Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn Nghiên cứu và đề xuất đồng bộ các giải pháp khả thi trong công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị của quận Long Biên theo qui hoạch phân khu đô
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và những ý kiến đóng góp chỉ bảo quý báu của các thầy, cô giáo trong khoa sau đại học của Viện đại Học Mở Hà Nội
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS Đinh Đăng Quang giảng viên trường học viện hành chính quốc gia là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của UBND quận Long Biên, UBND phường Sài Đồng, Phòng quản lý Đô Thị, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi Trường quận Long Biên , các anh chị em và bạn
bè đồng nghiệp, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này
Vì thời gian có hạn nên luận văn không thể trách khỏi những thiếu xót, tôi rất mong các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp giúp đỡ, góp ý kiến để tôi hoàn thiện tốt hơn trong thời gian tới
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả nghiên cứu
Vũ Tiến Hưng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là xác thực và chưa từng được công bố trong kỳ bất công trình nào khác trước đó
Tác giả nghiên cứu
Vũ Tiến Hưng
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ 5
1.1 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 5
1.1.1 Quan niệm về cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 5
1.1.2 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 7
1.1.3 Vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế của đô thị 8
1.2 Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị 10
1.2.1 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 10
1.2.2 Vai trò của Nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 12
1.2.3 Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến quản lý hạ tầng kỹ thuật 23 1.3 Kinh nghiệm quản lý hạ tầng kỹ thuật thế giới và ở Việt Nam 25
1.3.1 Tại Singapore 25
1.3.2 Tại Đà Nẵng 27
1.3.3 Bài học kinh nghiệm 29
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2004-2012 31
2.1 Giới thiệu khái quát về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật của Thành phố Hà Nội 31
2.1.1 Giới thiệu chung về thành phố Hà Nội 31
2.1.2 Giới thiệu khái quát về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị của thủ đô Hà Nội 33
Trang 42.2 Giới thiệu chung về quận Long Biên 34
2.2.1 Vị trí địa lý quận Long Biên 34
2.2.2 Điều kiện tự nhiên 36
2.2.3 Đặc điểm kinh tế xã hội 36
2.2.4 Cơ cấu tổ chức quản lý Quận Long Biên 38
2.2.5 Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật đô thị quận Long Biên 40
2.3 Thực trạng công tác quản lý quản lý hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn quận Long Biên 55
2.3.1 Thực trạng 55
2.3.2 Cơ cấu tổ chức quản lý hạ tầng kỹ thuật của quận Long Biên 58
2.3.3 Định hướng phát triển Kinh tế - xã hội và phát triển không gian của quận Long Biên đến năm 2020 58
2.3.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý Nhà nước đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị của quận Long Biên 65
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 75 3.1 Đề xuất lựa chọn giải pháp trong lộ trình thực hiện quản lý hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn quận 75
3.1.1 Quản lý hạ tầng kỹ thuật các phường khu vực trung tâm quận 75
3.1.2 Quản lý hạ tầng kỹ thuật các phường ven sông Hồng 75
3.1.3 Quản lý hạ tầng kỹ thuật các khu đô thị trên địa bàn 76
3.2 Đề xuất bổ sung một số nội dung liên quan tới quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị thành phố Hà Nội và quận Long Biên 77
3.2.1 Đối với Thành phố Hà Nội 77
3.2.2 Đối với quận Long Biên 80
3.2.3 Nhóm giải pháp định hướng xuyên suốt trong công tác xây dựng, quản lý hạ tầng đô thị trên địa bàn quận Long Biên 82
3.2.4 Nhóm giải pháp cụ thể trong công tác xây dựng, quản lý hạ tầng đô thị trên địa bàn quận Long Biên giai đoạn 2010-2015 85
3.2.5 Một số giải pháp huy động sự tham gia của cộng đồng trong quản lý hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn quận Long Biên 93
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
HĐND : Hội Đồng Nhân Dân
QHCHN : Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội GPMB : Giải phóng mặt bằng
HTKT : Hạ tầng kỹ thuật
VH-TDTT : Văn hóa thể dục thể thao
TNMT : Tài nguyên môi trường
LĐ-TBXH : Lao động thương binh xã hội
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Quận Long Biên 40
2 Bảng 2.2 Bảng tổng hợp sử dụng đất - toàn quận Long Biên 41
5 Bảng 2.5 Thống kê diện tích và dân số các khu đô thị mới 48
6 Bảng 2.6 Bảng Tổng hợp khối lượng đường hiện có 50
8 Bảng 2.8 Dự báo dân cư toàn quận Long Biên 61
9 Bảng 2.9 Chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật đến năm 2020 61
2 Hình 2.2 Bản đồ vị trí quận Long Biên, thành phố Hà Nội 35
3 Hình 2.3 Qui hoạch quận Long Biên 1/2000 năm 2005 43
4 Hình 2.4 Bản đồ Qui hoạch phân khu đô thị trung tâm vùng
thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn 2050 62
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt
xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân được cải thiện đáng kể, mức sống của người dân càng cao điều này đồng nghĩa với việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng đô thị đáp ứng nhu cầu của nhân dân ngày càng gia tăng Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng và quản lý hạ tầng đô thị trong đó rất chú trọng việc nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về lĩnh vực này Theo đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
về đầu tư xây dựng ngày càng được hoàn thiện, có tính khả thi cao, điều chỉnh khá toàn diện hoạt động đầu tư xây dựng và quản lý hạ tầng đô thị; hệ thống
tổ chức quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng, quản lý hạ tầng đô thị cũng từng bước được kiện toàn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động đầu tư xây dựng tại Thủ đô Hà Nội Nhìn chung, các cơ quan,
tổ chức, cá nhân đã chấp hành tốt hơn các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng, tình hình đầu tư xây dựng ngày càng phát triển mạnh mẽ, bên cạnh các nguồn lực của nhà nước, đã huy động được nguồn lực to lớn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho hoạt động đầu tư xây dựng; hạ tầng đô thị, đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật đô thị; cảnh quan, kiến trúc ngày càng được bảo đảm, thể hiện ngày càng rõ nét bản sắc Việt Nam
Quận Long Biên là quận mới được thành lập theo Nghị định 32/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ, là một Quận mới so với nhiều Quận khác trên cả nước, Long Biên có nền kinh tế phát triển tương đối
Trang 8nhanh và mạnh, có sức hút tạo ra sự tập trung dân cư, các hoạt động kinh tế - thương mại - du lịch và dịch vụ, quá trình tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ, tỷ lệ dân cư gia tăng Tuy nhiên, quận Long Biên hiện nay cũng đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức do áp lực ngày càng tăng của việc phát triển đô thị, dân số, việc đầu tư xây dựng các công trình với nhiều quy mô, tính chất khác nhau Quy hoạch xây dựng còn thiếu, tình trạng xây dựng không phép vẫn tồn tại, thủ tục đầu tư còn rườm rà, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân còn thấp Tình trạng vi phạm pháp luật về đầu tư xây dựng ngày càng nghiêm trọng và phức tạp, phá
vỡ quy hoạch - kiến trúc khu vực, gây mất thẩm mỹ cho diện mạo và mỹ quan
đô thị Để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều sức ép và thách thức như hiện nay công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng và quản lý hạ tầng đô thị trên cả nước nói chung và quận Long Biên nói riêng là yêu cầu cấp thiết
Hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với
