Hoạt động công vụ do các cán bộ, công chức thực hiện, cho nên vấn đề bức xúc đặt ra ở đây là phải xây dựng đội ngũ công chức hành chính chính quy, bảo đảm thi hành nhiệm vụ nhà nước một
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ là một trong những vấn đề có tầm quan trọng quyết định đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, của Đảng, của đất nước và chế độ bởi vì cán bộ chính là người góp phần tích cực vào quá trình xây dựng, giữ gìn, cụ thể hoá, phát triển và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, vì hạnh phúc của nhân dân
Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và danh nhân văn hoá thế giới đã khẳng định “cán bộ
là gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém" Người còn chỉ rõ “cán bộ chính là tiền vốn của Đảng, có vốn mới làm ra lãi, bất cứ chính sách công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức có lãi, không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức lỗ” Hồ Chí Minh là người rất thành công trong việc xây dựng cho chính Người, cho cách mạng và dân tộc Việt Nam một đội ngũ cán bộ tuyệt đối trung thành, trọn vẹn tài đức và ý chí, đủ sức đảm đương thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Từ lý luận và thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm về cán
bộ và công tác cán bộ, không chỉ là một nền tảng tư tưởng để Đảng và Nhà nước ta xây dựng được đội ngũ cán bộ vẹn toàn tài đức, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong tiến trình cách mạng những năm qua, mà còn có giá trị định hướng cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở mọi ngành, mọi cấp trong giai đoạn cách mạng hiện nay Do đó, để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo,
“nguồn tài nguyên” vô giá, vô tận của đất nước; phải có cách nghĩ, cách nhìn mới
về vai trò động lực và mục tiêu của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; từ đó xây dựng các chương trình, kế hoạch và chiến lược phát triển nguồn lực phù hợp, phát huy tối đa nhân tố con người, tạo ra động lực
Trang 2mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện đất nước
Ngày nay, chất lượng đội ngũ cán bộ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển toàn diện đất nước Nếu trước đây sự phát triển của một quốc gia chủ yếu dựa vào các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn tư bản, nguồn lao động, thị trường tiêu thụ thì hiện nay chính tri thức lại có ý nghĩa hết sức lớn lao, góp phần tạo nên sự thịnh vượng, giàu có cho một quốc gia, lãnh thổ Xu thế toàn cầu hóa cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là sự ra đời của Internet đã làm cho các quốc gia, lãnh thổ ngày càng trở nên gần nhau hơn, qua đó
sự cạnh tranh cũng càng trở nên gay gắt hơn, và tất nhiên ưu thế cạnh tranh bao giờ cũng nghiêng về quốc gia, lãnh thổ có chất lượng nguồn nhân lực cao hơn, được đào tạo tốt hơn
Đội ngũ cán bộ công chức nói chung và ở các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban Nhân dân các cấp nói riêng là những chủ thể tiến hành các công vụ cụ thể Đây
là hạt nhân của nền công vụ và cũng chính là yếu tố bảo đảm cho nền công vụ hiệu lực, hiệu qủa Hoạt động công vụ khác với các loại hoạt động thông thường khác, công vụ là hoạt động dựa trên cơ sở sử dụng quyền lực nhà nước Nó được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước và nhằm sử dụng quyền lực đó để thực hiện các nhiệm vụ quản lý của nhà nước Hoạt động công vụ là hoạt động có tổ chức và tuân thủ những quy chế bắt buộc, theo trật tự có tính chất thứ bậc chặc chẽ, chính quy và liên tục Hoạt động công vụ do các cán bộ, công chức thực hiện, cho nên vấn đề bức xúc đặt
ra ở đây là phải xây dựng đội ngũ công chức hành chính chính quy, bảo đảm thi hành nhiệm vụ nhà nước một cách có hiệu qủa và bức xúc hơn là phải có những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đang thực thi công
vụ ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân các cấp nói chung và cấp huyện nói riêng để có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị của địa phương
Trang 3Một trong những mục tiêu cụ thể của chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước là xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được tổ chức gọn nhẹ, thực hiện đúng chức năng quản lý Nhà nước theo nhiệm vụ và thẩm quyền được xác định trong Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân (sửa đổi) Theo khảo sát tình hình thực tế, đội ngũ cán bộ công chức Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn cơ bản thiếu về số lượng, chất lượng nhìn chung chưa đảm bảo để đáp ứng yêu cầu công việc trong giai đoạn phát triển hiện nay, nhất là trong các lĩnh vực an sinh xã hội, quản lý giáo dục, quản lý tài chính, quản lý tài nguyên và môi trường vv Nghị Quyết Đại hội Đảng Bộ huyện Văn Chấn lần thứ 19 và Nghị Quyết Đại hội Đảng Bộ tỉnh Yên Bái lần thứ
17 trong nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã quyết tâm đưa ra chỉ tiêu xây dựng huyện Văn Chấn trở thành trung tâm động lực phát triển khu vực phía Tây của tỉnh Yên Bái (bao gồm các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải và thị xã Nghĩa Lộ) Chính vì thế phải có những giải pháp khả thi để có thể xây dựng được đội ngũ cán
bộ, công chức vừa có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại vừa đảm bảo
có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển của huyện, của đất nước và phục vụ nhân dân
Từ các vấn đề cấp thiết nêu trên đây, để đánh giá được thực trạng của đội ngũ cán bộ, công chức ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn, tìm ra những nguyên nhân mạnh, yếu, nhất là những nguyên nhân hạn chế nhằm xây dựng những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của địa phương, tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái”
2 Lịch sử nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luận văn
Do tầm quan trọng của cán bộ, công chức nhà nước, cho đến nay, có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cũng như nâng cao chất lượng cán bộ,
Trang 4công chức nhà nước trong đó có cán bộ công chức công tác tại Uỷ ban Nhân dân các cấp:
"Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp, hóa hiện đại hóa đất nước" của PGS.TS
Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm, Nxb Chính trị quốc gia, 2003; các tác giả của công trình nghiên cứu này nghiên cứu lịch sử phát triển của các khái niệm về cán bộ, công chức, viên chức; góp phần lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung Từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu
“Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương, 2004 Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí người cán bộ cách mạng, cũng như yêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức; tìm hiểu những bài học kinh nghiệm về việc tuyển chọn và sử dụng nhân tài trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, cũng như kinh nghiệm xây dựng nền công vụ chính quy hiện đại của các nước trong khu vực và trên thế giới Từ đó xác định hệ thống các yêu cầu, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Đề tài Thạc sĩ: “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” của tác giả Trần Ánh Dương (2006),
đi vào nghiên cứu về công chức chính quyền cấp xã
- Nguyễn Văn Sơn (2007) đã có bài viết trình bày một cách khái quát vai trò
của nguồn nhân lực đối với sự phát triển bền vững, “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức”, Viện Triết học (Tạp chí tiếng Việt)
Trang 5Những công trình khoa học này cung cấp nhiều tư liệu quý báu về cơ sở lý luận,
về kiến thức, kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nguồn nhân lực nói chung và công chức hành chính nói riêng để tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước của tỉnh Yên Bái nói chung và huyện Văn Chấn nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
- Gắn kết những vấn đề lý luận đã học với thực trạng chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức huyện Văn Chấn để đưa ra những giải pháp nâng cao chất đội ngũ cán bộ công chức thuộc Uỷ ban Nhân dân huyện nhằm đáp ứng với yêu cầu phát triển trong tình hình mới
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái đến năm 2020
5 Phạm vi, phương pháp nghiên cứu
5.1 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Đề tài đề cập đến tập trung phân tích chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức thuộc Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái Cơ sở số liệu dựa vào kết quả tổng hợp hàng năm của Phòng Nội vụ huyện
Trang 6- Về không gian: Đề tài nghiên cứu giới hạn về phát triển nguồn nhân lực đội ngũ cán bộ công chức của Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn, không nghiên cứu cán bộ viên chức và cán bộ công tác ở khối Đảng, Đoàn thể
