Phần mỹ học nhằm cung cấp những kiến thức về mỹ hco cho sinh viên hiểu được các quan niệm về tư tưởng thẩm mỹ, cái đẹp nói chung qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, cái đẹp trong nghệ thu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7
MỞ ĐẦU 8
PHẦN I: MỸ HỌC 10
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA MỸ HỌC 11
M ỤC TIÊU 11
A K IẾN THỨC 11
B K Ỹ NĂNG 11
NỘI DUNG 12
1.1 M Ỹ HỌC LÀ GÌ ? 12
1.2 Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA MỸ HỌC 12
1.3 Q UÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG THẨM MỸ 15
1.4 N HỮNG QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP QUA TỪNG GIAI ĐOẠN 21
1.4.1 Quan niệm cái đẹp trong đời sống thời Nguyên thuỷ 21
1.4.2 Cái đẹp trong đời sống thời Hy Lạp - La Mã Cổ đại 23
1.4.3 Cái đẹp trong đời sống thời Trung Cổ phương-Phục Hưng ở phương Tây 28
1.4.4 Cái đẹp trong đời sống thời Cổ Điển (thế kỷ XVII) đến thời Khai Sáng (thế kỷ XVIII) 33
1.4.5 Tư tưởng mỹ học của K Max- Engels 34
1.4.6 Tư tưởng mỹ học của người phương Đông 34
Câu hỏi bài tập 38
T ÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN 1 38
A ) G IÁO TRÌNH 38
B ) T ÀI LIỆU THAM KHẢO 38
CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ THẨM MỸ TRONG NGHỆ THUẬT 39
MỤC TIÊU 39
A K IẾN THỨC 39
B K Ỹ NĂNG 39
NỘI DUNG 40
2.1 C ÁC ĐẶC CHƯNG CỦA MỐI QUAN HỆ THẨM MỸ 40
2.1.1 Quan niệm về bản chất các phạm trù thẩm mỹ nghệ thuật tạo hình 40
2.1.2 Đặc trưng và bản chất cái bi trong nghệ thuật tạo hình 42
2.1.3 Đặc trưng của cái hài trong nghệ thuật tạo hình 50
2.2 C ÁC PHẠM TRÙ BIỂU HIỆN CHỦ THỂ THẨM MỸ 52
2.2.1 Ý thức thẩm mỹ 52
Trang 32.2.2 Cảm xúc thẩm mỹ 53
2.2.3 Thị hiếu thẩm mỹ 55
2.2.4 Quan điểm thẩm mỹ 58
2.2.5 Lý tưởng thẩm mỹ 59
CÂU HỎI BÀI TẬP 61
T ÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN 1 61
A ) G IÁO TRÌNH 61
B ) T ÀI LIỆU THAM KHẢO 61
CHƯƠNG 3 ĐẶC TRƯNG CỦA THẨM MỸ TRONG NGHỆ THUẬT 62
MỤC TIÊU 62
A K IẾN THỨC 62
B K Ỹ NĂNG 62
N ỘI DUNG 63
3.1 N GHỆ THUẬT LÀ GÌ ? 63
3.2 Đ ỐI TƯỢNG NGHỆ THUẬT VÀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 66
3.2.1 Đối tượng nghệ thuật 66
3.2.2 Hình thức của nghệ thuật 66
4.2.3 Hình tượng nghệ thuật 67
4.2.4 Tư duy hình tượng và tư duy luận lý 67
3.3 N ỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC THẨM MỸ TRONG NGHỆ THUẬT 72
3.3.1 Nội dung của tác phẩm nghệ thuật 72
3.3.2 Hình thức của tác phẩm nghệ thuật 74
3.3.3 Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật 76
3.3.5 Nội dung và hình thức thể hiện trong cá tính, phong cách sáng tạo 78
3.3.6 Nội dung và hình thức được thể hiện ở thủ pháp ước lệ, tượng trưng, khái quát 80
CÂU HỎI BÀI TẬP 81
T ÀI LIỆU THAM KHẢO 81
CHƯƠNG 4 CHỦ THỂ THẨM MỸ TRONG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT 82
MỤC TIÊU 82
4.1 C HỦ THỂ SÁNG TẠO THẨM MỸ 83
4.3 C HỦ THỂ SÁNG TẠO THẨM MỸ VỚI CÁC LĨNH VỰC ĐỀ TÀI 91
4.3.1 Lĩnh vực đề tài tự nhiên 91
4.3.2 Lĩnh vực đề tài tôn giáo 94
4.3.3 Người nghệ sỹ trong việc giữ gìn tính dân tộc trong nghệ thuật 100
CÂU HỎI BÀI TẬP 104
Trang 4T ÀI LIỆU THAM KHẢO 104
CHƯƠNG 5 VAI TRÒ CỦA NGHỆ THUẬT TRONG GIÁO DỤC THẨM MỸ 105
MỤC TIÊU 105
A K IẾN THỨC 105
B K Ỹ NĂNG 105
5.1 N GHỆ THUẬT TRONG VAI TRÒ GIÁO DỤC 106
5.1.1 Nghệ thuật trong giáo dục chức năng nhận thức xã hội 107
5.1.2 Nghệ thuật trong giáo dục chức năng nhận thức thẩm mỹ 111
5.1.3 Nghệ thuật trong giáo dục chức năng giao tiếp 112
5.2 C HỨC NĂNG GIÁO DỤC QUA MỘT SỐ NGHỆ THUẬT CƠ BẢN 115
5.2.1 Chức năng giáo dục của nghệ thuật tạo hình 115
5.2.2 Chức năng giáo dục của nghệ thuật Âm nhạc 118
5.2.3 Chức năng giáo dục của nghệ thuật Múa 124
5.2.4 Chức năng giáo dục của nghệ thuật Kịch 127
5.2.5 Chức năng giáo dục của nghệ thuật văn học 132
5.2.6 Chức năng giáo dục của nghệ thuật Điện ảnh (Nghệ thuật thứ 7) 134
CÂU HỎI BÀI TẬP 142
T ÀI LIỆU THAM KHẢO 143
PHẦN HAI: XÃ HỘI HỌC NGHỆ THUẬT 144
CHƯƠNG 6 TỔNG QUAN VỀ XÃ HỘI HỌC NGHỆ THUẬT 145
A K IẾN THỨC 145
B K Ỹ NĂNG 145
N ỘI DUNG 146
6.1 L ỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC NGHỆ THUẬT 146
6.1.1 K HÁI NIỆM , Đ ỐI TƯỢNG , CHỨC NĂNG CỦA XÃ HỘI HỌC NGHỆ THUẬT 146
6.2 N HỮNG TIỀN RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC NGHỆ THUẬT 156
6.2.1 Tiền đề về kinh tế 156
6.2.2 Tiền đề chính trị - tư tưởng 157
6.2.3 Tiền đề lý luận và phương pháp luận 157
6.3 M ỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP XÃ HỘI HỌC 159
6.4 N HỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CỦA XÃ HỘI HỌC NGHỆ THUẬT 166
6.4.1 Nghệ thuật là một lĩnh vực của đời sống xã hội 166
6.4.2 Mọi hiện tượng nghệ thuật đều có những lý do xã hội riêng của nó 170
6.4.3 Mọi hiện tượng nghệ thuật đều có thể đếm hoặc định lượng được 172
6.4.4 Xã hội có trước nghệ thuật có sau xã hội quyết định nghệ thuật 173
Trang 5CÂU HỎI 182
ANH CHỊ HÃY CHO BIẾT NHỮNG ĐIỀU KIỆN, NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI 182
G IÁO TRÌNH T ÀI LIỆU THAM KHẢO 182
CHƯƠNG 7 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT TRONG XÃ HỘI HỌC NGHỆ THUẬT 183
MỤC TIÊU 183
A KIẾN THỨC 183
B KỸ NĂNG 183
N ỘI DUNG 184
7.1 L Ý THUYẾT CHỨC NĂNG CẤU TRÚC 184
7.2 L Ý THUYẾT HÀNH ĐỘNG XÃ HỘI 193
7.3 L Ý THUYẾT TƯƠNG TÁC BIỂU TRƯNG 199
2.3.1 Nguyên lý sử dụng biểu tượng trong các quan hệ xã hội 201
2.3.2 Biểu tượng trong liên kết xã hội và quốc tế 205
7.4 L Ý THUYẾT TIẾN HÓA XÃ HỘI 208
7.5 M ỘT SỐ QUAN ĐIỂM KHÁC TRONG NGHIÊN CỨU NGHỆ THUẬT 210
7.5.1 Vốn văn hóa 210
7.5.2 Quyền văn hóa 216
CÂU HỎI BÀI TẬP 220
G IÁO TRÌNH T ÀI LIỆU THAM KHẢO 220
CHƯƠNG 8 NGHỆ THUẬT TRONG XÃ HỘI 221
MỤC TIÊU 221
A KIẾN THỨC 221
B KỸ NĂNG 221
8.1 M ÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI 222
8.1.1 Môi trường 222
8.1.2 Xã hội 225
8.2 M ỐI LIỆN HỆ GIỮA XÃ HỘI VÀ TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT 231
8.2.1 Mối liên hệ tính dân tộc trong nghệ thuật 231
8.2.2 Tính đại chúng trong nghệ thuật 235
8.2.3 Tính đẳng cấp và tính giai cấp 239
CÂU HỎI BÀI TẬP 247
GIÁO TRÌNH TÀI LIỆU THAM KHẢO 247
CHƯƠNG 9 PHÂN TÍCH MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHỆ THUẬT VIỆT NAM 248 DƯỚI GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC NGHỆ THUẬT 248
Trang 6MỤC TIÊU 248
A KIẾN THỨC 248
B KỸ NĂNG 248
NỘI DUNG 249
9.1 N GHỆ THUẬT TẠO HÌNH VỚI XÃ HỘI 249
9.2 Â M NHẠC VỚI XÃ HỘI 259
9.3 V ĂN HỌC VỚI XÃ HỘI 264
9.4 S ÂN KHẤU VỚI XÃ HỘI 270
4.5 Đ IỆN ẢNH VỚI XÃ HỘI 281
CÂU HỎI BÀI TẬP 291
G IÁO TRÌNH T ÀI LIỆU THAM KHẢO 291
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
Giáo trình Mỹ học – Xã hội học nghệ thuật, là một giáo trình soạn riêng cho khoa Tạo dáng Công nghiệp trường đại học Mở Hà Nội Nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về bộ môn mỹ học – Xã hội học nghệ thuật cho sinh viên ngành Nội thất, Đồ họa, Thời trang của Khoa Tạo dáng Công nghiệp trường Đại học Mở Hà Nội Giáo trình mỹ học – Xã hội học nghệ thuật được chia làm hai phần Phần 1 Mỹ Học Phần 2 là Xã hội học nghệ thuật Mỗi một phần sẽ cung cấp cho sinh viên một số những kiến thức cơ bản như:
Phần 1 Mỹ học; là bộ môn khoa học nghiên cứu về cái đẹp nói chung
và cái đẹp trong nghệ thuật nói riêng Phần mỹ học nhằm cung cấp những kiến thức về mỹ hco cho sinh viên hiểu được các quan niệm về tư tưởng thẩm
mỹ, cái đẹp nói chung qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, cái đẹp trong nghệ thuật nói nói riêng Immanuel Kant (1724-1804) triết gia người Đức từng nói
“Vẻ đẹp không phải ở má hồng cô thiếu nữ mà trong con mắt kẻ si tình” Từ đẹp đi liền với con mắt, với cái nhìn ở nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau Ngoài ra cái đẹp còn được dùng chung cho tất cả các cảm nhận khác của con người trong cuộc sống, trong xã hội cũng như trong nghệ thuật nói riêng Cái đẹp trong cuộc sống, trong nghệ thuật làm cho con người có nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau như; tự tin, sung sướng, vui mừng, thỏa mãn và hạnh phúc, thậm chí cáu giận… Vì vậy đây là môn học nhằm nghiên cứu, tìm hiểu các quan niệm thẩm mỹ của các thời đại qua tiến trình lịch sử khác nhau Từ
