1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật quốc tế về cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người kinh nghiệm cho việt nam

53 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật quốc tế về cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
Người hướng dẫn Cô giáo TS. Nguyễn Thị Thuận
Trường học Viện Đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận bao gồm: các điều ước quốc tế đa phương chủ yếu đặc biệt có Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948, Công ước quốc tế về

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với niềm yêu thích lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là chuyên ngành Luật quốc

tế, may mắn cho em khi có điều kiện học tập và tu dưỡng trong suốt 4 năm học vừa qua tại Khoa Luật, Viện Đại học Mở Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp này, với

em không chỉ là một bài luận để tốt nghiệp, mà có ý nghĩa quan trọng cho những bước đi tiếp theo trong quá trình làm việc sau này

Lời cảm ơn chân thành, trước hết, em muốn gửi đến toàn thể các thầy, cô giáo đã truyền dạy cho em những nền tảng pháp lý quan trọng Đặc biệt là các thầy cô thuộc bộ môn Công pháp quốc tế, không những cho em kiến thức mà còn khơi dậy niềm đam mê và mong muốn đi sâu hơn theo con đường này

Để Khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thành, Cô giáo TS Nguyễn Thị Thuận, đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em có những định hướng mới trong quá trình nghiên cứu Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Cô và chúc sức khỏe, tiếp tục có những cống hiến cho ngành luật nước nhà Em mong rằng các Thầy Cô chuyên ngành Luật quốc tế nói chung và toàn thể các Thầy Cô công tác và giảng dậy ở Khoa Luật sẽ luôn giàu nhiệt huyết để đào tạo ra những thế hệ học trò với chất lượng ngày một tốt hơn

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ECOSOC Hội đồng kinh tế và xã hội

ICCPR Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ICESCR Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa MDGs Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

OHCHR Văn phòng Cao ủy (Liên hiệp quốc) về quyền con người UNCHR Ủy ban quyền con người Liên hợp quốc

UDHR Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc UNHRC Hội đồng quyền con người Liên hợp quốc

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 3

1.1 Khái quát về quyền con người (human rights) 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế về quyền con người 5

1.1.3 Thực trạng về đảm bảo quyền con người 7

1.2 Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người 10

1.2.1 Định nghĩa 10

1.2.2 Vai trò của cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người 11

CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 14

2.1 Hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người 14

2.1.1 Hiến chương Liên hợp quốc 14

2.1.2 Bộ luật quốc tế về quyền con người 15

2.2 Các thiết chế về bảo vệ quyền con người trong pháp luật quốc tế 20

2.2.1 Cơ quan thành lập trên cơ sở Hiến chương 20

2.2.2 Cơ quan thành trên cơ sở công ước 29

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM 32

3.1 Các mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia 32

3.1.1 Mô hình Thanh tra Quốc hội (Ombudsman) 32

3.1.2 Uỷ ban Quyền con người quốc gia 34

3.2 Thực trạng bảo vệ và thúc đấy quyền con người ở Việt Nam 38

3.2.1 Pháp luật về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam 38

3.2.2 Thiết chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 40

3.3 Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam 45

3.3.1 Giải pháp hoàn thiện thiết chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 45

3.3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 46

KẾT LUẬN 48

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Quyền con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai luôn được quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Bản chất của mọi sự văn minh tiến bộ của nhân loại đều liên quan đến vấn đề này Hơn nữa, với Việt Nam chúng ta hiện nay quyền con người cũng đang rất được quan tâm, và đây cũng chính là mục đích nhà nước ta đang theo đuổi Mặc dù có rất nhiều nỗ lực nhưng liên quan đến đảm bảo quyền con người tại Việt Nam, hiện nay vẫn còn một số bất cập Vì vậy, ở phương diện của một sinh viên chuyên ngành Luật quốc tế, đây là lĩnh vực thực sự hấp

dẫn đối với cá nhân nên tác giả quyết định lựa chọn “Pháp luật quốc tế về cơ chế

bảo vệ và thúc đẩy quyền con người – kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài

Khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài

Thông qua việc tìm hiểu cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong pháp luật quốc tế; căn cứ thực trạng của pháp luật Việt Nam, Khóa luận mong muốn chỉ ra những thành tựu và một số bất cập của Việt Nam từ đó đưa ra kiến nghị một số giải pháp bước đầu hoàn thiện cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận bao gồm: các điều ước quốc tế đa phương chủ yếu đặc biệt có Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị 1966, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966 liên quan đến cơ chế bảo vệ quyền con người, ở mức độ nhất định có tiếp cận thiết chế của một số quốc gia, thực trạng về cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam

Để hoàn thành khóa luận này, trong quá trình nghiên cứu, tác giả có sử dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp phân tích thực tiễn, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp diễn giải, phương pháp bình luận, phương pháp liệt kê…

Về nguồn tài liệu được sử dụng, Khóa luận quan tâm đến các nguồn tham khảo chính thống như Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền

Trang 5

con người 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị 1966, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966, một số nghị định thư và công ước

có liên quan…Bên cạnh đó là Hiến pháp, các Bộ luật, Luật theo qui định của pháp luật Việt Nam Ngoài ra, Khóa luận còn có sự kế thừa các công trình nghiên cứu

có liên quan của các tác giả và những bài báo có giá trị khác

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Phần nội dung Khóa luận gồm 3 chương cùng phần Danh mục tài liệu tham khảo:

Chương 1: Khái quát về cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

Chương 2: Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong pháp luật quốc

tế

Chương 3: Hoàn thiện cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam

Trang 6

CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON

NGƯỜI 1.1 Khái quát về quyền con người (human rights)

1.1.1 Định nghĩa

Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau, theo tài liệu của Liên Hợp Quốc đã có gần 50 định nghĩa về quyền con người được công bố1 Mỗi định nghĩa lại tiếp cận vấn đề ở một góc độ nhất định Điển hình như định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người (Office of High Commissioner for Human Rights – OHCHR), quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legalguarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc

sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người2 Định nghĩa này thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu Tác giả nhận thấy, với cách định nghĩa như trên, quyền con người chủ yếu tiếp cận cơ chế bảo đảm quyền, không chú trọng đến nội hàm quyền con người

Ở một khía cạnh khác, một định nghĩa chứa đựng dấu ấn của học thuyết của quyền con người tự nhiên được đưa ra như sau: quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì

họ là con người3 Với định nghĩa này, ta hiểu rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại Các quyền con người, do đó, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào Vì vậy, không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người bẩm sinh, vốn có của các cá nhân

1 1 United Nations, Human Rights: Question and Answers, Geneva, 1994, tr.4

2 OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr.8

3 Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật về quyền con người tr 42, nxb CTQG, 2012