- Về thời gian: Luận văn thu thập các tư liệu và số liệu từ năm 2008 đến năm
2012 để đưa ra các giải pháp đến năm 2020
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu với việc sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp luận Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chứng;
- Phương pháp chuyên gia, điều tra thực tế
6 Những đóng góp khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Trên cơ sở phân tích lý luận về cán bộ, công chức nói chung, các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, luận văn góp phần làm sáng tỏ quan điểm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nói chung, nâng cao chất lượng cán
bộ công chức Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn nói riêng
- Nêu ra quan điểm về khái niệm, đặc điểm của cán bộ, công chức nhà nước;
từ đó xác định các yêu cầu và điều kiện xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đáp ứng công cuộc cải cách hành chính hiện nay
- Đề xuất một số các giải pháp có giá trị thực tiễn cao nhằm mục đích xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn đảm bảo chất lượng, số lượng và cơ cấu hợp lý
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi để nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Trang 7Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Ủy ban Nhân
dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
của Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái đến năm 2020
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1 Khái niệm về chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức
1.1.1 Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực nói chung
Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… của nguồn nhân lực, trong đó trình độ học vấn là quan trọng bởi vì đó là cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của một con người Chất lượng nguồn nhân lực xã hội được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, động cơ, ý thức lao động Nguồn nhân lực là tổng hòa trong thể thống nhất
hữu cơ năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng
động xã hội của con người
Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành nguồn vốn con người Ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần có quan hệ chặt chẽ và thống nhất, cấu thành nên mặt chất lượng của nguồn lực xã hội Trong đó, thể lực là
cơ sở nền tảng để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn Ý thức, tinh thần, đạo đức, tác phong là yếu tố chi phối hiệu qủa hoạt động chuyển hóa của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn Trí tuệ
là yếu tố quyết định đến chất lượng của nguồn nhân lực xã hội Trong quá trình lao động, chất lượng nguồn nhân lực xã hội phụ thuộc vào số lượng, chất lượng công
cụ, máy móc trang bị cho người lao động Chính trình độ công nghệ đặt ra yêu cầu
và đồng thời làm thay đổi trình độ của người lao động Khoa học công nghệ ngày
Trang 9càng phát triển, tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất càng cao thì mặt chất lượng, đặc biệt là trình độ trí tuệ của nguồn nhân lực ngày càng giữ vai trò quan trọng Nguồn nhân lực xã hội theo nghĩa đầy đủ phải được hiểu nó là nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, đồng thời là nhân tố quan trọng của quan hệ sản xuất mà quan hệ sản xuất phụ thuộc rất nhiều ở chất lượng nguồn nhân lực
1.1.2 Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
1.1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được bầu
cử để thực hiện nhiệm vụ của nhà nước Đó là một phạm trù chung, nhưng cần có
sự phân biệt khác nhau để có sự điều chỉnh phù hợp với các đối tượng
Công chức: Là thuật ngữ dùng để chỉ những người làm việc thường xuyên
trong bộ máy hành chính nhà nước Họ được tuyển dụng, bổ nhiệm và làm việc ổn định theo những chuyên môn nhất định, được nhà nước trả lương và bảo đảm những điều kiện vật chất, tinh thần để thi hành công vụ Lao động của công chức mang tính nghề nghiệp và chịu sự điều chỉnh của pháp lệnh cán bộ, công chức
Cán bộ: Là khái niệm được xuất phát từ cơ chế tổng thể của nhà nước ta là
Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý cho nên hệ thống chính trị của
ta là sự thống nhất giữa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước và sự tham gia quản lý của các tổ chức chính trị - xã hội đối với toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Từ đặc trưng đó, bên cạnh phạm trù công chức, chúng ta còn phạm trù cán bộ Thuật ngữ cán bộ được dùng để chỉ những người được bầu cử, bổ nhiệm hoặc điều động để làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội, cùng với bộ máy hành chính thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong hệ thống chính trị thống nhất Đội ngũ đó cũng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, cùng chịu sự điều chỉnh bởi pháp lệnh cán bộ, công chức Việc đưa ra phạm trù cán bộ, công chức và điều chỉnh nó trong một văn bản pháp luật chung thể hiện sự thống nhất của hệ thống chính trị nước ta cũng là sự thống nhất giữa chính trị và hành chính dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trang 101.1.2.2 Chất lượng cán bộ, công chức
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được đo bằng trình độ đào tạo, trình độ
hiểu biết và sự gắn kết đồng bộ trong việc thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu chung
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được cấu thành bởi các yếu tố nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của cán bộ, công chức Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… trong đó trình độ học vấn là quan trọng bởi vì đó là cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và
là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của một con người
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là hoàn thiện nhân cách người cán bộ gắn với những phẩm chất và năng lực chuyên môn của họ
+Yêu cầu chung:
Cán bộ, công chức nhà nước phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, biết bảo vệ danh dự và lợi ích quốc gia, có lối sống trong sạch, không tham nhũng và tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tôn trọng và tận tụy phục vụ nhân dân Phải có trình
độ chính trị, pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng hành chính, đảm bảo tiêu chuẩn chức danh ngạch, bậc tương ứng với nhiệm vụ, yêu cầu công việc; đủ năng lực xây dựng chính sách, tổ chức điều hành và thực thi công vụ theo chức trách, nhiệm vụ một cách khoa học và hiệu quả; có đạo đức công vụ, văn hóa công vụ và phong cách làm việc văn minh, lịch sự đối với cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp, đối tác nước ngoài và với nhân dân Cụ thể:
+ Yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức:
Trong mọi giai đoạn cách mạng, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị là yêu cầu quan trọng cơ bản nhất đối với đội ngũ cán bộ, công chức Nhất là trong bối cảnh mở cửa hội nhập quốc tế và khu vực, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các quan hệ xã hội mới phức tạp nảy sinh, mặt trái của cơ
Trang 11chế thị trường cùng các tác động tiêu cực nảy sinh hàng ngày càng đặt ra yêu cầu đội ngũ cán bộ công chức hành chính phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu
và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; nhiệt tình cách mạng, gương mẫu tận tụy với nhân dân, có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao với công việc, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân
Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tụy với công việc, hết lòng hết sức vì sự nghiệp của nhân dân, là bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức gồm: đạo đức cách mạng, đạo đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp; trong đó đạo đức cách mạng là nền tảng, là gốc, là sức mạnh của người cán bộ, công chức hành chính
Đạo đức cách mạng của người cán bộ theo Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm: nhân, trí, dũng, liêm Đi kèm với các phẩm chất là các đức tính: Cần, kiệm, liêm, chính mà “thiếu một đức thì không thành người” Đạo đức cách mạng thể hiện ở: Tinh thần yêu nước nồng nàn, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức tổ chức
kỷ luật Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
Đạo đức cá nhân của người cán bộ, công chức hành chính trước hết thể hiện ở
ý thức, niềm tin vào định hướng xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Phẩm chất đạo đức của người cán bộ, công chức còn thể hiện ở tinh thần và ý thức biết tôn trọng, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không tham
ô, lãng phí, có trách nhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái vị tha, ứng