đó sinh viên biết được những quan niệm thẩm mỹ của từng giai đoạn cụ thể
và ứng dụng trong phân tích, đánh giá các nền tảng thẩm mỹ, những giá trị nghệ thuật ở Việt Nam cũng như thế giới
Phần 2 Xã hội học nghệ thuật; là ngành khoa học xã hội và nhân văn
giúp cho chúng ta có những hiểu biết sâu sắc hơn về các lĩnh vực trong đời sống xã hội cũng như nghệ thuật theo góc nhìn xã hội Xã hội học có một lịch
sử nghiên cứu khoảng 200 năm Dù ngắn ngủi nhưng những gì xã hội học
Trang 9đem lại cho khoa học xã hội lớn hơn những gì mà chúng ta biết về môn học này Những chân lý bị thách thức; những tư tưởng, lý thuyết được làm mới; những hiện tượng xã hội được lý giải từ những góc độ khác; kho tri thức của con người trở nên phong phú hơn Nghệ thuật, vốn được xem như một lĩnh vực chuyên biệt, độc lập so với tư duy khoa học thuần túy, giờ đã được khuôn định trong các ngành khoa học cụ thể
Xã hội học nghệ thuật là một chuyên ngành sâu của xã hội học và xã hội học văn hóa Xã hội học nghệ thuật, xã hội học văn hóa là một ngành khoa học còn tương đối mới mẻ so với các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác Bên cạnh đó, thuật ngữ nghệ thuật được hiểu theo nhiều cách khác nhau dẫn đến việc khi nhìn nhận nghệ thuật dưới góc độ xã hội đã có nhiều lúng túng cho không ít sinh viên, thậm chí cả những người giảng dạy có chuyên ngành gần hoặc thậm chí đúng chuyên ngành xã hội học nghệ thuật.Trong bối cảnh đó, đã khiến việc giảng dạy xã hội học nói chung, xã hội học nghệ thuật nói riêng trở thành một nhu cầu cấp thiết ở các trường đại học, đặc biệt là các trường văn hóa nghệ thuật Thống nhất các quan điểm, áp dụng các
lý thuyết và phương pháp xã hội học đối với lĩnh vực nghệ thuật trở thành một nhu cầu khách quan Giáo trình này là hệ quả tất yếu của những đòi hỏi về thực tiễn và lý luận trên Môn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức và
kỹ năng cơ bản liên quan đến xã hội học nghệ thuật như hệ thống các khái niệm, lịch sử, những lý thuyết cơ bản và phương pháp nghiên cứu xã hội học nghệ thuật và việc áp dụng vào những trường hợp nghệ thuật cụ thể ở Việt Nam
Trang 10PHẦN I: Mỹ học
Học phần mỹ học trang bị cho sinh viên những kiến thức tổng quan cơ bản nhất về mỹ học, từ đó sinh viên có thể cảm nhận, phân tích được thế nào
là cái đẹp thế nào là cái xấu, các quan niệm về cái đẹp trong cuộc sống, trong
xã hội cũng như quan niệm về cái đẹp trong nghệ thuật của từng thời kỳ, giai đọan cụ thể, từng quốc gia từng vùng miền…từ đó sinh viên có thể đánh giá, phân tích được một tác phẩm nghệ thuật, thấy được những cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ của mỗi một xã hội, một quốc gia…theo cảm nhận cá nhân một cách tốt hơn Sau đó có thể đánh giá phân tích các tác phẩm của các nhà thiết kế Nội thất, Đồ họa, Thời trang ở trong nước cũng như thế giới Điều đó cũng giúp sinh viên khi đi quan sát thực tế có thể biết được các hình thức phong cách trang trí nội ngoại thất mang phong cách nghệ thuật nào làm nền tảng cho các bài học sáng tác, có cái nhìn phù hợp để ứng dụng vào trong ngành nghề mà mình đã lựa chọn
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA MỸ HỌC
Mục tiêu
a Kiến thức
- Sinh viên hiểu đượcnhững nét cơ bản về đối tượng của mỹ học nghệ thuật
- Nêu được quá trình hình thành các hệ tư tưởng thẩm mỹ trong nghệ thuật
- Hiểu được giá trị, nội dung của các hệ tư tưởng thẩm mỹ trong nghệ thuật
b Kỹ năng
- Sinh viên phân tích được tư tưởng sự khác nhau giữa những giai đoạn thẩm
mỹ trong nghệ thuật
- Vận dụng được những kiến thức, giá trị, nội dung, tư tưởng của các giai
đoạn thẩm mỹ áp dụng vào bài tập cũng như công việc sau này
- Đánh giá được ý nghĩa của các giai đoạn tư tưởng thẩm mỹ để ứng dụng
vào học tập và thực tiễn
Trang 12Nội dung 1.1 Mỹ học là gì?
Mỹ học là bộ môn khoa học có tính lý thuyết về sự nhận thức và thưởng thức về cái đẹp trong thiên nhiên cũng trong xã hội và trong nghệ thuật.Thuật mỹ học Thuật ngữ mỹ học (có người còn gọi là Thẩm mỹ học, esthétique) lần đầu tiên được nhà triết gia người Đức A Baumgarten (1714 - 1762) sử dụng vào năm 1735 Nhưng phải đến năm 1750 và sau đó 1758, khi hai tập Mỹ học của A Baumgarten lần lượt ra đời thì khái niệm này mới được
phổ biến rộng rãi Ông dùng từ "mỹ học" cho lý thuyết về nghệ thuật tự do
hay khoa học về nhận thức cái đẹp Đến thế kỷ 20, từ này được nhiều người hiểu nghĩa rộng hơn như lý thuyết mỹ thuật trong đó bao hàm cả lý thuyết về cái đẹp cụ thể trong tự nhiên và cái đẹp trừu tượng ví dụ vẻ đẹp tinh thần hay trí tuệ nhưng cái đẹp đó phải là đối tượng cho sự nghiên cứu triết học hay khoa học Những người đi đầu trong ngành Mỹ học: phương Tây có Aristotle, Platon, Hegel, Kant, Mỹ học dân chủ Nga Ở Phương Đông: Lão Tử, Khổng
Tử
1.2 Đối tượng nghiên cứu của mỹ học
- Từ khi hình thành khoa học triết học cho đến thế kỷ thứ XVIII, tư tưởng mỹ học vẫn chưa có một đối tượng riêng mà chỉ như một phần của triết học Năm 1750, Baumgácten đã cho xuất bản cuốn mỹ học đầu tiên, ở đó ông xác định môn học này là nghiên cứu việc nhận thức thế giới bằng cảm xúc Chủ thể thẩm mỹ mà mỹ học khảo sát là con người vào thời khắc mà con người, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm mỹ Vì thế, mỹ học khái quát những vấn đề cơ bản về chủ thể thẩm mỹ, tức là ý thức thẩm mỹ, với các yếu
tố như; tình cảm thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ Nghệ thuật là một lĩnh vực tinh thần Nghệ thuật chiếm một phần quan trọng nhất trong đối tượng nghiên cứu của mỹ học, nó được xem xét ở hai phương diện căn bản:
Trang 13- Bản chất xã hội của nghệ thuật như là biểu hiện các khía cạnh chung nhất của hoạt động thẩm mỹ
- Đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật là phương thức, phương tiện phản ánh
- Như vậy, mặc dù có thể có những phương diễn đạt khác nhau về mỹ học, nhưng vẫn có nét cơ bản giống nhau đó là mỹ học như là một khoa học triết học, nghiên cứu quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực, trong đó
có cái đẹp là trung tâm, nghệ thuật là đỉnh cao của quan hệ ấy Mỹ học còn có quan hệ với các khoa học khác như văn hoá học, tâm lý học, chính trị học, xã hội học, giáo dục học, tôn giáo học…các quan hệ này dựa trên cơ sở chung là cùng nghiên cứu một đối tượng căn bản: đó chính là con người
- Quan hệ giữa mỹ học với triết học
Nếu so sánh mối quan hệ giữa triết học là khoa học phương pháp luận của mỹ học Tính chất phương pháp luận của triết học ảnh hưởng tới mỹ học triển ba phương diện chủ yếu: Bản thể luận, nhận thức luận, và lịch sử
a) Về bản thể luận
Nhờ cơ sở triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mỹ học, coi các qui luật cơ bản và phổ biến của đời sống thẩm mỹ không phải là các qui luật trừu tượng, chỉ có trong tư duy, mà các qui luật có tính bản thể Ngay thực thể
“Người” là một thực thể phức tạp nhất thì như Mác nói: “Cơ chất của con
người là cơ chất ứng với nhiệm vụ sáng tạo cái đẹp Đôi tai con người phải cấu tạo như cái bình chứa âm thanh để tiếp nhận âm nhạc, Đôi mắt con người được cấu tạo như một cái máy ảnh kỳ diệu có thể điều hòa ánh sáng, phân biệt mầu sắc của các tác phẩm hội họa Đó là những giác quan có thể cảm thấy những sự thưởng thức của con người và khẳng định mình như là sức mạnh bản chất của con người [1]
b) Về mặt nhận thức luận
Mỹ học dựa vào phán ánh luận của Lênin khẳng định: Ý thức thẩm mỹ chỉ là sự phản ánh các hiện tượng, các qui luật thẩm mỹ, ý thức thẩm mỹ là
Trang 14“hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Thông qua cảm xúc thẩm mỹ, biểu tượng thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, Lý tưởng thẩm mỹ, quan điểm thẩm
mỹ, thông qua nghệ thuật, con người có thể nhận thức được thế giới bằng con đường nhận thức thẩm mỹ