sự phát triển của mọi nền kinh tế, vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp, đảm bảo các quan hệ liên lạc thông suốt kịp thời, cung cấp đủ điện nước cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế đất nước… Chính vì tầm quan
trọng như vậy, Tác giả luận văn chọn đề tài luận văn “Giải pháp tăng cường
quản lý hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn
Nghiên cứu và đề xuất đồng bộ các giải pháp khả thi trong công tác quản
lý hạ tầng kỹ thuật đô thị của quận Long Biên theo qui hoạch phân khu đô thị Quận theo chủ trương và định hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2030 tầm nhìn 2050 của UBND thành phố Hà Nội, đáp ứng các yêu cầu quản lý nhà nước trong công tác qui hoạch xây dựng đô thị Quận Long Biên, làm cơ
sở cho việc triển khai các chương trình hạ tầng đô thị Quận Long Biên
Trang 93 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị
Hà Nội nói chung và trên địa bàn quận Long Biên nói riêng
- Đề xuất mô hình và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
hạ tầng kỹ thuật của quận Long Biên trong giai đoạn thực hiện Qui hoạch phân khu đô thị Quận Long Biên và qui hoạch Vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030-tầm nhìn 2050
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các hoạt động quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội từ khi thành lập đến năm 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
+ Phương pháp tiếp cận hệ thống trong việc khảo sát, thu thập thông tin, thống kê và xử lý số liệu liên quan đến đề tài
+ Phương pháp tổng hợp dự báo đánh giá
+ Nghiên cứu và rút kinh nghiệm các mô hình tương tự trong và ngoài nước nhằm xây dựng các bài học thực tiễn trong xây dựng và quản lý hạ tầng
kỹ thuật đô thị Quận Long Biên
+ Tổng hợp, đề xuất các giải pháp để quản lý, kết luận và kiến nghị
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề xuất đồng bộ, hệ thống, có căn cứ khoa học thực tiễn các giải pháp quản lý, đề xuất tổ chức bộ máy quản lý và các nguyên tắc quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn Quận Long Biên
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài phục vụ trực tiếp cho
Trang 10công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn quận Long Biên phù hợp với quy hoạch phân khu đô thị Quận Long Biên và qui hoạch Vùng Thủ đô
Hà Nội đến năm 2030-tầm nhìn 2050
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hạ tầng kỹ thuật đô thị
Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trạng công tác Quản lý hạ tầng kỹ thuật
trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2004 - 2012
Chương 3:Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý về hạ tầng kỹ
thuật đô thị trên địa bàn quận Long Biên – Thành phố Hà Nội
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ
1.1 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.1.1 Quan niệm về cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.1.1.1 Quan niệm
- Hạ tầng cơ sở được hiểu bao gồm hạ tầng cơ sở kỹ thuật và hạ tầng cơ
sở xã hội Hạ tầng cơ sở kỹ thuật gồm hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý các chất thải và các công trình khác Hạ tầng cơ sở xã hội gồm các công trình y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước và các công trình khác
- Theo từ chuẩn Anh- Mỹ, thuật ngữ “Cơ sở hạ tầng” (infrastructure) được thể hiện trên 4 bình diện:
+ Một là, tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng (điện…) viễn thông nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt truyền tải qua ống,
hệ thống thu gom và xử lý các chất thải trong thành phố
+ Hai là, công chính (public works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục vụ tưới tiêu
+ Ba là, giao thông (transport): các trục và tuyến đường bộ, đường sắt chính quy (Conventionnial railway) đường sắt vận chuyển nhanh (massrapid transit tailway) cảng cho tầu và máy bay, đường thuỷ…
+ Bốn là, hạ tầng xã hội (social infrastructure): trường học, bệnh viện Tóm lại, cơ sở hạ tầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động
hạ tầng có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế- xã hội của cộng đồng dân cư đô thị Đây chính là tiêu chuẩn để phân biệt đô thị với nông thôn
Trang 121.1.1.2 Phân loại cơ sở hạ tầng đô thị
Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia cơ sở hạ tầng đô thị thành nhiều loại khác nhau
Theo tính chất ngành cơ bản có thể phân ra:
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội đô thị
- Cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội đô thị
Theo tính phục vụ có thể phân ra:
- Cơ sở hạ tầng đô thị phục vụ sản xuất vật chất
- Cơ sở hạ tầng đô thị phục vụ về nhu cầu văn hoá tinh thần
Theo trình độ phát triển có thể phân ra:
- Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển cao
- Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển trung bình
- Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển thấp
Theo quy mô đô thị có thể phân ra:
- Cơ sở hạ tầng siêu đô thị
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: Đây là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển của các ngành các lĩnh vực kinh tế trong
Trang 13nền kinh tế quốc dân, bao gồm tiện ích công cộng, công chính, giao thông Trong hạ tầng cơ sở thì hạ tầng cơ sở kỹ thuật có vị trí quan trọng và vai trò của nó đang có xu hướng ngày càng tăng trong quá trình phát triển của nền kinh tế Hạ tầng cơ sở kỹ thuật bao gồm: hệ thống đường giao thông,
hệ thống đường sắt, hệ thống vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt,
hệ thống bến bãi đỗ xe; hệ thống cấp nước bao gồm các nhà máy nước, mạng đường ống truyền dẫn, đường ống phân phối, dịch vụ; hệ thống thoát nước gồm các hồ điều hoà, các sông, mương phục vụ thoát nước, hệ thống cống thoát nước; hệ thống thu gom và xử lý chất thải gồm các trạm xử lý nước thải, các bãi chôn lấp và xử lý rác thải và hệ thống thu gom và vận chuyển; hệ thống chiếu sáng công cộng; hệ thống bưu điện, thông tin liên lạc; hệ thống điện
- Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội: Bao gồm toàn bộ các công trình như nhà xưởng, kho bãi, khách sạn, khu thương mại (chợ, siêu thị), trô sở làm việc của các cơ quan hành chính, kinh tế và các tổ chức xã hội
- Cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội: Đó là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động văn hoá xã hội, bảo đảm cho việc thoả mãn
và nâng cao trình độ lao động của xã hội, hệ thống này bao gồm: các cơ sở thiết bị và công trình phục vụ cho giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai công nghệ; Các cơ sở y tế, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiểm
xã hội, nghỉ nghơi và các công trình phục vụ hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao
1.1.2 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Trước hết, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là một loại hàng hoá công cộng, nã được sử dụng chung, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho một quốc gia, hoặc một tỉnh, thành phố, một huyện, một xã
Trang 14- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị mang tính hệ thống và đồng bộ, bởi lẽ, nếu thiếu hệ thống và đồng bộ, hiệu quả sử dụng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ không cao, nếu như không nói là không hiệu quả
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị mang đặc tính vùng và lãnh thổ Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng phải xem xét tới các yếu tố địa lý, địa hình và
sự phát triển kinh tế- xã hội, sao cho hình thành, quy mô xây dựng phù hợp với phong tục tập quán văn hoá, kiến trúc của cộng đồng dân cư trong vùng