Trang 12xử đúng đắn trong quan hệ gia đình, bè bạn và trong xã hội, có tinh thần hướng thiện, hiếu học
Xã hội càng dân chủ càng đòi hỏi đạo đức cá nhân của người cán bộ, công chức phải được hoàn thiện, mẫu mực vì chính đội ngũ cán bộ, công chức hành chính
là những người cầm cân nảy mực, giải quyết quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, giữ gìn kỷ cương phép nước Địa vị pháp lý của họ buộc họ phải luôn tự rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, tu dưỡng bản thân để không mắc phải các hiện tượng tiêu cực trong xã hội
Đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ, công chức thể hiện trước hết ở lòng say
mê, cần mẫn, tinh thần trách nhiệm và đề cao kỷ luật trong thi hành công vụ Đó là ý thức luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, công vụ được giao, kể cả khi gặp những điều kiện khó khăn phức tạp Nhờ đó mà cán bộ, công chức hành chính luôn cố gắng tìm kiếm những phương tiện, giải pháp, sáng kiến khác nhau để hoàn thành nhiệm vụ, công
vụ Đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi người cán bộ, công chức phải biết tiết kiệm, không chỉ cho bản thân mình, mà quan trọng hơn là tiết kiệm thời gian, tiền của của nhân dân, tiết kiệm công sản, công quỹ, tiết kiệm tài nguyên của đất nước, chống lãng phí trong
cơ quan nhà nước
Người cán bộ, công chức còn phải xử sự và giải quyết công vụ công bằng, chính trực và công tâm, chỉ thực thi công vụ theo pháp luật Dù ở bất cứ vị trí nào trong bộ máy nhà nước, người cán bộ, công chức phải luôn đề cao đạo đức cá nhân
và đạo đức nghề nghiệp
+ Yêu cầu về văn hóa
Văn hóa của người cán bộ, công chức là sự ứng xử văn minh, khoa học, nhân
ái và dân chủ trong mọi mối quan hệ Văn hóa là cơ sở để hình thành tác phong, phong cách và lối sống của người cán bộ, công chức; văn hóa là nền tảng tạo nên tư chất, cốt cách của người cán bộ, công chức Nhờ có văn hóa người cán bộ, công chức biết cư xử đúng mực, dân chủ và văn minh hơn trong thực thi công vụ; đấu tranh chống lại các hiện tượng chuyên quyền độc đoán, máy móc trong giải quyết
Trang 13công việc và thực thi công vụ Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có riêng một mục
về đạo đức, văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức quy định rõ: cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực
rõ ràng, mạch lạc; cán bộ công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng, vô tư khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội
bộ Khi thi hành công vụ có tác phong lịch sự, giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan,
tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; nghiêm túc, khiêm tốn; không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ
Việc nâng tầm văn hóa lãnh đạo và quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức gắn liền với đề cao kỷ luật thực thi công vụ, là yếu tố quyết định để cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng chính quyền thực sự là của dân Đồng thời, góp phần nêu gương tốt và vun đắp nền tảng văn hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Do vậy, cán bộ, công chức không chỉ cần trang bị cho mình những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành chính, mà còn phải trang bị cho mình những tri thức văn hóa, văn minh nhân loại, có hiểu biết sâu sắc về lịch sử và truyền thống văn hiến dân tộc, và quan trọng hơn là biết tự rèn luyện đạo đức, tu dưỡng bản thân + Yêu cầu về trí tuệ:
Trong điều kiện mặt bằng dân trí của xã hội ngày càng được nâng cao, tri thức khoa học - công nghệ của thế giới đang tăng lên nhanh chóng và ngày càng phong phú, đa dạng đòi hỏi cán bộ, công chức phải có trình độ, kiến thức và năng lực tư duy khoa học, sáng tạo, nhạy bén, độc lập, trí tuệ Trình độ học vấn phải cao hơn mức trung bình của xã hội và tỷ lệ những người có trình độ đại học, trên đại học càng phải nhiều hơn Ở một số ngành lĩnh vực và đối với ngạch chuyên viên trở lên thì trình độ đại học là bắt buộc và tối thiểu Ngoài ra, trong thời đại công nghệ thông tin, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay người cán bộ, công chức hành chính còn phải
có trình độ ngoại ngữ, tin học nhất định để có thể tìm hiểu, cập nhật kiến thức, giải quyết các công việc thường xuyên của lĩnh vực quản lý hành chính
Trang 14Yêu cầu trí tuệ hóa đội ngũ cán bộ, công chức buộc người cán bộ, công chức hành chính phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ kiến thức Đồng thời nhà nước cần phải có chế độ, chính sách và tạo điều kiện để người cán bộ, công chức được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng bổ sung những tri thức mới của khoa học, công nghệ hiện đại để thực thi công vụ hiệu quả nhất
+ Yêu cầu chuyên môn hóa, hiện đại hóa đội ngũ cán bộ, công chức
Mục tiêu xây dựng nền hành chính chính quy, hiện đại đặt ra yêu cầu phải chuyên môn hóa, hiện đại hóa đội ngũ cán bộ, công chức hành chính với tư cách là nòng cốt của nền hành chính
Nhìn chung các hoạt động trong các cơ quan chuyên môn Nhà nước có nội dung phức tạp, đa dạng cho nên cán bộ, công chức phải có kiến thức xã hội, chuyên môn sâu rộng Cán bộ, công chức không chỉ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ban đầu, đáp ứng yêu cầu dự tuyển của cơ quan, đơn vị; mà trong quá trình làm việc, người cán bộ, công chức phải được đào tạo lại, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn giỏi; chuyên môn hóa cán bộ, công chức phải đi đôi với trí tuệ hóa, làm cho mỗi cán bộ, công chức phải có trình độ cao, có kiến thức, vừa có năng lực và chuyên môn sâu Theo tác giả, đáp ứng yêu cầu chuyên môn hóa, hiện đại hóa người cán bộ, công chức phải có các yếu tố sau:
Thứ nhất, tiêu chuẩn hàng đầu đối với cán bộ, công chức là năng lực chuyên
môn và năng lực về quản lý nhà nước, ngoài tiêu chuẩn chính trị
Thứ hai, để thực hiện tốt nhiệm vụ thực thi công vụ, cán bộ, công chức cần
phải có kiến thức cơ bản về quản lý hành chính, về pháp luật từ đó có ý thức tuân thủ pháp luật, áp dụng pháp luật khi thi hành công vụ, có sự chủ động, linh hoạt xử
lý các vấn đề trên cơ sở pháp luật
Thứ ba, cán bộ, công chức phải có kỹ năng xử lý nhanh chóng các tình huống
cũng như giải quyết công việc Đối với từng vị trí, chức danh cần phải thực thi nhiệm vụ như thế nào? giải quyết công việc theo tình huống, thực hành các công việc được giao
Trang 15Thứ tư, cán bộ, công chức phải có bản lĩnh nghề nghiệp, dám làm, dám chịu trách nhiệm về hành vi công vụ của mình Có chính kiến, phát kiến tham mưu đề xuất với lãnh đạo trong lĩnh vực được giao Chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, không thụ động trông chờ, ỷ lại vào lãnh đạo Chịu trách nhiệm về những quyết định do mình soạn thảo, ban hành và chịu trách nhiệm về tình trạng quyết định đó không được thi hành, kể cả trường hợp không thuộc bổn phận mình Đồng thời nhà nước, cơ quan, tổ chức cần xây dựng chế độ chịu trách nhiệm pháp lý trong hoạt động công vụ, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức hành chính trong hoạt động phục vụ nhân dân
Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức cá nhân, đạo đức nghề nghiệp, về trí tuệ, văn hóa, trình độ và năng lực chuyên môn của người cán bộ, công chức là rất cao Muốn hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình, họ phải không ngừng phấn đấu, học tập và rèn luyện vươn lên Đồng thời, Đảng và Nhà nước cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ, công chức phát huy khả năng phục vụ, cống hiến nhiều nhất cho đất nước
1.1.3 Khái niệm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có nghĩa là chúng ta thực hiện một số hoạt động cũng như có những tác động nhất định nào đó dẫn đến sự thay đổi
về chất lượng ở chiều hướng tăng lên so với chất lượng cán bộ, công chức hiện có
Đó là những biểu hiện tăng lên về trí lực, thể lực và tâm lực của cá nhân mỗi con người Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, một mặt tạo ra đội ngũ cán bộ, công chức có khả năng hơn trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đang trên đà hội nhập quốc tế; một mặt tạo ra đội ngũ cán bộ, công chức tự tin hơn trong quá trình làm việc tạo ra của cải vật chất cho bản thân, cho tổ chức và tạo ra khả năng cạnh tranh bền vững nhất
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn
Trang 16đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội Từ góc độ này, tác giả cho rằng nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính là nâng cao năng lực làm việc, kỹ năng xử lý công việc và thái độ trong công việc của cán bộ, công chức đang làm việc trong các cơ quan của Nhà nước Nó bao gồm:
Nâng cao trí lực (gồm nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc, kinh nghiệm làm việc…) Đây là yếu tố có tính quyết định căn bản đến nâng
