Với sự hỗ trợ của tiến bộ liên tục trong khoa học kỹ thuật, sự ra đời của nhiều thương hiệu máy ảnh với nhiều “dòng, đời” khác nhau, từ chiếc máy chụp ảnh “du lịch” gọn nhẹ, xinh xắn với
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP
TẬP BÀI GIẢNG NGHỆ THUẬT CHỤP VÀ XỬ LÝ ẢNH
Hà Nội - 2019
Trang 22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP
TẬP BÀI GIẢNG
NGHỆ THUẬT CHỤP VÀ XỬ LÝ ẢNH
Dành cho sinh viên chuyên ngành Thiết kế đồ họa
Giảng viên biên soạn: Lê Trọng Nga
Hà Nội – 2019
Trang 33
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
BT Bài tập
ĐĐ Địa điểm KTĐG Kiểm tra đánh giá
LT Lí thuyết
TH
MT
Thực hành Mục tiêu
YC
TG
Yêu cầu Thời gian Nxb Nhà xuất bản
TC
NC
Tín chỉ Nghiên cứu NXB Nhà xuất bản SLR
DSLR
Máy chụp ảnh cơ Máy chụp ảnh kỹ thuật số (chuyên nghiệp)
ISO DOF
Độ nhạy bắt sáng của cảm biến
Độ sâu trường ảnh
Trang 44
MỤC LỤC
Chương I: Khái quát chung về nhiếp ảnh cơ bản
Mục tiêu của chương
Kết quả đạt được
1.1 Giới thiệu, khái niệm, định nghĩa cơ bản về nhiếp ảnh
1.2 Giới thiệu về cấu tạo cơ bản của máy ảnh
1.2.1 Thân máy ảnh
1.2.2 Ống kính
1.2.3 Phụ kiện
Định hướng thảo luận và bài tập thực hành- Câu hỏi ôn tập
Chương II: Các chế độ chụp căn bản
Mục tiêu của chương
Định hướng thảo luận và bài tập thực hành- Câu hỏi ôn tập
Chương III: Yếu tố cơ bản trong nhiếp ảnh (Khẩu độ, tốc độ và ISO)
Mục tiêu của chương
Kết quả đạt được
2.1 Khẩu độ (Khẩu độ mở ống kính)
2.1.1 Khẩu độ mở
2.1.2 Công năng của ống kính
2.1.3 Các tác dụng và hiệu ứng liên quan tới khẩu độ mở
2.1.4 Độ sáng của hình
Trang 52.3.1 Film speed (độ nhạy sáng của film)
2.3.2 Exposure Value (Ev - giá trị phơi sáng)
2.3.3 Depth Of Field ( DOF – Độ sâu trường ảnh)
2.3.4 Hyperfocal Distance (khoảng cách lấy nét tối ưu)
Định hướng thảo luận và bài tập thực hành- Câu hỏi ôn tập
Chương IV: Các bố cục và tạo hình trong nhiếp ảnh
Mục tiêu của chương
Định hướng thảo luận và bài tập thực hành- Câu hỏi ôn tập
Chương V: Các thể loại ảnh cơ bản
Mục tiêu của chương
Kết quả đạt được
Trang 66
- Chân dung
- Phong cảnh
- Tĩnh vật
Định hướng thảo luận và bài tập thực hành- Câu hỏi ôn tập
Chương VI: Thực hành chụp cơ bản
5.1 Thực hành chụp cơ bản (Tốc độ, khẩu độ, ISO)
5.2 Thực hành chụp mẫu sản phẩm (tĩnh vật) trong phòng chụp
5.3 Chuyển tư liệu ảnh đã chụp vào máy tính để chỉnh sửa, cắt xén để có bức ảnh đẹp
5.4 Phân tích, đánh giá, nhận xét bài cho sinh viên
Chương VII: Thực hành chụp nâng cao
6.1 Thực hành chụp ảnh ngoài trời (chụp ảnh người mẫu và phong cảnh)
6.2 Chuyển tư liệu ảnh đã chụp vào máy tính để chỉnh sửa, cắt xén để có bức ảnh đẹp
6.3 Phân tích, đánh giá, nhận xét bài cho sinh viên
Yêu cầu bài thi học phần
Trang 77
I Lời giới thiệu:
Trong các bộ môn sáng tác nghệ thuật có thể nói nhiếp ảnh là bộ môn nghệ thuật rất “gần gũi” và gắn bó nhất với mỗi chu kỳ sống của con người trong chúng ta Thực vậy, việc ghi và lưu giữ lại những hình ảnh từ buổi bé thơ với những nụ cười thiên thần, ánh mắt to thơ ngây trong chiếc nôi ấm áp, trong vòng tay yêu thương của cha, mẹ, ông bà Những ngày đầu biết lật, biết bò, những
bước đi chập chững đầu tiên, sinh nhật tròn một tuổi tiếp tục trong những
chặng sống bình thường đó là ngày bé đi học mẫu giáo, ngày nhận phiếu bé ngoan, lĩnh thưởng cuối năm học, rồi tiếp nối là những hình ảnh thắm đầy kỷ niệm của niềm vui rộn ràng trong các lễ tốt nghiệp, ngày chia tay bạn bè và mái trường, của đôi bạn trẻ bên nhau những lần hẹn hò, ngày hai họ kết thân cho cặp uyên ương ngày đón đứa con đầu lòng cho đến ngày lưng còng, tóc bạc v.v , những bức ảnh chụp gia đình sum họp trong các ngày lễ tết, ngày giỗ ông bà, thế