Trang 7

Nhìn vấn đề ở góc độ pháp lý, quyền con người là phẩm giá, năng lực, nhu

cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế, bảo vệ bởi luật quốc gia và

luật quốc tế4 Tức là, quyền con người không chỉ là những gì bẩm sinh, vốn có

một cách tự nhiên mà còn phải được các nhà nước xác định và pháp điển hóa

trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa

Ngoài ra, thuật ngữ human rights (tiếng Anh) và quyền con người theo tiếng Việt

hay nhân quyền theo tiếng Hán - Việt đều có nghĩa tương đồng Theo Đại Từ điển

Tiếng Việt thì nhân quyền chính là quyền con người.5

Ở Việt Nam, chưa có một văn bản pháp lý nào đưa ra một định nghĩa cụ thể về

quyền con người Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm quyền con người được thể hiện

trong những quy định cụ thể Khi chuẩn bị tổng khởi nghĩa, trong Đại hội Đại biểu

Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập khai mạc tại đình làng Tân Trào ngày

16/08/1945 đã nêu6 :

“Ban bố những quyền của dân cho dân:

a) Nhân quyền,

b) Tài sản (quyền sở hữu),

c) Dân quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín

ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình

quyền7

Ngay sau đó, tại Hiến pháp 1946, lần đầu tiên quyền con người được cụ thể hóa,

nội dung của Hiến pháp được xuyên suốt bởi quan điểm đã được ghi ở Điều 1: “ Nước

Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể

nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trau, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”

Với sự kế thừa các bản Hiếp pháp và tiếp tục sửa đổi, tại Điều 14 Hiến pháp năm

2013 đã nêu: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,

quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn

trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Lần đầu tiên, vấn đề quyền

4 Giáo trình luật quốc tế tr 139, nxb CTQG, 2012

5 Giáo trình Lý luận và pháp luật quốc tế về quyền con người tr 43

6 Nghị quyết về giành chính quyền được thông qua ngày 16/08/1945

7 Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người, sđd, tr 99

Comment [HB1]:

Trang 8

con người đã được Hiến pháp đề cập một cách trực tiếp, tách bạch và không đồng nhất với quyền công dân

Cũng đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra Những định nghĩa này cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, ở Việt Nam, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế8 Theo quan điểm của tác giả, tác giả ủng hộ cách định nghĩa về quyền con người nêu trên Vì nó có sự hài hòa giữa học thuyết tự nhiên “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên” và học thuyết pháp lý “được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”, khái quát được nội hàm của quyền con người Thêm vào đó, ngôn ngữ sử dụng thuần túy dễ hiểu, rất thuận lợi cho việc tiến hành phổ biến luật pháp Nhưng cũng cần lưu ý rằng, mặc dù quyền con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và quốc tế nhưng vẫn có thể bị hạn chế trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng

Như vậy, dù nhìn quyền con người ở góc độ nào thì cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Nhờ có chuẩn mực này, tất cả mọi người đều được bảo vệ nhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người Cho dù,

ở những góc độ nào, quyền con người phải được thừa nhận là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế về quyền con người

Quyền con người ngày nay là thành quả của chặng đường dài đấu tranh Với nhiều bằng chứng lịch sử và những ý kiến được đưa ra, có thể khẳng định rằng quyền con người xuất hiện từ rất sớm

Ban đầu, “quyền con người” được hình thành chỉ như những ý niệm Theo một số học giả, tư tưởng về quyền con người còn xuất hiện từ thời tiền sử, thể hiện trong các luật lệ của chiến tranh mà: "Luật lệ của chiến tranh thì lâu đời như

8

Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người tr 42, NXB CTQG, 2012

Trang 9

bản thân chiến tranh và chiến tranh thì lâu đời như cuộc sống trên trái đất"9 Tuy nhiên với trình độ ở thời điểm đó thì đây chưa thể cho là những quan điểm hay những hệ thống quan điểm rõ ràng, đây chỉ có thể được cho là những ý niệm sơ khai

Cùng với sự phát triển của nhân loại, quyền con người đã được luật hóa thành các văn bản pháp luật Cho đến thời điểm hiện nay, xét từ những góc độ tính toàn vẹn, nguyên bản, nội dung và niên đại, Bộ luật Hammurabi có thể coi là văn bản pháp luật thành văn đầu tiên của nhân loại nói đến quyền con người (mặc dù quan điểm này không phải được tất cả các học giả ủng hộ) Ngoài Bộ luật Hammurabi, vấn đề quyền con người còn sớm được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật cổ khác của thế giới, trong đó tiêu biểu như Bộ luật của vua Cyrus Đại đế ban hành vào khoảng các năm 576 - 529 TCN, Bộ luật do nhà vua Ashoka (Ashoka's Edicts) ban hành vào khoảng các năm 272 – 231, Hiến pháp Medina (the Constitution of Medina) do nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào năm 622; Đại Hiến chương Magna Carta(1215) và Bộ luật về quyền (1689) của nước Anh; Tuyên ngôn

về các quyền của con người và của công dân (1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (1776) và Bộ luật về các quyền (1789) của nước Mỹ,…

Hơn nữa, tư tưởng về quyền con người không chỉ thể hiện trong các đạo luật mà còn được phản ánh một cách sâu sắc và cụ thể hơn trong tư tưởng , học thuyết tôn giáo, chính trị và pháp lí Hiện nay còn nhiều tài liệu toàn diện và cổ xưa nhất được để lại như: bộ Văn tuyển Nho giáo Các tài liệu kinh điển của tôn giáo, bao gồm: Kinh Vệ Đà của đạo Hinđu ở Ấn Độ, Kinh Phật của đạo Phật; Kinh Thánh của đạo Thiên chúa và Kinh Kôran của đạo Hồi,…

Mặc dù, “quyền con người” đã được đề cập đến khá phổ biến nhưng mãi đến những năm đầu thế kỷ XIX, quyền con người mới trở thành vấn đề mang tầm quốc tế Với nhiều cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ diễn ra rất mạnh mẽ, phong trào đấu tranh đòi cải thiện điều kiện sống cho người lao động và bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang trên thế giới Năm

1864, Hội nghị ngoại giao quốc tế đầu tiên họp ở Giơnevơ (Thụy sĩ) đã thông qua Công ước về cải thiện điều kiện của người bị thương trong các cuộc chiến tranh trên bộ (Công ước Giơnevơ thứ I) Năm 1899, Hội nghị hoà bình quốc tế họp ở La Hay (Hà Lan) đã thông qua Công ước về các luật lệ và tập quán trong chiến tranh Đặc biệt, sau Chiến tranh Thế giới thứ II, việc Liên hợp quốc ra đời, Hiến chương

9 United Nations: Human Rights, Questions and Answers, 1994, tr 15

Trang 10

Liên hợp quốc, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948) và hai công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa (năm 1966)

đã chính thức khai sinh ra ngành luật quốc tế về quyền con nguời, đặt nền móng cho việc tạo dựng một nền văn hoá quyền con người - nền văn hoá mới và chung của mọi dân tộc trên trái đất Sau Hội nghị Viên, những phát triển lớn trên lĩnh vực quyền con người ở phạm vi quốc tế bao gồm việc thành lập các tòa án hình sự quốc tế lâm thời và thường trực để xét xử các tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại, tội diệt chủng và tội xâm lược và việc thành lập Hội đồng quyền con người Liên hợp quốc (năm 2006, thay thế cho Ủy ban của Liên hợp quốc về quyền con người trước đó) Những phát triển mới này đã làm cho cuộc đấu tranh vì quyền con người thực sự phát triển trên phạm vi toàn cầu với cơ sở pháp lý vững chắc, được mở rộng không ngừng cả về nội dung và mức độ bảo đảm Song song và làm nền tảng cho tiến trình phát triển đó, dòng tư tưởng, lý thuyết về quyền con người cũng ngày càng được củng cố và phát triển, đi sâu làm rõ những khía cạnh thực tiễn của quyền con người, biến quyền con người trở thành một trong những khái niệm được đề cập, chấp nhận và cổ vũ một cách rộng khắp, thường xuyên và nồng nhiệt nhất trong đời sống hiện nay của nhân loại

