthực thi công việcnhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
ch ức, cá nhân [26]
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ
tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
Trang 27Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó
Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban thanh
tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước
Thanh tra nhân dân được tổ chức dưới hình thức Ban thanh tra nhân dân Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước
Ban thanh tra nhân dân có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước
Rất khó có một khái niệm chung về Thanh tra nhân dân cho tất cả các quốc gia; thậm chí, ngay trong một quốc gia, ở từng thời kì phát triển khác nhau, thuật ngữ này cũng mang những nội dung khác nhau Một số nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người tham gia các hoạt động quản lý nhà nước Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, cho rằng công chức không chỉ bao gồm những
Trang 28người trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả
nh ững người làm việc trong các cơ quan dịch vụ công
- Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt
- Ngày 09/01/1976, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 25/TTg về việc
tổ chức Ban Thanh tra nhân dân ở các đơn vị cơ sở chính quyền, kinh tế, sự nghiệp Đây là văn bản chính thức đầu tiên trong việc ra đời và hình thành một hệ thống thanh tra quần chúng Thực hiện chủ trương của Chính phủ nói chung, ngày 17/08/1976 Ủy ban Thanh tra của Chính phủ (nay là Thanh tra Chính phủ) ban hành Thông tư số 02/TT-TTR hướng dẫn thi hành Quyết định số 25/TTg ngày 09/01/1976
- Năm 1978, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Thông tri số 71 chỉ rõ: “Về công tác thanh tra thì phải tăng cường cả 3 hệ thống: Kiểm tra Đảng, Thanh tra Nhà nước ở từng ngành, từng địa phương và Thanh tra nhân dân, mỗi hệ thống phải chủ động làm tốt phần việc của mình và có phối hợp với nhau khi cần thiết Công tác Thanh tra phải tìm ra và phát huy mặt tốt, đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời việc xấu”
- Ngày 26/04/1979, Chính phủ ban hành Nghị định số 182/CP quy định về quyền làm chủ tập thể của công nhân viên chức, trong đó đã cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt động của các Ban Thanh tra công nhân trong các cơ sở sản xuất kinh doanh và các cơ quan Nhà nước Ngay sau khi có Nghị quyết Trung ương lần thứ 6, ngày 22/10 và ngày 07/11/1979, Ủy ban Thanh tra Chính phủ và Tổng Công đoàn Việt Nam đã ban hành Thông tư liên bộ “hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra công nhân viên chức tại các đơn vị cơ sở sản xuất, kinh doanh, sự nghiệp, hành chính của Nhà nước” (trong đó có Thông tư số 03/TT-
LB, ngày 07/11/1979 hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra công nhân viên chức tại các đơn vị cơ sở sản xuất - kinh doanh, sự nghiệp - hành chính của Nhà nước)
Trang 29- Ngày 15/02/1984, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có Nghị quyết
số 26/HĐBT về việc tăng cường tổ chức thanh tra và nâng cao hiệu lực thanh tra, trong đó nêu rõ về vấn đề hệ thống tổ chức Thanh tra Nhà nước và Thanh tra nhân dân
Từ khi có Nghị quyết 26/HĐBT nói trên, tên gọi của Ban Thanh tra công nhân và Thanh tra nhân dân thống nhất chung là Ban thanh tra nhân dân; xác định đây là tổ chức thanh tra của quần chúng ở các cơ sở và là cấp cơ sở trong hệ thống Thanh tra Nhà nước dưới sự chỉ đạo của Ủy ban TTNN Trung ương lúc đó
- Ngày 01/06/1985 Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định số 157/HĐBT quy định tổ chức và hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân ở các đơn vị cơ sở và Nghị định số 158/HĐBT quy định tổ chức và hoạt động của các Ban Thanh tra các
Bộ, Ngành Trung ương Hai văn bản này nhằm cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các Ban Thanh tra nhân dân
- Ngày 01/04/1990 Chủ tịch nước ký sắc lệnh công bố Pháp lệnh Thanh tra, trong đó dành một chương quy định về tổ chức Thanh tra nhân dân (chương III) Trên cơ sở đó hàng loạt các văn bản pháp lý khác về công tác Thanh tra nhân dân lần lượt ra đời, bao gồm:
+ Thông tư 124/TTNN, ngày 18/07/1990 của Thanh tra Nhà nước hướng dẫn về tổ chức của Thanh tra nhân dân
+ Nghị định 241/HĐBT, ngày 05/08/1990 quy định về tổ chức và hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân Trong đó quy định các loại hình Ban Thanh tra nhân dân
- Ngày 24/06/2004, Chủ tịch nước ký Lệnh số 11/2004/L-CTN công bố Luật Thanh tra, mở ra một thời kỳ mới cho công tác thanh tra nói chung và công tác thanh tra nhân dân nói riêng Trong luật này dành riêng một chương (Chương IV gồm 10 Điều) nói về Thanh tra nhân dân, chia làm 2 mục: Mục 1 về Ban Thanh tra
Trang 30nhân dân xã, phường, thị trấn; Mục 2 về Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước
- Ngày 28/07/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2005/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân
- Ngày 12 tháng 5 năm 2006 Bộ Tài chính, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Thông tư liên tịch số 40/2006/TTLT-BTC-BTTUBTWMTTQVN-TLĐLĐVN hướng dẫn về kinh phí bảo đảm hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân[26]
- Ngày 29 tháng 11 năm 2010, Chủ tịch nước ký Lệnh số 13/2010/L-CTN công bố Luật Thanh tra năm 2010 có hiệu lực ngày 01/7/2011, nội dung về Thanh tra nhân dân được quy định cụ thể tại Chương VI với 11 Điều (từ Điều 65 đến Điều 75) [16,tr.67-68-69-70-71]
Khái niệm Thanh tra nhân dân gắn liền với sự ra đời Quy chế dân chủ ở cơ
sở Từ những năm cuối thập kỷ 80 thế kỷ XX, tại một số địa phương của nước ta, việc thực hiện một số chủ trương, chính sách thiếu công khai, dân chủ gây bức xúc, bất bình trong nhân dân
1.2.2 Khái niệm Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn
Vấn đề Thanh tra nhân dân được quy định cụ thể tại Chương VI với 11 Điều (từ Điều 65 đến Điều 75)
Tổ chức Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn được thực hiện theo quy định tại Điều 65 Luật Thanh tra năm 2010 Ban Thanh tra nhân dân có Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên Trưởng ban chịu trách nhiệm chung về các hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân Phó Trưởng ban có trách nhiệm giúp Trưởng ban thực hiện nhiệm vụ Các thành viên khác thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng ban
Trang 31Vì vậy vận dụng khái niệm này vào trường hợp cụ thể làTrưởng, Phó ban thanh tra nhân dân phường có thể hiểu:
Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường làm việc tại phường theo chức năng nhiệm vụ của Luật Thanh tra 2010; Nghị định số 99/2005/NĐ-CP ngày 28/7/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân[16,tr.67-68-69-70-71], [21]
1.2.3 Đặc điểm của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường là một bộ phận trong hệ thống cán bộ phường vì vậy họ cũng có các đặc điểm của công chức HCNN đó là: -Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường là một bộ phận nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống chính trị của phường
- Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phườngcó đặc điểm là thực hiện thường xuyên một số công việc theo nghiệp vụ chuyên môn mà Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường đó đảm nhiệm Đặc điểm này được gọi là tính nghề nghiệp của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường phải có các kỹ năng, nghiệp vụ và kiến thức chuyên môn về Nhà nước, pháp luật
- Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường không phải là công chức, tự nguyện tham gia, không được hưởng lương (Trưởng ban gắn với Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường hưởng phụ cấp 1.00)
1.2.4 Vai trò của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
Như trên đã trình bày Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường là một bộ phận trong hệ thống cán bộ phường vì vậy họ cũng có vai trò của cán bộ phường, đó là:
- Là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ tham mưu giám sát thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở phường, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước Đưa các chính sách và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành thực
Trang 32tiễn và tiếp thu nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ánh kịp thời với cấp trên, giúp cho Đảng, chính quyền cấp phường đề ra được những chủ trương, chính sách sát với thực tiễn
- Là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quan trọng góp phần trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy HCNN cấp phường, là một trong những nguồn nhân lực quan trọng góp phần trong việc thực hiện công cuộc CNH, HĐH đất nước tại phường, quận
- Là lực lượng trực tiếp, gián tiếp tham gia giám sát xây dựng đường lối đổi mới kinh tế của đất nước, hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, tổ chức QLNN
- Là người trực tiếp giám sát thực thi các chính sách kế hoạch của Nhà nước
- Là chủ thể trực tiếp phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội với các nguồn lực trong tổ chức của phường như tài chính, người lao động, cơ sở vật chất và nguồn lực khác;
- Là người thực tiếp thực hiện giám sát, giao tiếp giữa các cơ quan quản lý của nhà nước với bên ngoài (các cơ quan khác, người dân, xã hội) Đó là việc trao đổi thông tin giữa các cơ quan nhà nước với nhau Tiếp nhận thông tin từ xã hội, rồi tiến hành phản hồi những thông tin nhận được, giao tiếp với cơ quan, tổ chức doanh nghiệp, công dân
-> Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường có vị trí, vai trò như
là cầu nối giữa chính quyền phường, quận với quần chúng nhân dân
1.2.5 Chức năng , nhiệm vụ của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
* Chức năng, nhiệm vụ của Trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường [25]
- Lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân
- Triệu tập và chủ trì các cuộc họp củaBan Thanh tra nhân dân
- Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động củaBan Thanh tra nhân dân