Cơ sở hạ tầng vừa phản ánh yếu tố kinh tế kỹ thuật, vừa phản ánh kiến trúc văn hoá địa phương Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị phải thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người tạo ra tâm lý yêu lao động và yêu quê hương mình
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị có tính thích ứng trong một khoảng thời gian dài, vì vậy phải có chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng thích hợp ngay từ đầu Nghĩa là cơ sở hạ tầng không những đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà
cả trong tương lai Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với các ngành khác và tổng thể kinh tế xã hội trong khu vực mà nó phục vụ Mật độ các công trình cao Sở dĩ như vậy bởi
lẽ, các đô thị thường có quy mô dân số và mật độ dân số cao
1.1.3 Vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế của đô thị
- Đô thị là một điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hay một vùng trong tỉnh, trong huyện Như vậy, trong các tiêu chí của đô thị, cơ sở hạ tầng là một tiêu chí quan trọng Nó phản ánh trình độ phát triển, mức tiện nghi sinh hoạt của người dân đô thị và được xác định theo các chỉ tiêu cơ bản như chỉ tiêu cấp
Trang 15nước sinh hoạt, chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt, mật độ đường phố, đặc điểm hệ thống giao thông, tỷ lệ tầng cao trung bình trong thành phố
- Hơn thế nữa, cơ sở hạ tầng đô thị còn phản ánh trình độ phát triển
cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Sở dĩ như thế vì đô thị là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của một nước, một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện, có vai trò chủ đạo trong sự phát triển Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị luôn được ưu tiên phát triển Điều đó làm cho cơ sở vật chất kỹ thuật của các đô thị thường ở trình độ cao hơn so với các vùng nông thôn
- Sự phát triển các ngành của cơ sở hạ tầng đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và việc nâng cao hiệu quả của nó Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, xu hướng đô thị hoá diến ra mạnh mẽ thì vai trò của cơ sở hạ tầng đô thị không ngừng tăng lên Nó trở thành một trong những nhân tố quyết định cho sự hoạt động, vận hành của một đô thị
- Hiện nay, để đáp ứng các nhu cầu về hội nhập và giao lưu quốc tế, các hình thức mới về giao thông vận tải và thông tin liên lạc xuất hiện và phát triển không những trong khuôn khổ từng nước, mà còn trên phạm vi quốc tế Do đó, hình thành cơ sở hạ tầng vật chất của sự hợp tác quốc tế mới, đó là toàn bộ các bộ phận của các hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc trong nước và nước ngoài, nhằm phục vụ cho hệ thống kinh tế đối ngoại, cũng như các công trình và đối tượng phối hợp với nhau, đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường xung quanh, sử dụng hợp lý các nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác, đảm bảo thông tin liên lạc của các cơ quan khí tượng thuỷ văn, quản lý Nhà nước, các cơ quan phục vụ xã hội và an ninh quốc phòng, nhằm mục đích phát triển dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng văn minh
Trang 161.2 Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.2.1 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.2.1.1 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị thuộc loại hàng hóa công cộng nên
nó nằm trong danh mục sản xuất và quản lý của Nhà nước
Do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nó, đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nền kinh tế như đường sá giao thông, cầu cống, các công trình văn hoá như tượng đài, công viên đòi hỏi lượng vốn đầu tư rất lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, hiệu quả vốn đầu tư thường thấp, do đó các nhà kinh doanh tư nhân không thích đầu tư vào sản xuất loại hàng hoá này
Trên phương diện quốc gia, để phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên,
mở mang dân trí, nếu không có hệ thống đường sá, cầu cống thuận lợi, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế văn hoá giữa các vùng của đất nước không thể được giao lưu; các vùng núi, vùng sâu, vùng xa không thể được khai phá và phát triển; kinh tế của một quốc gia khó có điều kiện giao thương và hội nhập được với quốc tế
Đối với các đô thị, các công trình này càng có ý nghĩa quan trọng Nó thể hiện cho bộ mặt của thành phố Sự phát triển càng cao của nền đô thị thể hiện trước hết ở hệ thống cơ sở hạ tầng: đường sá được quy hoạch và hiện đại; hệ thống giao thông công cộng đi lại thuận lợi; hệ thống điện đảm bảo cung cấp ánh sáng cho thành phố; hệ thống cấp thoát nước sạch đảm bảo sinh hoạt cho dân cư đô thị và khách du lịch, Tất cả những điều đó phản ánh trình độ văn minh đô thị
Các công trình văn hoá như các danh lam thắng cảnh, tượng đài, công viên, sân gôn, cũng có ý nghĩa tương tự Là đô thị, và nhất là đô thị du lịch, các công trình văn hoá có ý nghĩa rất quan trọng Bởi lẽ, các đô thị du lịch là nơi thu hót khách du lịch, tham quan, nghỉ ngơi Thiếu các công trình văn hoá
Trang 17sẽ thiếu đi sức thu hót du khách Chính vì vậy, những nơi có nhiều danh lam thắng cảnh là những nơi cố điều kiện thuận lợi nhất để phát triển đô thị du lịch Việc tạo ra những công trình văn hoá như thế cũng đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, vì thế tư nhân không muốn đầu tư Nhưng vì yêu cầu và lợi Ých chung của sự phát triển đô thị, nhà nước cần phải có sự đầu tư để phát triển
1.2.1.2 Yêu cầu đồng bộ, thống nhất trong quy hoạch và xây dựng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi phải có sự tham gia của Nhà nước trong sản xuất và cung cấp
Chúng ta biết rằng, để trở thành một đô thị, việc xây dựng cơ sở hạ tầng phải theo mét quy hoạch, kế hoạch định trước Không thể để cho tình trạng tự
do vô chính phủ trong việc xây dựng nhà cửa, đường sá cầu cống, điện nước trong một đô thị Bởi lẽ để cho tù do xây dựng, không theo mét quy hoạch kế hoạch, một sự tính toán chung thống nhất từ trước, sẽ không thể có một đô thị hiện đại Kinh nghiệm các nước đã chỉ rõ điều này Hầu hết các đô thị lớn đều phải được xây dựng theo mét quy hoạch, kế hoạch dự tính chung Người đảm nhận việc quy hoạch này chỉ có thể là nhà nước
Như vậy, việc quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng đô thị một cách khoa học và hợp lý có một ý nghĩa đảm bảo quan trọng cho sự phát triển đô thị Vì
cơ sở hạ tầng là nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững của cả một hệ thống
đô thị quốc gia nói riêng và sự phát triển bền vững của một quốc gia nói chung Một quốc gia giàu mạnh, hiện đại và văn minh phải có một cơ sở hạ tầng đô thị vững mạnh, tiện lợi, hiện đại và đầy đủ Do đặc điểm của việc đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng, do yêu cầu của quá trình xây dựng và sử dụng cơ
sở hạ tầng đô thị, đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước Vì thế, vai trò nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng đô thị là một tất yếu đối với mọi đô thi nói chung, đối với đô thị du lịch nói riêng
Trang 181.2.2 Vai trò của Nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.2.2.1 Những yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
Quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là nhằm thực hiện chức năng quản
lý của Nhà nước các cấp trong qúa trình xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng
kỹ thuật đô thị Hay nói cách khác, quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là sự thiết lập và thực thi những khuôn khổ thể chế cùng với những quy định có tính chất pháp quy để duy trì, bảo tồn và phát triển các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trong một môi trường và cảnh quan tốt đẹp của xã hội Vì thế, việc quản lý khai thác cải tạo và xây dựng và công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung phải tuân theo quy hoạch đô thị đã được duyệt Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn giao cho các cơ quan chuyên trách