cao năng lực làm việc chính là nâng cao chất lượng người cán bộ
Nâng cao thể lực (bao gồm việc nâng cao sức khỏe, thể chất của cán bộ công chức) Không có sức khỏe thì bất cứ ai cũng khó có thể hoàn thành được công việc
Sức khỏe không chỉ biểu hiện ở cá nhân mỗi cán bộ, công chức mà còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc Sức khỏe này hàm chứa khỏe cả thể chất và tinh thần của người cán bộ
Nâng cao tâm lực (gồm thái độ, tinh thần, khả năng chịu áp lực…) đánh giá
được thái độ trong công việc để biết cán bộ, công chức có nâng cao được tâm lực hay không thực sự rất khó Điều này còn chịu sự tác động và ảnh hưởng của nhiều yếu tố, ảnh hưởng trước hết chính từ trí lực của người cán bộ đến môi trường sống và làm việc của cá nhân đó
1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cán bộ công chức
1.2.1 Về tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức
Phẩm chất, tiêu chuẩn cần có ở người cán bộ cách mạng nói chung được Hồ Chí Minh đề cập đến nhiều lần, cụ thể và sinh động trong các tác phẩm của Bác Người xác định tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn riêng với từng loại cán bộ Tiêu chuẩn đó xuất phát từ yêu cầu của cách mạng, đòi hỏi thực tiễn chứ không phải từ ý muốn chủ quan Nói một cách cụ thể khách quan thì tiêu chuẩn công chức là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức… của những người công chức theo những tiêu chí nhất định đối với từng ngành nghề riêng biệt Tiêu chuẩn công chức do nhà nước ban hành, được áp dụng thống nhất trong nền công vụ Tiêu chuẩn công chức có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng đội
Trang 17ngũ cán bộ, công chức chính quy hiện đại, là đòi hỏi bức bách của công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước, thể hiện: Là cơ sở để tuyển dụng, đánh giá công chức; Làm căn cứ để sắp xếp công chức vào các ngạch bậc khác nhau; chỗ dựa để
đề bạt công chức vào những chức vụ khác nhau trong bộ máy nhà nước Vì vậy, tiêu chuẩn hóa công chức là một nội dung quan trọng để xây dựng và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức Đối với tất cả nền công vụ, việc xây dựng tiêu chuẩn công chức là một nội dung quan trọng để thực hiện có hiệu qủa các nhiệm vụ của nhà nước Có xác định tiêu chuẩn cán bộ đúng mới có thể xây dựng được đội ngũ cán bộ tốt, vì tiêu chuẩn cán bộ chính là điều được quy định dùng làm chuẩn để phân loại cán bộ Tiêu chuẩn cán bộ chính là cơ sở và tiền đề để thực hiện tốt các khâu khác trong công tác cán bộ Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ đúng còn là cơ sở, là căn cứ để rà soát, sắp xếp, bố trí lại cán bộ cho phù hợp Cũng căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ mới có cơ sở để loại bỏ những cán bộ cơ hội, thoái hóa, biến chất một cách đúng đắn, chính xác Hơn nữa, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhiệm vụ chính trị mới rất nặng nề, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải xây dựng được đội ngũ cán bộ ngang tầm, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Khi xác định tiêu chuẩn cán bộ, cần dựa trên cơ sở khoa học Những căn cứ sau đây là những căn
cứ lý luận, thực tiễn và cơ sở pháp lý của việc xác định tiêu chuẩn cán bộ Nói cách khác đó cũng là cơ sở khoa học của vấn đề xây dựng tiêu chuẩn cán bộ
Thứ nhất, phải dựa vào những quan điểm, nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh và của Đảng ta về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ để xác định tiêu chuẩn cho cán bộ ở các ngành, các cấp trong thời kỳ mới Tiêu chuẩn chung của đội ngũ cán bộ cách mạng là phẩm chất và năng lực, hay đức và tài Hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng không thể thiếu mặt nào hoặc tuyệt đối hóa mặt nào, trong đó đức là cái gốc
Thứ hai, phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng từng thời kỳ và từ
thực tiễn kinh tế, chính trị, xã hội, con người Việt Nam để xác định tiêu chuẩn cán
bộ Kinh nghiệm cho thấy, luôn luôn có mâu thuẫn giữa yêu cầu của cách mạng
Trang 18ngày càng cao với khả năng hạn chế của đội ngũ cán bộ hiện có; mâu thuẫn đòi hỏi khách quan và khả năng đáp ứng của các nhân tố chủ quan Khi xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, phải bám sát và nắm bắt thực tiễn của cả nước và từng ngành, từng cấp Tránh tình trạng hình dung ra tiêu chuẩn của một mẫu người lý tưởng nhưng không phù hợp với thực tiễn nước ta, không quan sát cán bộ do lịch sử để lại Hoặc khi áp dụng tiêu chuẩn vào thực tế mà có những người tuy đạt được tiêu chuẩn theo quy định nhưng phẩm chất, năng lực, uy tín và hiệu qủa công việc lại không tốt bằng người không đạt tiêu chuẩn thì tiêu chuẩn đó cũng phải xem xét lại
Thứ ba, phải căn cứ vào vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng loại cán bộ,
từng chức danh cán bộ để xác định tiêu chuẩn cán bộ Căn cứ này là căn cứ pháp lý,
vì trên cơ sở đã được quy định về mặt pháp lý để xây dựng tiêu chuẩn cán bộ Để tiến hành xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, công chức có chất lượng, cần phải tuân theo các bước sau:
+ Nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, chủ trương của Đảng và nhà nước
về xây dựng tiêu chuẩn cán bộ Trong thực tế, nhiều người còn lẫn lộn giữa điều kiện
và tiêu chuẩn Điều kiện là yếu tố cần, nhưng chưa đủ Ví dụ: bằng cấp, học vị, độ tuổi là điều kiện chứ chưa phải tiêu chuẩn Điều kiện quy định cũng quan trọng, cũng cần thiết, song điều kiện chưa nói lên chất lượng đầy đủ về người cán bộ công chức Tiêu chuẩn là những tiêu chí cụ thể hóa đức, tài của người cán bộ, công chức về phẩm chất, năng lực cần phải có để người cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ
ở cương vị công tác đòi hỏi Bằng cấp, học vị là điều kiện cần nhưng trình độ, kiến thức, trí tuệ lại là tiêu chuẩn Người có bằng cấp, học vị cao thường có trí tuệ cao nhưng nhiều trường hợp không hẳn vậy Một số người có điều kiện cao nhưng tiêu chuẩn thấp, trái lại có người điều kiện thấp nhưng tiêu chuẩn lại đạt cao hơn Do đó, nếu đồng nhất điều kiện với tiêu chuẩn, hoặc khi bố trí, đề bạt cán bộ chỉ nặng về điều kiện, không chú trọng đúng mức đến tiêu chuẩn, sẽ rất tai hại
+ Trao đổi, học hỏi kinh nghiệm với các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị
và trao đổi với các cơ quan khoa học, các cán bộ khoa học đã nghiên cứu, tổng kết
Trang 19về các vấn đề này Chẳng hạn, khi xác định tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ, công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay, có công trình khoa học đã đưa ra ba tiêu chí cơ bản đó là: phẩm chất chính trị và đạo đức; trình độ năng lực thực tiễn; phong cách và tác phong công tác Các nội dung tiêu chí này là một thể thống nhất, có vai trò quyết định đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ và uy tín của cán bộ, công chức
+ Phác thảo tiêu chuẩn cán bộ và lấy ý kiến đóng góp Tùy theo tính chất và
yêu cầu cụ thể mà hình thành tổ chức soạn thảo tiêu chuẩn cán bộ, công chức cho phù hợp Những người tham gia soạn thảo phải có kiến thức, kinh nghiệm về vấn đề này, phải có nhiệt tình, tâm huyết và trách nhiệm cao Sau khi hoàn thành bản thảo, cần thông qua tập thể lãnh đạo trước khi lấy ý kiến các đối tượng khác Chỉ cần lấy
ý kiến của tổ chức, cá nhân thật sự am hiểu về vấn đề này Sau khi có ý kiến đóng góp, bộ phận soạn thảo cần trao đổi, tiếp thu và sửa chữa
+ Áp dụng thí điểm, xem tiêu chuẩn soạn thảo đó đã đúng đắn, phù hợp với
thực tiễn chưa Nếu áp dụng vào thực tế đa số cán bộ, công chức chấp nhận và nhiều người đạt được tiêu chuẩn càng cao trong thực tế; phẩm chất, năng lực, uy tín
và hiệu qủa công việc càng tốt, đó là tiêu chuẩn đúng Trường hợp ngược lại, người đạt tiêu chuẩn đề ra nhưng trong thực tế lại không tốt bằng người không đạt tiêu chuẩn thì phải xem xét điều chỉnh lại tiêu chuẩn
+ Sau khi thực hiện thí điểm tiêu chuẩn một thời gian đã được khẳng định đúng đắn, cần có quy chế, quy định thực hiện rộng rãi, nghiêm túc, thống nhất và có
Trang 20học tập suốt đời của một cá nhân Đây là một trong những chỉ tiêu được Liên Hợp Quốc (UNDP) sử dụng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của các quốc gia
* Về trình độ chuyên môn:
Trình độ chuyên môn là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm đương các chức vụ, các công việc với các hoạt động nghề nghiệp khác nhau, được đào tạo trong các trường, lớp dưới nhiều hình thức Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đòi hỏi đầu tiên của người cán bộ là phải có trình độ Muốn có trình độ tất yếu người cán bộ phải được đào tạo, bồi dưỡng qua trường lớp và tự đào tạo, rèn luyện qua thực tế công tác, cả về chuyên môn và trình độ chính trị Người cán bộ có trình
độ chuyên môn giỏi sẽ thuận lợi trong việc chỉ đạo, điều hành Nếu ngược lại, người