c) Về mặt lịch sử
Mỹ học dựa vào lịch sử Bởi vì, nếu không dựa vào các quan điểm lịch
sử không thể nào thấu hiểu các qui luật phát minh, hình thành và phát triển của mỹ học, sẽ không thể lập được các tiêu chí đánh giá tích cực có tính lạc hậu của trào lưu mỹ học Không có phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mỹ học sẽ không thể giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chân thiện
mỹ Bởi lẽ cái đẹp bao giờ cũng bắt nguồn từ cái đúng, cái tốt nên cái đẹp bao giờ cũng có tác dụng định hướng lịch sử con người
- Mối liên hệ của mỹ học với đạo đức
Một trong những hệ tiêu trí để đánh giá cái đẹp là chân- thiện- mỹ Mỹ học chỉ có quan hệ với khoa học (chân lý) mà còn quan hệ chặt chẽ với đạo đức, (cái thiện) Gorơki đã dự báo “Mỹ học là đạo đức của ngày mai” Như vậy trong tương lai cuộc sống con người càng hoàn thiện thì đạo đức cao nhất
sẽ là “sống đẹp” về mọi ứng sử, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, nghĩa vụ…
- Mối liên hệ của mỹ học và tâm lý học
Mỹ học nghiên cứu cái đẹp - tâm lý học như; các cảm giác, biểu tượng, thị hiếu, tình cảm, lý tưởng, đều gắn với buồn, giận, thích, chán, hào hứng, phấn khởi, thế có nghĩa nó trở thành giới tinh thần – tình cảm bên trong, có sức sống sinh động mãnh liệt, như thế nó đã đưa tâm lý học vào lĩnh vực tâm
lý thẩm mỹ
- Mối liên hệ của mỹ học với nghệ thuật học
Tính phương pháp luận của mỹ học với nghệ thuật Ví dụ như phương pháp sáng tác, điển hình hóa nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật…là nhờ mỹ học giải quyết vấn đề: như thế nào là phương pháp sáng tác, thế nào là hình tượng nghệ thuật… qua đó chỉ ra những qui luật đặc trưng, những phương
Trang 15pháp, phương tiện xây dựng hình tượng nghệ thuật riêng cho mỗi loại hình nghệ thuật như; Hội họa, âm nhạc, kiến trúc, điện ảnh, thiết kế mỹ thuật công nghiệp qui luật phát triển của mỗi lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, phát hiện những qui luật đó trong quá trình lịch sử nghệ thuật cụ thể Ví dụ, tính qui luật chung và đặc thù của từng loại hình nghệ thuật, sự giống nhau và khác nhau giữa, hội họa, kiến trúc, tạo dáng công nghiệp (thiết kế thời trang, đồ họa, nội thất) Chính vì vậy mỹ học có mối quan hệ mật thiết với nghệ thuật học, để nghiên cứu, những qui luật chung của mọi loại hình nghệ thuật Và cũng chính
mỹ học nghiên cứu nguồn gốc, bản chất đặc trưng và chức năng của nghệ thuật chỉ ra vai trò của nghệ thuật trong đời sống xã hội; mối tương quan giữa nội dung và hình thức; giữa phương pháp và bút pháp diễn đạt của mỗi cá nhân; giữa tính giai cấp – dân tộc – nhân dân – nhân loại của nghệ thuật
1.3 Quá trình hình thành các hệ thống tư tưởng thẩm mỹ
Lịch sử ra đời của mỹ học là, lịch sử của các quan niệm thẩm mỹ khác nhau về cái đẹp Trong mỹ học có hai trường phái, duy vật và mỹ học duy tâm, ở mỗi thời kỳ khác nhau, của lịch sử văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội
mà các quan điểm thẩm mỹ có cách nhình nhận khác nhau về cái đẹp đó là một quá trình tất yếu của xã hội Vì vậy, khi tìm hiểu về đối tượng của mỹ học, không thể không tìm hiểu những tư tưởng triết học của những thế kỉ trước, lúc mà mỹ học chỉ được coi như một bộ phận cấu thành của triết học
Có thể đề cập đến tư tưởng mỹ học của các triết gia và các trường phái duy tâm và duy vật về mỹ học qua những giai đoạn lịch sử khác nhau Các học thuyết mỹ học trong quá khứ thường tập trung sự tìm tòi vào hai lĩnh vực
chính: cái đẹp và nghệ thuật Có thể thấy rõ điều đó trong tư tưởng mỹ học
của những đại diện lớn nhất cho các giai đoạn phát triển của mỹ học nhân loại như: Platon (427 - 347 TCN), Aristote (384 - 322 TCN), Leonardo da Vinci (1452 - 1519), Diderot (1713 - 1784), Lessing (1729 - 1781), Kant (1724 - 1804), Hegel (1770 - 1831), Bielinxki (1811 - 1848), Tsecnưsepxki (1828 - 1889), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831),Marx – Lenin…
Trang 16- Platon là nhà triết học, nhà mỹ học duy tâm nổi tiếng của Hy lạp cổ
đại Cũng như nhiều nhà mỹ học khác, quan niệm thẩm mỹ của ông gắn bó và chịu sự chi phối của quan niệm triết học Hạt nhân của triết học Platon là
thuyết ý niệm (tức tinh thần, linh hồn) Ông chia thực tại ra làm hai thế giới: thế giới ý niệm, cái ta có thể biết nên gọi là thế giới khả niệm; thế giới
vật thể, cái ta có thể thấy nên gọi là thế giới khả thị Trong đó, theo ông, chỉ
có thế giới ý niệm mới “tồn tại chân thực, nó có trước và sản sinh ra các vật
thể cả tính” Từ quan niệm triết học đó, khi đi vào mỹ học, ông cho rằng mặc
dù có cái đẹp vật chất và cái đẹp tinh thần, nhưng chỉ có cái đẹp tinh thần,
cái đẹp của ý niệm mới là cái đẹp vĩnh hằng, tuyệt đối Ông viết: “Cái đẹp là
tự nó” Khi có ý định giải thích cái đẹp của nghệ thuật, ông chủ trương
thuyết “bắt chước” Ông không khước từ việc tái hiện thực tại của nghệ
thuật, nhưng vì thế giới vật thể cảm tính chỉ là cái bóng của ý niệm, nên với
Platon chủ trương: “Nghệ thuật chỉ là cái bóng của cái bóng” Nghệ thuật
cách xa chân lý tới ba bậc nên nó là “ảo ảnh”, không có giá trị nhận thức
- Aristote là học trò xuất sắc của Platon, nhưng về mặt tư tưởng, cơ bản
ông đi ngược lại quan niệm của thầy mình Các công trình của ông bao trùm lên nhiều lĩnh vực khác nhau, và ở lĩnh vực nào ông cũng vươn tới những
đỉnh cao mà thời đại cho phép K Marx gọi ông là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất
thời cổ đại” Về mặt triết học, Aristote chống lại cách phân chia thực tại
thành hai thế giới đối lập, siêu hình, mà cho rằng chỉ có duy nhất một thế giới
vật thể tồn tại, trong đó có sự thống nhất giữa vật chất (nghĩa là bản chất bên
trong) với hình thức (nghĩa là hiện tượng bên ngoài) Trên cơ sở nhận thức
như vậy về thế giới, ông thừa nhận đặc tính khách quan của cái đẹp Trong
công trình nổi tiếng Siêu hình học, ông nói đẹp là trật tự của sự hài hòa, cân xứng Trong Thi pháp học, ông đã bổ sung thêm tính xác định, hữu hạn và thống nhất Cũng như Platon, ông theo thuyết “bắt chước” (nghĩa là tái hiện)
vật thể cảm tính (thế giới hiện thực) trước hết là cái đẹp của thực tại, trung tâm là vẻ đẹp của con người Mỹ học của ông thấm nhuần ý nghĩa nhân bản
Trang 17cao cả bên cạnh tính duy vật sâu sắc Ông yêu cầu nghệ sỹ phải “diễn tả cái
có thể xảy ra” theo bản chất và quy luật tất yếu Cao hơn, ông còn trao cho
nghệ sỹ cái quyền “bổ sung vào cái không có trong tự nhiên” Tính lý tưởng
được khẳng định cùng với tính hiện thực Ông đặc biệt đề cao ý nghĩa nhận
thức và ý nghĩa giáo dục của nghệ thuật Lý thuyêt về khả năng “thanh lọc
hóa” tâm hồn người xem của bi kịch được ông phát hiện cho đến nay vẫn còn
nguyên giá trị
Qua thời trung đại, nhân loại bước sang thời Phục hưng, thời đại đã
sản sinh ra những “người khổng lồ” về tư tưởng, trong đó có tên tuổi
của Leonardo da Vinci danh họa người Italia Theo ông, cái đẹp tồn tại trong
những thuộc tính của chính bản thân sự vật, hiện tượng, trong sự kết hợp hài hòa giữa các bộ phận, nhất là màu sắc và âm thanh của chúng Trong
cuốn Bàn về hội họa, ông khẳng định: “Chúng ta học tập tự nhiên chứ không
học tập các họa sỹ khác, những người mà bản thân họ cũng chỉ là con đẻ của
tự nhiên mà thôi” Ông rõ ràng đã kế thừa những tinh hoa tư tưởng của các
bậc tiền bối Ông phát triển khả năng chiếm lĩnh cái đẹp ở người nghệ sỹ bằng việc vận dụng các phương tiện khoa học Ông đặt nghệ thật, trươc hết là hội họa, ngang hàng với khoa học về ý nghĩa và phương thức phản ánh thực tại là
vì thế
- Diderot là đại diện xuất sắc cho thời Khai sáng khi nhiều vấn đề mỹ học
được nghiên cứu một cách sâu sắc Ông là nhà triết học, nhà văn, nhà lý luận
nghệ thuật lừng danh người Pháp Trong công trình Nghiên cứu triết học về
nguồn gốc và bản chất của cái đẹp, ông trước sau luôn khẳng định cái đẹp vốn là thuộc tính của nhiều đồ vật, sự vật khách quan Diderot hiểu nghệ
thuật như là sự mô phỏng tự nhiên Ông viết: “Thiên nhiên là mô hình đầu
