TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPChuyên ngành: Thương mại quốc tếBẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI HOA KỲ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAMHọ và tên sinh viên: Phùng Hoài ThuMã sinh viên: 0851020202Lớp: Anh 15 – Khối 7 KTKhóa: 47Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thị Thu HàHà Nội, tháng 5 năm 2012 MỤC LỤCDANH MỤC VIẾT TẮTDANH MỤC BẢNG BIỂULỜI NÓI ĐẦU1CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ41.1Lịch sử của bảo hộ sáng chế41.2Sáng chế và bảo hộ sáng chế71.2.1. Khái niệm sáng chế71.2.2. Bảo hộ sáng chế111.3.Nội dung bảo hộ sáng chế171.3.1. Quyền của chủ sở hữu bằng sáng chế171.3.2. Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế181.4.Thực thi bảo hộ sáng chế191.4.1. Các chủ thể tham gia191.4.2. Các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế211.5.Lợi ích của bảo hộ sáng chế221.5.1. Lợi ích đối với xã hội221.5.2. Lợi ích đối với doanh nghiệp24CHƯƠNG 2: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI HOA KỲ272.1. Cơ sở pháp lý của bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ.272.1.1. Các điều ước quốc tế về bảo hộ sáng chế272.1.2. Luật quốc gia302.2. Hoạt động bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ312.2.1. Thủ tục đăng ký và cấp bằng sáng chế312.2.2. Các quy định về xử lý tranh chấp khiếu nại452.2.3. Thực thi bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ482.3. Đánh giá hoạt động bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ522.3.1. Ưu điểm522.3.2. Nhược điểm53CHƯƠNG 3: BẢO HỘ SÁNG CHẾ TẠI VIỆT NAM – BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM HOA KỲ563.1. Bảo hộ sáng chế tại Việt Nam563.1.1. Pháp luật về bảo hộ sáng chế tại Việt Nam563.1.2. Bảo hộ sáng chế tại Việt Nam.....……………………………………………563.2. Bài học đối với Việt Nam từ nghiên cứu kinh nghiệm Hoa Kỳ623.2.1. Giải pháp ở cấp độ vĩ mô643.2.2. Giải pháp cho các doanh nghiệp.73KẾT LUẬN78DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO80 DANH MỤC VIẾT TẮTChữ viết tắtTên tiếng ViệtTên tiếng nước ngoàiSHTTSở hữu trí tuệBPAICơ quan khiếu nại về bằng sáng chế và can thiệpBoard of patent Appeal and InterferencePCTHiệp ước hợp tác quốc tế về Bằng sáng chếPatent Cooperation TreatyPHOSITANgười có kĩ năng thông thường trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứngPerson have ordinary skills in the artUSPTOVăn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa KỳUnited States Patent and Trademark OfficeTRIPsHiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ1Agreement on TradeRelated Aspects of Intellectual Property RightsWIPOTổ chức Sở hữu trí tuệ thế giớiWorld Intellectual Property OrganizationDANH MỤC BẢNG BIỂUBảng 2.1. Số lượng đơn đăng ký sáng chế tại Hoa Kỳ 20072011………………52Bảng 3.1.Số đơn đăng ký bảo hộ sáng chế từ 2000 đến 2010……………………61Bảng 3.2. Số bằng sáng chế được cấp tại Việt Nam từ 1995 đên 2010…………..62Hình 2.1. Sơ đồ quy trình thẩm định nội dung sáng chế tại Hoa Kỳ……………..40 LỜI NÓI ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài Trí tuệ là tài sản vô giá mà tạo hóa đã ban cho con người. Từ xưa đến nay, con người luôn biết vận dụng nguồn tài nguyên vô tận này để tạo ra những công cụ vật dụng mới để phục vụ cho cuộc sống của mình. Trong thời buổi hiện nay, khi mà nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển chú trọng việc phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức (thông tin và công nghệ) thì vai trò của trí tuệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội trở nên đặc biệt quan trọng. Sự phát triển của khoa học công nghệ đã tạo ra môi trường thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng hợp lý những tài sản trí tuệ để phát triển, đổi mới sản xuất. Tuy nhiên, do các tài sản trí tuệ tồn tại chủ yếu dưới dạng thông tin nên sự hiện đại của công nghệ ngày nay khiến cho nguy cơ chúng bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trở nên lớn hơn. Chính vì vậy, việc bảo vệ cho các tài sản trí tuệ trở thành một yêu cầu cấp thiết và việc thực thi pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nhiều quốc gia. Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm nhiều đối tượng, trong đó có sáng chế. Do là những giải pháp về kĩ thuật và có khả năng áp dụng công nghiệp, sáng chế là một công cụ hữu ích cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất bởi việc đổi mới công nghệ sản xuất nhằm cải thiện tính năng sản phẩm luôn là một trong những mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp tìm ra được một ý tưởng để giải quyết một vấn đề về mặt kĩ thuật một cách sáng tạo hơn, tiến bộ hơn thì sẽ tạo ra được sự khác biệt hóa giữa sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Điều này sẽ nâng cao sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, loại bỏ bớt sự cạnh tranh, giúp doanh nghiệp kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Chính vì thế, việc kịp thời bảo vệ ý tưởng hoặc sáng tạo đó bằng cách biến nó thành một lợi thế kĩ thuật độc quyền thông qua bằng sáng chế độc quyền ngày càng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Bằng sáng chế cho phép doanh nghiệp được khai thác độc quyền và ngăn cấm người khác sử dụng ý tưởng của mình và do chính phủ của mỗi nước cấp. Điều này sẽ khuyến khích việc sáng tạo, thu hút đầu tư vào việc nâng cao kĩ thuật sản xuất và đem lại cho doanh nghiệp nhiều khoản lợi nhuận thông qua việc bán hay chuyển giao bằng sáng chế. Ngoài ra, số lượng bằng sáng chế cũng là một tiêu chí đánh giá sức mạnh về công nghệ của một quốc gia và phần nào nói lên mức độ đầu tư của quốc gia đó trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Theo thống kê năm 2011 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, từ năm 2005 đến nay, Hoa Kỳ luôn đứng đầu thế giới trong số lượng đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, chiếm khoảng 20% lượng đơn của toàn thế giới. Năm 2010, cùng với Cơ quan Sáng chế Nhật Bản – JPO, Cơ quan sáng chế vào Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) cũng là văn phòng đứng đầu trong số lượng bằng sáng chế đã phát hành và số lượng đơn đăng ký bảo hộ sáng chế. Những con số trên đã phần nào nói lên hiệu quả của hệ thống bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ. Với việc tích cực tham gia các hiệp ước quốc tế về bảo hộ sáng chế và liên tục đổi mới khung pháp luật đối với hoạt động bảo hộ sáng chế, Hoa Kỳ đã đạt được nhiều thành công trong việc bảo vệ cho quyền lợi của người sáng tạo, tạo được uy tín trên trường quốc tế. Hệ thống bảo hộ sáng chế ở Hoa Kỳ với nhiều điểm tiến bộ là một ví d
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
SÁNG CHẾ TẠI HOA KỲ - BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Phùng Hoài Thu
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ 4
1.1 Lịch sử của bảo hộ sáng chế 4
1.2 Sáng chế và bảo hộ sáng chế 7
1.2.1 Khái niệm sáng chế 7
1.2.2 Bảo hộ sáng chế 11
1.3 Nội dung bảo hộ sáng chế 17
1.3.1 Quyền của chủ sở hữu bằng sáng chế 17
1.3.2 Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 18
1.4 Thực thi bảo hộ sáng chế 19
1.4.1 Các chủ thể tham gia 19
1.4.2 Các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 21
1.5 Lợi ích của bảo hộ sáng chế 22
1.5.1 Lợi ích đối với xã hội 22
1.5.2 Lợi ích đối với doanh nghiệp 24
CHƯƠNG 2: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI HOA KỲ 27
2.1 Cơ sở pháp lý của bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ 27
2.1.1 Các điều ước quốc tế về bảo hộ sáng chế 27
2.1.2 Luật quốc gia 30
2.2 Hoạt động bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ 31
2.2.1 Thủ tục đăng ký và cấp bằng sáng chế 31
2.2.2 Các quy định về xử lý tranh chấp khiếu nại 45
2.2.3 Thực thi bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ 48
2.3. Đánh giá hoạt động bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ 52
2.3.1 Ưu điểm 52
2.3.2 Nhược điểm 53
Trang 4CHƯƠNG 3: BẢO HỘ SÁNG CHẾ TẠI VIỆT NAM – BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
TỪ NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM HOA KỲ 56
3.1 Bảo hộ sáng chế tại Việt Nam 56
3.1.1 Pháp luật về bảo hộ sáng chế tại Việt Nam 56
3.1.2 Bảo hộ sáng chế tại Việt Nam ………56
3.2. Bài học đối với Việt Nam từ nghiên cứu kinh nghiệm Hoa Kỳ 62
3.2.1 Giải pháp ở cấp độ vĩ mô 64
3.2.2 Giải pháp cho các doanh nghiệp 73
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5Board of patent Appeal and Interference
về Bằng sáng chế
Patent Cooperation Treaty
thường trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng
Person have ordinary skills in the art
Nhãn hiệu Hoa Kỳ
United States Patent and Trademark Office
cạnh liên quan đến thươngmại của quyền sở hữu trí tuệ
1 Agreement on Related Aspects of Intellectual Property Rights
giới
World Intellectual Property Organization
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số lượng đơn đăng ký sáng chế tại Hoa Kỳ 2007-2011………52Bảng 3.1.Số đơn đăng ký bảo hộ sáng chế từ 2000 đến 2010………61Bảng 3.2 Số bằng sáng chế được cấp tại Việt Nam từ 1995 đên 2010………… 62Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thẩm định nội dung sáng chế tại Hoa Kỳ……… 40