hệ này kế thừa thế hệ kia tiếp tục chu kỳ hoàn thành tập biên niên sử gia đình, dòng họ bằng hình ảnh Không chỉ có vậy biết bao lĩnh vực trong cuộc sống lao động và sáng tạo của con người cũng cần “bàn tay” của nhiếp ảnh: buổi lao động tập thể, lễ mít ting, ngày lễ kỷ niệm, những bức ảnh chụp phục vụ nghiên cứu khoa học kỹ thuật, ảnh tư liệu lịch sử, báo chí v.v đã khẳng định nhiếp ảnh là một phần không thể thiếu của cuộc sống
Trong thời đại ngày này, thời đại của sự phát triển vượt bậc về công nghệ thông tin, sự bùng nổ thông tin với phương châm “trăm nghe không bằng một thấy” Với sự hỗ trợ của tiến bộ liên tục trong khoa học kỹ thuật, sự ra đời của nhiều thương hiệu máy ảnh với nhiều “dòng, đời” khác nhau, từ chiếc máy chụp ảnh “du lịch” gọn nhẹ, xinh xắn với các tính năng tự động, dễ sử dụng cho đến những chiếc máy “chuyên nghiệp” với nhiều chức năng tùy chỉnh phức tạp, giá một chiếc máy chụp ảnh đã không còn quá tầm tay như trước kia, việc trang bị
Trang 88
máy để tự chụp trong cuộc sống hàng ngày đã trở thành nhu cầu thiết yếu của đông đảo các tầng lớp xã hội hôm nay Tuy nhiên việc phổ biến đó không có nghĩa tất cả mọi người đều có điều kiện am hiểu nhiều về kỹ thuật của bộ môn đã
có mặt trong mọi sinh hoạt của nhân loại trên 170 năm Không phải ai cũng thuần thục, ứng dụng được trên 50% các chức năng trên chiếc máy mà họ đang
sở hữu Và điều quan trọng nhất, không phải ai cũng tự thực hiện được những kiểu ảnh đẹp như mong muốn của chính họ, như mắt họ đang nhìn thấy, trái tim
họ đang rung động Vì vậy, nhu cầu hiểu biết về căn bản kỹ thuật nhiếp ảnh là một điều thật sự cần thiết đối với tất cả mọi người Đặc biệt đối với sinh viên ngành Thiết kế nói chung, sinh viên ngành Thiết kế đồ họa nói riêng, ngành nghề sáng tạo cái đẹp để phục vụ nhu cầu của con người, “Nghệ thuật chụp và xử lý ảnh” lại càng không thể thiếu, nó bổ trợ cho các môn học chuyên ngành như thiết
kế, quảng cáo cần đòi hỏi nhiều tới sự sáng tạo
II Mục tiêu chung của môn học
1 Mục tiêu nhận thức
a Về kiến thức
- Cung cấp kiến thức căn bản về nhiếp ảnh, các kỹ năng, thao tác với máy ảnh để có thể chụp thành thạo các thể loại ảnh: Chân dung, phong cảnh, tĩnh vật… trong các môi trường khác nhau về không gian, thời gian, khác nhau về nguồn sáng, đối tượng tĩnh - động
- Giúp sinh viên nắm được các yếu tố và các nguyên tắc trong kỹ thuật chụp ảnh
- Vận dụng được kiến thức đã học phục vụ tích cực cho các công việc thiết
kế, sáng tác, học tập chuyên ngành, chuyên môn của sinh viên, đáp ứng được nhu cầu công việc sau này
- Tạo cho sinh viên lòng yêu thích: yêu thích nhiếp ảnh, yêu thích nghệ thuật,
Trang 99
yêu thích thiên nhiên, yêu thích môi trường, yêu phong cảnh đất nước con người
- Rất hữu dụng, ứng dụng trong cuộc sống, phục vụ trong nhiều lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, đưa tin thời sự, lễ hội vv…
- Là môn tiền đề cho việc chụp và xử lý hình ảnh, làm tư liệu cho quá trình học các môn chuyên ngành tiếp theo
c Về thái độ
- Có nhận thức cũng như đánh giá đúng tầm quan trọng của môn nghệ thuật chụp và xử lý ảnh đối với các môn học chuyên ngành như thiết kế, quảng cáo
- Hình thành động cơ đúng đắn; niềm say mê học tập, nghiên cứu môn học;
- Chủ động trong cách học từ đó tăng cường khả năng tổ chức nhóm, tổ chức các hoạt động tập thể, kết hợp với hoạt động cá thể
- Nâng cao ý thức trách nhiệm đối với các hoạt động của nhóm
2 Các mục tiêu khác
- Tạo cho sinh viên không chỉ có sự chăm chỉ, tâm huyết mà cần có sự đam
mê trong tìm hiểu, thử nghiệm các cách thức chụp ảnh trong các điều kiện khác nhau về không gian, thời gian, ánh sáng
- Chủ động được các kỹ năng xử lý ánh sáng, ứng dụng các phụ kiện hỗ trợ cho nhiếp ảnh
Trang 1010
- Nắm bắt và thể hiện được vẻ đẹp trong các thể loại ảnh: Chân dung, phong cảnh, tĩnh vật, sinh hoạt