sử dụng và khai thác các công trình Trong quá trình quản lý phải tuân theo những yêu cầu nhất định
Yêu cầu chung là coi trọng và đề cao vai trò của quản lý Nhà nước, hướng tới mô hình Nhà nước pháp quyền Quản lý Nhà nước được thực hiện trên mọi lĩnh vực và mọi thành phần kinh tế Đối với mỗi lĩnh vực phải thể hiện quyền lực, sự kiểm soát, giám sát, điều chỉnh của Nhà nước ở lĩnh vực
đó nhằm đảm bảo các hoạt động đúng với pháp luật, phù hợp với quyền và nghĩa vụ của mọi công dân và các tổ chức xã hội
Nhìn chung, trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị công tác quản
lý nhà nước cần phải đảm bảo thực hiện được các yêu cầu sau:
- Thứ nhất, tuân thủ theo quy hoạch, kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng: Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phải được thực hiện đúng nguyên tắc, đúng quy hoạch, kế hoạch quản lý đô thị Tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị, các điều luật quy định có liên quan Tiến hành lập hồ sơ và lưu trữ hồ sơ sau khi hoàn thành xây dựng mới, xây dựng lại, sửa chữa lớn, cải tạo hiện đại hoá công trình cơ sở hạ tầng
Trang 19- Thứ hai, thực hiện các dịch vụ công cộng: Nhà nước tiến hành hợp đồng cung cấp các dịch vụ công cộng (điện nước thông tin, dịch vụ ) với các đối tượng cần sử dụng và hướng dẫn họ thực hiện đúng các quy định về hành chính cũng như các quy định về kỹ thuật, phát hiện và sử lý các vi phạm về chế độ sử dụng và khai thác các công trình cơ sở hạ tầng đô thị
- Thứ ba, tuân thủ các quy định trong sửa chữa, nâng cấp: Trong việc cải tạo sửa chữa các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phải có giấy phép của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và được sự đồng ý của cơ quan quản lý các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Thứ tư, quản lý đúng quy định và có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: Đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc chế độ sử dụng, giữ gìn, bảo vệ và khai thác các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện có Phát hiện các
hư hỏng, sự cố kỹ thuật và có các biện pháp sửa chữa kịp thời, thực hiện chế
độ duy tu, bảo dưỡng cải tạo nâng cấp để duy trì chức năng sử dụng các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị theo đúng định kỳ
- Thứ năm, xử lý vi phạm: Đối với các chủ sử dụng các công trình cơ sở
hạ tầng đô thị phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định và sự hướng dẫn của các cơ quan quản lý đô thị Nếu xảy ra vi phạm thì tổ chức và cá nhân vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật và phải đền bù thiệt hại
+ Thứ sáu, thống nhất trong quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: Trong quản lý nhà nước, cần đổi mới và tăng cường hiệu lực của bộ máy quản lý, xây dựng và hoàn thiện chính sách và các giải pháp tạo vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong nước và nước ngoài vào mục đích phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Phương châm “lấy cơ sở hạ tầng nuôi cơ sở hạ tầng” Coi trọng duy tu bảo dưỡng để khai thác sử dụng cũng như cải tạo, mở rộng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Thống nhất quản lý vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị cũng như thống nhất quản lý vận hành và khai thác cơ sở
hạ tầng kỹ thuật đô thị để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của đất nước
Trang 20Trong quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, nhà nước phải đặc biệt chú ý tới những các lĩnh vực chủ yếu, có liên quan tới toàn bộ hoạt động , sinh hoạt của dân cư đô thị Có thể nêu lên những lĩnh vực quản lý chủ yếu sau đây:
- Quản lý các công trình giao thông đô thị: Bao gồm mạng lưới thành phố, cầu hầm, quảng trường, bến bãi, sông ngòi, cảng, sân bay, nhà ga Các công trình giao thông có phạm vi bảo vệ là đường đỏ và ranh giới giữa đất của công trình giao thông với đất khác Đường đô thị được sử dụng cho giao thông (lòng đường cho xe cộ, vỉa hè dành cho người đi bộ); để bố trí các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị khác (điện, nước, thông tin dịch vụ, vệ sinh môi trường, trạm đỗ xe, biển báo, quảng cáo, tượng đài…); để trồng cây xanh công cộng và để sử dụng tạm thời cho các mục đích khác khi chính quyền đô thị cho phép (như bố trí các quầy sách báo, điện thoại công cộng, tổ chức các hoạt động văn hoá xã hội, tuyên truyền giáo dục)
- Quản lý các công trình cấp thoát nước đô thị: Các công trình cấp nước gồm nguồn nước, các công trình khai thác nguồn nước, hệ thống phân phối nước Trong đó việc quản lý nguồn nước phải dùa vào Luật Bảo vệ Tài nguyên nước Việc khai thác sử dụng các công trình cấp nước được quản lý theo quy phạm kỹ thuật chuyên ngành và các quy định của cơ quan quản lý nước sạch Các công trình thoat nước gồm cống, rãnh, cửa xả, kênh, mương, ao hồ, sông đập, trạm bơm và trạm xử lý nước thải UBND thành phố, thị xã, thị trấn giao cho cơ quan chuyên trách quản lý việc sử dụng và khai thác các công trình thoát nước Nước xả vào mạng lưới thoát nước đô thị phải đảm bảo các yêu cầu
về vệ sinh môi trường Vì vậy, khi đấu nối công trình thoát nước cục bộ vào hệ thống thoát nước đô thị phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý đô thị
- Quản lý các công trình cấp điện: UBND thành phố trực thuộc Trung ương hoặc UBND tỉnh quy định phạm vi bảo vệ các công trình cấp điện dùa vào tiêu chuẩn quy phạm của Nhà nước và điều kiện cụ thể của từng khu vực
Trang 21Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng điện cần làm đơn và ký kết hợp đồng với cơ quan quản lý điện Mọi nhu cầu cải tạo sửa chữa các công trình có ảnh hưởng đến hành lang an toàn các công trình cấp điện và chiếu sáng đô thị, vì vậy phải có biện pháp an toàn và được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền
- Quản lý các công trình văn hoá xã hội tại đô thị: Các công trình văn hoá xã hội đô thị là hình thái vật thể của văn hoá đô thị, thể hiện ở những công trình kiến trúc tượng trưng cho những thành tựu kinh tế- xã hội của dân téc và của một đô thị trong những điều kiện phát triển kinh tế- xã hội nhất định Các công trình văn hoá xã hội của đô thị trước hết là các công trình, các
di tích văn hoá đã được xếp hạng (quốc gia hay quốc tế; hệ thống các nhà bảo tàng, các công trình kiến trúc, nhà hát, rạp chiếu bóng, công viên, sân thể thao, đang hoạt động Việc quản lý các công trình văn hoá xã hội trên đòi hỏi nhà nước không những quản lý việc xây dựng nó, mà điều rất quan trọng
là phải quản lý để sao cho việc xây dựng các loại hình cơ sở hạ tầng này phải thể hiện được giá trị truyền thống về văn hoá, đạo đức, cốt cách của dân téc nói chung, của từng đô thị nói riêng Nói cách khác, quản lý nhà nước các công trình văn hoá xã hội phải chú ý tới cả hình thái vật thể và hình thái phi vật thể của văn hoá đô thị
1.2.2.2 Những mối quan hệ cần giải quyết để thực hiện vai trò quản lý nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Quan hệ giữa tập trung dân chủ và phân cấp quản lý trong phát triển cơ
sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là hàng hoá công cộng có tầm quan trọng về kinh tế- xã hội, khó thu được tiền hoặc lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn dài nên có nhiều rủi ro (như tiền mặt mất giá, chính sách thay đổi, thiên tai, dịch hoạ, công nghiệp hoá lạc hậu ) nên thường do Nhà nước đảm nhận Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và điều chỉnh để đảm bảo cung cấp các dịch vụ kết cấu hạ tầng, đảm bảo nhu cầu cuộc sống của