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trí tuệ là tài sản vô giá mà tạo hóa đã ban cho con người Từ xưa đến nay,con người luôn biết vận dụng nguồn tài nguyên vô tận này để tạo ra những công cụvật dụng mới để phục vụ cho cuộc sống của mình Trong thời buổi hiện nay, khi mànhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển chú trọng việc phát triển nềnkinh tế dựa trên tri thức (thông tin và công nghệ) thì vai trò của trí tuệ đối với sựphát triển kinh tế xã hội trở nên đặc biệt quan trọng Sự phát triển của khoa họccông nghệ đã tạo ra môi trường thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng hợp lý nhữngtài sản trí tuệ để phát triển, đổi mới sản xuất Tuy nhiên, do các tài sản trí tuệ tồn tạichủ yếu dưới dạng thông tin nên sự hiện đại của công nghệ ngày nay khiến chonguy cơ chúng bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trở nên lớn hơn Chính vì vậy,việc bảo vệ cho các tài sản trí tuệ trở thành một yêu cầu cấp thiết và việc thực thipháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành một trong những nhiệm vụ hàngđầu của nhiều quốc gia
Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm nhiều đối tượng, trong đó có sáng chế Do lànhững giải pháp về kĩ thuật và có khả năng áp dụng công nghiệp, sáng chế là mộtcông cụ hữu ích cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất bởi việc đổi mớicông nghệ sản xuất nhằm cải thiện tính năng sản phẩm luôn là một trong nhữngmục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp tìm ra được một ýtưởng để giải quyết một vấn đề về mặt kĩ thuật một cách sáng tạo hơn, tiến bộ hơnthì sẽ tạo ra được sự khác biệt hóa giữa sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Điềunày sẽ nâng cao sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, loại bỏ bớt sự cạnh tranh,giúp doanh nghiệp kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Chính vì thế, việc kịp thời bảo
vệ ý tưởng hoặc sáng tạo đó bằng cách biến nó thành một lợi thế kĩ thuật độc quyềnthông qua bằng sáng chế độc quyền ngày càng có vai trò quan trọng trong việc pháttriển kinh doanh của doanh nghiệp Bằng sáng chế cho phép doanh nghiệp đượckhai thác độc quyền và ngăn cấm người khác sử dụng ý tưởng của mình và do chínhphủ của mỗi nước cấp Điều này sẽ khuyến khích việc sáng tạo, thu hút đầu tư vào
Trang 7việc nâng cao kĩ thuật sản xuất và đem lại cho doanh nghiệp nhiều khoản lợi nhuậnthông qua việc bán hay chuyển giao bằng sáng chế
Ngoài ra, số lượng bằng sáng chế cũng là một tiêu chí đánh giá sức mạnh
về công nghệ của một quốc gia và phần nào nói lên mức độ đầu tư của quốc gia đótrong lĩnh vực nghiên cứu khoa học Theo thống kê năm 2011 của Tổ chức Sở hữutrí tuệ thế giới WIPO, từ năm 2005 đến nay, Hoa Kỳ luôn đứng đầu thế giới trong
số lượng đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, chiếm khoảng 20% lượng đơn của toàn thếgiới Năm 2010, cùng với Cơ quan Sáng chế Nhật Bản – JPO, Cơ quan sáng chếvào Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) cũng là văn phòng đứng đầu trong số lượng bằngsáng chế đã phát hành và số lượng đơn đăng ký bảo hộ sáng chế Những con số trên
đã phần nào nói lên hiệu quả của hệ thống bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ Với việctích cực tham gia các hiệp ước quốc tế về bảo hộ sáng chế và liên tục đổi mới khungpháp luật đối với hoạt động bảo hộ sáng chế, Hoa Kỳ đã đạt được nhiều thành côngtrong việc bảo vệ cho quyền lợi của người sáng tạo, tạo được uy tín trên trườngquốc tế Hệ thống bảo hộ sáng chế ở Hoa Kỳ với nhiều điểm tiến bộ là một ví dụđiển hình để các nước đang phát triển đang trong quá trình xây dựng nền kinh tếcông nghiệp hiện đại như Việt Nam học tập, đặc biệt khi hiệu quả bảo hộ sáng chế ởViệt Nam chưa cao và hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập Vì vậy em đã chọn đề
tài “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm với các doanh nghiệp Việt Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về sáng chế và bảo hộ sáng chế
- Nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hộ sáng chế của Hoa Kỳ và thực thibảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ
- So sánh với bảo hộ sáng chế tại Việt Nam, rút ra bài học kinh nghiệm, nêu lênnhững vấn đề còn tồn tại và đề xuất một số giải pháp phát triển hoạt động bảo
hộ sáng chế tại Việt Nam