Có thể thấy rằng, từ những ý niệm ban đầu, quyền con người đã ngày càng được phát triển, đi sâu làm rõ những khía cạnh thưc tiễn quyền con người, biến quyền con người trở thành một vấn đề được cả thế giới quan tâm Việc xây dựng

cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đang là mục tiêu phấn đấu của rất nhiều quốc gia và cả Liên hợp quốc

1.1.3 Thực trạng về đảm bảo quyền con người

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948) đến nay đã ra đời hơn sáu mươi năm, Liên hợp quốc và các quốc gia đã cùng trải qua những khó khăn để giữ mục tiêu chung là giữ gìn hòa bình an ninh thế giới cũng như nhằm bảo vệ quyền con người cho tất cả mọi người Tuy nhiên, con đường của nhân loại trong việc đạt được các mục tiêu về quyền con người vẫn còn rất nhiều thách

thức

Hiện nay, tình hình chính trị, quân sự trên thế giới tiếp tục có biến động lớn, xung đột vũ trang, mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, chủ nghĩa khủng bố, ly khai, cạnh tranh địa chiến lược, tranh chấp biển, đảo vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng tới an ninh, hòa bình của thế giới và các quyền cơ bản của con người

Trang 11

Có thể điểm những sự kiện nổi bật, với gam màu “xám, sáng” đan xen trong toàn

cảnh “bức tranh” thế giới năm 2014

Tổ chức “Nhà nước Hồi giáo tự xưng” (IS) bất ngờ trỗi dậy, tấn công, đánh chiếm nhiều thành phố lớn của I-rắc và Xy-ri cùng những hành động tội ác man rợ được công khai trên in-tơ-nét, phiến quân IS đã gây mối hiểm họa mới cho thế

giới, thậm chí nguy hiểm hơn tổ chức khủng bố khét tiếng An Kê-đa Theo thống

kê, trong hàng ngũ của IS hiện có đến hàng trăm nghìn chiến binh đến từ nhiều quốc gia, kể cả ở các nước phương Tây và con số này đang tiếp tục tăng cao Các điều tra viên Liên hợp quốc đã khẳng định, IS phạm các tội ác chiến tranh và chống lại loài người Các tội ác của IS bao gồm tra tấn, sát hại người vô tội, thảm sát, giết người theo lối tàn bạo, hãm hiếp, cưỡng hôn, đào tạo lính trẻ em, hà khắc với nữ giới, biến phụ nữ thành nô lệ tình dục, khôi phục chế độ nô lệ

Sau cuộc khủng hoảng ở đất nước trên bờ Biển Đen có bước ngoặt mới, phức tạp và nguy hiểm hơn Ngày 22-02-2014, với việc bỏ phiếu phế truất Tổng thống Y-a-nu-cô-vích, lập chính phủ mới thân phương Tây của Quốc hội U-crai-

na đã đẩy nước này rơi vào bất ổn và chia rẽ sâu sắc hơn bao giờ hết Đặc biệt, quyết định của Nga sáp nhập Crưm khiến quan hệ Nga – U-crai-na hết sức căng thẳng; đồng thời, tạo ra “cú sốc” trong cạnh tranh địa chính trị giữa Nga với Mỹ

và Liên minh châu Âu (EU)

Các xung đột kéo dài tại Trung Á, Trung Đông, châu Phi, Đông Nam Á,… chưa được giải quyết lại xảy ra nhiều xung đột vũ trang, đảo chính quân sự, tranh chấp biển, đảo tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn cho an ninh, ổn định khu vực và thế giới Nổi lên trong số đó là cuộc tiến công quân sự của Quân đội I-xra-en vào Dải Ga-

da để chống phong trào Ha-mát Chiến sự diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (khoảng 7 tuần) nhưng gây ra một thảm họa nhân đạo vô cùng nặng nề cho người dân Pa-le-xtin với hơn 2.200 người chết, hơn 9.500 người khác bị thương và gần 10.000 ngôi nhà bị phá hủy, v.v

Thêm vào đó, đảo chính quân sự tại Thái Lan, Buốc-ki-na Pha-xô; căng thẳng xung quanh các tranh chấp trên Biển Hoa Đông, Biển Đông; vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và của I-ran; tiến trình hòa bình Trung Đông vẫn trong tình trạng bế tắc, v.v

Sau những nguy cơ với quyền con người như chiến tranh sẽ kéo theo rất nhiều hệ lụy như nghèo đói, bệnh dịch, HIV/AIDS Trong những cuộc chiến đó, một số quyền cơ bản nhất như quyền sống, quyền an toàn về thân thể,v.v bị tước

Trang 12

bỏ một cách phổ biến; nhân phẩm của phụ nữ, trẻ em, người già,v.v và nhiều nhóm dễ bị tổn thương khác bị chà đạp một cách thô bạo

Công cuộc chống đòi nghèo vẫn luôn là trung tâm của mọi chương trình hành động quốc gia và quốc tế Theo báo cáo năm 2014 được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố tại Tokyo ngày 24/7, số người nghèo và cận nghèo trên thế giới lên tới hơn 2,2 tỷ người Các cuộc khủng hoảng tài chính, thiên tai, giá lương thực tăng và các cuộc xung đột có thể làm tình hình trở nên trầm trọng hơn

Cho đến nay, an ninh lương thực vẫn là thách thức lớn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Theo báo cáo được Liên hợp quốc công bố ngày 16/9/2014 ,thế giới vẫn còn hơn 1 tỷ người nghèo, và đa số đó còn thiếu lương thực, thực phẩm.Một đánh giá khác của Liên hợp quốc cũng cho thấy hơn 1/3 dân số thế giới vẫn còn thiếu cơ hội tiếp cận với các loại thuốc thiết yếu vốn là thuốc đáp ứng các nhu cầu y tế ưu tiên hàng đầu của người dân Trong khi đó, những người này cần phải luôn luôn được tiếp cận với các hệ thống y tế hoạt động, với số lượng đầy đủ

và dạng thức thích hợp, với chất lượng bảo đảm và giá cả phải chăng ở cấp độ cá nhân và trong cộng đồng

Báo cáo của Chương trình Định cư Con người Liên hợp quốc HABITAT) lại chỉ ra rằng, các trẻ em trong những khu ổ chuột thường là nạn nhân của nạn phân biệt chủng tộc và phân biệt đối xử một cách có hệ thống Vì nghèo, những khu ổ chuột xuất hiện và gia tăng trên khắp thế giới, là nơi trú ẩn trong điều kiện không ổn định của khoảng một tỷ người – 1/3 dân số đô thị của thế giới Tại khu vực châu Phi cận Sahara, tỷ lệ tăng trưởng đô thị và tăng các khu ổ chuột ở mức cao nhất thế