tiên của nghệ thuật” Ông yêu cầu nghệ thuật phải là phương tiện hữu hiệu để
giáo dục con người: “Giới thiệu cái đạo đức cho người ta noi theo, cái tật xấu
cho người ta lên án, cái lố bịch cho người ta thấy rõ – đó là nhiệm vụ của bất
cứ một người chân chính nào cầm bút viết, cầm bút vẽ, cầm dao khắc” Ý
Trang 18nghĩa cao quý của nghệ thuật đối với con người và cuộc sống có được một phần vì lẽ đó
Người đại diện chói lọi hơn cả cho phong trào Khai sáng ở Đức
là Lessing Đó là một người có học vấn toàn diện Ông là tác giả của những công trình nghiên cứu mỹ học có tiếng như; “Lao Coon”, “Kịch trường Hăm
buốc” Dựa trên quan điểm duy vật về triết học, ông chủ trương nghệ thuật mô
phỏng toàn bộ tự nhiên có thể thấy trong đó cái đẹp chỉ là một bộ phận nhỏ
Sự chân thực, biểu cảm được ông coi là những quy luật chủ yếu của nghệ thuật chân chính Theo ý kiến của ông, nghệ thuật cần phải đánh giá cuộc sống theo những quan điểm về cái đẹp và cái xấu, nhằm tác động đến đạo đức, uốn nắn những sai lạc của tầng lớp bình dân Ông rất chú ý đến sự lệ thuộc của các loại hình nghệ thuật vào tính chất của đối tượng phản ánh Hội họa và điêu khắc, theo Lessing, thích hợp mô tả với những vật thể được xếp đặt trong không gian, trong khi văn chương lại thích hợp với việc phản ánh những hành động xẩy ra trong thời gian Ông đồng thời chủ trương sự pha trộn tính bi, hài trong kịch, không nhất thiết phải đảm bảo sự thuần nhất về thể loại trong nghệ thuật kịch
Kant nhà triết học cổ điển Đức Với ông, cái đẹp có những phẩm chất riêng, không liên hệ qua lại với cái có ích và cái thiện Khoái cảm do cái đẹp mang lại là hoàn toàn vô tư, vô tâm Tư tưởng đúng đắn về nguyên tắc đó được Kant tuyệt đối hóa và bọc trong cái vỏ duy tâm chủ nghĩa Ông quan niệm cái đẹp có tính thiên bẩm Ông đặt trọng tâm nghiên cứu không phải ở bản thân cái đẹp của sự vật và hiện tượng mà là những điều kiện cảm thụ
chúng trong quan niệm về cái đẹp của con người Ông cả quyết viết: “Chúng
ta có thể coi cái đẹp của tự nhiên là sự mô tả khái niệm hợp lý về mặt hình thức (thuần túy chủ quan)” Tính hợp lý ông nói tới ở đây là hoàn toàn được
suy xét trên cơ sở thị hiếu Theo Kant, nghệ thuật là sự tạo dựng cái đẹp nhờ ở một trò chơi thuần túy hình thức Không thể học để sáng tạo nghệ thuật được,
vì nói đến nghệ thuât là nói đến thiên tài, mà thiên tài thì là lĩnh vực hoàn toàn
Trang 19huyền bí, tiên nghiệm Đã rõ là học thuyết này của Kant đầy mâu thuẫn Bên cạnh cái đúng có không ít cái sai, cái lầm lạc Điều này cũng giống như di sản
mỹ học của một tên tuổi vĩ đại khác: Hegel một trong những đại diện lớn nhất cho nền mỹ học cổ điển Đức
Quan niệm mỹ học của Hegel tập trung trong cuốn Những bài giảng về
mỹ học (1835) Ông quan niệm mỹ học chỉ nghiên cứu cái đẹp trong nghệ thuật mà thôi và chúng ta lập tức loại trừ cái đẹp của tự nhiên ra khỏi đối tượng của chúng ta Vì sao vậy? Ông giải thích: vì không có tiêu chuẩn gì
thống nhất được cái đẹp của tự nhiên vốn tồn tại một cách bàng quan, không
có quy luật nào cả Vậy là với Hegel, cái đẹp nghệ thuật ưu việt hơn nhiều so với cái đẹp tự nhiên Đặc trưng chủ yếu của cái đẹp nghệ thuật, theo ông, là
sự thống nhất giữa khái niệm và hiện thực của nó mà ông gọi là tinh
thần và ngoại hiện Ông không dùng thuật ngữ nội dung và hình thức bởi ông
quan niệm trong thực tế, hai phạm trù cơ bản đó chuyển hóa qua lại rất tinh tế
Có được sự thống nhất như thế, cái đẹp nghệ thuật sẽ đạt tới tính tất yếu tự do Tuy nhiên, tính tất yếu phải ẩn dưới hình thức một điều ngẫu nhiên không có chủ ý Đóng góp vô giá của mỹ học duy lý Hegel là hết mực đề cao giá trị
nhận thức của nghệ thuật Ông viết: “Nghệ thuật thật sự trở thành vị thầy cao
nhất của các dân tộc” Có thể nói, với Hegel, lần đầu tiên mỹ học được xác
lập thành một khoa học thật sự [2]
Đối với các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga, lý luận mỹ học đã trở thành vũ khí đấu tranh chính trị hữu hiệu, gắn bó mật thiết với phong trào giải phóng con người Người đặt nền móng cho mỹ học dân chủ cách mạng
Nga là nhà phê bình văn chương lỗi lạc Bielinxki Ông đứng trên lập trường
duy vật để giải quyết những vấn đề của nghệ thuật Ông định nghĩa nghệ
thuật “là sự tái hiện thực tiễn” Để chống lại mọi khuynh hướng tách rời nghệ
thuật ra khỏi đời sống, ông nhấn mạnh sự tương đồng về đối tượng phản ánh của nghệ thuật và khoa học Sự khác biệt giữa hai lĩnh vực này chỉ là ở phương thưc phản ánh thế giới hiện thực, trong đó bằng tư duy hình tượng,
Trang 20nhà thơ mô tả thế giới qua những bức tranh, còn nhà khoa học thì trình bày
thế giới qua những khái niệm bằng tư duy lôgic Nghệ thuật với ông không
chỉ là sự tái hiện sáng tạo hiện thực mà còn biểu hiện mối quan hệ giữa người nghệ sỹ với hiện thực Do đó, tác phẩm nghệ thuật có thể và cần phải tác động
tới sự phát triển của xã hội “Tước bỏ quyền phục vụ lợi ích xã hội - Ông viết - là không nâng cao mà hạ thấp nghệ thuật” Trên những cơ sở trên,
Bielinxki cổ vũ cho một nền nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa có tính tư tưởng cao và tính nhân dân sâu sắc Học thuyết về tính nhân dân của nghệ thuật, về mối liên hệ mật thiết giữa nghệ thuật và hiện thực là những cống hiến xuất sắc của nhà phê bình vào di sản mỹ học của nhân loại
- Tsenưsepxki là đại diện lớn nhất của nền mỹ học duy vật trước chủ
nghĩa Marx Trong luận văn nhan đề Những mối quan hệ thẩm mỹ của con
người với thực tại, ông đã đặt vấn đề về bản chất của cái đẹp Tranh luận
mạnh mẽ với Hegel, ông khẳng định dứt khóat: “Cái đẹp là cuộc sống” Vì
nghệ thuật phản ánh thưc tại, nên cái đẹp trong thực tại, theo ông, cao hơn cái đẹp trong nghệ thuật Về sau, để làm chính xác thêm tư tưởng này,
Tsenưsepxki bổ sung: “Cái đẹp là… cuộc sống phù hợp với biểu tượng của
chúng ta về cái đẹp” Ông coi nghệ thuật là đối tượng chủ yếu của mỹ học
Khi bàn về nghệ thuật, ông phát triển tư tưởng của Bielinxki về chủ nghĩa
hiện thực và tính nhân dân của nghệ thuật Ông tuyên bố: “Nghệ thuật là cuốn
sách giáo khoa của cuộc sống” Ông còn yêu cầu nghệ thuật chân chính cần
vạch mặt cái ác, sự chuyên quyền bạo lực, đồng thời chỉ cho nhân dân con đường đi tới cuộc sống tốt đẹp hơn Không phải ngẫu nhiên khi Marx đã coi
ông là nhà bác học và nhà phê bình vĩ đại của nước Nga
Mỹ học Mác – Lênin khẳng định sự ra đời của các quan hệ thẩm mỹ, của
nghệ thuật đều gắn liền với quá trình lao động và hoạt động thực tiễn Đây là
quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử của triết học Mác – Lênin khi phân tích đời sống xã hội để khẳng định vai trò của sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại, vận động và phát triển của xã hội; bao gồm tất cả các lĩnh vực của tinh
Trang 21thần.Trong đó có ý thức thẩm mỹ C Mác viết: “Phương thức sản xuất đời
sống vật chất của xã hội quyết định các qúa trình sinh hoạt xã hội, chính trị tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ qui định ý thức của họ”[2]
Mỹ học Phương tây cũng xuất phát từ thế giới quan và phương pháp luận của các trào lưu triết học tư sản Chủ yếu vẫn là khynh hướng triết học nhân bản để hình thành những quan điểm mỹ học nhân bản chủ nghĩa Đó là
sinh của Søren Kierkegaard Kiếckêga, Jean-Paul Richter Giăng Pôn Sác [3]
Mặc dù có sự khác nhau và mặt thế giới quan và phương pháp luận giữa Mỹ học Mác – Lênin và mỹ học tư sản khi nghiên cứu nguồn gốc, bản chất và các qui luật của quan hệ thẩm mỹ Song, mỹ học hiện đại đều khẳng định mỹ học nghiên cứu toàn bộ các quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực, bao gồm cả nghệ thuật với tư cách là hình thái cao nhất của các mối quan hệ thẩm mỹ
1.4 Những quan niệm về cái đẹp qua từng giai đoạn
1.4.1 Quan niệm cái đẹp trong đời sống thời Nguyên thuỷ