- Có ý tưởng về việc thể hiện các bố cục ảnh độc đáo
- Kết hợp lý thuyết với việc thực hành các tác phẩm
- Hình thành tác phong sống và làm việc hiện đại, khoa học
- Hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo độc lập
Trang 1111
Chương I: Khái quát chung về nhiếp ảnh cơ bản
1 Khái niệm, định nghĩa cơ bản về nhiếp ảnh:
a Khái niệm:
Nhiếp ảnh là quá trình tạo ra hình ảnh bằng tác động của ánh sáng với phim hoặc thiết bị nhạy sáng Nhiếp ảnh dùng một thiết bị đặc biệt để ghi lại hình ảnh của vật thể thông qua ánh sáng được phản chiếu từ các vật thể lên giấy hoặc phim nhạy sáng, bằng cách căn thời gian phơi sáng Quá trình này được thực hiện bằng các thiết bị cơ học, hóa học hay kỹ thuật số, thường được gọi là máy ảnh hay máy chụp hình
b Khái quát về lịch sử nhiếp ảnh
Từ thời tiền sử, con người đã có nhu cầu ghi lại những hình ảnh trong sinh hoạt lao động hàng ngày hay những hình ảnh mà họ thấy được trước thiên nhiên,
có lẽ từ thời bấy giờ, một phần nào đó con người đã hiểu giá trị của hình ảnh có vai trò rất quan trọng cho nhu cầu thông tin, lưu trữ qua nhiều thế hệ, thậm chí qua nhiều thời kỳ lịch sử của con người Những bích họa được vẽ trong các hang động cách đây hàng chục ngàn năm thì ngày nay đã trở thành những giá trị vô giá của nhân loại
Trong quá trình tự hoàn chỉnh và phát triển của nền văn hóa nhân loại, những ngành mỹ thuật đã ra đời, trong đó điêu khắc và hội họa là những ngành đầu tiên phát triển rực rỡ cùng với nền văn minh cổ Hy Lạp, nền văn hóa Lưỡng Hà và Ai Cập cổ đại Qua đó con người không những lưu giữ những hình ảnh hiện thực
mà còn thể hiện những hình ảnh từ trí tưởng tượng và cả những ước mơ
Trang 1212
Tranh khắc trên hang động
Tranh vẽ bò rừng trên vách hang động thời tiền sử
Trang 13Cùng với cuộc cách mạng công nghệ trong suốt thế kỷ thứ XIX cho đến giữa thế kỷ thứ XX, cộng với những tiến bộ về quang học, cơ khí chính xác, chiếc hộp tối ngày xưa đã trở thành những chiếc máy ảnh gọn gàng, xinh xắn Trong hai thập niên cuối thế kỷ XX, sự phát triển, cũng như điều kiện ứng dụng rộng rãi công nghệ điện tử vào những sản phẩm tiêu dùng, những chiếc máy ảnh ngày càng tiện dụng bằng tiến trình tự động hóa và “chương trình” hóa Thêm vào đó công nghệ in tráng cũng không ngừng phát triển, đáp ứng được nhu cầu chụp ảnh một cách nhanh chóng với giá cả hợp lý đã thúc đẩy tiến trình “xã hội hóa” nhiếp ảnh
Từ những năm Gần đây, với sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, của cuộc cách mạng kỹ thuật số, chiếc máy ảnh nói riêng và nhiếp ảnh nói chung đã có những thay đổi quan trọng Công cuộc ứng dụng số hóa đã ảnh hưởng sâu rộng
và tích cực vào sự phát triển của nhiếp ảnh cả về mặt phổ thông, thông tin và nghệ thuật
Trang 1414
Vẽ phác hộp tối có cải tiến (dùng thêm gương phản chiếu đặt xiên 45%),
nguyên tắc hình thành chiếc máy ảnh
Họa sĩ Léonard de Vinci ứng dụng nguyên tắc hộp tối để vẽ phác thảo
Trong quá trình phát triển, thoạt đầu nhiếp ảnh được giới hội họa quan tâm đến từ ứng dụng nguyên tắc “hộp tối” thay cho công việc ký họa, sau đó công việc ghi hình nêu trên được một số các nhà phát minh như: Niepce, Daguerre, Godowsky, Eastman: anh em nhà Lumière quan tâm nghiên cứu và phát triển cũng không ngoài mục đích ghi hình các cảnh vật, con người nhưng cũng với mục đích ban đầu là sao chép khách quan
Trang 1515
Khi du nhập vào Viêt Nam bởi quan sứ thần Đặng Huy Trứ (1903), công nghệ ghi hình có tên Photography (theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là vẽ bằng ánh sáng) được dịch là Nhiếp ảnh, chữ “nhiếp” theo từ Hán Việt nghĩa là “thay thế”, như vậy nhiếp ảnh ban đầu chỉ được hiểu theo đặc tính ghi nhận sự việc để thay thế bằng những bức ảnh, chiếc máy ảnh ở thời điểm ấy được sử dụng như một phương tiện kỹ thuật sản xuất ra những hình ảnh sao chép