(UN-Theo Báo cáo mới đây của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) cho thấy, hiện nay, ước tính có khoảng 58 triệu trẻ em trên toàn thế giới không được tới trường Điều này có nghĩa chúng ta sẽ không đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ là phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2015 Báo cáo của UNESCO chỉ ra nếu xu hướng này tiếp tục đồng nghĩa với khoảng 15 triệu trẻ

em gái và 10 triệu trẻ em trai có thể sẽ không bao giờ được tới trường Tình hình đặc biệt nghiêm trọng ở các quốc gia châu Phi cận Sahara, nơi bùng nổ dân số và thống kê được khoảng hơn 30 triệu trẻ em không được đi học

Thêm vào đó, các NGOs (cả quốc gia và quốc tế) đã nổi lên như là một lực lượng có tiếng nói thuyết phục với các tổ chức liên chính phủ quốc tế và các chính phủ trong các vấn đề về quyền con người thì vấn đề trách nhiệm xã

Trang 13

hội của doanh nghiệp nói chung và của các công ty đa quốc gia nói riêng đang

được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển

Bên cạnh những đóng góp tích cực, vì chạy theo lợi nhuận nên các doanh

nghiệp đã gây ra nhiều vấn đề như bóc lột sức lao động, sử dụng lao động trẻ

em, lao động cưỡng bức, điều kiện lao động tồi tệ, gây tổn hại cho sức khỏe

người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường… Ở nhiều quốc gia, xu hướng tư

nhân hóa khiến nhiều loại dịch vụ công được chuyển sang thực hiện bởi các

doanh nghiệp tư nhân càng đặt ra nhiều thách thức hơn với việc kiểm soát sự

tuân thủ trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp

Ngoài ra còn phải kể đến những phong tục lạc hậu của một số vùng, cũng là

hiểm họa đe dọa đến quyền con người của chính người dân sinh sống như nghi lễ

trích máu được tổ chức hàng năm bởi những người theo đạo Hồi dòng Shia nhằm

tưởng nhớ sự ra đi của cháu trai nhà tiên tri Mohammad hồi thế kỷ thứ 7 khi vị anh

hùng tham gia trận chiến Kerbala Trong nghi lễ này, những người đàn ông sẽ dùng

dao tự làm chảy máu đầu như một cách để thể hiện sự tiếc thương và hối hận vì họ

đã không thể có mặt tại trận chiến Kerbala, giải cứu cho vị anh hùng của họ

1.2 Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

1.2.1 Định nghĩa

“Cơ chế” là chuyển ngữ của từ “mécanisme” của phương Tây.Từ điển Le

Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một

tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau” Theo cuốn "Đại từ điển Tiếng Việt", là:

“…cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện”

Có thể thấy rằng “cơ chế” dù được định nghĩa như thế nào cũng luôn luôn vận

động Chúng bao gồm nhiều yếu tố là một phần nhỏ tạo nên giá trị chung, chúng

phụ thuộc lẫn nhau

Trên lĩnh vực “quyền con người”, cụm từ “cơ chế”của Liên hợp quốc về

“quyền con người” hay được sử dụng trong các tài liệu chuyên môn để chỉ bộ máy

các cơ quan chuyên trách và hệ thống các quy tắc, thủ tục có liên quan do Liên

hợp quốc thiết lập để thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người

Như vậy, khi nói đến cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của ta cần

nói đến hai vấn đề là bộ máy các cơ quan và các quy tắc, thủ tục thực hiện nhiệm

vụ thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong một hệ thống pháp luật

Comment [HB2]:

Trang 14

Tác giả rất đồng ý với định nghĩa: “Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là bộ máy chuyên trách và hệ thống các quy tắc, thủ tục của pháp luật được ban hành ra nhằm bảo vệ và thúc đẩ quyền của con người.”10

1.2.2 Vai trò của cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

Nhìn lại lịch sử quyền con người, ta thấy rằng, tri thức về quyền con người dù ở thời điểm lịch sử nào hay ở đâu cũng là nền tảng cho sự phát triển và tiến bộ của

xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển của mỗi cá nhân Quyền con người buổi đầu

sơ khai chỉ là nhưng tư tương riêng lẻ, cho đến nay đã trở thành một vấn đề được

cả thế giới quan tâm phải kể đến đóng góp không nhỏ của các cơ quan làm nhiệm

vụ bảo vệ quyền con người

Trước tiên, bằng việc ra đời Hiến chương Liên hợp quốc, quyền con người cũng

đã được xác lập nền tảng trong Luật Quốc tế Từ đó, bước đầu xác định mục tiêu cho sự phát triển và cũng là kim chỉ nam cho hoạt động của tổ chức cũng như các quốc gia trên thế giới Tuyên ngôn thế giới về quyền con người được coi là văn kiện đầu tiên tập trung đề cập đến vấn đề quyền con người Nội dung chủ yếu về những quyền và tự do cụ thể, cơ bản của con người trên các phương diện chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Ban Tuyên ngôn ngày nay đã trở thành văn kiện mang tính chất tập quán pháp, có giá trị bắt bược đối với tất cả cá quốc gia thành viên

Liên hợp quốc với mục tiêu hàng đầu là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, đồng thời xác định những mục đích quan trọng khác cho các hoạt động của LHQ là tăng cường quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, thúc đẩy hợp tác để giải quyết các vấn

đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo và bảo đảm quyền con người Các quốc gia cũng trao cho LHQ vai trò là trung tâm điều hòa các hành động của các dân tộc hướng theo những mục đích đó Ðể tạo điều kiện về tổ chức, thể chế cho LHQ đảm nhiệm được vai trò của mình, các quốc gia đã quy định trong Hiến chương những nguyên tắc cho quan hệ giữa các quốc gia và hoạt động của LHQ mà sau này trở thành những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế Các văn kiện cơ bản nhất trong lĩnh vực nhân quyền là Tuyên ngôn Nhân quyền, Công ước về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và Công ước về quyền dân sự và chính trị làm cơ sở cho hơn 80 công ước, tuyên bố được thông qua sau này về các vấn đề khác nhau về quyền con người Từ con số 51 quốc gia thành viên vào năm 1951,