Trang 22nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất và làm dịch vụ của các doanh nghiệp, đảm bảo cho dịch vụ đó có được một cách kịp thời Đây là vai trò của Nhà nước tác động trực tiếp vào khâu quản lý để điều tiết nền kinh tế trong sự phát triển bền vững Tuy nhiên, Chính phủ cũng có khả năng hạn chế trong quản lý và nguồn tài chính phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Do đó, Chính phủ cũng tạo điều kiện và mở rộng chức trách cho khu vực kinh tế tư nhân và cộng đồng tham gia thực hiện các quyền dân chủ quản lý, thực hiện nghĩa vụ đóng góp và thu hót mọi nguồn vốn, tăng thêm hiệu quả quản lý và phát triển
cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị của quốc gia Phân cấp quản lý là sự phân định
và xếp hàng các đô thị theo quy mô, vị trí hay tầm quan trọng của từng đô thị trong phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, của vùng hay địa phương để từ
đó xác định các chính sách quản lý, đầu tư thích hợp Giữa phân loại và phân cấp quản lý có mối quan hệ chặt chẽ Nguyên tắc chung là dùa vào phân loại
để phân cấp quản lý Đây là một trong những giải pháp có tính nguyên tắc nhằm phân định chức năng và quyền hạn quản lý của chính quyền các cấp cho thích hợp, tránh sự trùng chéo hoặc bỏ sót
- Quan hệ giữa tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật
đô thị: Sự hình thành và phát triển, quy mô và định hướng phát triển của cơ sở
hạ tầng đô thị nói chung phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể không gian đô thị Quy hoạch tổng thể không gian đô thị chỉ thực hiện có hiệu quả khi cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị được xây dựng đồng bộ và đi trước một bước Nguyên tắc này xuất phát từ thực tiễn sự tăng trưởng kinh tế phát sinh nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị với một quy mô lớn, nhất là trong xu thế bùng nổ đô thị hoá toàn cầu với một tốc độ choáng ngợp Thực tiễn này, đã gây ra hệ quả phát sinh ngày càng găy gắt, trực tiếp có ảnh hưởng về lâu dài là toàn bộ hệ thống giao thông trong và xuyên các trung tâm kinh tế đô thị hoá, hệ thống điện gia dụng và công nghiệp, nước sạch cho các hộ gia đình và sản xuất,
Trang 23hệ thống thu gom và xử lý các chất thải rắn và lỏng, kho tàng, bến cảng đều bị
sử dụng quá tải nhưng không được đầu tư nâng cấp và mở rộng thoả đáng khả
dĩ đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Ở Việt Nam, điều này càng trở nên găy gắt và cấp bách hơn, do nhu cầu phát triển sau thời kỳ đổi mới và việc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế để giải quyết vấn đề nghèo khổ, xoá đói giảm nghèo và sự nghiệp phát triển công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, ngoài ra do tăng trưởng kinh tế nên dân chúng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn và đòi hỏi Chính phủ phải cung cấp tiện ích công cộng và dịch vụ xã hội liên quan điện nước sinh hoạt, xử lý rác thải tốt và có chất lượng cao Tất cả những điều đó đòi hỏi sự quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phải theo kịp với tốc độ phát triển đô thị, tốc
độ tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế phải gắn với phát triển hạ tầng và
hạ tầng là tác nhân chính của sự tắc nghẽn phát triển kinh tế- xã hội Và giải quyết vấn đề đô thị hoá hàm nghĩa giải quyết cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Quan hệ giữa quy mô đô thị với hệ thống các phương tiện vật chất, cơ
sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phục vụ cho sự phát triển đô thị: Cơ sở hạ tầng đô thị không chỉ phụ thuộc vào trình độ quy mô phát triển, sản xuất, dịch vụ, mật
độ dân cư, mà còn phụ thuộc vào các phương tiện đi lại, các thiết bị sinh hoạt của dân cư Đây là nguyên tắc hệ thống để làm sao các đặc trưng và mục tiêu của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị được thực hiện một cách tốt đẹp Tính hệ thống dòi hỏi, trong việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
đô thị, nhà quản lý phải căn cứ vào quy mô đô thị, quy mô hoạt động sản xuất
và dịch vụ, quy mô dân cư để bố trí hệ thống các phương tiện đi lại, các thiết
bị phục vô sinh hoạt của dân cư, sao cho mọi cơ quan, tổ chức, mọi người dân sống trên phạm vi đô thị, có được sự phục vụ đồng bộ, thuận tiện Khi quy mô
đô thị thay đổi, hệ thống phục vụ phải thay đổi kịp thời Điều này rất quan trọng đối với quản lý sự phát triển của các đô thị du lịch, bởi lẽ, quy mô dân
Trang 24số của các đô thị này thường có sự biến động cơ học Do vậy, việc tính toán
hệ thống các phương tiện phục vụ phải sao cho đạt được ở mức tối đa Tất nhiên, việc phát triển cơ sở hạ tầng của các đô thị này cũng phải tính tới thời
kỳ quy mô dân số giảm cơ học để có phương án sử dụng hiệu quả nhất các phương tiện vật chất đã có
- Các công cụ chủ yếu thực hiện vai trò quản lý nhà nước trong phát triển
cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: Để thực hiện các yêu cầu và giải quyết được các mối quan hệ quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị như trên, nhà nước cần sử dụng các biện pháp quản lý thích hợp trong sự phát triển cơ sở hạh tầng đô thị Các biện pháp này cho phép nhà nước thực hiện một cách tổng thể quyền lực nhà nước, lại vừa thích hợp, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển hệ thống
cơ sở hạ tầng đô thị Có nhiều biện pháp mà nhà nước sử dụng để phát triển cơ
sở hạ tầng đô thị nhưng chủ yếu và quan trọng là quy hoạch, luật pháp, hành chính, kinh tế, tổ chức, tuyên truyền, giáo dục thuyết phục
- Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị : Đây là công cụ quan trọng để đảm bảo sự quản lý thống nhất của nhà nước trong phát triển cơ
sở hạ tầng đô thị Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là việc tổ chức, sắp xếp không gian đô thị sao cho bố trí và sử dụng hợp lý cơ sở hạ tầng của đô thị đảm bảo cho sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường của đô thị Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị được thực hiện thông qua các yêu cầu, quy định của nhà nươc đối với mọi hoạt động xây dựng và mọi hoạt động khác có liên quan đến việc sử dụng không gian, cơ sở hạ tầng, tài nguyên của đô thị đã được xác định Quy hoạch cơ sở
hạ tầng kỹ thuật đô thị đô thị được thể hiện dưới dạng các bản vẽ và các quy chế Trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt, nhà nước tăng cường công tác quản lý phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Tuy nhiên, quy hoạch cơ sở
hạ tầng kỹ thuật đô thị được ban hành và áp dụng cho mét giai đoạn nhất
Trang 25định Bởi lẽ do sự phát triển nhanh chóng của đô thị nói chung, của trình độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội nói riêng, công tác quy hoạch còng đòi hỏi phải được điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện để kịp thời đáp ứng
- Sử dụng các công cụ hành chính trong phát triển cơ sở hạ tầng đô thị: Đây là công cụ quan trọng nhất thể hiện quyền lực của nhà nước trong quản lý kinh tế, xã hội nói chung, trong phát triển cơ sở hạ tầng ở một đô thị nói riêng thực hiện được ý chí của nhà nước Công cụ này được thực hiện thông qua việc nhà nước các cấp xây dựng hệ thống các văn bản pháp quy để tạo môi trường thể chế nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Việc sử dụng công cụ hành chính luôn mang tính mệnh lệnh, cưỡng chế dưới các hình thức văn bản pháp luật và có tính pháp luật buộc mọi người phải tuân theo Qua
đó, các cơ quan hành chính, thủ trưởng và các nhà chức trách thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ của mình, yêu cầu mọi công dân tuân thủ theo pháp luật và các văn bản hành chính để phát triển các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Hệ thống các văn bản quản lý kiểm soát phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