Trang 83 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Hoa Kỳ, bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: nghiên cứu hoạt động bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ
- Thời gian: từ 1995 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp đối chiếu và so sánh, phươngpháp tổng kết thực tiễn, phương pháp phân tích tổng hợp, phương thức thống kê
5 Nội dung của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận bao gồm ba chương
Chương 1: Những lý luận cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sángchế
Chương 2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Hoa Kỳ
Chương 3: Bảo hộ sáng chế tại Việt Nam và bài học từ nghiên cứu kinh nghiệmHoa Kỳ
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ
1.1 Lịch sử của bảo hộ sáng chế
Việc các tài sản trí tuệ nói chung và sáng chế nói chung ngày càng có vai tròquan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia trong những năm gần đây khiếnchúng ta tưởng chừng như hệ thống bảo hộ sáng chế chỉ mới xuất hiện Tuy nhiên,trên thực tế, kể từ thời trung cổ, khái niệm “độc quyền” đã xuất hiện và được coi làmột “đặc ân” của các vị vua chúa ban cho những người sáng tạo ra các sản phẩmmới, mà theo đó họ có đặc quyền khai thác sản phẩm cho chính mình tạo ra trongmột khoảng thời gian nhất định Hình thức này khá phổ biến ở các quốc gia Châu
Âu từ thế kỉ 12 đến thế kỉ 16 và đã có tác dụng đối với việc tạo ra công nghệ mới, ví
dụ trong ngành khai khoáng và các sản phẩm dệt
Tuy nhiên, đạo luật Venice 1474 mới được coi là sự tiếp cận có tính hệ thốngđầu tiên với bảo hộ sáng chế Đạo luật này cho phép người sáng chế được độcquyền khai thác, sử dụng thiết bị do mình chế tạo ra trong một khoảng thời giannhất định là 10 năm và ngăn cấm bất kì ai bắt chước chế tạo của mình mà khôngđược phép
Kể từ đó các đạo luật bảo hộ sáng chế nối tiếp nhau ra đời và hoạt động khuyếnkhích sáng tạo ngày càng được mở rộng Năm 1624, Nghị viện Anh đã thông quaQuy chế về Độc quyền mà theo đó, các bằng độc quyền sáng chế chỉ được cấp cho
“việc độc lập tạo ra hàng hóa mới bằng phương pháp bất kì trong phạm vi vươngquốc” trong thời hạn tối đa là 14 năm Đạo luật này được ban hành xuất phát từ nỗlực hạn chế việc thu lợi quá mức từ kinh doanh độc quyền sáng chế của Hoàng giaAnh và là văn bản pháp luật đầu tiên có quy định một thời hạn nhất định cho hiệulực của bằng độc quyền sáng chế Kể từ khi đạo luật này có hiệu lực, bằng độcquyền sáng chế chỉ được cấp cho những sáng chế hữu ích
Đến cuối thế kỉ XVIII, sự thành công của cách mạng công nghiệp dẫn đếnnhu cầu sản xuất công nghiệp theo quy mô lớn Trong khoảng thời gian này, mộtloạt các quốc qua nối tiếp nhau thiết lập hệ thống pháp luật sáng chế của mình, cụthể là Mỹ (1790), Pháp (1791), Bỉ (1854), Italia (1859), Đức (1877)…
Trang 10Trong suốt cuối thế kỉ XIX, việc bảo hộ quốc tế cho sáng chế trở nên khókhăn do hiệu quả bảo hộ chỉ có hiệu lực tại quốc gia đăng ký bảo hộ sáng chế vàluật pháp mỗi quốc gia đều có sự khác biệt Vì vậy, đơn yêu cầu đăng ký bảo hộphải được nộp tại nhiều quốc gia nhằm tránh một hệ quả là việc công bố tại mộtnước sẽ làm mất tính mới tại quốc gia khác Tuy nhiên, để thực hiện được điều này,người nộp đơn phải mất nhiều chi phí và thời gian để đáp ứng những thủ tục phứctạp và khác nhau ở mỗi quốc gia Những vấn đề thực tiễn này đã thúc đẩy mongmuốn có một biện pháp để khắc phục những trở ngại đó Sự phát triển của côngnghệ và sự phát triển của thương mại quốc tế dẫn đến việc hài hòa hóa pháp luật vềsáng chế trở thành một nhu cầu cấp thiết
Năm 1873, một triển lãm quốc tế về sáng chế được tổ chức tại Viên do chínhphủ hai nước Áo và Hungary chủ trì Tuy nhiên, việc chưa có một sự bảo hộ pháp lýthỏa đáng đối với sáng chế đem đến triển lãm đã khiến các vị khách nước ngoài engại và không sẵn sàng công khai sáng chế của mình Thực tế này đã dẫn đến sựban hành một đạo luật đặc biệt của Áo bảo đảm sự bảo hộ tạm thời cho các sángchế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp của người nước ngoài tham gia triển lãm vàhội nghị Viên – đưa ra một số nguyên tắc là cần thiết đối với một hệ thống sáng chếhữu ích, đồng thời thúc giục chính phủ các nước sớm tạo ra một thỏa thuận sơ bộquốc tế về bảo hộ sáng chế Sau Hội nghị Viên, hai hội nghị quốc tế về sở hữu côngnghiệp được triệu tập tại Paris năm 1878 và 1880 đã thông qua một bản dự thảocông ước mà cơ bản gồm những quy định chủ yếu của Công ước Paris ngày nay