10 United Nations, Human Rights – A Basic Handbook for UN Staff, tr.37-52

Trang 15

LHQ hiện có tới 193 quốc gia thành viên và trở thành một hệ thống toàn diện gồm

các cơ quan chính nêu trên, nhiều cơ quan phụ trợ, 20 tổ chức chuyên môn và 5

Ủy ban kinh tế - xã hội đặt ở các khu vực Ngoài số lượng thành viên đông đảo

như hiện nay của LHQ, chúng ta có thể kể đến thành công của LHQ trong việc

thúc đẩy quá trình phi thực dân hóa, góp phần đưa các vùng lãnh thổ không tự

quản gồm tới 750 triệu người trở thành 80 quốc gia độc lập

Ðóng góp lớn nhất của LHQ là đã góp phần ngăn ngừa không để xảy ra một cuộc

chiến tranh thế giới mới trong 62 năm qua Một số cuộc khủng hoảng quốc tế đã

được giải quyết với sự trung gian hòa giải của LHQ Theo thống kê của LHQ, tổ

chức này đã hỗ trợ các cuộc thương lượng đưa đến giải pháp hòa bình cho hơn

170 cuộc xung đột ở các khu vực

Hệ thống các ủy ban công ước của LHQ đóng vai trò rất quan trọng trong việc

tăng cường bảo vệ quyền con người ở trong nước Chức năng nhiệm vụ chính của

tất cả các ủy ban, là giám sát việc thực hiện công ước của các Nhà nước thành

viên Bên cạnh đó, các ủy ban công ước cũng giải thích các điều khoản của công

ước thông qua việc đưa ra các “bình luận chung” Một số ủy ban công ước giải

quyết các khiếu nại và tiến hành các điều tra về vi phạm nhân quyền

Nếu Liên hợp quốc đã đặt nền tảng đầu tiên, thì ta cũng cần nói đến những bước

phát triển của các quốc gia sau này, đó chính là các cơ quan nhân quyền quốc gia

Đây được coi như các tổ chức tư vấn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc

khắc phục các vi phạm nhân quyền, phổ biến các thông tin nhân quyền trong việc

giáo dục người dân về vấn đề quyền con người Cụ thể như tư vấn cho chính phủ,

thẩm định các quy định luật pháp và hành chính, đưa ra các báo cáo và ý kiến về

bất cứ vi phạm nhân quyền nào

Tóm lại

Là một chương lý luận với mục đích dẫn nhập để giải quyết những vấn đề ở các

chương tiếp theo, Chương 1 nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về Cơ chế

bảo vệ quyền con người Qua đó đi đến một số kết luận sau đây:

Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có khách quan của con

người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý

quốc tế Tiếp tục đưa ra những dẫn chứng, chứng minh quyền con người hiện nay

còn đang bị đe dọa ở nhiều mặt Việc xây đựng một cơ chế về bảo vệ và thúc đẩy

quyền con người là cần thiết

Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là bộ máy chuyên trách và hệ thống

các quy tắc, thủ tục của pháp luật được ban hành ra nhằm bảo vệ và thúc đẩy

Comment [HB3]: Nguồn

Trang 16

những quyền con người Khẳng định tầm quan trọng của cơ chế thông qua vai trò của các tổ chức quốc tế quan trọng như Liên hợp quốc

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

2.1 Hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người

Pháp luật quốc tế bao gồm điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, nhưng trong phạm vi khóa luận chủ yếu đề cập đến các điều ước quốc tế cốt lõi về vấn đề quyền con người

Một trong những thành tựu lớn nhất của Liên hợp quốc trong thế kỷ 20 là lần đầu tiên con người trong lịch sử của mình đã tạo dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người chủ yếu gồm những điều ước (treaties) được thể hiện ở các hiến chương (charters), công ước(conventions, covenants) có giá trị pháp lý ràng buộc với các quốc gia thành viên (qua gia nhập hay phê chuẩn), cũng như các văn bản khác tuy không có giá trị pháp lý ràng buộc với những quốc gia thành viên song lại có giá trị và ý nghĩa rất lớn về đạo đức và xã hội

2.1.1 Hiến chương Liên hợp quốc

Hiến chương Liên hợp quốc là văn kiện xác lập nền tảng của luật quốc tế về quyền con người Hiến chương có những quy định cụ thể về tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và việc làm này cũng là một trong những mục tiêu hoạt động của Liên hợp quốc - tổ chức liên chính phủ lớn và có quyền lực nhất trên thế giới

Ngay từ Lời nói đầu và các điều khoản, Hiến chương đã khẳng định vai trò

và xác định mục tiêu của Liên hợp quốc về vấn đề quyền con người

Lời nói đầu của Hiến chương khẳng định ý chí của các dân tộc trong Liên hợp quốc: “ phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm hoạ chiến tranh đã gây cho nhân loại những đau thương không kể xiết”, “ tin tưởng vào những quyền con người cơ bản, vào nhân phẩm và giá trị của con người, vào các quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ ” và bày tỏ quyết tâm của các dân tộc nhằm: “ thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và nâng cao điều kiện sống trong một nền tự do rộng rãi hơn”11

11

Các văn kiện quốc tế về quyền con người, sdd, tr.19

Trang 18

Điều 1 của Hiến chương quy định các mục tiêu hoạt động của tổ chức này,

theo đó, Liên hợp quốc theo đuổi các mục đích: (1) Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế ; (2) Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc; (3) Tăng

cường sự hợp tác quốc tế trong giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế xã hội, văn hoá hoặc các vấn đề nhân đạo, thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng các quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo Như vậy, một trong ba mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc hướng trực tiếp vào vấn đề quyền con người Ngoài ra, việc thực hiện hai mục tiêu khác cũng liên quan chặt chẽ tới vấn đề này Điều 3 kêu gọi các quốc gia “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người mà không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo”

Một loạt điều khoản khác trong Hiến chương đã tái khẳng định và cụ thể hoá mục tiêu của Liên hợp quốc trên lĩnh vực quyền con người Cụ thể, Điều 55 quy định: “Với mục đích nhằm tạo những điều kiện ổn định và hạnh phúc cần thiết để duy trì quan hệ hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, dựa trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, Liên hợp quốc sẽ

thúc đẩy: “(c) …sự tôn trọng và tuân thủ toàn cầu các quyền và tự do cơ bản của

con người cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” Điều 56 nêu rõ: “Tất cả các quốc gia thành viên cam kết tiến hành các hành động chung hoặc riêng trong sự hợp tác với Liên hợp quốc để đạt được những mục tiêu quy định tại Điều 55” Không chỉ quy định về mục tiêu, nhiều điều khoản trong Hiến chương còn thiết lập những nguyên tắc cơ bản về cơ cấu tổ chức, cách thức thực hiện mục tiêu của Liên hợp quốc về quyền con người Tuy nhiên, Hiến chương cũng có những giới hạn nhất định và một trong số đó là chưa xác định cụ thể nghĩa vụ về quyền con người cho các quốc gia Nhưng vẫn cần khẳng định rằng thông qua Hiến chương, lần đầu tiên quyền con người được thừa nhận như một giá trị phổ biến, và việc thúc đẩy

sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người được xác định là một trong các mục tiêu hoạt động của Liên hợp quốc

2.1.2 Bộ luật quốc tế về quyền con người

Bộ luật quốc tế về quyền con người là thuật ngữ chỉ tập hợp ba văn kiện quốc tế cơ bản trên lĩnh vực này, là Tuyên ngôn thế giới về quyền con người,

Trang 19

1948 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, 1966

* Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 (UDHR)

Bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên tập trung đề cập vấn đề quyền con người với 30 điều, tập hợp những quyền và tự do cụ thể, cơ bản của con người trên tất cả các phương diện chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa

Ngay từ Lời nói đầu, UDHR đã xác định rõ: “…việc thừa nhận nhân phẩm vốn có, sự bình đẳng và các quyền không thể tước bỏ của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hòa bình trên thế giới…” và đưa

ra lời khẳng định rằng: “…Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền này là thước đo chung cho tất cả các nước và tất cả các dân tộc đánh giá việc thực hiện mục tiêu mà mọi cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội…”