- Xây dựng văn bản kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân để gửi lên cơ quan có thẩm quyền
Trang 33- xây dựng báo cáo tháng, quý, năm của Ban Thanh tra nhân dân
- Thay mặt Ban Thanh tra nhân dân quan hệ với cơ quan, tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ
- Tham dự các cuộc họp Hội động nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ủy ban mặt trận Tổ quốc phường khi được mời
- Quản lý mọi hồ sơ và các văn bản kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân[25]
* Chức năng, nhiệm vụ của Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
- Thực hiện một số nhiệm vụ khi được Trưởng ban phân công Khi Trưởng
ban đi vắng thì Phó trưởng ban thay mặt Trưởng ban điều hành các hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân phường
- Trực tiếp phụ trách việc tiếp dân, nắm tình hình hoạt động của Thanh tra nhân dân ở tổ dân phố và quản lý kinh phí của ban [25]
1.3 NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG, PHÓ TRƯỞNG BAN
THANH TRA NHÂN DÂN PHƯỜNG
1.3.1 Khái niệm năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
Từ quan điểm của Bernard và David Stringer (1997) và McLagan (1989) về năng lực, có thể vận dụng vào năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn gồm khả năng đưa ra sáng kiến có giá trị, dám chịu trách nhiệm, sáng tạo, có khả năng phân biệt cái gì quan trọng đối với công việc, cái gì không quan trọng và có khát vọng, mong muốn đạt được kết quả
Năng lực quản lý của Trưởng, Phó ban thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn là khả năng để làm được công việc được giao, đề xuất xử lý các tình huống trong công việc theo chức năng nhiệm vụ của Ban Thanh tra nhân dân phường kể cả các công việc phát sinh
Trang 34Như vậy, Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường phải biết sử dụng tổng hợp các tài sản của mình như kiến thức, kỹ năng và cá tính
để đạt được các mục tiêu và mục đích cụ thể Năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân phường gắn với bối cảnh mang tính cá nhân
và năng động Ngoài các kiến thức về trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực thi nhiệm vụ đã được trang bị, đối với mỗi Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường còn bao hàm khả năng quan hệ giữa cán bộ Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường với nhau, quan hệ với lãnh đạo, quản lý phường, cán bộ công chức,với các ngành, đoàn thể phường và với các tổ chức bên ngoài và nhân dân trên cơ sở những thái độ, kỹ năng giao tiếp cần thiết
Vì vậy, năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, là tổng thể các kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc Năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phườngđược thể hiện thông qua kết quả, chất lượng các công việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phườngđó đảm nhận.
1.3.2 Tiêu chí đánh giá năng lực của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn
Căn cứ khái niệm về năng lực của Bernard và David Stringer (1997),
McLagan (1989), căn cứ chức năng, nhiệm vụ củaTrưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn được quy định bởi hệ thống pháp luật để đánh giá năng lực quản lý của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn, người ta dựa trên các tiêu chí:
- Kiến thức
- Kỹ năng
- Thái độ làm việc
* Tiêu chí về kiến thức
Trang 35Kiến thức của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn ảnh hưởng bởi quá trình đào tạo của bản thân từng Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn và khả năng tiếp cận kiến thức của họ Trình độ đào tạo của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn thể hiện ở bằng cấp, chứng chỉ, chứng nhận trình độ đã được đào tạo Trình độ đào tạo thể hiện cấp độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn cá nhân thu nhận được từ khoá đào tạo Như vậy, trình độ đào tạo cho biết người Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn đó được đào tạo như thế nào, với chuyên môn gì, thời gian bao lâu và bằng cấp như thế nào Thông tin từ “trình độ đào tạo” cho ta biết khả năng có thể thực hiện được công việc mang tính nghề nghiệp mà cá nhân được đào tạo, là một trong những tiêu chuẩn đầu tiên để làm một loại công việc chuyên môn được đào tạo hay đảm trách một vị trí công việc nào đó Như vậy Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn cần có kiến thức
cơ bản sau: (1) Kiến thức chung: Là trình độ được đào tạo qua các trường lớp có văn bằng chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công việc Trình độ chuyên môn đào tạo ứng với văn bằng hiện tại của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn là từ trung cấp trở lên Tuy nhiên, khi xem xét về trình độ chuyên môn của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn cần phải lưu ý đến sự phù hợp giữa chuyên ngành đào tạo với yêu cầu thực tế của công việc; (2) Kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ gồm: Các kiến thức cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ; Kiến thức để nắm các mục tiêu và đối tượng quản lý, hệ thống các nguyên tắc và cơ chế quản lý của nghiệp vụ thuộc phạm vi mình phụ trách.(3) Hiểu biết về pháp luật gồm: Am hiểu về chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực được phân công; Thông hiểu các thủ tục hành chính, nghiệp vụ của ngành mình quản lý