đó sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ
Bên cạnh trình độ chuyên môn, đòi hỏi phải có trình độ lý luận chính trị, nắm chắc các quy luật vận động của cuộc sống, biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cơ quan, đơn vị Một cán bộ có chuyên môn giỏi, có trình độ lý luận vững vàng, khẩu khí tốt, sẽ có lợi thế lớn trong công tác lãnh đạo hay quản lý, nhất là khi trình độ dân trí ngày càng cao
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, trình độ của cán bộ cả về chuyên môn và chính trị đang là vấn đề làm trăn trở dư luận Không ít cán bộ có bằng cấp chuyên môn, chính trị đầy đủ nhưng lại không có đủ năng lực công tác, không phát huy được khả năng Nguyên nhân một phần là do cách thức đào tạo, một phần là do bản thân từng người cán bộ Trong đào tạo, nhất là đào tạo tại chức, đào tạo từ xa còn chạy theo thành tích, phong trào, không đảm bảo chất lượng Đó là chưa kể có những tấm bằng “được cấp” do rất nhiều cách Bởi vậy có người làm lãnh đạo, quản
lý, là “tiến sĩ”, “thạc sĩ” bằng giỏi, bằng khá nhưng chuyên môn, lý luận không bằng cấp dưới, chỉ cậy thế thủ trưởng để đe nẹt, trấn áp làm cho họ không những không “tâm phục khẩu phục” mà còn tỏ thái độ khinh thường Chưa nói đến không
ít trường hợp năng lực thực tế rất yếu nên khó, thậm chí không hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trang 21* Về tư cách cán bộ: Người cán bộ có trình độ, có năng lực nhưng nếu không
có tư cách, phẩm chất đạo đức tốt cũng không được dân tin Khi không được tin sẽ không được ủng hộ, dẫn đến khó hoàn thành nhiệm vụ Một người có tư cách, nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt sẽ được mọi người nể phục, ủng hộ Thực tế hiện nay không ít cán bộ không đủ tư cách, trong công tác kém cỏi, trong quan hệ với anh
em, đồng chí không hoà đồng, đạo đức, phẩm chất kém, nói một đường làm một nẻo; thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, thậm chí vi phạm kỷ luật, vi phạm nhân cách…nhưng vẫn được bố trí làm cán bộ lãnh đạo, quản lý, gây mất lòng tin quần chúng nhân dân Để thực hiện mục tiêu Đại hội XI của Đảng: xây dựng đất nước “trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” đòi hỏi rất lớn sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó có đội ngũ cán bộ đủ trình độ, năng lực và tư cách
1.2.2.2 Chỉ tiêu về năng lực thực hiện công việc thực tế
Trình độ là thứ được đào tạo, được tiếp thu, nhưng năng lực là cái vốn có, bẩm sinh của mỗi người Năng lực là vốn quý, được kế thừa từ gia đình, di truyền cộng với khả năng tư duy, nắm tình hình, biết vận dụng sáng tạo vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để phát huy thắng lợi Người có năng lực nếu được đào tạo tốt sẽ phát huy được khả năng Bởi năng lực như là cái vốn có, còn trình độ là cái được bổ sung Trong thực tế không ít cán bộ tuy không được học hành đầy đủ nhưng trong quá trình công tác họ tự rút ra nhiều kinh nghiệm hay, chịu khó tổng kết, học hỏi nên có được những phương pháp, cách làm hiệu quả
Người có năng lực thường dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hay tìm tòi, khám phá và không bao giờ chịu khuất phục kẻ dốt nát, bất tài, cơ hội Tính tình cương trực, thẳng thắn, nên thường hay làm mất lòng, thậm chí dễ bị cô lập Nếu trong cơ quan, tập thể không công tâm, không biết quý trọng, sử dụng người có năng lực, họ sẽ dễ bất mãn hoặc rời bỏ cơ quan, đơn vị, tìm môi trường làm việc khác Để người có năng lực phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, công tác cán bộ cần
Trang 22khách quan, công tâm trong đánh giá, bố trí và phải tạo mọi điều kiện để họ phát huy Cấp uỷ cần nhìn nhận đúng và luôn động viên, ủng hộ người có năng lực, phải lắng nghe ý kiến của quần chúng để có nhận xét, đánh giá đúng cán bộ Tránh tình trạng định kiến, thiếu khách quan, thiếu công tâm làm thui chột người tài, cản trở đến việc hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị
Tiêu chí năng lực gắn liền với các kỹ năng giải quyết các công việc thuộc chuyên môn, vị trí cụ thể Ngoài vấn đề bằng cấp, chuyên môn cần phải có đối với mỗi người cán bộ, công chức, kỹ năng giải quyết các công việc cũng cần phải được đặt ra Từng cán bộ, công chức phải có tư duy độc lập, sáng tạo, bám sát thực tiễn đời sống xã hội, am hiểu thực tế mà trước hết là thuộc lĩnh vực chuyên môn đang công tác và có khả năng nhanh nhạy trong giải quyết công việc chuyên môn phù hợp với thực tế Năng lực công tác phải luôn gắn liền với kỹ năng giải quyết công việc thuộc lĩnh vực chuyên môn mà người công chức đảm nhận Kết quả thực hiện nhiệm vụ là tiêu chí đánh giá đầu ra của quá trình thực thi hoạt động quản lý nhà nước, là tiêu chí cơ bản phản ánh năng lực thực thi hoạt động quản lý nhà nước của cán bộ, công chức Kết quả thực hiện nhiệm vụ bao gồm kết quả thực hiện nhiệm vụ riêng của cá nhân, kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của tập thể Kết quả thực hiện nhiệm vụ còn được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau ví dụ như kết quả thực hiện một vụ việc; kết quả thực hiện nhiệm vụ trong ngày; kết quả thực hiện nhiệm
vụ trong tháng, trong năm, trong nhiệm kỳ Hoạt động quản lý nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội vốn rất phong phú và đa dạng Chính vì vậy, đánh giá kết quả thực thi hoạt động quản lý nhà nước cũng hết sức phúc tạp Có sản phẩm làm ra được kết quả ngay, ví dụ như các quyết định xử phạt hành chính, nhưng cũng có những sản phẩm phải đến một năm thậm chí phải một thời gian dài mới có thể đánh giá được kết quả ví dụ như kết quả thực hiện Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng hàng năm hay như cho vay xoá đói giảm nghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng Thông thường, việc đánh giá kết quả thực thi nhiệm vụ của một cơ quan hoặc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của một cán bộ, công chức được tổ chức đánh giá trong thời gian dài
Trang 23Hiệu quả thực hiện công việc trong thực tế của cán bộ, công chức cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đó là:
+ Năng lực của cán bộ công chức (trong đó có trình độ, kỹ năng làm việc, phương pháp làm việc, tác phong);
+ Kiến thức thực tế;
+Sức khoẻ (thể chất, tâm lý);
+ Năng khiếu bẩm sinh;
+ Các điều kiện khách quan như: cơ chế, chính sách, pháp luật; cơ sở vật chất
kỹ thuật; chế độ đãi ngộ;…
Như vậy hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức thể hiện một cách trực tiếp nhất việc nhận thức, khả năng giải quyết công việc, phương pháp và kỹ năng làm việc cũng như kết quả giải quyết công việc của cán bộ, công chức
* Ngoài ra, còn một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cán bộ công chức đó là:
- Chỉ tiêu đánh giá kỹ năng nghề nghiệp
Là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào
đó vào thực tế Bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phối hợp, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng soạn thảo văn bản Đây là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích lũy kinh nghiệm thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác
- Chỉ tiêu đánh giá tính chuyên nghiệp
Thể hiện ở kết quả thực hiện công việc được giao, khả năng thích ứng và khắc phục khó khăn khi thực hiện công vụ với tính kỷ luật trong mối quan hệ và sự hợp tác với đồng nghiệp, công dân, tổ chức Xác định tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức phải gắn với đặc thù của hoạt động công vụ, bảo đảm thực thi công vụ với hiệu quả cao nhất
- Chỉ tiêu đạo đức công vụ
Trang 24Là đạo đức của người công chức phản ánh mối quan hệ giữa công chức với công dân, tổ chức, đồng nghiệp trong hoạt động công vụ
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
1.3.1 Nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Chất lượng cán bộ, công chức là một chỉ tiêu tổng hợp về con người, chịu tác động tổng hòa của nhiều yếu tố trong đó điều kiện tự nhiên hình thành đội ngũ cán
bộ, công chức có một phần ảnh hưởng không nhỏ Các điều kiện về vị trí địa lý, địa điểm là trung tâm các vùng kinh tế lớn hay thuộc vùng sâu vùng xa điều kiện đi lại khó khăn, tiếp cận thông tin chậm Tất cả sẽ có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cán bộ, công chức cũng như gây nhiều khó khăn cho việc đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
Bên cạnh đó yếu tố kinh tế xã hội có một đóng góp lớn trong quá trình nâng cao chất lượng cán bộ, công chức Khi kinh tế xã hội phát triển, đời sống của con người được ổn định ở mức cao, có điều kiện để nâng cao sức khỏe, tuổi thọ tăng lên, có điều kiện để học tập nâng cao trình độ chuyên môn Cùng với đó, kinh tế phát triển đồng nghĩa với việc quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy nhanh, qúa trình toàn cầu hóa và thương mại quốc tế là điều kiện cạnh tranh của các nước, phương tiện kỹ thuật ngày càng hiện đại, nguồn nhân lực phải cập nhật kiến thức để kịp thời đáp ứng với trào lưu của khu vực và thế giới Sự phát triển kinh tế-