Nghệ thuật thời Nguyên Thuỷ khá phát triển vào thời kỳ đồ đá mới, hay gọi là thời kỳ “tuần lộc” Thời kỳ này đã xuất hiện nghệ thuật vẽ và tạc tượng động vật ở vùng Trung Âu Người ta tìm thấy nhiều hình vật, hình người khắc trên mảnh đá hoặc xương thú cùng với những tượng nhỏ bằng đá…Do đời sống của người nguyên thủy, gắn liền với hệ tư tưởng mẫu hệ và săn bắn, hái lượm Vì vậy cái đẹp của thời kỳ này là hình tượng của những người phụ nữ
có thân hình nở nang, thường được diễn đạt, nhấn mạnh các chức năng sinh sản như ngực và bộ phận sinh dục ví dụ tượng Vệ nữ Willendorf ở Áo Vệ nữ
ở Hohle Fels ở Đức Vệ nữ Lespugue ở Pháp Các bức tượng này được ước tính là ra đời vào khoảng thời gian giữa 21.000 và 20.000 năm TCN
Trang 22Ngoài ra trong đời sống thẩm mỹ của người nguyên thủy họ còn vẽ rất
nhiều hình con vật trên các hang động lớn như; Hang Altamira, Font de
Gaume, Conbarene, Lascaux, Niaux và Truefrene (Pháp) Tại các hang này,
nghệ thuật đã đạt đến trình độ cao Nghệ thuật giai đoạn này thường được giải thích, nhằm trang trí nơi ở, phục vụ công việc thờ cúng, truyền bá kinh
nghiệm săn bắn Hang Altamira ở Tây Ban Nha có những bức bích hoạ lớn
diễn tả những đàn bò rừng (Bizon), sư tử, ngựa ở nhiều tư thế động Hang
Font de Gaume ở Pháp họ vẽ những cặp sừng hươu cong vút
Hang Lascaux (Pháp) được gọi là “ngôi nhà thờ Sixtine thời Nguyên
Thuỷ”, họ vẽ những con vật với lối tô màu độc đáo (đỏ, đen xám, vàng đất)
Ở Việt Nam có bức chạm khắc Ba mặt người ở hang Đồng Nội (Hoà Bình) Nghệ thuật Nguyên thuỷ đã chứng minh khả năng quan sát và trình độ thẩm
mỹ sơ khai bằng những dấu hiệu ước lệ, tượng trưng, ẩn dụ rất cao
Trang 23
1.4.2 Cái đẹp trong đời sống thời Hy Lạp - La Mã Cổ đại
Những phạm trù mỹ học xuất hiện đầu tiên và chủ yếu tại Hy Lạp – La
Mã cổ đại Người Hy Lạp cổ đại hình thành tư tưởng mỹ học từ việc cảm thụ
vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, từ việc phản ánh đời sống nghệ thuật của cộng đồng Những hiện tượng đẹp đẽ, kỳ vĩ của thiên nhiên; vẻ đẹp của con người cùng các tác phẩm nghệ thuật, hoàn mỹ như Iliát và Odissey (Homer) các công trình kiến trúc nổi tiếng như đền thờ thần Artemis, đền Athena, đền Parthenon; các tác phẩm điêu khắc mẫu mực như tượng Athena, tượng thần Zeus, tượng Appollo…Tượng thần Zeus ở Olympia (thường gọi là thần Dớt) Bức tượng do nhà điêu khắc cổ đại nổi tiếng là Phidias tiến hành (thế kỷ thứ 5TCN) khoảng năm 435 TCN tại Olympia, Hy Lạp Tượng, cao
12 mét (40 feet), được làm từ ngà voi (về mặt kỹ thuật, ngà voi được ngâm trong chất lỏng để làm mềm, và vì thế có thể chạm cũng như tạo hình theo nhu cầu) sau đó được phủ bằng các miếng vàng (vì thế gọi là ngà dát vàng) tượng được đặt ngồi trên một ngai gỗ tuyết tùng khảm ngà, vàng, và các loại
đá quý rất lộng lẫy có chạm khắc những trận đấu điền kinh ở Olympia
Hang Lascaux ở (Pháp)
https://alistaircoombs.com/the-lascaux
Ba mặt người ở hang Đồng Nội (Việt Nam) https://trithucvn.org/nhung-buc-tranh-hang- dong-co-xua-nhat-cua-nguoi-viet.html
Trang 24vị vua trong các vị thần
Chân thần đi dép vàng đặt trên một chiếc bàn trang trí những con sư tử vàng, đặt lên một ghế lớn Nửa trên của tượng được dát bằng ngà voi, vàng nhạt ngả về màu hồng phơn phớt, tạo cho thần Zeus một sức sống mãnh liệt Nửa thân dưới của tượng phủ một "tấm vải" bằng vàng dát mỏng, có chạm trổ dưới thân áo những con vật, thân áo là những ngôi sao và những đoá hoa xinh xắn Bức tượng sống động đến nỗi Nhà địa lý Strabo đã viết rằng thế kỷ thứ nhất TCN, phải thốt lên "Dường như thần Zeus đang định đứng lên", "thần sẽ lật tung mái đền.", các bức tượng này đã buộc các nhà tư tưởng thời bấy giờ
Trang 25phải lưu tâm nghiên cứu, đánh giá, nhận xét về chúng Cũng từ đó, quan niệm
về cái đẹp ra đời [4]
vật, từ đó khẳng định cái đẹp là do sự hài hòa giữa các con số hay nói cách khác “cái đẹp là sự hài hòa trong quan hệ số lượng” Họ chứng minh bằng hiện tượng chất lượng âm thanh phụ thuộc vào chiều dài dây đàn và tìm ra quan hệ số lượng trong âm nhạc như quãng tám: 1:2; quãng năm: 2:3; quãng bốn: 3:4 Trong âm nhạc quãng tám có thể được hiểu như sau; một quãng tám hay bát độ (tiếng Anh: octave, tiếng Latinh: octavus) là một quãng
âm hay khoảng cách về thời gian giữa một nốt nhạc (hoặc cao độ âm thanh) với một nốt khác có tần số gấp nửa hoặc gấp đôi nó Đối với người nghe nhạc, hai âm cao cách nhau một quãng tám sẽ có một sự giống nhau nhiều hơn là so với các âm cao khác Quãng tám được xem là một hiện tượng tự nhiên và được biết đến như là "sự kì diệu cơ bản của âm nhạc" Việc sử dụng quãng tám là "thông dụng trong phần lớn các hệ thống âm nhạc
Những thang âm (âm giai - scale) quan trọng trong âm nhạc được hình thành bằng cách sử dụng tám nốt nhạc, và khoảng cách giữa nốt đầu tiên và nốt cuối là một quãng tám Ví dụ, thang âm Đô Trưởng (C Major scale) là một chuỗi 8 nốt C-D-E-F-G-A-B-C, trong đó C đầu và C cuối hình thành một quãng tám Quãng tám thường được xem như là một tần âm (diapason)
Trong quy định về ký hiệu cho các quãng đúng (perfect interval) thì quãng tám được viết là P8 Đối với một nốt nhạc, quãng tám nằm trên hoặc dưới nốt đó đôi khi được gọi tắt lần lượt là 8va (tiếng Ý: all'ottava)
và 8vb (tiếng Ý: all'ottava bassa) Tương tự, quãng đồng âm, quãng bốn đúng, quãng năm đúng được viết tắt là PU (hay P1), P4 và P5 [5] Như vậy, không thể có cái đẹp nếu không có hòa điệu và hòa điệu là sự thống nhất của cái đa dạng, sự hòa hợp của những gì mâu thuẫn
Trang 26Quãng tám trong nốt nhạc
Heracles (530 – 470 TCN) nhà thơ và triết gia vĩ đại theo xu hướng duy vật, xem xét sự vật theo quan điểm biện chứng sơ khai Ông cho rằng, lửa là khởi nguyên của vũ trụ, thế giới tồn tại là do ngọn lửa vận động vĩnh cửu Heracles biện giải hài hòa là sự thống nhất giữa những mâu thuẫn và nó đạt được thông qua con đường đấu tranh giữa chúng, như độ tương phản giữa các màu sắc, các âm thanh cao thấp, dài ngắn…Heracles phát hiện tính chất tương đối của vẻ đẹp khi ông nhận định, con khỉ đẹp nhất cũng xấu nếu đem so sánh với con người Như vậy, Heracles được coi là một trong những đại biểu sớm nhất giải thích các khái niệm thẩm mỹ theo xu hướng duy vật và có tính chất biện chứng sơ khai [6]
Democrats (460 – 370 TCN) là nhà sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật nguyên tử luận Ông xuất phát từ chỗ cho rằng cái đẹp có cơ sở khách quan từ trong thế giới vật chất Bản chất cái đẹp, theo ông nằm trong sự đối xứng, trong hòa điệu giữa các bộ phận với nhau; sự trung bình, vừa phải, không thừa, không thiếu, còn “nếu vượt quá mức độ, cái dễ chịu nhất cũng trở thành cái khó chịu”
Socrates (469 – 399 TCN), cái gì đầy danh dự, cái gì hợp đạo đức và cái đẹp đều thống nhất với nhau Ông xem xét cái đẹp ở các góc độ hoạt động thực tiễn, hành vi, phẩm hạnh và khẳng định sự vật nào cũng có thể là đẹp và cũng có thể không đẹp trong những tình huống khác nhau Như vậy, Socrates
Trang 27đã nhấn mạnh sự liên hệ hữu cơ giữa cái đạo đức và cái thẩm mỹ, cái thiện và cái đẹp Con người lý tưởng đối với Socrates là vẻ đẹp tinh thần lẫn thể chất, trong đó con người tinh thần, theo cách hiểu của ông là con người đạo đức, con người trí tuệ Đóng góp lớn của Socrates là chỉ ra sự liên hệ vững bền giữa cái đẹp với cái có ích, cái có mục đích có thật với cái tốt [6]
Platon (427 – 347 TCN) là học trò của Socrates, sống trong giai đoạn nặng nề của lịch sử Hy Lạp, đó là giai đoạn sụp đổ của nền dân chủ Athens, khi ấy Platon đứng về phía giới chủ nô quý tộc, chống lại chủ nô dân chủ Ông cho rằng, các vật thụ cảm thay đổi, thoáng qua, nó xuất hiện rồi tiêu biến,
vì thế nó không phải là tồn tại đích thực Tồn tại đích thực, chân chính chỉ lấy niệm, một lực lượng tinh thần tồn tại bên ngoài con người, có trước con người Platon không tìm cái đẹp trong các sự vật cảm thụ đơn nhất, trong quan hệ giữa chúng đối với hoạt động của con người mà tìm cái gì là đẹp đối với tất cả, đẹp vĩnh hằng và ông cho rằng chỉ có ý niệm, nguyên mẫu của các