Thế nhưng, cùng với thời gian, nhiếp ảnh đã được ứng dụng trong nhiều khía cạnh của đời sống Trong khi tính chân thật được tôn vinh trong ảnh báo chí, ảnh tài liệu thì bên cạnh đó, nhu cầu khám phá cái đẹp vốn dĩ là một thiên hướng của con người Khi những hiệu ứng về nguồn sáng, ánh sáng được khai thác khi chụp ảnh; những tiến bộ về quang học được ứng dụng để sản xuất những ống kính với nhiều tiêu cự khác nhau thì các nhà mỹ học đã hiểu ra rằng, nhiếp ảnh qua chiếc máy chụp là một phương tiện tuyệt vời để thể hiện những rung cảm, những ngôn ngữ tâm hồn thông qua nghệ thuật tạo hình, khai thác ánh sáng để hình thành một môn nghệ thuật mới mẻ nhưng vô cùng hấp dẫn: đó là nghệ thuật nhiếp ảnh
Ảnh của Joseph Niepce (1925) bằng phương pháp ăn mòn acid
Trang 1616
Đồn Nai (Đà Nẵng) 1845, Bức ảnh đầu tiên chụp tại Việt Nam
Ngày hôm nay, nhiếp ảnh không thể thiếu trong đời sống, sinh hoạt của con người, trong chúng ta không ít người đã từng bồi hồi xúc động trước những bức ảnh mà ta được chụp từ “ngày xưa” ắp đầy kỷ niệm hoặc trước những bức ảnh chụp những người thân yêu từ xa gửi về hoặc lâu ngày không gặp Qua những bức ảnh những quá khứ, con người như sống động trở lại, làm cho “thời gian dừng lại” đó là những giá trị vô song của nhiếp ảnh Thử tưởng tượng, ngày nay, nếu không có nhiếp ảnh, cuộc sống sẽ thiếu thốn" như thế nào (thí dụ một đám cưới mà không được chụp ảnh thì buồn biết bao, hoặc trên mặt báo bỗng nhiên không còn hình ảnh, trang báo sẽ tẻ nhạt đến dường nào); cũng như những phương tiện truyền thông như truyền hình và những công nghệ hình ảnh khác không thể tách rời khỏi nhiếp ảnh Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã khiến nhiếp ảnh càng ngày càng trở nên phổ cập trong cuộc sống chúng ta, từ chiếc điện thoại di động có phụ trợ phần chụp ảnh được cải tiến liên tục, những chiếc máy ảnh chụp phim hoặc kỷ thuật số nhỏ gọn đã hiện diện trong từng gia đình, công việc chụp ảnh không còn là công việc riêng biệt, độc quyền của các
“phó nháy” chuyên nghiệp, mà hôm nay là sự “vui chơi, giải trí” là “thời trang” của mọi người Ngoài ra, nếu ai đó có chút đam mê, năng khiếu về thẩm mỹ,
Trang 1717
những ai muốn ghi lại những nét đẹp của thiên nhiên, con người, nét đẹp của đời sống, thì “chơi” nhiếp ảnh nghệ thuật sẽ là một thú tiêu khiển hấp dẫn, chứa đựng rất nhiều khám phá thú vị và có giá trị dài lâu
Trang 1919
lớp giấy kính mờ hoặc gắn một miếng kính đục Khi ánh sáng đi từ chủ đề sẽ chui qua lỗ tròn và ảnh của chủ đề sẽ hiện trên kính mờ của mặt đối diện
MỘT MÁY ẢNH ĐƠN GIẢN:
Hình ảnh ghi bằng hộp đen thường không được sắc nét hoặc tối đi (khi lỗ tròn càng lớn ảnh càng không nét) Do vậy người ta đặt vào lỗ tròn đó một thấu kính hội tụ có thế thay đổi độ lớn nhỏ (cửa điều sáng) để ảnh được rõ hơn, như vậy đã hình 1 thành một chiếc máy ảnh đơn giản
Trang 2020
2 – Gương phản xạ và và hệ thống gương phức hợp ngắm chụp (relex mirror and prism)
3 – Ống ngắm (view finder)
4 – Cửa chập có mành chập (shutter/ shutter curtains)
5 – Bản phim (film/ film plane)
Nguyên tắc cấu tạo của máy ảnh DSLR
Máy ảnh chụp phim cuộn ra đời từ những thập niên đầu thế kỷ 20: đó là những sáng chế đột phá từ nhà sản xuất Kodak ( 1988-1914) với loại phim cuộn
và những nghiên cứu của hãng Leica từ năm 1913 để sản xuất loại máy ảnh chất lượng cao chụp phim cuộn 35mm (còn gọi là phim 135) đã giúp nhiếp ảnh tiếp cận được công chúng và máy ảnh được sử dụng dễ dàng hơn Có thể chia máy ánh ra làm 3 loại tùy theo cách sử dụng loại phim nào hoặc 2 loại theo cách thức ứng dụng quang học
1 - Phân loại theo cách sử dụng phim;