xã hội đặt ra yêu cầu cho việc phát triển nguồn nhân lực Ngược lại phát triển nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để phát triển kinh tế - xã hội
1.3.2 Nhân tố về Luật pháp, thể chế, môi trường làm việc
Có thể khẳng định các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, vai trò của nhà nước có tầm quan trọng rất lớn đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia, ngành, địa phương nói chung và cán bộ, công chức hành chính các cấp nói riêng Nhà nước hoạch định các chính sách tạo môi trường pháp lý cho phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo cả chiều rộng và chiều sâu, các chính sách bao gồm: Luật
Trang 25giáo dục, chính sách giáo dục - đào tạo, đào tạo lại, chính sách tuyển dụng, sử dụng lao động,chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài, chính sách tiền lương, thu nhập, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm lao động
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hệ thống chính sách ngày càng được củng cố và hoàn thiện được phù hợp với thực tế là động lực khuyến khích mọi cá nhân và tập thể tích cực lao động và học tập không ngừng để nâng cao trình độ và khả năng lao động, cống hiến cho ngành, cho xã hội Nếu chính sách không phù hợp, thiếu kịp thời thì sẽ làm cho người lao động mất động lực, làm cho giảm sút tinh thần phấn đấu, thiếu năng động Bên cạnh đó là tình trạng chảy máu chất xám, không toàn tâm toàn ý với công việc, xao nhãng nhiệm vụ và trách nhiệm của mình, dẫn đến hiệu qủa công việc không cao, kéo theo sự tụt hậu về kiến thức, năng lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật
Bên cạnh đó, môi trường làm việc cũng rất quan trọng và có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Đó tập hợp các yếu tố của môi trường nói chung có tác động lên trạng thái chức năng của cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ, sức khỏe, quá trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả công việc của cán bộ, công chức trong hiện tại cũng như về lâu dài Một môi trường làm việc tốt, trang thiết bị phụ trợ đầy đủ, mọi người thân thiện, thoải mái về tư tưởng chắc chắn sẽ tạo được hiệu ứng tốt trong quá trình làm việc cũng như quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
1.3.3 Nhân tố về các chính sách chế độ đào tạo, đãi ngộ, sử dụng và phát triển
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao trình
độ của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp Đào tạo, bồi dưỡng là con đường duy nhất để nâng cao trình độ kiến thức trong điều kiện đội ngũ cán bộ, công chức cấp
cơ sở bị thiếu hụt nhiều về kiến thức như hiện nay Mặc dù trình độ của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp huyện còn ở mức thấp nhưng nếu được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên thì họ sẽ có chuyên môn vững vàng, trình độ lý luận chính trị
Trang 26và trình độ quản lý nhà nước đáp ứng tiêu chuẩn Mặt khác, đào tạo, bồi dưỡng cũng góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức ở những lĩnh vực mà cán bộ, công chức còn yếu và thiếu Nó giúp cho cán bộ, công chức nâng cao, nhận thức rõ hơn về đạo đức công vụ, về những giá trị, chuẩn mực đạo đức mà họ phải làm
Tuy nhiên, để đội ngũ cán bộ, công chức có thể tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng của Nhà nước có vai trò tác động rất quan trọng Chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lại phụ thuộc vào các vấn đề như: Hệ thống các cơ sở đào tạo, chương trình, giáo trình, đội ngũ giảng viên; Chế độ cho người đi học như tiền ăn ở, đi lại, tiền học phí, thời gian; cơ chế đảm bảo sau khi đào tạo để tránh lãng phí trong đào tạo
Giáo dục và đào tạo hình thành đội ngũ lao động có năng lực khoa học công nghệ, năng lực cạnh tranh phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh”; giáo dục hình thành những con người có lối sống năng động,
tự chủ, sáng tạo, có khả năng làm việc với năng suất, chất lượng và hiệu qủa cao trong nền kinh tế thị trường Sự thách thức của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới hiện nay là tri thức chứ không phải là tài nguyên Do đó con đường duy nhất để đáp ứng yêu cầu trong xu thế mới là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển giáo dục và đào tạo
Tóm tắt chương 1:
Có thể thấy trên cơ sở phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến nguồn nhân lực nói chung, cán bộ, công chức nói riêng, luận văn bước đầu đã xác định khái niệm cán bộ, công chức, các tiêu chí để đánh giá cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Trên cơ sở các tiêu chí đánh giá chât lượng cán bộ công chức, sẽ giúp cho việc lựa chọn, tuyển dụng đầu vào của mỗi cơ quan nhà nước chặt chẽ và có chất lượng hơn Đồng thời, với việc nắm được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức, chúng ta
sẽ có những bước chuẩn bị cũng như tạo những hành lang thuận lợi cho quá trình
Trang 27đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng người cán bộ trong điều kiện hiện nay Cụ thể luận văn đã đề cập tới một số vấn đề sau đây về phương pháp luận nghiên cứu: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp nói chung, cấp huyện nói riêng là con đường tác động lên các nhân tố: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, giáo dục, nhằm làm giàu kiến thức chuyên môn, kỹ năng, thái độ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp để đội cán bộ công chức vững vàng về phẩm chất chính trị và đạo đức, về trình độ chuyên môn và kỹ năng giải quyết công việc, về nhân cách nghề nghiệp… Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm góp phần thực hiện
có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội trong giai đoạn hiện nay
và trong tương lai
Các khái niệm, nội dung, các quan điểm, vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cũng như các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng cán bộ; các chủ trương, chính sách của Đảng, thể chế, pháp luật của Nhà nước về công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được nêu ra ở Chương 1 sẽ là cơ sở khoa học để tác giả khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái trong phần sau của luận văn Đội ngũ cán
bộ, công chức có chất lượng đảm bảo, đủ về số lượng sẽ là nhân tố quyết định thắng lợi đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện nói riêng và của tỉnh Yên Bái nói chung
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN
VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
2.1 Những đặc điểm của huyện Văn Chấn ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Văn Chấn
Văn Chấn là một huyện miền núi thuộc tỉnh Yên Bái, nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc Diện tích hiện nay là 1.205,2 km2 ; dân số 14.168 vạn người; mật
độ dân số là 112 người/km Phía Bắc huyện Văn Chấn giáp với huyện Văn Yên
và Trấn Yên (Yên Bái), phía Đông và phía Nam giáp các huyện Tân Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa (tỉnh Phú Thọ), phía Tây giáp huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La) và huyện Trạm Tấu (Yên Bái), phía Tây Bắc giáp huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) Đặc biệt, địa bàn Văn Chấn bao quanh phần lớn Thị xã Nghĩa Lộ Hiện nay, Văn Chấn có 31 đơn vị hành chính cơ sở, gồm 28 xã và 3 thị trấn Huyện lỵ đóng trên địa bàn xã Sơn Thịnh
Văn Chấn là vùng có nhiều dân tộc sinh sống từ lâu đời Theo điều tra năm
2012, trên địa bàn Văn Chấn có 23 dân tộc anh em (Kinh, Thái, Tày, Mường, Dao, Mông, Nùng, Hoa, Khơ Me, Gia Rai, Ngái, Ê Đê, Ba Na, Xê Đăng, Sán Chay, Sán Dìu, Thổ, Giáy, Cơ Tu, Khơ Mú, Phù Lá, Bố Y, Si La) Căn cứ vào ngữ hệ, có thể xếp những dân tộc này vào 5 nhóm ngữ hệ là: Thái - Tày, Dao - Hmông, Việt - Mường, Nam Á (Khơ Mú), Hán Các dân tộc sống xen kẽ, nhưng về tổng thể, có thể phân chia thành 3 vùng cư trú: vùng ngoài đại đa số là đồng bào Tày; vùng đồng bằng đa số là đồng bào Thái, đồng bào Kinh và đồng bào Mường; vùng cao đa số là dân tộc Dao và dân tộc Mông
Trang 29Về giao thông, từ huyện lỵ Văn Chấn đến Yên Bái là 72 km, Văn Chấn là cửa ngõ đi các huyện, thị, các tỉnh phía Tây của tỉnh; có đường quốc lộ 37 vượt đèo Lũng Lô đi Sơn La, quốc lộ 32 là đường liên tỉnh, huyết mạch giao thông quan trọng nối liền các tỉnh miền xuôi với các tỉnh biên giới (Lai Châu, Điện Biên, Lao Cai) Hệ thống đường liên xã, nhờ những nỗ lực xây dựng bền bỉ nhiều năm đã hình thành cơ bản với đường ô tô có thể đến trung tâm tất cả các xã Đây là điều kiện rất quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa, thương mại, dịch vụ, du lịch