Ngoài việc là một nội dung có giá trị nên tảng, về mặt hình thức có thể thấy rằng UDHR không phải là một điều ước quốc tế nhưng đã dần hình thành tập quán quốc tế có giá trị ràng buộc với mọi quốc gia trên thế giới

* Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, 1966 (ICCPR)

Theo các lĩnh vực của đời sống nhân loại, quyền con người thường được phân chia thành hai nhóm chính là nhóm các quyền dân sự chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa Các nhà làm Luật cũng lựa chọn cách chia nhóm này để xây dựng hai công ước ICCPR VÀ ICESCR

ICCPR là điều ước quốc tế quan trọng nhất về bảo vệ và thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị của mọi cá nhân trong cộng đồng nhân loại Sau khi UDHR ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của con người, ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa chúng, tức là đưa ra những chuẩn mực, quy phạm, quan trọng nhất về các quyền dân sự và chính trị Cụ thể như Điều 5 UDHR nêu “Không ai bị tra tấn hay

bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm.” Nhưng đến ICCPR đã được cụ thể hóa tại Điều 7 “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm Đặc biệt, không

ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng

ý tự nguyện của người đó.”

Đến nay đã có hai Nghị định thư bổ sung cho ICCPR liên quan đến giải quyết khiếu nại cá nhân và bãi bỏ hình phạt tử hình

Ra đời cùng ICESCR vào năm 1966, ICCPR với 6 phần, 53 điều, đã đưa ra các quy định về nội hàm của các quyền dân sự và chính trị Các quyền trong công

Trang 20

ước có thể được phân chia thành hai nhóm, gồm nhóm các quyền dân sự và nhóm các quyền chính trị Nhóm quyền dân sự quy định từ điều 6 đến điều 24 (trừ điều 21,22) về quyền sống(điều 6), quyền không bị tra tấn (điều 7), quyền tự do không

bị buộc làm nô lệ hay nô dịch ( điều 8), Nhóm các quyền chính trị qui đinh về quyền tự do hội họp (điều 21), quyền tự do lập hội (điều 22), quyền tham gia chính trị (điều 25) Và lưu ý việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối Về

cơ bản, chúng là các quyền thuộc về các cá nhân Ngoài ra, có ba quyền có vị trí

đặc biệt trong ICCPR, đó là: thứ nhất, quyền tự quyết (right of self-determination,

Điều 1), do đây là một quyền tập thể thuộc về các dân tộc, có ý nghĩa đối với việc

bảo đảm tất cả các quyền con người khác; thứ hai, quyền bình đẳng (rights of discrimination, các Điều 2 (1), 3 và 26), do đây đồng thời là một nguyên tắc bao

non-trùm, đ.i hỏi bảo đảm khi thực hiện các quyền con người; và cuối cùng, quyền của

người thiểu số (rights of minorities, Điều 27), do đây là tập hợp một số quyền cá

nhân thuộc về các nhóm

Ngoài việc nêu lên tự do và các quyền thì ICCPR đưa ra vấn đề giới hạn áp dụng ngay trong một số điều quy định về các quyền có thể chịu sự giới hạn Giới hạn áp dụng của một số quyền là quy định cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện với việc thực hiện, hưởng thụ một số quyền con người nhất định12 Vấn đề này thường được áp dụng với mục đích là để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm an toàn cho cộng đồng, để bảo vệ sức khỏe hay đạo đức cho cộng đồng, để bảo vệ các quyền cà tự do hợp tác của người khác Ví dụ như Khoản 3 điều12 khẳng định quyền tự do đi lại và cư trú sẽ không phải chịu bất kỳ hạn chế nào, trừ những hạn chế do luật định và là cần thiết…” Nhưng khi những hạn chế được đặt ra thì các nước thành viên vẫn phải tuân thủ điều 5 ICCPR, theo đó, những hạn chế được đưa ra không làm tổn hại đến bản chất các quyền, phải có sự tương thích giữa các hạn chế và các quyền có liên quan Thêm vào đó, tại điều 4, công ước có quy định rằng trong bối cảnh khẩn cấp đe dọa sự sống còn của đất nước, các quốc gia có thể áp dụng biện pháp tạm đình chỉ việc thực hiện các quyền nêu trong công ước Điển hình như Philippines vào tháng 2/2006 sau khi có cuộc đảo chính chống lại chính quyền, Thái Lan vào tháng 9/2008 đối phó với bất

ổn do biểu tình đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp Về bản chất biện pháp này chỉ diễn ra trong một thời gian và còn cần những điều kiện như: xuất phát từ tình

12 Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị stt 46., nxb Hồng Đức, 2012

Trang 21

huống khẩn cấp, do tình hình bắt buộc để cứu vãn quốc gia nhưng vẫn phải thỏa mãn tính hợp lý khi áp dụng13

Hơn nữa, Công ước còn dành phần IV từ điều 28 đến điều 45 để quy định vầ thành lập, cơ cấu, tổ chức và hoạt động của HRC - cơ quan có nhiệm vụ giám sát thi hành công ước

Để hiểu rõ ICCPR, ngoài Công ước còn có các tư liệu như các bình luận chung, các quan điểm của Ủy ban về các khiếu nại của cá nhân và các nhận xét kết luận, các quan điểm của Ủy ban về báo cáo thực hiện công ước của các quốc gia thành viên

Đến năm 2012 đã có 167 quốc gia là thành viên ICCPR, có thể thấy so với các điều ước khác, ICCPR là một trong những điều ước quốc tế được cộng đồng

các quốc gia trên thế giới ủng hộ rộng rãi nhất

* Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966

Cùng với UDHR và ICCPR, ICESCR là một phần rất quan trọng để làm nên

Bộ luật Nhân quyền quốc tế Công ước đưa ra những chuẩn mực quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa – một trong hai nhóm quyền chính cấu thành nên quyền con người

ICESCR là điều ước quốc tế quan trọng nhất về bảo vệ và thúc đẩy các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của mọi cá nhân trong cộng đồng nhân loại Sau khi UDHR ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của con người, ICESCR tái khẳng định và cụ thể hóa chúng, tức là đưa ra những chuẩn mực, quy phạm, quan trọng nhất về các quyền kinh tế, văn hóa, chính trị Cụ thể như K4 Điều 22 UDHR nêu

“Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.” Nhưng đến ICESCR đã được cụ thể hóa tại Điểu 8 Với nội dung quy định khía cạnh tập thể của quyền làm việc, bao gồm quyền của cá nhân thành lập hoặc tham gia công đoàn theo lựa chọn của mình (điểm a khoản 1), quyền của tổ chức công đoàn thành lập hoặc gia nhập các liên đoàn công đoàn (điểm khoản 1), quyền tự do hoạt động của tổ chức công đoàn (điểm c khoản 1), việc áp đặt những hạn chế đối với nhân viên phục vụ trong lực lượng vũ trang (khoản 2), không cho phép các quốc gia thành viện được sử dụng lập, hành pháp

13 Liên Hợp quốc đã xác định những nguyên tắc cho các quốc gia tại văn kiện “Các nguyên tắc Siracusa về các điều khoản giới hạn và tạm đình chỉ trong ICCPR