đồ vật, làm các đồ vật trở nên đẹp là tuyệt đối đẹp mà thôi Cái đẹp thuộc vương quốc của những ý niệm siêu trần thế và chỉ có trí tuệ mới nhận thức nổi vương quốc này [7]
Đại biểu lớn nhất trong số các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại là Aristote (384 – 322 TCN), người phê phán kịch liệt Platon Ông giao động giữa 2 dòng duy tâm và duy vật, nhưng do không nghi ngờ gì về tính hiện thực của thế giới xung quanh nên những tư tưởng mỹ học của ông mang xu hướng duy vật Aristote thừa nhận các tiêu chí cơ bản của vẻ đẹp mà những người đi trước đã đưa ra như tính quy mô có trật tự, hài hòa Dấu hiệu tối quan trọng của cái đẹp mà Aristote nhấn mạnh là sự chỉnh thể: phải có đầu, có giữa, có cuối, phải liên kết giữa các bộ phận trong chỉnh thể một cách hữu cơ Arixtốt không thừa nhận sự đồng nhất cái đẹp với cái có ích; cái có ích chỉ ở hành vi, hành động, trong khi đó cái đẹp có cả trong sự tĩnh tại… [8]
Thời kỳ La Mã cổ đại, những quan niệm về cái đẹp mà mỹ học Hy Lạp
cổ đại đều được kế thừa và phát triển Chủ nghĩa Platon mới mà đại diện là
Trang 28Polotinos (204 – 270) cho rằng những vật nào đó đẹp là nhờ kinh qua sự nối liền với ý niệm, linh hồn càng thoát khỏi phần thể chất được nhiều bao nhiêu thì càng đẹp bấy nhiêu Những cơ thể đẹp chỉ là cái bóng, những hồi quang của cái đẹp nhất…Quan niệm về cái đẹp trong mỹ học phương Tây cổ đại mà điển hình là mỹ học Hy Lạp – La Mã cổ đại đã đặt nền móng cho sự phát triển của mỹ học sau này
1.4.3 Cái đẹp trong đời sống thời Trung Cổ phương-Phục Hưng ở phương Tây
- Cái đẹp trong đời sống thẩm mỹ thời Trung Cổ
Đặc trưng đời sống xã hội Tây Âu thời kỳ này là sự tan rã của chế độ
chiếm hữu nô lệ và ra đời chế độ phong kiến Những biến đổi diễn ra trong sự phân hóa giai cấp cũng trở nên sâu sắc Trong xã hội do nền kinh tế tự nhiên,
tự túc tự cấp thống trị, sản phẩm làm ra chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu của công
xã và thái ấp của bọn địa chủ Thái ấp là một thế giới đóng kín Người nông dân không chỉ bị lệ thuộc về mặt ruộng đất vào địa chủ mà còn cả về mặt cá nhân, thân thể, không có quyền về chính trị Sự lệ thuộc đó được C Mác gọi
là sự cưỡng bức phi kinh tế
Lênin nhận xét Xã hội trung cổ là xã hội mà việc điều hành nền kinh tế nằm trong tay những người tiểu nông, những người khốn cùng, bị lệ thuộc nhục nhã về mặt cá nhân và tối tăm về mặt trí tuệ Ăngghen đánh giá trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, thời kỳ ra đời mối quan hệ giữa bọn địa chủ và những người nông dân phụ thuộc vào chúng là thời kỳ khởi đầu của sự phát triển mới Về mặt tinh thần, thời kỳ trung cổ Tây Âu cũng là thời kỳ thống trị của tôn giáo và nhà thờ Nhà thờ nắm trong tay quyền lực chính trị, luật pháp Do đó, khoa học và triết học đã không tìm được cho mình một con đường độc lập Vì vậy, tín điều nhà thờ là điểm xuất phát của mọi tư duy, và thế giới quan thời trung cổ chủ yếu là thế giới quan thần học bao trùm lên triết học, luật học và chính trị
Trang 29Về thẩm mỹ học, các lý thuyết triết học thời kỳ trung cổ chịu ảnh hưởng của nền triết học đạo Cơ đốc từ thế kỷ II đến thế kỷ IV Vì vậy, quan niệm cái đẹp thời trung cổ không thể tách rời đạo Cơ đốc Trong giai đoạn triết học này có những nhà triết học và thần học nổi tiếng Téctuliêng.
Oguýtxtanh Téctuliêng (khoảng năm 160 - 230), Téctuliêng, mạnh dạn tuyên bố nguyên tắc tách triết học khỏi tôn giáo Theo ông, trí tuệ không
có khả năng sáng tạo gì hết Còn tôn giáo thì ngược lại, bao gồm trong nó hết thảy mọi cái (kể cả giới tự nhiên) Do đó không nên cho rằng triết học, trí tuệ
là cơ sở của tôn giáo Téctuliêng đối lập chân lý của chúa trời với chân lý của con người và đi đến một kết luận nổi tiếng mang đầv đủ đặc điểm thế giới quan của nhà sáng lập triết học đạo Cơ đốc: “tôi tin bởi vi điều đó là vô lý!" Như vậy, tư tưởng cơ bản của nhà thần học Téctuliêng là hạ thấp tri thức và lý trí, thù địch với triết học phi tôn giáo, ca ngợi lòng tin mù quáng
Mác đã nhận xét rằng, sự đối lập giữa triết học và đạo Cơ đốc, giữa "lý trí trần tục” và "lý trí thần linh” được Téctuliêng biểu hiện bằng cái công thức nổi tiếng "cái đó là chân lý, bởi vì nó vô lý"[9 ]
Ôguýtxtanh (354 - 430) (còn gọi là Thánh Ôguýtxtanh), nhà văn, nhà triết học nổi tiếng Ông được giới thần học đương thời coi là trụ cột, là sự khẳng định chân lý của đạo Cơ đốc Ôguýtxtanh ra sức bảo vệ tôn giáo, chống lại khoa học và triết học duy vật Triết học của ông là cơ sở lý luận quan trọng cho cả đạo Thiên chúa sau này Những tác phẩm quan trọng nhất của ông là: Chống lại các nhà hàn Lâm viện, về sự bất tử của linh hồn, về khoa học Cơ đốc giáo Sự thú tội, về thành đô của Thượng đế, về những tà đạo Thí dụ điển hình của chủ nghĩa chủ quan cực đoan và sai lầm trong toàn bộ sự lập luận của Ôguýtxtanh là tác phẩm Sự thú tội Trong đó ông ra sức chứng minh toàn
bộ thế giới giàu có, phong phú xung quanh con người là do Thượng đế sáng tạo và được nhận thức bởi Thượng đế Lý luận nhận thức thẩm mỹ học của ôguýtxtanh mang tính chất tôn giáo hết sức rõ rệt Lý luận đó gắn liền với thần học Quá trình nhận thức của con người là quá trình nhận thức Thượng
Trang 30đế, nhận thức Chúa trời Trong nhận thức về Thượng đế có ba mức độ: một là thông qua những cảm giác bên ngoài, những cảm giác này nói chung không lừa dối; hai là nhận, thức thông qua cảm giác bên trong "bàn bạc" lại những cảm giác bên ngoài; ba là nhận thức lý trí, đánh giá những phán đoán của cảm giác bên trong
Ở thời kỳ Trung cổ, chỉ những gì cần thiết đối với tôn giáo mới có điều kiện phát triển, còn những gì không có lợi cho tôn giáo đều bị kiềm chế Vì vậy, thành tựu thẩm mỹ cao nhất thời kỳ này có thể coi là sự hoàn chỉnh các
bộ kinh Kitô giáo và các phong cách kiến trúc Trong tình hình ấy, tư tưởng
mỹ học chính thống là nô lệ cho tư tưởng tôn giáo
- Quan niệm cái đẹp thời Phục hưng
Qua thời trung cổ, các nước phương Tây bước sang thời đại thời phục
Hưng, đã sản sinh ra những “người khổng lồ” về tư tưởngnhư; Lêôn Battixta Anbécti (Leon Battista Alberti1404 - 1472), Brunô (Giordano Bruno 1548 -
1600) (Galilê Galileo Galilei 1564 - 1642), Đêcáctơ (René Descartes 1596 -
1650), Lépnít (Gottfried Wilhelm Leibniz 1646 - 1716), Leonardo da Vinci
1452 - 1519), Michelangelo di Lodovico Buonarroti Simoni (1475 - 1564),
Raphael, Raffaello Sanzio da Urbino (1483 - 1520), nội dung của thẩm mỹ
học thời kỳ này, làm cho nó không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tiếp thu và khôi phục các giá trị tư tưởng truyền thống, mà trái lại, phát triển với nhiều
màu sắc riêng của một thời kỳ lịch sử, như Ăngghen nhận xét, "từ xưa tới nay,
nhân loại đã trải qua; đó là một thời đại cần có những con ngưòi khổng lồ và
đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lổ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng" [10] Về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng" Anbécti coi con người
là phần tốt nhất của tự nhiên, có “yếu tố tối thượng và thần thánh, đẹp hơn tất
cả những gì vô sinh” Chúa còn đặt vào con người “tâm hồn tính điềm đạm,
lòng dũng cảm, tính xấu hổ, khiêm tốn và những mong muốn vinh quang”
Trang 31Anbécti cho rằng, hạnh phúc không lệ thuộc vào số mệnh mà phụ thuộc vào bản thân con người, thói xấu của con người là sự dốt nát Về cái đẹp, ông tìm
ra cơ sở khách quan của nó là sự thống nhất hài hòa giữa các bộ phận trong một chỉnh thể chung Leonardo da Vinci cho rằng cái đẹp tồn tại trong những thuộc tính của chính bản thân sự vật, hiện tượng, trong sự kết hợp hài hòa giữa các bộ phận, nhất là màu sắc và âm thanh của chúng Trong cuốn Bàn về
hội họa, ông khẳng định: “Chúng ta học tập tự nhiên chứ không học tập các
họa sỹ khác, những người mà bản thân họ cũng chỉ là con đẻ của tự nhiên mà thôi ”[ 11]. Ông rõ ràng đã kế thừa những tinh hoa tư tưởng của các bậc tiền bối Ông phát triển khả năng chiếm lĩnh cái đẹp ở người nghệ sỹ bằng việc vận dụng các phương tiện khoa học Ông đặt nghệ thật, trước hết là hội họa, ngang hàng với khoa học về ý nghĩa và phương thức phản ánh thực tại là vì thế