Địa hình đa dạng của Văn Chấn là cơ sở để xây dựng thành 3 tiểu vùng kinh tế: vùng ngoài, vùng trong và vùng cao với mối liên kết, hỗ trợ lẫn nhau Mỗi vùng
có đặc điểm sinh thái khác nhau nên đã tạo ra cho Văn Chấn có điều kiện để phát triển một nền nông lâm nghiệp đa dạng với chủng loại sản phẩm rất phong phú Những năm gần đây, ở cả 3 tiểu vùng kinh tế, huyện đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hoá chất lượng cao, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững Vùng ngoài được tập trung phát triển cây chè, xây dựng các vùng chuyên canh cây ăn quả; vùng trong tập trung thâm canh cây lúa; vùng cao được đầu tư để phát triển kinh tế đồi rừng, chăn nuôi đại gia súc
Văn Chấn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá: cánh đồng Mường Lò rộng trên 2.400 ha, đứng thứ 2 trong 4 cánh đồng lớn ở Tây Bắc; có 3 tiểu vùng kinh tế với điều kiện sinh thái khác nhau, điều kiện khí hậu tương đối thuận lợi, nhân dân các dân tộc có truyền thống sản xuất nông nghiệp Vì vậy, trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ và chính quyền huyện xác định lĩnh vực nông - lâm nghiệp là thế mạnh cơ bản phải tập trung đầu tư khai thác, phát huy Trong phát triển kinh tế nông nghiệp, huyện Văn Chấn đã hình thành 3 sản phẩm chủ lực:
Thứ nhất là lương thực: Vùng lúa của huyện có diện tích 4.000 ha (riêng
cánh đồng Mường Lò là 1.800 ha) với cơ cấu mùa vụ là 2 lúa, 1 màu hoặc 1 lúa,
2 màu Cùng với phát triển cây lúa, cây ngô cũng được chú trọng Những sản
Trang 30phẩm nông nghiệp hàng hoá đã cung cấp cho người tiêu dùng vượt ra ngoài địa bàn huyện ở các vùng nguyên liệu tập trung đã xây dựng được nhiều cơ sở chế biến nông sản nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng cho người tiêu dùng và nâng cao mức thu nhập cho người lao động
Thứ hai là cây chè: Văn Chấn có tổng diện tích là 4.100 ha, hàng năm cho năng
suất cao và chất lượng tốt Người trồng chè đã từng bước làm quen với việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật từ chăm sóc, thu hoạch, bảo quản đến vận chuyển Trên địa bàn huyện đã xây dựng được nhiều nhà máy chế biến chè, góp phần khẳng định thương hiệu chè Văn Chấn trên thị trường; trong đó phải kể đến thương hiệu chè Shan tuyết Suối Giàng - Văn Chấn đã và đang khẳng định chỗ đứng trên thị trường trong nước và hướng ra nước ngoài
Thứ ba là các loại cây ăn quả như: nhãn, vải, cam, quýt, Huyện đã hình thành được nhiều vùng chuyên canh cây ăn quả tập trung, với diện tích là 3.112 ha Các sản phẩm sau khi thu hoạch của huyện một phần được chế biến tại chỗ, phần
nhiều được tiêu thụ ở các tỉnh lân cận
Phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhân dân các dân tộc Văn Chấn đã năng động, sáng tạo trong phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện trong giai đoạn 2005-2010 bình quân tăng 15%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hợp lý, chủ yếu là phát triển nông - lâm nghiệp Giá trị GDP bình quân đầu người năm 2012 là 10,5 triệu đồng Số hộ nghèo giảm từ 12% năm 2008 xuống còn 8,5% năm 2012 Trình độ văn hóa của nhân dân được nâng cao không ngừng với hệ thống giáo dục được thiết lập đến từng xã, đội ngũ giáo viên và cơ
sở trường lớp được chuẩn hóa, ngày càng nhiều con em địa phương thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng Nhiều tập tục lạc hậu bị loại bỏ, thay vào đó là nếp sống văn minh cùng với những phương tiện hiện đại; những giá trị bản sắc văn hóa được bảo tồn, phát huy Hệ thống y tế và các hình thức chăm sóc sức khỏe
Trang 31cộng đồng được củng cố đến từng thôn, bản Hệ thống chính trị luôn được củng
cố vững chắc từ huyện đến cơ sở
2.1.2 Tổ chức bộ máy của Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn
2.1.2.1 Tình hình phát triển của Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn trong giai đoạn hiện nay
Văn Chấn là một huyện được thành lập theo Nghị định số 68/1995/NĐ-CP ngày 15/6/1995 của Chính phủ trên cơ sở tách đơn vị hành chính huyện Văn Chấn
cũ thành Thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn ngày nay Với diện tích tự nhiên là 1.205,2 km2, dân số 14.168 vạn người Ban đầu khi mới được tách ra, huyện Văn Chấn gồm 31 xã và 03 thị trấn Đến năm 2006, 3 xã thuộc vùng cánh đồng Mường
Lò được cắt về cho Thị xã Nghĩa Lộ (gồm xã Nghĩa Lợi, Nghĩa An và xã Nghĩa Phúc) Đến nay, huyện có 31 đơn vị hành chính gồm 28 xã, 03 thị trấn Trung tâm hành chính của huyện nằm trên địa bàn xã Sơn Thịnh Như phần trên đã nói, huyện Văn Chấn cách thành phố Yên Bái 72 km, cách thị xã Nghĩa Lộ 10 km, cách Hà Nội trên 200 km, huyện có đường Quốc lộ 32 chạy dọc theo chiều dài địa giới Văn Chấn chính là cửa ngõ để đi vào thị xã Nghĩa Lộ, huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải (tỉnh Yên Bái), huyện Phù Yên, huyện Bắc Yên (tỉnh Sơn La) và tỉnh Lai Châu Đây là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế với các huyện lân cận trong tỉnh cũng như với các tỉnh bạn Bên cạnh những thế mạnh trong phát triển kinh tế, Văn Chấn có vị trí chiến lực quan trọng trong thế trận khu vực phòng của tỉnh và của khu vực Tây Bắc Là địa bàn trọng điểm về quốc phòng của Quân khu
II Ngay từ khi mới thành lập, trong điều kiện tự nhiên bước đầu còn nhiều khó khăn và thử thách nhưng huyện đã nhanh chóng ổn định tình hình bộ máy tổ chức
và đưa các hoạt động chung đi vào nề nếp
- Về Kinh tế:
Giá trị sản xuất hàng hoá tăng bình quân hàng năm tăng 15%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, thu ngân sách hàng năm đa số đạt chỉ tiêu giao Huyện có thương hiệu chè tuyết shan Suối Giàng đã và đang được khẳng định trên
Trang 32thị trường trong nước Thu nhập bình quân tính trên đầu người đến 2012 đạt 10,5 triệu đồng/người/ năm và giải quyết việc làm cho hơn 4.500 lao động
- Về cơ sở hạ tầng:
Xây dựng 140 km đường giao thông, 250 km đường điện, xây mới các công trình phụ trợ như: Chợ trung tâm huyện, Sân vận động huyện, khu vui chơi
- Về giáo dục đào tạo, văn hoá, xã hội
Huyện hiện có 92 trường học các cấp từ Mẫu giáo, Tiểu học và Trung học cơ sở;
02 trường Trung học phổ thông với 02 phân hiệu; 01 trường Phổ thông dân tộc nội trú;
01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp dạy nghề và 01 trung tâm dạy nghề Các lĩnh vực văn hoá cũng có nhiều chuyển biến tích cực cả về quy mô và chất lượng, thời gian qua đã đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho khoảng 10.000 lao động, giảm 2554 hộ nghèo, kịp thời giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội
- Dân số, dân cư:
Dân số trung bình năm 2012 là 148.557 người (Khu vực thị trấn, thị tứ 16.044 người, chiếm 10,8% Khu vực nông thôn 132.513 người, chiếm 89,2%), tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1%, mật độ dân số là 123,8 người/km2 Trong đó dân tộc kinh chiếm 34,3%, Thái chiếm 23,4%, Tày chiếm 17,1%, Dao chiếm 9%, Mông chiếm 7,1%, Mường chiếm 7%, các dân tộc khác chiếm 2,1%
- Nguồn nhân lực:
Nguồn lao động năm 2012 là 110.518 người, trong đó: Lao động trong độ tuổi
là 92.848 người, chiếm 62,5% dân số trung bình toàn huyện Trong đó lao động đang hoạt động kinh tế trong các ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản: 64.589 người, công nghiệp, xây dựng: 4.739 người, thương mại, dịch vụ: 2.293 người, quản lý Nhà nước, hành chính sự nghiệp, Đảng đoàn thể và hiệp hội: 2.594 người và không
tham gia các hoạt động kinh tế: 18.633 người
Với những lợi thế và khó khăn trên, nhân dân các dân tộc huyện Văn Chấn đã
và đang cố gắng phấn đấu nỗ lực hết mình thực hiện mục tiêu chung của đề án đưa
Trang 33Văn Chấn trở thành trung tâm động lực phát triển phía Tây của tỉnh đó là: Tập trung phát triển một số ngành, lĩnh vực có tiềm năng thế mạnh của huyện, tạo sự chuyển biến lớn để xây dựng huyện Văn Chấn trở thành trung tâm động lực phát triển nông, lâm nghiệp khu vực phía Tây của tỉnh, có tác động và đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần xây dựng tỉnh Yên Bái trở thành tỉnh phát triển khá vào năm 2015, tạo nền tảng để đến năm 2020 huyện Văn Chấn trở thành trung tâm kinh tế của khu vực phía Tây của tỉnh
Nâng cao kiến thức chuyên môn, năng lực quản lý, kỹ năng điều hành và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức huyện và cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
2.1.2.2 Tổ chức bộ máy:
* Cơ cấu bộ máy
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ các thành viên Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn
Trang 34- 01 Chủ tịch và 03 Phó Chủ tịch
- 05 Uỷ viên Ủy ban gồm:
+ 01 Uỷ viên phụ trách về Quân sự;
+ 01 Uỷ viên phụ trách về Công an;
+ 01 Uỷ viên phụ trách về Văn phòng HĐND - UBND huyện;
+ 01 Uỷ viên phụ trách về công tác Thanh tra;
+ 01 Uỷ viên phụ trách về Nội vụ;
* Danh sách các Phòng, Ban chuyên môn.