- Loại sử dụng phim 35mm: Loại máy nhỏ gọn và thông dụng giá thành vừa phải
- Loại sử dụng loại phim cuộn khổ lớn 70mm (phim 120): loại máy lớn, chất lượng cao, nhà nghề, giá thành khá cao
- Loại sử dụng phim cuộn 70mm và miếng rời: loại máy chuyên dùng cho những yêu cầu chất lượng hình ảnh đặc biệt cao, thao tác phức tạp, máy lớn và nặng, giá thành thường rất cao
2 - Phân loại theo ứng dụng quang học:
Loại máy khung ngắm thẳng: Khung ngắm trực tiếp, sáng, nhưng hệ thống lấy nét phức tạp, hình ảnh qua khung ngắm và hình ảnh nhận được trên phim ít nhiều có độ lệch về góc nhìn (tùy theo nhà sản xuất) Hiện nay còn rất ít hãng
Trang 2121
máy ảnh sản xuất máy ảnh chuyên nghiệp loại này ngoại trừ một số máy nghiệp
dư tự động lấy nét
Loại Máy ảnh nhà nghề đầu tiên chụp phim 35mm
Loại máy khung ngắm qua ống kính (SLR - single lens refiex), hình ảnh qua khung ngắm và hình ảnh ghi lại từ ống kính hoàn toàn giống nhau, có thể thay
đổi ống kính dễ dàng rất thông dụng hiện nay
THÂN MÁY
Thân máy ảnh, như chúng ta đã biết được hình thành từ nguyên tắc hộp tối, ban đầu thuần túy là một hệ thống được vận hành theo những ứng dụng cơ học gồm nhưng bộ phận lên phim bằng tay hoặc tự động, màn trập và ổ tốc độ (màn trập); riêng một số máy ảnh có ống kính không tháo rời được thì màn trập và ổ tốc độ có thể được thiết kế chung trên phần ống kính Sau đó thân máy được bổ sung thêm những bộ phận quang điện tử để thuận tiện trong việc cân chỉnh dung
Trang 2222
lượng ánh sáng và đo sáng Hiện nay, máy ảnh chụp phim đa phần thân máy được điều hành bằng những hệ thống cơ điện và điện tử với những chương trình được cài đặt sẵn khiến việc sử dụng dễ dàng và đơn giản hơn
- Tốc độ màn trập:
Trang 2323
Để chụp ảnh tốt chúng ta cần hiểu rõ về tốc độ màn trập Màn trập như một cánh cửa của một căn phòng tối và bên ngoài là trời sáng, khi mở cứa ánh sáng
sẽ tràn vào và ánh sáng tràn vào nhiều hay ít tùy thuộc vào thời gian mở cửa lâu hay mau Trong máy ảnh, màn trập là miếng vải đen hoặc nhưng miếng kim loại (thép, titan) mỏng màu đen được thiết kế nằm giữa ống kính và phim Thời gian
mở của màn trập được gọi là tốc độ màn trập được thể hiện bằng những chỉ số như: B-1-2-4-8-15-30-60-125-250-500-1000-2000-4000 T, những chỉ số tốc độ màn trập đó biểu thị thời gian ánh sáng từ chủ đề được chụp ghi vào loạt phim thí dụ:
Chỉ số tốc độ là 2 có nghĩa là thời gian màn trập mở ra là 1/2 giây
Chỉ số tốc độ là 60 có nghĩa là thời gian màn trập mở ra là 1/60 giây
Như vậy: (Xem bảng)
Tốc độ B (buld, bottom): màn trập sẽ mở trong suốt thời gian bấm máy Tốc độ T: màn trập được cài mở thường trực, Chỉ những dòng máy nhà nghề chính dòng mới có tốc độ này (TD: Nikon F4, F5 Canon f1…)
PHIM:
1 - Cấu tạo: phim được cấu tạo bằng nhiều lớp: trải trên một bề mặt bằng
nhựa trong suốt Với phim đen trắng, lớp nhũ tương có công dụng ghi nhận hình ảnh là một lớp dung dịch keo chứa những hạt ni-trate bạc, lớp chống lóe (ha-lô) thường có màu xanh tím có tác dụng chống lại sự phản xa ánh sáng giữa các lớp Với phim màu, gồm 3 lớp nhũ tương riêng biệt để ghi nhận 3 màu căn bản: đỏ, xanh lá và xanh lơ Ngoài ra, còn lớp chống lóe vá trên cùng là một lớp bảo vệ hạn chế nấm mốc và trầy xước
2 - Kích cỡ: Gồm 3 loại cơ bản là phim cuộn 35mm - phim 135 (có khung
phim tiêu chuẩn là 24mm x 36mm), phim cuộn 70mm - phim 120 (có những khung phim tiêu chuẩn 6x4,5cm: 6x6cm: 6x7cm: 6x9cm): phim miếng khô lớn
Trang 2424
9x12cm: 10x15cm; 13x18cm; 18x24cm Trước kia còn có những loại phim ít thông dụng như phim 16mm, phim APS 21 mm, phim cardtrix nay không còn sản xuất
3- Độ nhạy: Chỉ số được dùng đế xác định độ bắt sáng của phim được viết