Đặc điểm về cái đẹp, trong quan niệm thẩm mỹ thời phục Hưng là ngọn
cờ lý luận của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh nhằm thiết lập sự thống trị của mình Là cuộn đấu tranh gay gắt giữa các tư tưởng và khoa học tiến bộ được giai cấp tư sản ủng hộ với các quan niệm thần học và giáo hội thể hiện lợi ích của chế độ phong kiến Bằng những cơ sở và luận chứng khoa học, triết học phục hưng và cận đại giúp cho giai cấp tư sản nhận thấy bộ mặt thật của chế độ phong kiến đang thối nát, xoá bỏ vòng hào quang thần thánh mà giáo hội khoác cho chế độ nông nô Sự phát triển của sản xuất và khoa học đã chứng minh sức mạnh của con người Vì vậy, thời kỳ này ở Italia, đã dấy lên khẩu hiệu “con người hãy thờ phụng chính bản thân mình, chiêm ngưỡng cái đẹp của chính mình" Các tác phẩm nghệ thuật của Leonardo da Vinci như;
tác phẩm “Lagiocong (1503) “bữa tiệc biệt biệt ly” (1498) tranh tường Raphael, tác phẩm “trường học Athen” (1509 -1511) Điêu khắc của Michelangelo tượng “Davit” (1501 - 1504) biểu tượng người "Người khổng
lồ", đã trở thành biểu tượng của con người thời phục Hưng
Trang 32Đó là con người tràn đầy sức sống và hoài bão tự do Giờ đây, không phải quan hệ giữa chúa và thế giới mà chính là vấn đề quan hệ giữa con người
và thế giới hiện tại trở thành trung tâm của nghệ thuật Nhiều nhà tư tưởng đã
ý thức được sự cần thiết phải xây dựng một "thẩm mỹ thực tiễn, nhờ đó con người hiểu biết sức mạnh Cái đẹp trong thời kỳ Phục hưng phản ánh rõ cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản nhằm giải thoát con người khỏi mọi gông cùm chật hẹp mà các tôn giáo thời trung cổ áp đặt cho nó
Vì thế từ thời Phục hưng, các tư tưởng nhân đạo đặc biệt phát triển Hơn nữa, với nhiều khám phá trong lĩnh vực tâm sinh lý học, các thẩm mỹ học XV - XVIII ngày càng nhận thấy vai trò của thể xác con người đối với việc phát triển trí tuệ và nhân cách Tuy nhiên, ở đây con người mới được đề cập đến chủ yếu ở khía cạnh cá thể, bản chất xã hội của con người chưa được
đề cao
Có thể cho rằng của tư tưởng mỹ học Phục hưng là sự gắn bó chặt chẽ với thực tiễn nghệ thuật Nó không phải là thứ tư tưởng mỹ học trừu tượng mà
là tư tưởng mỹ học cảm tính, thực tiễn Nó xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn
và có sứ mệnh giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn
Lagiocong của Leonardo
net
Trang 331.4.4 Cái đẹp trong đời sống thời Cổ Điển (thế kỷ XVII) đến thời Khai Sáng (thế kỷ XVIII)
Mỹ học của những nhà duy vật chủ nghĩa Pháp là một bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển về cái đẹp Họ quan niệm rằng mọi cảm xúc
về cái đẹp bao giờ cũng có mối quan hệ với hiện thực khách quan Nhưng không chỉ như vậy Diderot còn nêu ra từng mối quan hệ về cái đẹp cụ thể:
"Nếu chúng ta xét những mối quan hệ trong nếp sống, chúng ta sẽ tìm thấy vẻ
đẹp của đức hạnh Nhưng khi chúng ta xem xét những quan hệ trong những tác phẩm văn học và nghệ thuật, chúng ta sẽ tìm thấy cái đẹp thẩm mỹ Song nếu chúng ta định xem xét giữa cái đẹp của tự nhiên và vẻ đẹp của chính nó được phản ánh trong nghệ thuật thì chúng ta sẽ thấy cái đẹp do sự bắt chước khéo léo mang lại" [12] Diderot cũng gắn liền cái đẹp với cái chân, cái thiện Diderot kết hợp mỹ học và đạo đức học Ông đặt ngang hàng cái mỹ và cái thiện
Nếu trong thời đại Phục hưng, các nghệ sỹ không miêu tả con người đẹp với vẻ ngoài xấu xí thì trong thời Khai sáng, vẻ đẹp bên ngoài không phải
là điều quan trọng nhất mà là cái phong thái của tinh thần Diderot viết: "Cái
đẹp ở ngoài tôi Nó là tất cả những gì chứa đựng trong bản thân chúng yếu tố thức tỉnh trong tâm trí tôi những ý niệm về quan hệ này hoặc quan hệ khác"
[13]
Các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga: (Biêlinxki, Ðôbrôliubôp, Secnưxepxki) khẳng định cái đẹp là cuộc sống và cái đẹp trong nghệ thuật là
sự phản ánh cái đẹp ngoài cuộc đời Secnưxepki viết: "Cái đẹp chính là cuộc
sống Một tồn tại được gọi là đẹp là một tồn tại trong đó chúng ta nhìn thấy
cuộc sống đúng như quan niệm của mình, một đối tượng đẹp là một đối tượng chứng tỏ nó mang lại một cuộc sống hay gợi cho chúng ta ý niệm về cuộc sống " [14] Những nhà mỹ học dân chủ Cách mạng Nga khẳng định cái đẹp phụ
thuộc vào những điều kiện sinh sống của người dân và trong xã hội có giai cấp, bao giờ cái đẹp cũng mang tính giai cấp Trong nghệ thuật, các nhà mỹ
Trang 34học này đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nội dung và hình thức: Dù
một bài thơ có chứa chất những tư tưởng đẹp đến mấy đi nữa nhưng nếu
trong nó không có tính thơ thì nó cũng chỉ là một dụng ý đẹp đã được thực
hiện tồi (Biêlinxki) Rêpin cũng nói: “Ý tưởng anh đẹp đẽ như vậy, nhưng anh
vẽ tồi thì anh chỉ làm cho người ta ghê sợ và coi rẽ ý tưởng của anh mà thôi”
Như vậy, cái đẹp của nội dung phải phù hợp với cái đẹp của hình thức [15]
1.4.5 Tư tưởng mỹ học của K Max- Engels
Theo quan điểm của Hegel cùng với đạo đức, lôgíc học và mỹ học tạo
thành bộ ba các “khoa học chuẩn mực” được coi là một trong những tập hợp
quy tắc mà đời sống tinh thần con người không thể thiếu Chính vì vậy, chúng
ta có thể nói rằng ba mục tiêu của mỹ học: các qui tắc của nghệ thuật, các qui luật của cái đẹp và qui tắc của sở thích, hoàn toàn phù hợp với qui tắc của
hoạt động của con người và của khoa học, với các qui luật của Chân – Thiện –
Mỹ Hegel cho rằng: “Triết học về nghệ thuật là một mắt khâu tất yếu trong
tập hợp triết học” [16]. Thực ra, Hegel coi đối tượng của mỹ học là cái đẹp
nhưng đồng thời Hegel cũng quan niệm cái đẹp chủ yếu là nghệ thuật Ông không phủ nhận cái đẹp trong cuộc sống nhưng coi thường nó, cho là nó không đầy đủ, không ổn định, không triệt để, mang nặng tính vật chất và do
đó thấp hơn cái đẹp trong nghệ thuật Cái đẹp chủ yếu chỉ thể hiện trong nghệ
thuật Ông viết "Cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp trong thiên nhiên
vì cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp đã được và vẫn được cái đẹp tinh thần sản sinh ra mà tinh thần và sản phẩm của nó đều cao hơn cái đẹp trong nghệ thuật bao nhiêu thì cái đẹp trong nghệ thuật cũng cao hơn cái đẹp trong thiên nhiên bấy nhiêu" [17]
1.4.6 Tư tưởng mỹ học của người phương Đông
Một trong những cái nôi của nền văn minh thế giới và cũng là một trung tâm văn hóa tư tưởng của phương Đông cổ đại là Trung Quốc Phạm trù cái đẹp trong mỹ học của người Phương Đông cổ đại Quan niệm về cái đẹp
Trang 35được nảy sinh và phản ánh qua những tác phẩm, những công trình nghiên cứu
của các nhà tư tưởng lỗi lạc như Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mặc Tử…
- Quan niệm về cái đẹp của Nho gia
Trong quan điểm mỹ học của Khổng Tử (551 – 479 TCN), thường bắt gặp hai quan niệm về cái đẹp: “mỹ” và “thiện” – và trong thời đại Khổng Tử,
“mỹ” đã lần hồi trở thành sự đánh giá cao đối với hình thức đẹp, còn “thiện”
đã trở thành sự đánh giá đối với nội dung đẹp, có đạo đức cao quý Khổng Tử
đặt “thiện” cao hơn “mỹ”
Mạnh Tử (372 – 289 TCN) người được tôn vinh là bậc á Thánh của Nho gia, nhà kế thừa Khổng Tử vĩ đại nhất cũng xuất phát từ những quan điểm mỹ học nói trên Trong Mạnh Tử, chương III, ông đã đưa ra một định
nghĩa thú vị về cái đẹp và cái cao thượng “Cái phong phú được gọi là cái đẹp
Cái phong phú và cái rạng rỡ được gọi là cái cao thượng”
Tuân Tử (298 – 238 TCN) đã có những cống hiến đáng kể vào Mỹ học Nho giáo cổ đại Ông khẳng định bản tính con người sinh ra là ác, và chỉ nhờ tác dụng của “hòn đá mài” khoa học và nghệ thuật mà con người mới trở nên đẹp về mặt đạo đức Ông nói: đối với con người, nếu không rèn luyện, thì bản tính của y, do chính nó, không thể đẹp được
- Quan niệm về cái đẹp của Đạo gia
Lão Tử (thế kỷ VI – V TCN) cho rằng cái đẹp là cái giản dị, “giống