Các cơ quan chuyên môn của huyện Văn Chấn được tổ chức một cách thống nhất và chặt chẽ Ủy ban Nhân dân huyện gồm có 13 Phòng, Ban chuyên môn:
1 Văn phòng UBND và HĐND
2 Phòng Nội vụ
3 Phòng Tư pháp
4 Phòng Tài chính- Kế hoạch
5 Phòng Tài nguyên- Môi trường
6 Phòng Lao động, Thương binh- Xã hội
7 Phòng Văn hoá- Thông tin
8 Phòng y tế
9 Thanh tra Nhà nước
10 Phòng Giáo dục- Đào tạo
11 Phòng Kinh tế - hạ tầng
12 Phòng dân tộc
13 Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 35* Mối liên hệ giữa Huyện ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân
Huyện ủy Văn Chấn là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ huyện Văn Chấn
Có trách nhiệm lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của Đảng bộ, đề ra chương trình,
kế hoạch và ra các Nghị quyết chuyên đề để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của cấp trên, của Huyện uỷ và các chủ trương, chính sách của Nhà nước, chính quyền cùng cấp
Hội đồng nhân dân chỉ đạo cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình thành nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân để thực hiện chương trình, xây dựng kế hoạch giám sát các cơ quan, đơn vị của huyện trong việc triển khai, thực hiện
Ủy ban nhân dân huyện xây dựng kế hoạch thực hiện, hướng dẫn thực hiện
chương trình có hiệu quả thiết thực Tham mưu giúp Ban Thường vụ Huyện ủy bổ sung nội dung nhiệm vụ phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình đảm bảo sự lãnh đạo thông suốt có hiệu quả đối với Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn
Như vậy, Huyện ủy là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ huyện, có mối quan hệ mang tính chất chỉ đạo và phối hợp với Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên cơ sở cùng thống nhất đưa ra các chỉ tiêu, Nghị quyết, các biện pháp để hoàn thành các mục tiêu ổn định chính trị, phát triển kinh tế, xã hội của địa phương
* Về tổ chức:
Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân huyện đồng thời giữ chức vụ Phó Bí thư Huyện ủy; Chủ tịch Hội đồng Nhân dân huyện là Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy; các Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, Ủy viên Uỷ ban Nhân dân có thể là Ủy viên Ban Thường vụ hoặc Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện
2.2 Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Văn Chấn lần thứ 19 về công tác cán bộ, Huyện ủy đã kịp thời triển khai chỉ đạo đồng bộ các khâu về công tác
Trang 36cán bộ, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, nhận xét và sử dụng, bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ trong đó có cán bộ công chức thuộc Ủy ban Nhân dân huyện Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; công tác điều động, bổ nhiệm, luân chuyển và thực hiện chính sách cán bộ được thực hiện nghiêm đúng qui định, quyết định của Trung ương, của Tỉnh ủy, đảm bảo đúng quy trình, dân chủ, thống nhất trong nội bộ Đảng, tạo sự chuyển biến trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong những năm qua
2.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức (Cơ cấu, tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ, thâm niên, bằng cấp)
Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức được phân tích dựa trên số lượng và cơ cấu, trong đó tập trung vào các cơ cấu nhân lực về độ tuổi, giới tính, thành phần dân tộc cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị
Về mặt số lượng đội ngũ cán bộ công chức được bố trí theo sơ đồ tổ chức đã nêu trên đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, phòng ban, dựa theo định biên chung và thay đổi theo nhiệm vụ của từng thời kỳ Tính đến ngày 01/8/2013 cán bộ, công chức thuộc UBND huyện là: 104 người Về mặt nguyên tắc số lượng đội ngũ cán bộ công chức sẽ được xác định dưa và nhiệm vụ công tác và vị trí công việc (bản mô tả công việc) Hiện nay ỦY ban nhân dân huyện Văn Chấn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nội dung các vị trí công việc cho từng chức danh theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ và Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái
Dưới đây luận văn tập trung phân tích các loại cơ cấu chủ yếu của đội ngũ cán
bộ công chức của Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn:
Trang 37Bảng 2.1: Cơ cấu về chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ lý luận chính trị của cán bộ chức UBND huyện Văn Chấn từ năm 2008 đến 01/8/2012
đẳng
Trung cấp (khác)
Nguồn: Thống kê của Phòng Nội vụ huyện
Từ số liệu trong bảng 2.1, về bằng cấp chuyên môn, lý luận chính trị, cơ cấu ngạch bậc của đội ngũ cán bộ UBND huyện Văn Chấn như trên, chúng ta có thể thấy:
Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức từ đại học trở lên được tăng lên theo các năm, từ 81,5% lên 82,6% là tương đối cao so với hoàn cảnh thực
tế của một địa phương miền núi còn nhiều khó khăn cả về kinh tế, văn hóa và xã hội Tỷ lệ cán bộ, công chức các phòng, ban chuyên môn có trình độ đại học, sau đại học đang có xu hướng tăng Đội ngũ cán bộ công chức của Ủy ban Nhân dân huyện mới được tuyển dụng nhìn chung đảm bảo về chất lượng, đúng tiêu chuẩn, chức danh quy định Việc đào tạo bồi dưỡng tạo nguồn từ cơ sở cũng như sau khi tuyển dụng đã góp phần đáng kể trong thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ công chức thuộc Ủy ban Nhân dân huyện Hầu hết số người được đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm đã được nâng lên đáp ứng cơ bản yêu cầu nhiệm vụ được giao
Tuy nhiên có thể nhận thấy qua số liệu thu thập được, số lượng cán bộ công chức có trình độ sau đại học lại quá ít, các năm 2008, 2009 là không có cán bộ trình
Trang 38độ sau đại học; đến năm 2010 có 01/102 người, chiếm 1,9%; năm 2011 có 02/103 chiếm 1,95%, 2012 có 02/104 chiếm 1,92% Mặc dù thời điểm hiện tại số lượng cán bộ đang theo học Cao học có tăng lên (theo thống kê có 12 người đang theo học), song nhìn chung vẫn còn chậm so với sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và yêu cầu đổi mới của địa phương
Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ thuộc Ủy ban Nhân dân huyện còn có phần hạn chế; tỷ lệ chưa qua đào tạo khá lớn, chiếm 57% vì vậy đã ảnh hưởng đến công tác và bản lĩnh chính trị trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay
Bảng 2.2: Cơ cấu về trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học của cán bộ công chức
Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn từ năm 2008 đến 01/8/2012
Nguồn: Thống kê của Phòng Nội vụ huyện
Trình độ tin học của cán bộ, công chức của Ủy ban huyện chủ yếu mới dừng ở mức biết các chức năng cơ bản của máy tính, đánh máy, soạn thảo văn bản (trình độ
A, B chiếm đến 50,9%); trong thời điểm hiện nay, nhiệm vụ chủ yếu của cấp huyện
là chỉ đạo, điều hành bộ máy cơ sở thì ngoài kiến thức thực tế, người cán bộ còn phải biết vận dụng công nghệ phụ trợ cho công việc, đây là một yêu cầu bắt buộc
Từ đó có thể thấy, vấn đề triển khai vận dụng công nghệ thông tin trong quản lý còn chưa xứng tầm với một đơn vị quản lý cấp huyện
Trang 39Về trình độ ngoại ngữ, với những người đã được đào tạo thì hầu hết là chứng chỉ A, B (chiếm 14,48% trong tổng số cán bộ) nhưng chỉ một số rất ít có trình độ thực sự, đủ khả năng giao tiếp, học tập, nghiên cứu, phục vụ công tác Điều này là một thực tế dễ hiểu đối với đội ngũ cán bộ công chức ở một huyện nghèo miền núi, vốn ngoại ngữ rất ít khi được sử dụng mà chủ yếu tập trung vào các thứ tiếng dân tộc tại địa phương Tuy nhiên thực trạng này cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến đề
án đào tạo cán bộ sau đại học trong nước và nước ngoài của huyện
Bảng 2.3: Cơ cấu ngạch bậc của cán bộ công chức Ủy ban Nhân dân huyện
Văn Chấn từ năm 2008 đến 01/8/2012
Ngạch bậc Chuyên viên
chính (Tương đương)
Chuyên viên (Tương đương)
Nguồn: Thống kê của Phòng Nội vụ huyện
Về cơ cấu ngạch bậc, có thể thấy tỷ lệ chuyên viên chính hoặc tương đương chỉ chiếm 0,57% trên tổng số cán bộ công chức của Ủy ban huyện; sở dĩ có tỷ lệ quá thấp như vậy bởi vì: Chủ yếu các tiêu chuẩn, điều kiện được lựa chọn dự thi nâng ngạch công chức từ chuyên viên lên chuyên viên chính là lựa chọn ở các ban, ngành của tỉnh chứ chưa có nhiều chỉ tiêu đưa về huyện Đây cũng là một bất cập trong chế độ đối với cán bộ công chức cấp huyện Cho nên, trong những năm qua tỷ
lệ này tăng rất chậm Về số liệu chuyên viên, chiếm tỷ lệ khá cao 76,92% là tổng hợp cả đối tượng cán bộ tương đương cấp chuyên viên; đây là thành phần chính và
Trang 40chủ yếu trong thực thi công việc gắn với yêu cầu chuyên môn cụ thể của từng phong, ban thuộc Ủy ban Nhân dân huyện Và số chuyên viên này trong thời gian tới là yếu tố để tăng số lượng chuyên viên chính lên khi có các đợt thi tuyển chuyển ngạch do Bộ Nội vụ tổ chức hàng năm
Bảng 2.4: Cơ cấu độ tuổi và giới tính cán bộ công chức Ủy ban Nhân dân
huyện Văn Chấn từ năm 2008 đến 01/8/2012
Nguồn: Thống kê của Phòng Nội vụ huyện
Nhìn vào bản số liệu thống kê về độ tuổi, giới tính, dân tộc của đội ngũ cán bộ công chức Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn có thể thấy:
Độ tuổi dưới 30: 23 người, chiếm 22,11%; từ 30-50: 69 người, chiếm 66,34% Như vậy, tính chung độ tuổi từ dưới 30 đến 50 chiếm đến 88,45% (của năm 2012); đây
là môt tỷ lệ khá cao, vì đối tượng cán bộ, công chức còn khá trẻ, đặc biệt ở lứa tuổi 30 -
50 chiếm số đông hơn ½ là một ưu thế khá lớn vì đây là độ tuổi đạt được bước chuẩn
về chuyên môn, nghiệp vụ, có thời gian công tác khá lâu, đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong công việc nên chất lượng hiệu quả công việc sẽ cao hơn Đồng thời với mục tiêu trẻ hóa cán bộ có năng lực, trình độ cao, trong thời gian tới, số lượng cán bộ trẻ của huyện sẽ tăng lên, cùng với sự nhanh, nhạy trong công việc cũng như trong đối nhân xử thế, đội ngũ này sẽ có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của huyện