Năm 1883, một Hôi nghị ngoại giao mới họp tại Paris, kết thúc bằng việc kíkết và thông qua Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp với 11 nước thànhviên bao gồm: Bỉ, Braxin, El Sanvado, Pháp Guatemala, Italia, Hà Lan, Bồ ĐàoNha, Secbia, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ Đến ngày 7 tháng 7 năm 1884, vào thờiđiểm công ước chính thức có hiệu lực thì đã có thêm bốn quốc gia tham gia kí kết(vương quốc Anh, Ecuado, Tuynidi), nâng tổng số thành viên lên con số 14
Công ước Paris 1883 chủ yếu bao gồm các quy định về chế độ đối xử quốc gia,quyền hưởng ưu tiên, các nguyên tắc xác lập quyền và nghĩa vụ của pháp nhân vàthể nhân hoặc những nguyên tắc hoặc yêu cầu các quốc gia thành viên được phép
Trang 11xây dựng luật pháp theo những nguyên tắc đó và những khuôn khổ hành chính đượctạo lập để thực thi Công ước
Từ sau khi được kí kết vào năm 1883, Công ước Paris đã được sửa đổi nhiềulần Mỗi một hội nghị sửa đổi, bắt đầu từ hội nghị Brussel năm 1990 đều kết thúcbằng việc thông qua một văn kiện sửa đổi Công ước Paris Trừ những Văn kiện sửađổi tại hội nghị Brussel (1897 và 1900) và Washington D.C (1911) không còn hiệulực, tất cả các văn kiện trước đó vẫn có ý nghĩa, và phần lớn các quốc gia hiện nayđều là thành viên của Văn kiện mới nhất tại hôi nghị Stockholm 1967
Khi hội nhập kinh tế diễn ra ngày càng sâu rộng và các doanh nghiệp cầnphải nhanh chóng đưa sáng chế vào khai thác thương mại và thâm nhập các thịtrường nước ngoài thì một vấn đề đặt ra cho bảo hộ sáng chế là làm thế nào để đăng
ký bảo hộ cho sáng chế ở nhiều quốc gia với chi phí thấp nhất có thể Nếu thựchiện đăng ký bảo hộ ở từng quốc gia một thì sẽ rất tốn kém, mất thời gian, công sứctrong khi chưa chắc sáng chế đó đã đạt yêu cầu để được cấp bằng độc quyền tạiquốc gia đó Trên cơ sở nhu cầu này, tháng 6 năm 1970, Hiệp ước hợp tác quốc tế
về bằng sáng chế (PCT) đã được kí kết tại Washington D.C Đây là một hiệp ướcquốc tế về yêu cầu nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế và tra cứu thông tin tư liệusáng chế, thẩm định chúng cũng như công bố các đơn đó cho công chúng Mục tiêucủa PCT là đơn giản hóa các thủ tục xác lập quyền bằng khi người nộp đơn muốnbảo hộ cho sáng chế của mình trên phạm vi quốc tế Hiệp ước này cho phép ngườinộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế thuộc một quốc gia của hiệp ước có thể nhậnđược sự bảo hộ sáng chế ở các quốc gia thành viên khác của Hiệp ước với chỉ mộtlần nộp đơn duy nhất tại Cơ quan Sở hữu công nghiệp tại một nước thành viên củaHiệp ước Cùng với những thủ tục đã được đơn giản hóa và các quy định về tra cứu,thẩm định sáng chế, Hiệp ước PCT là một sự bổ sung cho Công ước Paris trong việcxác lập quyền và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên phạm vi quốc tế một cách
có hiệu quả
Ngày 1/1/1995, cùng với sự ra đời của WTO, Hiệp định về các khía cạnh liênquan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) được kí kết vào ngày15/04/1994 cũng chính thức có hiệu lực Hiệp định này được xây dựng dựa trên cơ
sở những quy định của Công ước Paris 1883 Hiệp định này yêu cầu các nước
Trang 12thành viên của WTO phải xây dựng hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, đáp ứngđược những tiêu chuẩn cơ bản về bảo hộ sở hữu trí tuệ TRIPs cũng thừa nhận sựcần thiết phải bảo hộ hiệu quả các đối tượng của sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy sựtiến bộ công nghệ, chuyển giao và phổ biến khoa học Hiện nay, hoạt động bảo hộ
sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng đang là một vấn đề rất đượcchú trọng phát triển của mỗi quốc gia
1.2 Sáng chế và bảo hộ sáng chế
1.2.1 Khái niệm sáng chế
Nhắc đến sáng chế, có thể kể đến nhiều vật dụng từ những công cụ quen thuộctrong cuộc sống như bóng đèn điện, máy vi tính, điện thoại đến những máy mócthiết bị phức tạp phục vụ cho quá trình sản xuất như động cơ hơi nước, các loại máydùng trong nông nghiệp, các công trình thủy lơi, xây dựng….Hiểu theo cách cơ bản
và thông thường nhất, sáng chế là tìm ra giải pháp kĩ thuật mới chưa từng tồn tạitrước đó Đây là cách định nghĩa phổ biến nhất khi người ta đề cập đến sáng chế.Tuy nhiên, cách hiểu này còn mơ hồ và chưa rõ ràng, chưa nói lên bản chất củasáng chế
Bất kì ai cũng có thể tạo ra sáng chế, không phân biệt trình độ, giàu nghèo.Thomas Edison chưa học hết trung học nhưng ông vẫn là một nhà khoa học vĩ đạivới hàng trăm sáng chế, trong đó phải kể đến bóng đèn điện của ông – một phátminh đã thay đổi cả thế giới Sáng chế có thể được tạo ra một cách tình cờ ngẫunhiên Nhà khoa học Anh Willian Perkin trong quá trình nỗ lực tạo ra một loại kíninh nhân tạo nhằm mục đích chữa bệnh sốt rét đã vô tình tạo ra thuốc nhuộm tổnghợp đầu tiên Phát hiện của ông đã trở thành một tiền đề mới Thuốc nhuộm của ông