Trang 22

mà làm tổn hại đến các bảo đảm trong công ước (khoản 3) Đến tháng 5/2012 đã

có 160 quốc gia là thành công viên ICESCR

Ra đời cùng ICCPR vào năm 1966, ICESCR với 5 phần, 31 điều, đã đưa ra các quy định về nội hàm của các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội Cũng như ICCPR, ngay từ Lời nói đầu, ICESCR lấy Hiến chương Liên hơp quốc làm cơ sở xác lập nền tảng cho những nghĩa vụ và cơ chế thực thi tiếp theo của các quốc gia thành viên Các quyền trong công ước có thể được phân chia thành ba nhóm, gồm nhóm các quyền kinh tế và nhóm các quyền xã hội và nhóm các quyền văn hóa Nhóm quyền kinh tế về quyền lao động, quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn Nhóm các quyền xã hội gồm các quyền được hưởng an sinh xã hội, hỗ trợ về gia đình, hưởng sức khỏe về thể chất và tinh thần Nhóm các quyền văn hóa nói đến các quyền giáo dục, quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu khoa học

Một trong những sự khác biệt lớn nhất về hình thức của hai công ước ICCPR

và ICESCR là nếu ICCPR thường bắt đầu bằng cụm từ “ mọi người đều có quyền…” thì tại ICESCR là “ Nhà nước công nhận quyền…” để nhấn mạnh vai trò và nghĩa vụ chủ động của nhà nước Vì có sự khác biệt này nên ở ICESCR, việc thực thi phải tuân thủ một số nguyên tắc Thứ nhất, là một số nguyên tắc có tầm quan trọng bao trùm như nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử, nguyên tắc liên tục tiến bộ bảo đảm thực hiện các quyền ghi nhận trong Công ước với tối đa nguồn lực sẵn có, Thứ hai là những nguyên tắc mang tính chất tiêu chí định tính trong việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa như: thích đáng, sẵn có, tiếp cận được, chất lượng, phù hợp về mặt Nguyên tắc thứ hai này được CESCR định nghĩa chi tiết trong bình luận chung của Ủy ban và mang tính chất định hướng cho việc xác lập các khung chính sách và những biện pháp thực thi các quyền

Cũng giống như ICCPR, để hiểu rõ ICESCR còn cần dưa trên các tư liệu như các bình luận chung của Ủy ban giám sát ICESCR, nhận xét mà Ủy ban đưa

ra công bố sau khi kết thúc việc xem xét báo cáo của mỗi quốc gia trong việc thực hiện công ước…

Ngoài Bộ luật quốc tế về quyền con người, nhiều điều ước và văn kiện quốc

tế khác về vấn đề này cũng đã được thông qua bởi Liên hợp quốc Có 9 điều ước mang tính chất chủ chốt, các điều ước này đề cập đến các quyền và tự do cơ bản (ICCPR, ICESCR), xóa bỏ phân biệt đối xử chủng tộc, phân biệt đối xử với phụ

Trang 23

nữ, xóa bỏ tra tấn, ngăn chặn việc đưa đi mất tích, và quyền trẻ em, người lao động, người cư trú.Những điều ước này có giá trị thực tiễn rất lớn lao

2.2 Các thiết chế về bảo vệ quyền con người trong pháp luật quốc tế

Như đã nêu trên, nói đến cơ chế quốc tế bảo vệ và thúc đẩy quyền con gngười là nói đến các quy tắc, thủ tục và bộ máy các cơ quan trong hệ thống Liên hợp quốc Căn cứ vào vị thế pháp lý, chức năng nhiệm vụ, có thể chia các cơ quan làm hai nhóm: các cơ quan thành lập trên cơ sở Hiến chương và các cơ quan thành lập trên cơ sở một số điều ước quan trọng

2.2.1 Cơ quan thành lập trên cơ sở Hiến chương

Do bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người được xác định là một trong những mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc nên cả các cơ quan chính của Liên hợp quốc đều có trách nhiệm nhất định

Đại hội đồng - General Assembly

Là một trong các cơ quan chính của Liên hợp quốc, Đại hội đồng (ĐHĐ) đã trở thành và có chức năng là trung tâm của sự phối hợp và tổ chức các hoạt động duy trì, phát triển mọi vấn đề về quyền con người giữa các thành viên của Liên hợp quốc

ĐHĐ là cơ quan bao gồm tất cả các quốc gia thành viên (Điều 9 Hiến chương) Trong vấn đề quyền con người được đề cập trong Điều 13 Hiến chương; theo đó, ĐHĐ có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu và thông qua những kiến nghị nhằm “…thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế và thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo” Thêm vào đó, Điều 10 Hiến chương quy định ĐHĐ có quyền thảo luận về tất cả các vấn đề hoặc các công việc thuộc phạm

vi Hiến chương, hoặc thuộc quyền hạn và chức năng của bất kỳ cơ quan nào được ghi trong Hiến chương, trừ trường hợp quy định ở Điều 12 (khi Hội đồng Bảo an thực hiện chức năng duy trì hoà bình và an ninh quốc tế)

Trong việc thiết lập các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, tức là đưa

ra những quy định về quyền con người, nhưng không chỉ giới hạn trong những quy định ở các điều ước quốc tế, mà còn trong cả những văn kiện khác không có hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý trên lĩnh vực này ĐHĐ quyết định khâu cuối cùng của quá trình này là thẩm định và thông qua các dự thảo văn kiện

Trong việc xây dựng bộ máy cơ quan nhân quyền của Liên hợp quốc, ĐHĐ

có thể thành lập thêm các cơ quan giúp việc khác (subsidiary organs) để hỗ trợ

thực hiện các chức năng của mình Trong đó tiêu biểu là các ủy ban: Ủy ban đặc

Trang 24

biệt về phi thực dân hóa; Ủy ban đặc biệt về chống tội ác apácthai; Hội đồng Liên hợp quốc về Namibia; Ủy ban đặc biệt về điều tra các hành động của Ixrael ảnh hưởng đến quyền con người của nhân dân Palextin và các dân tộc Arập khác ở các vùng bị Ixrael chiếm đóng; Ủy ban về thực hiện các quyền không thể tước bỏ của nhân dân Palextin và Ủy ban Pháp luật quốc tế… Gần đây nhất, như đã đề cập ở trên, ĐHĐ là cơ quan ra quyết định thành lập Hội đồng của Liên hợp quốc về quyền con người

Trong việc xử lý các vi phạm quyền con người, Đại hội đồng là cơ quan quyết định cuối cùng về biện pháp xử lý, trên cơ sở các khuyến nghị của ECOSOC và một số cơ quan giúp việc (hiện nay gồm cả Hội đồng của Liên hợp quốc về quyền con người), bằng việc thông qua các nghị quyết Tuỳ theo tính chất của các vi phạm, nội dung các nghị quyết của ĐHĐ có thể là chỉ trích, lên án hành

vi vi phạm trước dư luận quốc tế, đồng thời yêu cầu các nước vi phạm phải thay đổi các chính sách, hành động có liên quan Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuộc về vai trò đặc biệt của HĐBA, ĐHĐ chỉ có thể ra nghị quyết đề nghị HĐBA thực hiện các biện pháp này