như gỗ chưa qua tay người”, cái giản dị và cái khiêm tốn không có một tí vẻ
đẹp bề ngoài nào cả, đối với Lão Tử, đó chính là tiêu chuẩn cơ bản của cái
đẹp
Trang Tử (369 – 286 TCN) phát triển xa hơn những quan điểm mỹ học của Lão Tử Theo ông, cái đẹp cũng là biểu hiện của đạo Con người nhận thức được cái đẹp của thiên nhiên, bản thân thiên nhiên là nguyên lý vĩ đại vô tận của các hình tượng, là nguồn của cái đẹp Bản thân con người cũng là một phần tử nhỏ của thiên nhiên, do vậy trong bản chất con người cũng có cái đẹp Ông khẳng định quan niệm về cái đẹp là tương đối vì thế giới là vô cùng vô
Trang 36tận, con người thậm chí là cả thần linh cũng không có khả năng bao quát được
vẻ đẹp của thế giới Những nhận thức của con người về cái đẹp không đúng
với chân lý; chúng là chủ quan và tương đối
- Quan niệm về cái đẹp của Mặc gia
Mặc Tử (479 – 381 TCN) phủ nhận cái đẹp vì nó không đem lại lợi ích vật chất gì; nó không thể thỏa mãn được những nhu cầu vật chất cơ bản nhất của con người Cái đẹp, theo Mặc Tử, là phần thu nhập của bọn giàu, là bằng chứng cho cảnh thừa thãi và cảnh hủ hóa, là nguyên nhân thống khổ của nhân dân lao động Chính vì nó mà con người bị tách rời khỏi sự lao động cần thiết
và hữu ích và phải đi thêu thùa những màu sắc này nọ trên áo bọn giàu sang
Những người nghèo khốn không được hưởng cái đẹp…
Trong thời Xuân Thu – Chiến Quốc ở Trung Quốc, các khuynh hướng tự tưởng lớn như Khổng giáo, Lão giáo, Mặc giáo và Pháp gia…nảy sinh, luôn tranh giành ảnh hưởng với nhau Các quan niệm về đạo đức, chính trị, thẩm mỹ…đua nhau phát triển Đã xuất hiện không ít quan niệm thẩm mỹ độc đáo Cái hay là chúng thường được trình bầy dưới hình thức những câu chuyện có tính ngụ ngôn, khá sinh động và thấm thía Chẳng hạn câu chuyện về công
việc sáng tạo của họa sĩ trong Hàn Phi Tử Người đại diện lớn nhất của phái
Pháp gia này kể rằng, có một nghệ sỹ người nước Tề, nhân Tề Công hỏi vẽ
vật gì khó nhất, ông đáp: “Vẽ chó, ngựa và những con thú khác”; còn đối với câu hỏi vẽ gì dễ hơn cả thì ông đáp: “Vẽ ma, quỷ và những tà lực khác” Liền sau đó, người họa sỹ giải thích như sau: “Hàng ngày, mọi người đều thấy
ngựa và biết rõ ngựa như thế nào Chỉ cần lầm lẫn chút ít trong bức họa là họ lập tức bàn tán Còn ma quỷ thì chẳng có một nhận thức rõ rệt nào về chúng
cả, do vậy vẽ chúng là chuyện dễ” Hàn Phi Tử quan niệm giá trị của các tác
phẩm nghệ thuật chỉ được xác định trong tương quan với người tiếp nhận chúng, mà người cảm thụ thì bao giờ cũng dùng sự từng trải của chính mình
để đánh giá tác phẩm Bởi vậy, nghệ thuật muốn có ý nghĩa phải gắn với hiện thực đời sống Mọi tưởng tượng tách rời thực tại đều quái đản và huyễn hoặc
Trang 37Sáng tạo nghệ thuật được coi là một hình thức lao động công phu là vì thế Ý nghĩa mỹ học của câu chuyện này đâu có nhỏ và đâu có giới hạn chỉ ở thời trước
Như vậy, cái đẹp theo quan niệm mỹ học cổ đại cả ở phương Tây và ở phương Đông cũng được tiếp cận ở nhiều cách nhìn khác nhau hoặc trên lập trường duy vật, hoặc trên lập trường duy tâm Có quan niệm nhấn mạnh cái đẹp ở sự hòa điệu, có quan niệm đồng nhất cái đẹp với tính thiện, với đức hạnh, đồng nhất cái đẹp với tính tự nhiên, có quan niệm đi tìm cái đẹp từ thế giới siêu tự nhiên, ý niệm, tinh thần ở bên ngoài con người; song cũng có quan niệm phủ nhận cái đẹp, coi đó là sản phẩm của tầng lớp thống trị, là cái không cần thiết Tuy nhiên, nhìn chung các quan niệm về cái đẹp trong thời
kỳ cổ đại cũng hướng đến những giá trị chung nhất để con người phấn đấu đạt đến và đều để lại những tư tưởng quý báu cho những thế hệ mai sau làm giàu thêm tư tưởng thẩm mỹ của mình [18]
Trang 38Câu hỏi bài tập Câu 1 Anh, chị hãy cho biết các đối tượng nghiên cứu của mỹ học và mỹ
học có phải là một ngành khoa học độc lập hay không cho ví dụ chứng minh?
Câu 2 Anh, chị hãy cho biết nguồn gốc quan điểm thẩm mỹ thời Nguyên
thuỷ Quan điểm thẩm mỹ của người nguyên thủy khác gì với tư tưởng thẩm
mỹ của thời kỳ Hy Lạp cổ Đại?
Câu 3 Anh, chị hãy cho biết những đặc điểm cơ bản Tư tưởng mỹ học của K
Max- Engels và so sánh sự khác nhau và giống giữa Tư tưởng mỹ học thời Phục Hưng, Tư tưởng mỹ học của K Max- Engels cho ví dụ chức minh?
Câu 4 Anh, chị hãy so sánh sự khác nhau và giống nhau giữa Tư tưởng mỹ
thời Hy Lạp Cổ đại và Tư tưởng mỹ Trung Cổ phương Tây cho ví dụ chức minh?
Câu 5 Quan điểm về cái đẹp của người phương Đông và phương Tây có gì
giống nhau và khác nhau Tại sao lại có sự khác và giống nhau đó? cho ví dụ dẫn chứng
Câu 6 Sau khi học xong quan điểm, tư tưởng về cái đẹp của từng giai đoạn
Anh, chị đã đúc kết được những gì cho bản thân cho ví dụ cụ thể?
Tài liệu tham khảo phần 1
a) Giáo trình
1 Đỗ Văn Khang Giáo trình mỹ học Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Đỗ Văn Khang (2010) Giáo trình lịch sử Mỹ học Nxb giáo dục Việt Nam
3 Giáo trình Mỹ học Mác –Lênin, (2001) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
b) Tài liệu tham khảo
1 Đỗ Huy: Mỹ học với tư cách là khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1996
2 Hoài Lâm Tìm hiểu mỹ học Mác - Lê nin, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1979
3 Vũ Minh Tâm Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998
Trang 39Chương 2 MỐI QUAN HỆ THẨM MỸ TRONG NGHỆ THUẬT Mục tiêu
a Kiến thức
- Sinh viên hiểu được những mối quan hệ của thẩm mỹ trong nghệ thuật
- Sinh viên hiểu được những phạm trù của chủ thể thẩm mỹ
- Sinh viên hiểu được những phạm trù phản ánh thẩm mỹ trong nghệ thuật
b Kỹ năng
- Sinh viên phân tích được tư tưởng sự khác nhau giữa các đặc chưng trong mối quan hệ thẩm mỹ
- Biết vận dụng những kiến thức đã học để phân tích sự khác nhau của trù
biểu hiện chủ thể thẩm mỹ áp dụng vào bài tập
- Phân tích được ý nghĩa của cái cao cả, cái bi, cái hài cái, đẹp trong một
tác phẩm nghệ thuật
- Vận dụng được giá trị của cái đẹp qua các giai đoạn để ứng dụng vào học tập và thực tiễn sau này
Trang 40Nội dung 2.1 Các đặc chưng của mối quan hệ thẩm mỹ
Mối quan hệ thẩm mỹ là mối quan hệ cụ thể về mặt thẩm mỹ của một chủ thể thẩm mỹ nào đó trước một đối tượng, hiện tượng thẩm mỹ nào
đó Khái quát này biểu hiện những dấu hiệu của mối quan hệ thẩm mỹ, trong
sự đối chiếu với các mối quan hệ vật chất và tinh thần khác nhau trong xã hội loài người Trước hết, mối quan hệ thẩm mỹ phải rất cụ thể về không gian và thời gian Đó phải là mối quan hệ này hay mối quan hệ kia, nghĩa là có xuất
xứ rõ ràng, có địa chỉ minh bạch, không thể chung chung mà rất xác định xác định cả về phía đối tượng lẫn về phía chủ thể trong sự ràng buộc thẩm
-mỹ giữa chúng Phép biện chứng chỉ ra rằng sự vật và hiện tượng muôn vẻ ngoài đời sống luôn vận động và biến đổi trong không gian và thời gian Cũng
sự vật và hiện tượng ấy, nhưng lúc này, ở đây không hoàn toàn giống lúc khác, ở nơi khác “Người ta không thể tắm hai lần ở cùng một dòng sông” (Heraclite) Ấy là bởi dòng sông luôn luôn đổi khác Đó còn bởi con người cũng luôn luôn đổi khác Chẳng phải tâm trạng, ý nghĩ, cảm xúc con người luôn vận động, kể cả thay đổi theo sự vận động và thay đổi của đời sống đó ra sao! Những mối quan hệ xã hội khác coi trọng cái tương đối ổn định trong vạn vật và con người Mối quan hệ thẩm mỹ lại coi trọng cái tuyệt đối vận động và biến chuyển của con người và vạn vật Điều này lý giải tại sao các giá trị thẩm mỹ bao giờ cũng độc nhất vô nhị
2.1.1 Quan niệm về bản chất các phạm trù thẩm mỹ nghệ thuật tạo hình
Cái đẹp trong nghệ thuật tạo hình đó là nội dung, hình thức, cấu trúc thuộc tính biểu hiện Bản chất cái đẹp trong nghệ thuật tạo hình là một giá trị xã hội, một giá trị được đánh giá khách quan thông qua màu sắc, đường nét, hình khối, bố cục, không gian, chất cảm, ánh sáng…Cái đẹp trong tạo hình luôn gắn với phong cách,
cá tính sáng tạo, bút pháp của từng nghệ sĩ, từng giai đoạn lịch sử, trào lưu, dân tộc Cái đẹp trong tạo hình còn gắn với các chất liệu, thể loại của từng loại hình