đã được nhà vi khuẩn học người Đức Paul Ehrlich ứng dụng để tìm ra liệu phápmiễn dịch và hóa trị trong y học
Vậy yếu tố tạo nên sáng chế là gì? Galileo Galilei đã từng nói “Sự nghi ngờ làcha đẻ của sáng tạo” Ông nghiên cứu các định luật của nhà vật lý Aristotle và cónhững nghi ngờ về một số điểm vô lý trong học thuyết này Từ đó mà ông đã pháthiện ra rằng trái đất quay, chứ không tĩnh như con người thời đó lầm tưởng Trongsuốt cuộc đời mình, ông đã có rất nhiều đóng góp cho ngành thiên văn học với việccải tiến chiếc kính viễn vọng của Hans Lippershey người Hà Lan phát minh năm
Trang 131608 để rồi sau đó tạo ra những chiếc kính viễn vọng có độ phóng đại lên tới 30x.Việc nghi ngờ một học thuyết vốn đã được coi là chuẩn mực đã dẫn Galilei tới việctạo ra công cụ đầu tiên thích hợp cho việc quan sát các vì sao Thực tiễn nghiên cứucho thấy, các nhà khoa học cũng thường xuất phát từ việc đặt giả thuyết, rồi đi tớichứng minh giả thuyết đó Đó chính là tiền đề cho việc tạo ra sáng chế
Nhà bác học Einstein cũng đã từng nói “Trí tưởng tượng quan trọng hơn trithức” Sáng chế dựa trên cơ sở của trí tưởng tượng Tạo ra sáng chế không đòi hỏiphải có những kiến thức sâu rộng mà quan trọng phải có sự sáng tạo, phải có trítưởng tượng Trên thực tế, tại Việt Nam có những sáng chế được tạo ra bởi nhữngngười không bằng cấp như chiếc máy cắt hành tự động của lão nông Nguyễn VănSành ở Hải Dương hay là chiếc máy xới cỏ của ông Phan Ngọc Tấn ở Kon Tum….Nhưng chỉ có sáng tạo thôi chưa đủ, bởi mục đích của sáng chế là phục vụ cuộcsống Do vậy, phải có nhu cầu phát sinh từ thực tiễn quá trình sản xuất để thúc đẩyviệc tạo ra sáng chế Thực tế cho thấy những chiếc máy cắt hành hay máy xới cỏđều được tạo ra với mục đích hỗ trợ cho công việc sản xuất nông nghiệp Đối vớicác doanh nghiệp, hoạt động R&D tạo ra sáng chế cũng nhằm nhu cầu cải thiện sảnphẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh
Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, “Sáng chế là một giải pháp mới và sáng tạo cho một vấn đề kỹ thuật Sáng chế có thể là việc tạo
ra một thiết bị, sản phẩm hoặc phương pháp hoàn toàn mới hoặc chỉ đơn giản là cải tiến một sản phẩm quy trình đã có” 1.Có thể nhận thấy từ định nghĩa này rằngmột sáng chế cần phải có tính mới, tính sáng tạo và giải quyết một vấn đề kĩ thuậtnhất định Việc tìm ra một vật liệu mới hay một chất hóa học mới chưa thể được coi
là một sáng chế nếu chúng chưa được sử dụng trong một quy trình nhằm giải quyếtmột vấn đề kĩ thuật nhất định và một quy trình chỉ được coi là sáng chế khi nó là cáimới chưa từng có và đòi hỏi cần có sự sáng tạo vượt qua những hiểu biết thôngthường trong lĩnh vực tương ứng để tạo nên
Luật sáng chế Hoa Kỳ lại định nghĩa sáng chế là “giải pháp kĩ thuật hoặc quytrình, máy móc, sản phẩm công nghiệp, hợp chất mới hoặc bất cứ cải tiến mới vàhữu ích nào đối với các đối tượng nói trên”2 Như vậy, Hoa Kỳ đưa ra một định
1 Xem tại trang http://www.wipo.int/patentscope/en/ truy cập ngày 22/03/2012
2 Luật sáng chế Hoa Kỳ , khoản 101 (35 U.S.C 101), xem tại trang http://www.uspto.gov/
Trang 14nghĩa có tính chất rộng hơn so với WIPO Sáng chế không chỉ bao gồm giải phápnhằm giải quyết một vấn đề kĩ thuật nhất định mà theo Hoa Kỳ, các hợp chất hóahọc mới được tổng hợp nên và các loại vật liệu mới mà trước đó chưa hề tồn tạicũng được coi là sáng chế và cũng có thể được bảo hộ sáng chế Bản thân các hợpchất hóa học tồn tại trong tự nhiên không phải là sáng chế, nhưng hợp chất mớiđược tạo ra từ những hợp chất đã có trong tự nhiên nhằm một mục đích nhất định ví
dụ như một loại thuốc chiết xuất từ một loại thảo mộc trong thiên nhiên để chữamột bệnh cụ thể có thể được coi là một giải pháp kĩ thuật, do đó có thể được bảo hộdưới dạng sáng chế
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 cũng đưa ra định nghĩa như sau “Sángchế là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết mộtvấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”3 Giải pháp kĩ thuật cóthể là:
- Sản phẩm tồn tại dưới dạng vật thể (dụng cụ, máy móc, thiết bị, mạch điện);sản phẩm dưới dạng chất thế (chất liệu, vật liệu, dược phẩm, thực phẩm) haycác sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học (gen, thực vật, động vật biến đổigen….)