tắt phổ thông là ISO (ký hiệu ASA và DIN không còn thông dụng) Chỉ số ISO Càng lớn, phim có độ bắt sáng càng nhạy, những chỉ số ISO: 25 - 50 - 100 - 200
- 400 - 800 - 1600 - 3200 thông dụng nhất là loại phim có độ nhạy 100 - 200 -
mà dùng phương tiện vi điện tử hoạt động theo cơ chế tổ hợp những tế bào
quang điện (sensor) là các bộ cảm biến (CCD hoặc CMOS) để ghi nhận hình ảnh
qua ống kính chụp, sau đó xử lý, số hóa các dữ liệu hình ảnh đó và lưu vào thẻ nhớ dưới dạng các file ảnh Độ nhạy sáng của bộ cảm biến cũng được thể hiện
Trang 2525
như độ nhạy của phim nhựa truyền thống (100 - 200 - 400 - 800 ISO) Thông thường máy KTS còn có thêm chế độ Auto ISO khá tiện dụng (máy tự cài đặt ISO thích ứng với điều kiện ánh sáng khi chụp)
Do nhu cầu đáp ứng cho nhiều đối tượng tiêu dùng, các nhà sản xuất tung ra thị trường nhiều loại máy KTS, tuy thế, chúng ta có thể chia làm 2 loại:
- Loại máy có ống kính gắn cố định vào thân máy: Máy Compact hoặc dòng máy Coolpix, Finepix, nhỏ gọn: ống kính gắn cố định vào thân máy, tương đối
dễ sử dụng, chất lượng hình ảnh vừa phải hoặc khá, giá cả dễ chấp nhận
- Loại máy có ống kính thay đổi được: Là loại máy chuyên nghiệp, tương tự dòng máy chuyên nghiệp chụp phim, thân máy rời, ống kính rời: chất lượng hình ảnh có thể từ thấp đến cao cho nhiều lựa chọn, giá cả khá cao đến rất cao, người
sử dụng cần có nhưng kiến thức nghề nghiệp nhất định
Trang 2626
Những bộ phận cơ bản trên máy ảnh KTS
Trang 2727
Trang 28Bộ cảm biến có kích thước càng lớn, dung lượng mỗi flle ảnh sẽ lớn và cho chất lượng ảnh càng cao
b - Điểm ảnh (pixel) :
Là thành phần nhỏ nhất để hiển thị hình ảnh KTS Độ nét và dung lượng của hình ảnh tùy thuộc vào số lượng điểm ảnh trên bức ảnh đó
Nếu trong một ảnh vuông mỗi chiều là 1 inche (2.54cm) chứa 72x72 pixels
sẽ có độ phân giải là 72 pixels / inch Và đó cũng là độ phân giải tối thiểu mà mắt thường không phân biệt ra được từng điểm ảnh (nhìn ảnh vẫn rõ nét)
PIXEL- Điểm ảnh
Trang 2929
c – Độ phân giải của máy ảnh :
Đó là số lượng điểm ảnh (pixel) tối đa mà máy ảnh đó có thể chứa trên mỗi file ảnh Kích thước của bộ cảm biến liên quan trực tiếp đến độ phân giải của máy ảnh, điểm ảnh hữu dụng càng lớn thì kích thước bộ cảm biến càng lớn Thường độ phân giải của một máy KTS được hiển thị ngay trên thân máy TD: Máy Nikon D80 có đó phản giải 10.2 megapixels - máy Canon 20D có độ phân
Trang 3030
giải 8 megapixels Hiện nay, máy Cannon 1DS-Mark II có độ phân giải đến 21M hay Nikon 3DX có độ phân giải 24.5M Để có hình ảnh với độ phân giải như phim truyền thống, máy ảnh KTS cần có độ phân giải trên 18 megapixels và khi đó kích cỡ của bộ cảm biến đạt được bằng khung phim (Full Frame) 35mm
là 24mmx36mm
Lưu ý: Khi một máy ảnh KTS có kích thước của sensor không bằng kích cỡ phim truyền thống (24x36mm) thì tiêu cự ống kính khi sử dụng sẽ được tính tùy thuộc vào kích cỡ (đường chéo) của sensor
VD: với máy Canon 30D hay Nikon D200 thì tiêu cự của ống kính phải nhân cho hệ số 1,5 (hệ số này chính là tỷ lệ của đường chéo của phim nhựa 35mm truyền thống với đường chéo của sensor) Với những máy KTS có sensor bằng với phim truyền thống (còn gọi là full frame) thì hệ số nhân là 1 có nghĩa là tiêu
cự ống kính được tính như máy chụp phim Ví dụ máy Nikon D3X hoặc Canon 5D Mark II
d - Dung lượng file ảnh:
Đó là số điểm ảnh (pixel) chứa trong một file ảnh, số lượng điểm anh càng nhiều ảnh càng phóng lớn được hơn Độ phân giải của một máy ảnh KTS chính
là dung lượng tối đa của 1 ảnh mà máy đó có thể đạt tới
Trong máy KTS, người sử dụng có thể chọn nhiều dung lượng khác nhau cho chất lượng (quality, image size) của một file ảnh và được hiển thị bằng các ký tự
S, M L (Small, Medium, Large) hoặc kèm theo cả số điểm ảnh VD: Với