đô thị do các cơ quan, ban ngành từ Trung ương tới các địa phương tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn, phường chứa đựng các quy định, hướng dẫn thực hiện cấc quy đinh của cấp trên về quản lý phát triển đo thi nói chung và quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị nói riêng Tuy nhiên, các văn bản trên có tính pháp quy tập trung vào Chính phủ, Bộ xây dựng, và một số
Bộ có liên quan để phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị theo quy hoạch Thực hiện phương pháp hành chính, đòi hỏi phải tiến hành một loạt các khâu liên hoàn trong đó có:
+ Công việc phê duyệt, cấp phép xây dựng phương án;
+ Cấp chứng chỉ quy hoạch, cấp giấy phép xây dựng:
+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm
Trang 26- Quản lý cơ sở hạ tầng đô thị thông qua hệ thống chính sách kinh tế: Đây là hệ thống các công cụ chủ yếu để thực hiện vai trò nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Việc thực hiện công cụ này thông qua chính sách đầu tư vốn và các chính sách khác nhằm tạo nguồn vốn đầu tư cho phát triển
cơ sở hạ tầng đô thị Như đã nói, cơ sở hạ tầng đô thị là hàng hoá công cộng Việc đầu tư vào hàng hoá này đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, đòi hỏi phải có đầu tư, mạo hiểm Việc phát triển loại hàng hoá này mang tính hiệu quả kinh tế xã hội nhiều hơn là hiệu quả kinh tế đơn thuần Vì vậy, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị dùa phần lớn vào nguồn ngân sách nhà nước Điều đó đòi hỏi nhà nước phải có sự quản lý nguồn vốn đầu tư của mình một cách chặt chẽ, sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất Tuy nhiên, trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, xu hướng
đa dạng hoá sở hữu, đa dạng hoá kinh doanh trong kinh tế cũng cần được quán triệt trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Vì vậy, trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, nhà nước không chỉ có chính sách đầu tư
từ vốn nhà nước, mà còn có chính sách thu hót nguồn đầu tư từ toàn xã hội Xuất phát từ đó, nhà nước cần sử dụng các công cụ kinh tế, trước hết là chính sách đầu tư, tài chính, tín dụng, các ưu đãi vật chất khác để đảm bảo sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị có hiệu quả
Có thể nêu lên các công cụ chính sách kinh tế chủ yếu để xây dựng CSHT đô thị là:
+ Vốn đầu tư
+ Thuế và lãi suất tín dụng ưu đãi
+ Chính sách ưu tiên thu hót đầu tư như
+ Đất đai xây dựng cơ sở hạ tầng: chủ trương, chính sách của nhà nước nhằm đổi đất lấy cơ sở hạ tầng hoặc BT, hoặc BOT, đầu tư xây dựng đô thị
Trang 271.2.2.3 Xây dựng bộ máy tổ chức quản lý nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
Vai trò nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị chỉ được thực hiện tốt khi có được bộ máy quản lý đầy đủ và có hiệu lực Chính bộ máy tổ chức hợp lý, đội ngò cán bộ có đầy đủ năng lực thực thi sẽ tạo điều kiện cho nhà nước thực hiện tốt vai trò của mình trong phát triển cơ sở hạ tầng Theo quy định hiện hành, Bộ máy quản lý nhà nước để phát triển đô thị nói chung, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị nói riêng được hình thành theo một hệ thống, từ Trung ương tới cấp xã phường Cụ thể như sau:
Trên phạm vi toàn quốc Công tác quản lý của chính phủ bao gồm nhiều
cơ quan và các Bộ ngành, chia thành: bộ phận chỉ đạo phối hợp, cơ quan chức năng và các cơ quan có liên quan
- Cơ quan chỉ đạo phối hợp gồm có Chính phủ và Bộ Kế hoạch - đầu tư: Chính phủ là cơ quan quản lý tập trung thống nhất mọi hoạt động trên lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, thông qua việc ra các nghị định, chỉ thị
áp dụng cho toàn quốc các văn bản này là cơ sở để các địa phương, các cơ quan chức năng có thông tư hướng dẫn và thi hành Chính phủ phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị lớn, những định hướng phát triển
và quy hoạch sử dụng đất đai ở những vùng quan trọng Bộ kế hoạch- đầu tư là
cơ quan xét duyệt các dự án đầu tư lớn klhông thuộc thẩm quyền của Chính phủ, thẩm định và cấp giấy phép hoạt động cho các tổ chức trong và ngoài nước hoạt động đầu tư, liên doanh; giúp Chính phủ xây dựng kế hoạch phát triển, phối hợp với các cơ quan khác đề xuất dự án kêu gọi đầu tư, hướng dẫn các địa phương
thực hiện chiến lược phát triển chung của vùng và toàn quốc
- Cơ quan chức năng gồm Bộ Xây dựng và tổng cục địa chính (cũ) nay
là Bộ tài nguyên và môi trường Bộ Xây dựng là cơ quan của Chính phủ thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, kiến trúc, quy hoạch phát triển
Trang 28đô thị nói chung, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị nói riêng trên phạm vi cả nước
Bộ tài nguyên và môi trường là cơ quan quản lý nhà nước về đất đai trên toàn quốc, theo dõi quản lý sử dụng đất đai và cung cấp các thủ tục hành chính về đất đai Hai cơ quan này cùng phói hợp để quy hoạch sử dụng đất đai, đánh giá đất đai, kế hoạch khai thác và sử dụng công thổ quốc gia để trình chính
phủ phê duyệt
- Cơ quan phối hợp là các bộ phận thuộc Bộ Tài chính: Hiện nay có chức năng trong lĩnh vực quản lý thị trường bất động sản, thi hành các văn bản quản lý nhà nước về thu phân bổ ngân sách; tham mưu tư vấn cho Chính phủ
về điều chỉnh giá cả đất đai, giá cho thuê đất, tỷ suất thuế, lệ phí, và thực hiện việc thu thuế, lệ phí
- Tại các đô thị: Tại đô thị các cấp, tổ chức quản lý nhà nước có các cơ
quan quy hoạch và quản lý chung, cơ quan cung cấp thủ tục dịch vụ hành chính và các cơ quan thanh tra
Cơ quan quy hoạch và quản lý chung ở cấp thành phố, thị xã có chức năng thông qua quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển đô thị nói chung và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị nói riêng
Uỷ ban nhân dân Thành phố, Thị xã xây dựng quy hoạch tổng thể, quy hoạch chung, trong đó có quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, Hội đồng nhân dân Thành phố thông qua UBND Thành phố xây dựng các văn bản pháp quy, tổ chức kiểm tra, thanh tra các cơ quan cấp dưới thực thi Việc xây dựng quy hoạch chi tiết do văn phòng Kiến trúc sư trưởng trợ giúp
Cơ quan cung cấp dịch vụ và thủ tục hành chính gồm văn phòng kiến trúc sư trưởng, Uỷ ban nhân dân các huyện, phường Chức năng của các cơ quan này là cấp các chứng chỉ quy hoạch và các dịch vụ như sang tên, chuyển nhượng nhà đất, công chứng, đăng ký tại địa phương
Trang 29Cơ quan thanh tra chỉ đạo việc thanh tra, giám sát thực thi pháp luật trên địa bàn đô thị trong việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.2.2.4 Công tác tuyên truyền, giáo dục
Đây là việc sử dụng các phương pháp tác động tới tinh thần, tư tưởng đối với dân cư đô thị cũng như mọi du khách nhằm nâng cao ý thức tư tưởng, chính trị, chấp hành pháp luật và các quy định về xây dựng và sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.2.3 Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến quản lý hạ tầng kỹ thuật
1.2.3.1 Văn bản của Chính phủ
- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
- Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
- Luật Điện lực ngày 03 tháng 12 năm 2004;
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 12 tháng 12 năm 2005;
- Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
- Luật Viễn thông ngày 23 tháng 11 năm 2009;
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản
lý chất thải rắn;
- Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 08/5/2007 của Chính phủ về thoát nước đô thị và Khu công nghiệp;
- Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất cung cấp và tiêu thụ nước sạch;
- Nghị định số 35/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang;
Trang 30- Nghị định số 79/2009/NĐ-CP ngày 28/9/2009 của Chính phủ về quản
lý chiếu sáng đô thị;
- Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ Quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng kỹ thuật giao thông đường bộ;
- Nghị định số 64/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ về quản
lý cây xanh đô thị;