- Quy trình (quy trình công nghệ, phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra,
xử lý…)
Các giải pháp kĩ thuật đều được trình bày dưới dạng tổng hợp các thông tin,
có dấu hiệu đặc trưng về nguyên lý, trình tự, biện pháp, phương tiện thực hiện nhằmgiải quyết một vấn đề nhất định Các thông tin dưới dạng ý tưởng chỉ đặt vấn đề màkhông nêu ra cách giải quyết vấn đề không được coi là giải pháp kĩ thuật Nhữngcách giải quyết vấn đề không phải là vấn đề kĩ thuật hoặc không giải quyết bằngphương pháp kĩ thuật cũng không được công nhận là giải pháp kĩ thuật, ví dụ như
hệ thống luật lệ, trò chơi, các định luật toán học, phương pháp và hệ thống đào tạo,quản lý, hệ thống ngôn ngữ, phương pháp sắp xếp thông tin… Các sản phẩm của tựnhiên hoặc bị tự nhiên chi phối, không có sự sáng tạo của con người cũng bị loại trừkhỏi khái niệm này
3 Luật SHTT 2005, Điều 4, Khoản 12
Trang 15Bản chất của sáng chế là một giải pháp kĩ thuật nhằm giải quyết một vấn đềxác định, vì vậy một sáng kiến hay một lý thuyết khoa học, ví dụ các định luật vật
lý, hóa học thì không được coi là sáng chế Tuy nhiên, phát minh và sáng chế lại rấthay bị nhầm lẫn với nhau dù trên thực tế chúng là những khái niệm hoàn toàn khácnhau
Phát minh là sự phát hiện một sự vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tạikhách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới Phát minh làm thay đổi,nâng cao trình độ nhận thức của con người đối với tự nhiên và tạo cơ sở để conngười lợi dụng, chế ngự tự nhiên Phát minh khoa học là yếu tố quyết định đối vớitiến bộ khoa học – kỹ thuật Phát minh thường gắn liền với những nghiên cứu cơbản trong khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng Phát minh phản ánh các mốiquan hệ hiện thực khách quan cơ bản và những tính chất của các hiện tượng trongthế giới hiện thực” Từ định nghĩa trên có thể thấy rằng về cơ bản, phát minh lànhững thứ đã tồn tại khách quan, có thể dùng để giải thích thế giới nhưng chưa thể
áp dụng được vào cuộc sống hay sản xuất mà cần phải thông qua các giải pháp kĩthuật – sáng chế Chính vì vậy mà phát minh không có giá trị thương mại và không
ai là chủ sở hữu của phát minh cả còn quyền sở hữu sáng chế lại có thể được mua,bán hoặc chuyển nhượng
Sáng chế được bảo hộ qua việc cấp bằng sáng chế – patent Bằng sáng chế làmột chứng nhận các đặc quyền của chủ sở hữu sáng chế hoặc nhà sáng chế đượccấp bởi cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia dựa trên cơ sở người tạo ra sángchế nộp đơn đăng kí xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế và sáng chếđáp ứng được các yêu cầu cấp văn bằng của pháp luật Sự độc quyền này được cấptrong một thời hạn nhất định, có sự khác nhau trong quy định của luật pháp mỗiquốc gia, nhưng phổ biến nhất là 20 năm kể từ ngày nộp đơn với điều kiện chủ sởhữu bằng độc quyền sáng chế phải nộp phí duy trì hiệu lực hàng năm và chỉ có hiệulực ở nước nộp đơn đăng ký bảo hộ
Tại Hoa Kỳ có ba loại bằng sáng chế: bằng sáng chế dành cho sản phẩm hoặcquy trình, bằng sáng chế kiểu dáng và bằng sáng chế giống cây trồng Tại ViệtNam, kiểu dáng thiết kế được bảo hộ dưới dạng kiểu dáng công nghiệp và giống câytrồng được bảo hộ theo một hình thức riêng Ngoài ra, những sáng chế còn thiếu
Trang 16tính sáng tạo nhưng đáp ứng được yêu cầu về tính mới và khả năng áp dụng côngnghiệp vẫn có thể được bảo hộ dưới dạng giải pháp hữu ích tại Việt Nam Tuynhiên, tại Hoa Kỳ, tính sáng tạo có vai trò quan trọng trong bảo hộ sáng chế vàkhông có hình thức bảo hộ giải pháp hữu ích như tại Việt Nam
1.2.2 Bảo hộ sáng chế
1.2.2.1 Đối tượng có thể được bảo hộ sáng chế
Sáng chế là một tài sản đặc biệt mà quá trình tạo nên đòi hòi thời gian, côngsức nghiên cứu và sáng tạo Không giống với các tài sản hữu hình khác, sáng chế dễ
bị đánh cắp, sao chép Chính vì vậy, việc bảo hộ sáng chế là một yêu cầu tất yếu đốivới người chủ sáng chế nhằm bảo vệ thành quả lao động sáng tạo của mình Theo
Hiệp định TRIPs, “bằng sáng chế có thể được cấp cho bất kỳ sáng chế nào, dù là sản phẩm hay quy trình, thuộc mọi lĩnh vực công nghệ với điều kiện sáng chế đó phải mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp”4
a) Tính mới
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tính mới của sáng chế Hiệp địnhTRIPs không đưa ra một định nghĩa cụ thể về tính mới của sáng chế Tuy nhiên,điều này được quy định khá cụ thể trong pháp luật về sáng chế của các quốc gia.Luật Sáng chế Hoa Kỳ quy định rằng:
“Một người được cấp bằng độc quyền sáng chế trừ khi sáng chế đã được biếtđến hoặc được sử dụng ở nước này, hoặc đã được cấp bằng độc quyền sáng chếhoặc đã được mô tả trong ấn phẩm xuất bản tại nước này hay nước ngoài trước ngàynộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế”5