* Tiêu chí về kỹ năng
Kỹ năng của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã thị trấn là mức độ thành thạo trong tiến hành một hoạt động cụ thể nào đó Kỹ năng của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn là một yếu tố
Trang 36quyết định tạo nên năng lực làm việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã thị trấn phải có các kỹ năng sau: (1) Kỹ năng tư duy (Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn có khả năng tư duy và tổng hợp công việc một cách linh hoạt để vận dụng vào thực tiễn, có khả năng giải quyết vấn đề một cách tự tin và sáng tạo); (2) Kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ là khả năng tổ chức công việc một cách có kế hoạch gồm: Kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng thực thi nhiệm vụ, kỹ năng làm việc độc lập; (3) Kỹ năng làm việc với con người
a Kỹ năng tư duy
Kỹ năng tư duy là khả năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề Kỹ năng
tư duy là đề cập đến năng lực tư duy của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn có khả năng nhận biết được vấn đề kể cả vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện công việc và tham mưu với lãnh đạo giải quyết vấn đề một cách tự tin, sáng tạo Kỹ năng này đòi hỏi phải hiểu chức năng nhiệm vụ của đơn vị của bản thân mình và các chính sách pháp luật liên quan đến lĩnh vực đó
b Kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ
Kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ là khả năng của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường thể hiện được kiến thức và tài năng trong quá trình hoạt động thuộc chuyên môn của mình Nó bao gồm kỹ năng thực hiện các hoạt động chuyên môn và kỹ năng thực hiện các quy trình chuyên môn
c Kỹ năng làm việc với con người
Vai trò của người Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn là cầu nối giám sát đưa các chính sách pháp luật của Nhà nước, các chương trình, kế hoạch công tác của phường/xã/thị trấn đến với người dân để dân hiểu và thực hiện đúng pháp luật; là người thực tiếp thực hiện giao tiếp, trao đổi thông tin, tiếp nhận thông tin từ xã hội, rồi tiến hành phản hồi những thông tin nhận được, giao tiếp với cơ quan, tổ chức doanh nghiệp, công dân Vì vậy người Trưởng, Phótrưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã thị trấn phải có kỹ năng quan hệ,
Trang 37liên quan đến khả năng giao tiếp, phối hợp, chia sẻ và động viên, thu hút người khác với tư cách cá nhân hoặc nhóm
* Tiêu chí về thái độ làm việc
Thái độ làm việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường,
xã, thị trấn là ý thức, trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ ở vị trí công tác đang đảm nhận Thái độ làm việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường,
xã, thị trấn ảnh hưởng bởi phẩm chất cá nhân, đạo đức nghề nghiệp Phẩm chất đạo đức cần của người Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn
đó là sự trung thực, khách quan, là ý thức làm việc, trách nhiệm đối với công việc, tinh thần học tập, sáng tạo trong công việc Thái độ làm việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn gồm: Nhận thức về công việc; Yêu thích và tự hào với công việc; Thái độ ứng xử trong thực thi nhiệm vụ Dựa vào các yếu tố này và sau khi phỏng vấn lãnh đạo Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, để đáp ứng chiến lược phát triển đến năm 2020, luận văn đưa ra yêu cầu khung về năng lực đối vớiTrưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn như sau:
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực quản lý của trưởng, Phó trưởng ban Thanh tra nhân dân
* Yếu tố thuộc về bản thân Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn
Yếu tố chủ quan quyết định năng lực của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường xuất phát từ bản thân Trưởng, Phó trưởng ban Thanh tra nhân dân phường gồm:
- Về tuổi đời: Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường có tuổi đời cao (20% trên 70 tuổi; 35% từ 60 đến 69 tuổi), ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân và Ban Thanh tra nhân dân phường
Trang 38- Khả năng làm việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn một phần do năng khiếu bẩm sinh, được di truyền, thừa hưởng
từ các thế hệ trước
- Thể trạng và cả thể lực, tinh thần, được thể hiện ở søc kháe của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn có sức khoẻ tốt thì có thể làm việc tích cực mang lại những hiệu quả công việc tốt bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung khi làm việc.Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn có thể trạng tốt có thể đảm đương công việc của mình tốt hơn, chịu được áp lực từ công việc