- Nghị định 39/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị;
- Nghị định số 114/2010/NĐ-CP ngày 06/12/2010 của Chính phủ về bảo trì công trình xây dựng;
- Nghị định số 72/2012/NĐ-CP ngày 24/9/2012 của Chính phủ về quản
lý và sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật;
1.2.3.2 Văn bản của Thành phố
- Quy hoạch chi tiết quận Long Biên tỷ lệ 1/2000 (Phần quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch giao thông) đã được UBND Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 228/2005/QĐ-UB ngày 19/12/2005;
- Quyết định số 13/2008/QĐ-UBND ngày 21 tháng 3 năm 2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết quận Long Biên, tỷ lệ 1/2000 (Phần quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật);
- Quyết định số 51/2008/QĐ-UBND ngày 16 tháng 12 năm 2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc phân cấp quản lý nhà nước một số lĩnh vực kinh tế-xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2009-2010
- Quyết định số 15/2013/QĐ-UBND ngày 09 tháng 5 năm 2013 của UBND Thành phố Hà Nội về ban hành quy định về quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng hệ thống đường đô thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội
1.2.3.3 Văn bản của quận Long Biên
- Chương trình số 03-CTr/QU ngày 15/11/2010 của Quận Uỷ Long Biên
về việc "Tập trung phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung theo hướng
Trang 31đồng bộ, hiện đại, tăng cường công tác quản lý đô thị trên địa bàn quận giai đoạn 2010 - 2015;
- Kế hoạch thực hiện chương trình 03-CTr/QU các năm 2011, 2013
1.3 Kinh nghiệm quản lý hạ tầng kỹ thuật thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tại Singapore
Trong các cuộc điều tra khác nhau từ nhỏ đến lớn, Singapore đã liên tục được các chuyên gia hàng đầu thế giới xếp hạng là đô thị năng sống, phát triển bền vững và sống tốt trên toàn cầu Ông Khaw Boon Wan - Bộ trưởng
Bộ Phát triển Quốc gia Singapore đã từng khẳng định: Xây dựng đô thị bền vững phải tập trung vào yếu tố con người - người dân phải xem Singapore là một môi trường tốt mà họ không tìm thấy ở bất cứ nơi nào
Các nhà quản lý đô thị Singapore quan niệm "đô thị hóa là quá trình tất yếu, chúng ta không nên lảng tránh mà phải xem đó là những thách thức cho các doanh nghiệp tạo dựng nên hình ảnh đô thị thịnh vượng, sống tốt nhưng vẫn phải đảm bảo yếu tố bền vững với thời gian" Quy hoạch sáng tạo, thiết
kế thông minh và phát triển bền vững là bài học thực tiễn quý giá của Singapore muốn gửi thông điệp đến các nhà quản lý đô thị trên toàn thế giới
Đó là bài học về một quốc gia có tốc độ đô thị hóa đến "chóng mặt"nhưng lại mang lại cho người dân một cuộc sống chất lượng cao trong khi vẫn bảo toàn việc phát triển bền vững Để có được kết quả tốt đẹp như vậy, các chuyên gia, các nhà quản lý vừa qua đã đúc kết ra 10 nguyên lý cơ bản nhất mà Singapore đã ứng dụng như sau:
- Một là: Quy hoạch dài hạn và đổi mới - Một đô thị có mật độ dân số cao thường không có nhiều sự lựa chọn cho một quy hoạch hoàn hảo nhưng cũng chính vì thế mà các nhà quy hoạch cần phải tính toán kỹ lưỡng sao cho
sử dụng hiệu quả cao nhất của từng tấc đất khan hiếm Đó chính là sự kết hợp của quy hoạch dài hạn, chính sách đất đai phù hợp, có sự kiểm soát trong phát
Trang 32triển và thiết kế thông minh đã giúp Singapore phát huy tối ưu tính năng đô thị hóa trong khi vẫn mang tính thẩm mỹ và bảo tồn
- Hai là: Khuyến khích sự đa dạng, phát triển toàn diện bởi đó chính là yếu tố đặc biệt tạo nên sự khác biệt và phong phú của một đô thị đông dân cư Chính sự đa dạng làm nên cá tính của đô thị và làm cho mọi người sống gần gũi và tương tác lẫn nhau
- Ba là: Đưa thiên nhiên gần gũi với con người - Cần phải tôn trọng thiên nhiên, hòa quyện thiên nhiên vào đô thị để giúp đô thị được "mềm hóa" các khía cạnh "thô cứng" của một khung cảnh đô thị đầy dẫy hàng loạt các cao ốc Bằng cách áp dụng một loạt các chiến lược "vườn trong phố", "vườn tường",
"vườn mái", "vườn ở bất cứ đâu"… Singapore hiện đang được che phủ mật
độ cây xanh thuộc hạng cao nhất thế giới
- Bốn là: Tạo nên khu dân cư có mức sống giá cả phải chăng - Yếu tố này rất quan trọng bởi một đô thị nén phải thỏa mãn tính năng về giá cả phải chăng
để người dân có thể có niềm tin về một cuộc sống của thành phố sống tốt Các khu dân cư trong đô thị mới của Singapore luôn có sự kết hợp của phát triển công cộng và tư nhân với đầy đủ các cơ sở vật chất giá cả phải chăng
- Năm là: Tối ưu hóa không gian công cộng - Singapore đã tìm cách phát huy triệt để tiềm năng của không gian công cộng bằng cách kết hợp hiệu quả giữa các hoạt động thương mại và giải trí để mang lại sự hài lòng cho người dân của mình
- Sáu là: Ứng dụng giao thông xanh và kiến trúc xanh - Singapore đã ứngdụng chiến lược năng lượng thấp trong các tòa nhà, đồng thời phát triển
hệ thống giao thông công cộng hiệu quả Đây chính là chiến lược tổng thể nhằm giảm tiêu thụ năng lượng và đảm bảo phát triển bền vững
- Bảy là: Tạo cảm giác bớt đông đúc - Singapore có sự kết hợp rải rác giữa các tòa nhà cao tầng với các tòa nhà thấp tầng, tạo ra một dải chân trời
Trang 33nhấp nhô nhưng không lộn xộn để tạo cảm giác bớt đông đúc trong một không gian chật hẹp
- Tám là: Tạo cảm giác an toàn - Cảm giác an toàn và bảo mật là yếu tố làmnên chất lượng của cuộc sống bởi vậy Singapore luôn ứng dụng thiết kế
đô thị tiện lợi, dễ dàng tiếp cận và an ninh đô thị để người dân có cảm giác bình an và không phải lo lắng ngay cả khi "đi sớm về hôm"
- Chín là: Ứng dụng giải pháp công nghệ sáng tạo - Là một đô thị đông dân và mật độ xây dựng dày đặc, Singapore luôn phải phải đối mặt với khó khăn về tài nguyên, vì thế buộc các nhà quản lý phải ứng dụng các giải pháp
và công nghệ sáng tạo để đảm bảo cuộc sống tốt cho người dân
- Mười là: Kết hợp chặt chẽ giữa các đối tác - do khan hiếm đất đai, cộng đồng phải sống gần nhau, sự phát triển của một khu vực có thể sẽ ảnh hưởng đến khu vực bên cạnh Vì thế, tất cả các bên liên quan cần phải hợp lực cùng nhau để tìm ra giải pháp sao cho không có những hậu quả đáng tiếc làm giảm chất lượng cuộc sống của các bên liên quan
Trên đây là bài học quý giá từ mô hình phát triển đô thị của Singapore
mà Việt Nam có thể tham khảo để có cái nhìn thiện cảm hơn về quá trình đô thị hóa - một quá trình tất yếu trước khi tiến tới là một quốc gia phát triển
1.3.2 Tại Đà Nẵng
Quản lý xây dựng theo quy hoạch: Kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương (năm 1997) đến nay, Đà Nẵng đã có những thay đổi to lớn, không ngừng trong phát triển đô thị Các tuyến đường ven biển: Nguyễn Tất Thành, Hoàng Sa, Trường Sa được xem là ba trong số những con đường ven biển đẹp nhất nước hiện nay Đà Nẵng từ chỗ cả thành phố chỉ có hơn 360 con đường có tên, sau 15 năm tăng lên hơn 1.260 con đường có tên Hàng trăm khu đô thị, hàng nghìn khu, cụm dân cư mới ra đời Diện mạo của thành phố thay đổi, cuộc sống của người dân được cải thiện
Trang 34Đà Nẵng trong những năm qua đã chứng minh sự đúng đắn, tính hoàn chỉnh thực tiễn của quy hoạch chung Quy hoạch đã đem lại bộ mặt đô thị mới, cuộc sống mới cho hơn 800 nghìn người dân Trong đó, hàng chục vạn
hộ đã được tái định cư trong trật tự và có kiểm soát Có thể khẳng định, đô thị
Đà Nẵng hiện tại được khởi phát và hiện thực hóa từ quy hoạch tổng thể mà Chính phủ đã phê duyệt từ năm 1993
Hoàn thiện khớp nối hạ tầng kỹ thuật: Bên cạnh việc tuân thủ quy hoạch tổng thể, Đà Nẵng cũng sớm hoàn thiện, khớp nối quy hoạch chi tiết, bảo đảm tính liên hoàn và có sự phân kỳ đầu tư, kịp thời điều chỉnh phù hợp với thực tế, với sự thay đổi qua từng giai đoạn phát triển Để thực hiện các dự án, Đà Nẵng luôn công khai quy hoạch đến tận các hộ dân; người dân được tham gia ý kiến