Hội đồng Bảo an - Security Council

Hoạt động bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tuy về mặt hình thức không thuộc chức năng chính của HĐBA, song trên thực tế, cơ quan này có một vai trò đặc biệt trong cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người vì khi việc xử lý các

vi phạm quyền con người được gắn với chức năng duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, chúng sẽ có hiệu lực cưỡng chế, điều mà thuộc về quyền lực riêng của HĐBA Vì vậy, tuy chỉ gồm 15 thành viên, trong đó có 5 thành viên thường trực (Điều 23 Hiến chương) nhưng đã có một số tài liệu14 thậm chí, đã xếp HĐBA lên trên ĐHĐ khi đề cập đến bộ máy quyền con người của Liên hợp quốc

HĐBA có thẩm quyền xem xét những vi phạm nghiêm trọng về quyền con người mà đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế theo quy định tại Điều 39 Hiến chương và thông qua những biện pháp cưỡng chế nếu cần thiết HĐBA đã áp dụng các biện pháp cấm vận với một số nước và đã sử dụng vũ lực với các nước (Irắc, Xômali, Libi và Nam Tư…), với lý do các nước này đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật nhân đạo quốc tế15 (mà trong đó bao gồm các vi phạm về quyền con người) Biện pháp sử dụng vũ lực của HĐBA liên quan đến các tình

14 Tài liệu tập huấn của Minnesota Advocates for Human Rights, tr.993

15 The UN Security Council and Human Rights Sđd, tr.59-88.

Trang 25

huống về quyền con người cũng được ghi nhận trong quá trình cơ quan này thực

hiện các chiến dịch giữ gìn hoà bình Cụ thể, trong chiến dịch giữ gìn hoà bình ở

Cônggô năm 1961, trước tình hình vi phạm quyền con người tràn lan sau khi tổng

thống Patrixơ Lummuba bị ám sát, HĐBA đã cho phép lực lượng giữ gìn hoà bình

của Liên hợp quốc ở đây được phép sử dụng vũ lực để bảo vệ quyền con người

Thêm vào đó, HĐBA cũng đã thông qua một số nghị quyết lên án và yêu cầu

chấm dứt những vi phạm quyền con người ở và bởi một số quốc gia như Ixrael,

Nam Phi, Libăng, Irắc16

Ngoài biện pháp cưỡng chế, HĐBA có thể thông qua các nghị quyết lên án

những vi phạm quyền con người nghiêm trọng trên thế giới Chỉ tính từ năm 1977

đến năm 1991, cơ quan này đã ban hành 10 nghị quyết chỉ trích, lên án những

hành động vi phạm quyền con người ở một số khu vực

Thành lập các tòa án hình sự quốc tế lâm thời để xét xử những vi phạm

nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế như các tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, tội

ác chống nhân loại mà gắn liền với những vi phạm nghiêm trọng về quyền con

người như các tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, tội ác chống nhân loại mà gắn

liền với những vi phạm nghiêm trọng về quyền con người Trong vấn đề này, mặc

dù không phải là cơ quan thành lập Tòa án Hình sự quốc tế (International

Criminal Court – ICC), song HĐBA có vai trò quan trọng trong hoạt động của cơ

quan tài phán hình sự quốc tế thường trực này vì nó có thể chuyển giao các vụ

việc vi phạm nghiêm trọng về quyền con người cho ICC để xét xử

HĐBA có vai trò quyết định trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con

người ở một số vùng lãnh thổ Theo Điều 83 Hiến chương, tất cả các chức năng

của Liên hợp quốc có quan hệ đến các vùng chiến lược đều do HĐBA thực hiện,

trong đó có việc thực hiện những mục tiêu cơ bản của chế độ quản thác, được quy

định trong Điều 76 Hiến chương Trong quá trình thực hiện chức năng này,

HĐBA đã xử lý nhiều vấn đề liên quan đến quyền con người (chủ yếu về quyền tự

quyết và độc lập dân tộc) ở một số vùng lãnh thổ chưa tự quản (trước kia) như

Angôla, Môdămbích, Ghinê Bítxao, Dimbabuê, Namibia Nội dung những nghị

quyết của HĐBA liên quan đến lãnh thổ này đề cập nhiều vấn đề như: lên án

những chính sách vi phạm quyền con người của các nước quản thác; yêu cầu các

nước quản thác phải thực hiện đúng những quy định trong các hiệp định quản thác

Trang 26

và các văn kiện quốc tế về quyền con người, kể cả việc quyết định những biện pháp cưỡng chế với một số nước Ví dụ: năm 1970, HĐBA đã ra một nghị quyết lên án chính sách vi phạm nhân quyền của Bồ Đào Nha tại môt số nước thuộc địa

cũ của nước này ở châu Phi như Angôla, Môdămbích, Ghinê Bítxao, và áp dụng lệnh cấm vận với các lãnh thổ này Sự việc tương tự cũng xảy ra với Dimbabuê, lúc đó đang nằm dưới sự quản lý của Anh, trong năm đó17

Ở góc độ khác, quy định ở các Điều 34 và 35 Hiến chương cho phép HĐBA đóng vai trò trọng tài phân xử các tranh chấp giữa các quốc gia trên các lĩnh vực, trong đó có vấn đề quyền con người

Hội đồng Kinh tế và Xã hội - Economic and Social Council – ECOSOC

ECOSOC là cơ quan có vai trò quan trọng bậc nhất trong cơ chế bảo vệ của Liên hợp quốc về con người Được thành lập với 54 thành viên (Điều 61 Hiến chương) do ĐHĐ bầu ra, ECOSOC đảm nhiệm rất nhiều chức năng quan trọng như: tiến hành những nghiên cứu và báo cáo về những vấn đề quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và kiến nghị về các vấn đề này cho ĐHĐ, các nước thành viên Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên môn hữu quan; đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người; chuẩn bị dự thảo các điều ước quốc tế về những vấn đề thuộc thẩm quyền

của mình để trình lên ĐHĐ; triệu tập các hội nghị quốc tế về những vấn đề thuộc

thẩm quyền của mình, theo các thủ tục do Liên hợp quốc quy định

Trong việc xây dựng bộ máy, cơ quan này đã thiết lập ra Uỷ ban quyền con người (UNCHR), Uỷ ban về vị thế của phụ nữ và Uỷ ban ngăn ngừa tội ác và tư pháp hình sự Đây là những cơ quan chuyên môn có vai trò như những "động cơ" trong bộ máy quyền con người Liên hợp quốc Những cơ quan này có chức năng rất rộng, từ việc nghiên cứu các vấn đề; đề xuất xây dựng bộ máy, các chương trình, hoạt động; soạn thảo các văn kiện cho đến giám sát thực hiện các văn kiện quốc tế về quyền con người

ECOSOC còn có chức năng đó là điều hành cơ chế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh tế và xã hội (điều 60 Hiến chương), mà một trong những mục tiêu của cơ chế này là thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ trên phạm vi toàn cầu các quyền và tự do cơ bản của mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn

ngữ hoặc tôn giáo (điểm c Điều 55 Hiến chương)

17 The UN Security Council and Human Rights Sđd, tr.2-15

Ngày đăng: 29/08/2023, 14:22

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w