- Được đào tạo và khả năng tiếp cận kiến thức; những Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường được đào tạo bài bản sẽ có kiến thức tốt hơn những người không được đào tạo, những người có tố chất thông minh sẽ có khả năng tiếp cận với công việc tốt hơn Đây chính là yếu tố giáo dục - đào tạo của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn ảnh hưởng đến năng lực của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường Giáo dục là nhân tố cơ bản để hình thành, phát triển ở mỗi con người nhân cách, sức lao động, tạo ra cho con người sự phát triển hài hòa cả thể lực- trí lực- tâm lực.Trong bản báo cáo tổng kết của ủy ban giáo dục của UNESCO năm 1995, đã cho rằng “ Giáo dục là của cải nội sinh” Kết quả của giáo dục đối với mỗi người là nội lực của người ấy và hơn nữa, nội lực ấy phải có khả năng tạo ra của cải vật chất, tạo ra phúc lợi cho toàn xã hội Trong báo cáo đã đưa ra bốn nguyên lý của giáo dục, còn được gọi là 4 trụ cột của
nền giáo dục: học để biết (Learning to know);học để làm (learning to do); học để
chung sống với mọi người (learning to live together); và học để tồn tại (learning to be)[28]
Đối với nước ta, để thực hiện mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm
2020, thực hiện quá trình CNH, HĐH đòi hỏi phải cải cách giáo dục và đào tạo một cách mạnh mẽ đang là một yêu cầu cấp bách như văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII của Đảng đã khẳng định: "Phát triển giáo dục và đào tạo là
Trang 39một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[23],[24]
- Động lực làm việc: Động lực làm việc ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, hiệu quả làm việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường Có động lực làm việc Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường sẽ có sự nhiệt huyết, ý thức, trách nhiệm với công việc góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc
* Yếu tố thuộc về đơn vị sử dụng Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn
Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực của cán bộTrưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn gồm:
- Công tác bầu Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và thực hiện đúng nguyên tắc, quy trình bầu, công nhận là đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật; đảm bảo tính cạnh tranh; tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và
vị trí việc làm Căn cứ vị trí việc làm để đưa ra các yêu cầu, điều kiện giới thiệu, tuyệt đối không sử dụng phương pháp tuyển người rồi mới tìm việc để bố trí cho người đó Nếu phường không tuân thủ chặt chẽ các quy định và nguyên tắc bầu Trưởng , Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường thì sẽ dẫn đến việc bầu, chọn không phù hợp với vị trí việc làm, không phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ dẫn đến ảnh hưởng đến năng lực của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
- Quản lý, sử dụng Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường Bầu, sử dụng Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn là 2 yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau Việc bố trí, sử dụng Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, bởi nếu đơn vị sử dụng
bố trí Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, không phù hợp thì sẽ
Trang 40không phát huy hết khả năng của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, dẫn đến hiệu quả công việc không cao
* Các yếu tố khác
Yếu tố quyết định năng lực của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường xuất phát từ:
- Điều kiện phát triển kinh tế của trong nước và quốc tế
- Chế độ chính sách của nhà nước: Kinh phí, thưởng và các cơ chế hỗ trợ đảm bảo đời sống vật chất của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường Chính sách là một công cụ hết sức quan trọng trong việc tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triển, cống hiến của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường
Hệ thống chính sách xã hội đúng đắn vì mục tiêu của con người là động lực
to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu hướng tới của các chính sách là phải phát huy được nhân
tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội; chú trọng nâng cao đời sống vật chất, đồng thời với đời sống tinh thần; quan hệ giữa cá nhân, tập thể với cộng đồng xã hội được giải quyết hợp lý, hài hoà
- Động cơ làm việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường,
xã, thị trấn: Động cơ làm việc là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, hiệu quả, chất lượng công việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường, xã, thị trấn Động cơ làm việc có được phụ thuộc vào các yếu tố sau: + Điều kiện làm việc: Cơ sở vật chất; công cụ, dụng cụ, các trang thiết bị làm việc
+ Cơ hội phát triển bản thân, phát triển nghề nghiệp
+ Cơ hội thăng tiến
Hiện nay, ở nước ta có thể nói các yếu tố nêu trên đều ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng thực hiện công việc của Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường Trưởng, Phó trưởng Ban Thanh tra nhân dân phường làm việc không