về công tác di dời, giải tỏa, bố trí tái định cư, bảo đảm cuộc sống lâu dài
Sự vào cuộc của các cấp : Đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc chỉnh trang, phát triển đô thị ở Đà Nẵng là sự quyết tâm của cả Đảng bộ, chính quyền và người dân thành phố Mỗi dự án trước khi thực hiện được cả
hệ thống chính trị cùng tham gia góp ý, triển khai thực hiện
Phương thức đổi đất lấy hạ tầng và lấy quy hoạch nuôi quy hoạch được
Đà Nẵng áp dụng nhuần nhuyễn và rất thành công, để từ đó phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư cả trong nước và nước ngoài, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người dân thành phố Ông Phan Đức Tầm, ở phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà cho rằng: Việc quy hoạch, chỉnh trang và phát triển đô thị của Đà Nẵng trong những năm qua ngày càng chứng tỏ chính sách hợp lòng dân, được phần lớn nhân dân đồng tình ủng hộ và cùng góp sức thực hiện Bên cạnh đó, thành phố cũng thực hiện việc đền bù, bố trí tái định cư thỏa đáng, linh hoạt
Trang 351.3.3 Bài học kinh nghiệm
Nhận xét chung từ kinh nghiệm một số nước về vai trò nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Qua nghiên cứu chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các nước có rút ra mấy vấn đề quan trọng:
- Bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển đều phải đẩy mạnh việc xây dựng
cơ sở hạ tầng đô thị Để đáp ứng yêu cầu này cần phải đa dạng hoá hình thức giải pháp và phát triển đảm bảo tính bền vững, chắc chắn với tốc độ cao Thông thường quy hoạch kinh tế xã hội, quy hoạch đô thị được triển khai trước một bước Nhờ vậy, các đô thị được phát triển về sau càng hiện đại, văn minh hơn các đô thị cổ
- Trong triển khai công tác xây dựng với việc huy động vốn bằng hình thành khác nhau như phát hành cổ phiÕu, trái phiếu, thu hót vốn ODA Thực hiện hình thức đầu tư theo mô hình BOT Chú trọng đến đầu tư của khu vực
tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng với nhữn mô hình phù hợp, đồng thời
Trang 36thực hiện chính sách để đảm bảo cho việc quản lý, khai thác công trình và thu hồi vốn thông qua thu các loại phí Nhà nước đảm bảo sự an toàn về pháp luật, thống nhất rõ ràng về luật pháp, dùng chính sách ưu đãi tài chính, thuế như: miễn giảm thuế, trợ cấp tái đầu tư, tạo mặt bằng đầu tư thuận lợi
- Nhà nước tăng cường việc kiểm soát quá trình xây dựng và sử dụng cơ
sở hạ tầng, do đó hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị ngày càng được hoàn thiện
Trang 37CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2004-2012
2.1 Giới thiệu khái quát về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật của Thành phố Hà Nội
2.1.1 Giới thiệu chung về thành phố Hà Nội
Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế, y tế, giáo dục và khoa học, có vai trò thúc đẩy kinh tế vùng và cả nước; kết nối và chia sẻ chức năng vùng thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không Có hàng trăm trường đại học, viện nghiên cứu, có nhiều khu công nghiệp kỹ thuật, công nghệ cao, có tỷ lệ đào tạo qua lao động năm 2008 đạt 45% Là nơi thu hút đầu tư lớn, có nhiều cơ hội xây dựng và phát triển Thủ đô dựa trên tiềm lực sẵn có
- Là vùng văn hoá đặc trưng giao thoa giữa các nền văn hoá, giàu văn hoá phi vật thể và vật thể, có nhiều công trình văn hoá tiêu biểu của cả nước
- Hạ tầng cơ sở hiện nay của Hà Nội chưa đồng bộ, thiếu kiểm soát xây dựng Chưa kiểm soát được gia tăng dân số, quản lý đô thị còn chưa hiệu quả; Chưa ngăn chặn được ô nhiễm môi trường
- Về cơ cấu kinh tế GDP hiện nay của Hà Nội, khu vực có tỷ trọng cao nhất là 52,4%, công nghiệp - xây dựng là 41,1% và nông lâm thuỷ sản là 6,5% Phấn đấu đến năm 2020, tỷ trọng dịch vụ đạt 54,6%; công nghiệp - xây dựng đạt 42,2% và nông nghiệp đạt 1,7%
- Các dự báo chỉ số phát triển văn hoá - xã hội:
+ Tỷ lệ đô thị hoá đến năm 2030 đạt 70%;
+ Đến năm 2020, Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 60% năm 2015
Trang 38và 70-80%; Giáo dục phổ thông có > 60% trường đạt chuẩn quốc gia; Y tế đạt 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế; năm 2015 đạt tỷ lệ 35 giường bệnh/ 1 vạn dân và đạt khoảng 42 giường bệnh/ 1 vạn dân; Giao thông công cộng đạt 35-45% nhu cầu đi lại của người dân; Đảm bảo 100% hộ sử dụng nước sạch; hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt đạt 80%; hệ thống thu gom nước thải các khu, cụm công nghiệp, làng nghề đạt 100%;
+ Đến năm 2030, nâng diện tích nhà ở khu vực đô thị lên >29-30m2/ người; nâng chỉ tiêu đất cây xanh, công viên đạt 10-15m2/ người
Dự báo:
+ Phấn đấu đạt mức tăng trưởng khoảng 10% năm thời kì 2011-2015; khoảng 9%/năm thời kì 2016-2020; khoảng 8% thời kì 2021-2030
+ GDP bình quân đầu người của Hà Nội hiện nay đạt khoảng 1.700USD Phấn đấu năm 2020 đạt khoảng 5.300 USD, năm
Trang 392.1.2 Giới thiệu khái quát về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị của thủ đô Hà Nội
- Thành phố đã có chiến lược quy hoạch quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị với quan điểm, mục tiêu cụ thể cho tương lai phù hợp với lộ trình phát triển
đô thị, làm cơ sở cho việc đề ra và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch và chính sách;
- Hội nhập, giao lưu quốc tế nâng cao kiến thức, đổi mới, học hỏi kinh nghiệm quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị và tranh thủ nguồn vốn ưu đãi từ các nước phát triển
- Có những dự án ưu tiên cho đầu tư hạ tầng kỹ thuật đô thị, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác vào việc quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị như công tác xã hội hoá, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
- Công tác quản lý còn liên quan đến nhiều ngành khác như Tài chính,
Kế hoạch - Đầu tư, Công an, Quy hoạch - kiến trúc, Tài nguyên - Môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông thôn và đặc biệt là vai trò của chính quyền địa phương tại các huyện ngoại thành
- Các nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất của công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị chưa đạt được như mong muốn là:
+ Cùng với cả nước, Hà Nội có xuất phát điểm khá thấp về kinh tế – xã hội, đặc biệt là cơ sở hạ tầng và nhận thức của cộng đồng
+ Thành phố đang trong quá trình phát triển với tốc độ rất cao cả về không gian, quy mô dân số và đòi hỏi ngày càng cao của một xã hội hiện đại + Hà Nội là thành phố có lịch sử lâu đời với khu vực trung tâm có những đặc trưng riêng, đan xen làng xóm cũ đô thị hóa với khu vực phát triển mới nên cần có những quy hoạch phát triển về hạ tầng kỹ thuật đô thị riêng
Trang 402.2 Giới thiệu chung về quận Long Biên
2.2.1 Vị trí địa lý quận Long Biên
2.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
- Long Biên dưới Thời Lý thuộc phủ Thiên Đức; Thời Trần, Lê thuộc Lộ Bắc Giang; Thời Hậu Lê thuộc phủ Thuận An; Thời Nguyễn thuộc trấn Bắc Giang và sau là tỉnh Bắc Ninh;
+ Năm 1946 để chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đặc Khu Ngọc Thụy, được thành lập và nhập về tỉnh Hưng Yên Nhưng đến cuối 1949, Đặc Khu Ngọc Thụy và huyện Gia Lâm nhập trở lại tỉnh Bắc Ninh
+ Khi tiếp quản Thủ đô tháng 10/1954 Chính phủ ta đã cho thành lập Quận 8, thuộc Thành phố Hà Nội Đến tháng 5/1961 có thêm một số xã của tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên nhập về Hà Nội
301 tổ dân phố
+ Quận Long Biên có một vị trí chiến lược rất quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của Hà Nội và đất nước Nơi đây có các tuyến đường giao thông quan trọng như đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, đường không nối liền với các tỉnh phía bắc, đông bắc; có sân bay Gia Lâm, khu vực quân
sự, nhiều khu công nghiệp liên doanh với nước ngoài như: khu công nghiệp
kỹ thuật cao Sài Đồng B, khu công nghiệp Sài Đồng A, nhiều công trình kinh