NIKON D80: L- 3875x2592 - 10M; M- 2896x1944 -5.6M; S- 1936x1296 - 2.5M
E – Định dạng file ảnh:
Những máy ảnh KTS xử lý và lưu trữ hình ảnh tùy theo nhu cầu với các định dạng đuôi của các files dữ liệu theo các đuôi RAW, TIFF, hoặc JPEG
Trang 3131
- Đuôi RAW: Đuôi ảnh đặc trưng cho các máy nhà nghề, đây là một dạng
đuôi thô, máy ảnh chi lưu lại dữ liều đầu vào mà hoàn toàn không can thiệp vào các dữ liệu đó Khi xử lý hình ảnh trên phần mềm hỗ trợ để cho ra files ảnh mới nhưng file gốc vẫn được lưu trữ dưới dạng thô tương tự như giữ bản phim gốc vậy Đuôi RAW luôn cho dung lượng ảnh cao nhất của 1 máy KTS
- Đuôi TIFF: Đuôi ảnh đã xử lý một phần các dữ liệu, dung lượng ảnh lớn (tương đương đuôi RAW) chất tượng hình ảnh tốt
- Đuôi JPEG: Đuôi ảnh đã xử lý và nén các dữ liệu, có dung lượng từ nhỏ đến lớn, (S, M, L), chất lượng hình ảnh có bị giảm thiểu một phần, tiện lợi để lưu trữ và chuyển giao các file ảnh Đa số các máy compact thường chỉ định dạng JPEG mà thôi
F - Cân bằng trắng (white balance):
Khi bộ cảm biến ghi nhận ánh sáng từ vật thể chụp, ánh sáng sẽ được xử lý thành 3 màu là Đỏ - Xanh lá - Xanh lơ sau đó được phối hợp lại để có màu của vật thể Do màu sắc chuẩn hay không còn tùy thuộc vào màu của nguồn sáng, ví
dụ dưới ánh sáng mặt trời buổi trưa, nguồn sáng được xem là trắng, dưới đèn ông ánh sáng có màu xanh lá cây nhạt Do vậy, máy KTS cần phải có bộ phận cân bằng trắng (White balance) để hiệu chỉnh với mục đích cho ra một file ảnh đúng màu Tùy theo những tình trạng của nguồn sáng: người chụp sẽ chọn lựa chế độ cân bằng trắng khác nhau
nê-Bảng độ K
- Các chế độ cân bằng trắng:
Đó là cơ chế hiệu chỉnh màu sắc mà hầu hết các máy KTS đều phải có, nó cho phép người sử dụng chọn lựa các chế độ cân bằng màu sắc (khống chế độ áp sắc do môi trường chụp) để màu sắc của hình ảnh được trung thực
Thông thường, có những chế độ cân bằng trắng như sau:
Trang 32Chuyên dụng cho ánh sáng trời: Ký hiệu mặt trời - Direct Sunli
Chuyên dụng cho trời râm mát: Ký hiệu căn nhà có bóng râm - Shade
Chuyên dụng cho trời u ám: Ký hiệu đám mây - Cloudy
Chuyên dụng cho đèn flash: Ký hiệu tia điện xẹt - Flash
Chuyên dụng cho ánh sáng đèn vàng: Ký hiệu bóng đèn tròn - lncandescent
Chuyên dụng cho bóng đèn nê ông: Ký hiệu bóng đèn dài - Fluorescent
cân bằng trắng theo nhiệt độ màu (ký hiệu K - Choose color temp) Nhiệt độ
màu hay còn gọi là độ Kelvin (độ K), khi một vật thể hấp thụ nhiệt năng màu sắc của vật thể đó sẽ thay đổi VD: ta nung một thỏi sắt trên lửa, màu của thỏi sắt sẽ thay đổi từ đỏ qua cam, vàng, trắng xanh, Chỉ một số máy KTS nhà nghề mới
có chế độ chỉnh màu sắc dựa trên độ K, người sử dựng cần hiểu nhiệt độ màu của từng trường hợp ánh sáng để chọn thông số thích hợp trên giao diện độ K của máy ảnh (nếu có)
Trang 33Các chế độ chọn lựa vùng lấy nét: lấy nét trung tâm; lấy nét điểm; lấy nét
Chế độ đo sáng (AE) và lấy nét (AF)
Máy ảnh cho chúng ta nhiều trường hợp để lựa chọn vùng đo sáng cũng như lấy nét
Các chế độ đo sáng và lấy nét
Đo điểm (Spot)
Đo vùng trung tâm (Center)
Đo tổng hợp vùng (Matrix)
Ngoài ra có thể còn những chế độ cài đặt chuyên biệt khác tùy theo từng đời máy, vị trí thao tác, giao diện khác nhau, điều cần thiết là chúng ta phải tìm hiểu
Trang 34sẽ được lưu trữ vào thẻ nhớ Có nhiều dạng thẻ nhớ tương thích với từng dòng máy khác nhau Thông dụng là các loại thẻ CF, SD,
Ống kính
1 - NGUYÊN TẮC QUANG HỌC:
Một ống kính đơn giản dùng để ghi hình thường là một thấu kính hội tụ: nhưng chỉ một kính hội tụ hình ảnh sẽ không được thật tốt (do bị hạn chế bởi những yếu tố như cầu sai, quang sai, sắc sai, nên nhà sản xuất phải hiệu chỉnh những khuyết điểm đó bằng một “ống kính” là hệ thống thấu kính gồm nhiều thấu kính hội tụ và phân kỳ
2 – TIÊU CỰ ỐNG KÍNH:
Trang 35- Tiêu cự ngắn (còn gọi là ống kính góc rộng, Wide hoặc Rantant); Khi tiêu
cự ống kính đó ngắn hơn tiêu cự trung bình (ngắn hơn 45mm) Đặc biệt những ống kính có tiêu cự cực ngắn (dưới 14mm) được gọi là kính “mắt cá” hoặc Fish-eye Tiêu cự dài (ống kính tê lê hay ống kính tầm xa): Khi tiêu cự ống kính đó dài hơn tiêu cự trung bình (dài hơn 50mm) Tiêu cự thay đổi (ống kính Zoom): ống kính có tiêu cự thay đổi được Nếu tiêu cự thay đổi trong khoảng tiêu cự ngắn, được gọi là Wide Zoom; nếu tiêu cự thay đổi trong khoảng tiêu cự dài: được gọi là Tê-lê Zoom, nếu tiêu cự thay đổi được từ tiêu cự ngắn đến tiêu cự dài, được gọi gọn là Zoom
Trang 3636
3 - ẢNH HƯỞNG CỦA TIÊU CỰ TRÊN HÌNH ẢNH CHỤP:
2 Ảnh hưởng của tiêu cự đối với trường nhìn của ảnh
- Góc thu hình (Không gian theo tiêu cự ống kính):
- Với ống kính tiêu cự trung bình, hình ảnh thu được qua ống kính tương tự như hình ảnh nhìn bằng mắt thường
- Tiêu cự ống kính càng ngắn, góc thu hình càng rộng
- Tiêu cự càng dài, góc thu hình càng hẹp
Tiêu cự ống kính quyết định trường nhìn (hay góc nhìn) của ảnh Khái niệm trường nhìn ở đây có thể hiểu đơn giản là số lượng vật thể đặt trên cùng một mặt phẳng mà máy có thể thu nhận được Trường nhìn càng nhỏ thì số lượng các vật thể trên ảnh càng giảm Các ống góc rộng có tiêu cự nhỏ, trong khi các ống tele lại có tiêu cự lớn hơn nhiều lần Ống mắt cá (fish eye) có tiêu cự cực nhỏ, ngoài khả năng bao quát một trường nhìn rộng lớn đôi khi còn đem lại những hiệu ứng đặc biệt như bẻ các đường thẳng thành đường cong (và ngược lại) hay cho ảnh các vật thể không tuân theo tỷ lệ xa gần như nhìn bằng mắt thường
Trang 3737
Việc lựa chọn tiêu cự ống kính có vai trò quyết định trong phối cảnh, vốn là yếu tố cơ bản của nhiếp ảnh Một ống góc rộng có thể lấy được toàn bộ khung cảnh trong một phòng họp, tuy nhiên, không thể chụp được dòng chữ li ti trên màn hình máy chiếu nếu bạn đứng ở cuối hội trường Ngược lại, các ống tiêu cự dài cũng sẽ gặp khó khăn khi lấy trọn vẹn một đoàn người dài vào trong khung hình trừ khi bạn có điều kiện chạy ra rất xa để chụp
Bảng phân loại sau sẽ đưa ra một số gợi ý cho bạn khi lựa chọn tiêu cự ống kính
Dưới 20 mm Extreme Wide
Angle Kiến trúc 21-35 mm Wide Angle Phong cảnh
35-70 mm Normal Ảnh đời thường và ảnh tư
liệu 70-135 mm Medium Telephoto Chân dung
Trang 38là lấy 1 chia cho tiêu cự ống ở đơn vị milimét Ví dụ, thời gian phơi sáng đối với các ống 200 mm tối đa chỉ khoảng 1/200 giây nếu không sử dụng tripod Đến nay, các hãng đã nhanh chóng tích hợp công nghệ chống rung ngay trong thân máy hoặc ống kính giúp tăng thời gian phơi sáng mà ảnh vẫn không bị nhòe Công nghệ này cho phép tăng tốc độ chụp lên từ 2 đến 4 stop so với bình thường Các ống góc rộng thường chống được chóe sáng tức hiện tượng phản xạ ánh sáng mạnh giữa các thấu kính trong lòng ống với nhau Bù lại, các ống này sẽ làm hơi méo 4 góc ảnh tương tự như các ống fisheye (tuy nhiên, hiện tượng này không rõ bằng, có khi còn bị triệt tiêu hoàn toàn) Việc lựa chọn tiêu cự là điều quan trọng khi mua ống kính do phụ thuộc nhiều vào nhu cầu Người ham du lịch chắn hẳn sẽ chọn cho mình một ống góc rộng có tiêu cự nhỏ nhất dao động
từ 17-28 mm trong khi các phóng viên thể thao hay người thích chụp động vật hoang dã lại thích hợp với những ống tele "hầm hố" có tiêu cự 200-500 mm hoặc hơn thế
Trang 3939
Trang 4040
3 Ống kính zoom và ống kính một tiêu cự
Ống kính zoom (zoom lens) có dải tiêu cự thay đổi trong một khoảng cho sẵn Ống kính một tiêu cự ("prime" lens hay fixed lens) không thể thay đổi được tiêu cự Ống zoom đầu tiên mang tên "Varo" 40-120 mm dành cho máy phim 35
mm và được sản xuất trên quy mô công nghiệp vào năm 1932