Tính mới được hiểu là không thuộc vào tình trạng kĩ thuật Cơ sở đánh giátình trạng kĩ thuật ở mỗi nước có thể khác nhau, tuy nhiên, nhìn chung tình trạng kĩthuật là tất cả những tri thức đã công bố mà công chúng có khả năng tiếp cận đượcqua các nguồn thông tin Những nguồn này có thể là sách, báo, tài liệu dạng giấy,phim, ảnh hoặc lời nói Ví dụ, nếu một sáng chế được công bố dưới dạng văn bản,hoặc tài liệu sáng chế hoặc sách mà những tài liệu này được đặt ở thư viện haynhững tổ chức mà công chúng có khả năng tiếp cận thì việc công bố được coi là đãxảy ra Tương tự, đối với ảnh, nếu một người khác có trình độ trung bình trong lĩnh
4 Hiệp định TRIPs, Điều 27
5 35 U.S.C 102
Trang 17vực kĩ thuật tương ứng có thể thực hiện quy trình, giải pháp kĩ thuật này dựa theonhững chi tiết được mô tả trong ảnh thì sáng chế cũng được coi là đã công khai vàthuộc tình trạng kĩ thuật
Còn đối với Việt Nam, tính mới của sáng chế được quyết định bằng việc sángchế đó đã bị bộc lộ công khai hay chưa Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, bổ sung
và sửa đổi năm 2009 quy định rằng:
“Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức
sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ởnước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trongtrường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên”6
Bộc lộ công khai có nghĩa là kiến thức về giải pháp kĩ thuật đang xin bảo hộ
đã bị tiết lộ cho những người không liên quan Việc một số lượng có hạn người biếtđến giải pháp kĩ thuật này, ví dụ những thành viên thuộc cùng một nhóm nghiêncứu hoặc một bản thỏa thuận hợp tác nội bộ mà các thành viên có nhiệm vụ giữ bímật về sáng chế thì không được tính là bộc lộ công khai Việc bộc lộ công khai phảiđầy đủ đến mức một người có trình độ trung bình trong lĩnh vưc kĩ thuật đó có thểtìm ra sáng chế đó Sáng chế không bị coi là mất tính mới khi được công bố dướidạng báo cáo khoa học, tại các cuộc triển lãm của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãmquốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức hoặc được công bố bởi mộtngười khác mà không được phép của người được quyền đăng ký
Một khái niệm khác cần được làm rõ là “ngày ưu tiên” Mục tiêu hàng đầu củabảo hộ sáng chế khuyến khích sự sáng tạo, vì vậy, ai sáng tạo trước sẽ nhận được
sự bảo hộ trước và ngày sáng tạo được coi là ngày ưu tiên Tuy nhiên, việc xác địnhngày ưu tiên là không dễ dàng vì không có pháp luật nước nào quy định ngay saukhi sáng tạo phải xin bảo hộ cho sáng chế Vì vậy, đã nảy sinh những tranh chấp vềvấn đề này, ví dụ giữa Enrico Macconi, người sáng chế ra điện thoại nhưng khôngxin bảo hộ và Graham Bell, người sáng chế sau nhưng xin bảo hộ trước Phần lớncác nước giải quyết khúc mắc này theo hướng “first to file”, nghĩa là ai nộp đơn yêucầu bảo hộ trước sẽ được hưởng quyền ưu tiên Tại Việt Nam, ngày ưu tiên là ngàyđược Cục SHTT công nhận là ngày nộp đơn hơp lệ tại Cục hoặc tại một nước khác
6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Điều 60
Trang 18là thành viên của Công ước Paris trong thời gian 12 tháng đối với sáng chế, 6 thángđối với giải pháp hữu ích
b) Tính sáng tạo
Tiêu chí tiếp theo để đánh giá khả năng bảo hộ của sáng chế là tính sáng tạo.Sáng tạo được hiểu là kết quả của một ý tưởng, có thể bắt nguồn từ sáng chế khácnhưng không có tính hiển nhiên, có nghĩa là, một người có trình độ trung bìnhkhông thể tạo ra sáng chế đó theo một quy trình thông thường Theo luật pháp Hoa
Kỳ, sáng chế có thể không được cấp patent cho dù đã đáp ứng điều kiện nêu trongkhoản 102 là chưa bị bộc lộ hoặc miêu tả công khai, nếu sự khác biệt giữa sáng chế
đó và tình trạng kĩ thuật ở mức những kiến thức về sáng chế đã là hiển nhiên đối vớimột người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kĩ thuật đó vào thời điểm tạo rasáng chế”
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, cũng quy định “sáng chế được coi là cótrình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kĩ thuật đã được bộc lộ công khaidưới dạng sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kì hình thức nào khác ở trongnước hoặc nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên đăng ký sángchế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó
là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người cóhiểu biết trung bình trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng”7
Như vậy, điểm tương đồng giữa quy định của pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳchính là sáng chế phải có sự khác biệt cơ bản so với các “giải pháp kĩ thuật đã biết”.Luật pháp Hoa Kỳ cho phép cấp bằng bảo hộ cho những cải tiến mới đối với cácsáng chế cơ bản, tuy nhiên, những cải tiến đó cũng phải đáp ứng được yêu cầu vềtính sáng tạo, nghĩa là, chúng có thể xuất phát từ các sáng chế cơ bản đã được bảo
hộ, nhưng không nảy sinh một cách hiển nhiên từ trình độ kĩ thuật hiện tại của mộtngười có kĩ năng thông thường trong lĩnh vực tương ứng Việc áp dụng một cơ chế
kĩ thuật đã biết cho một mục đích tương tự được xem là thiếu tính sáng tạo Một số
ví dụ về những trường hợp bị cho là thiếu tính sáng tạo là: sự thay đổi kích thướccác bộ phận đơn thuần, hoán đổi các bộ phận, thay đổi nguyên liệu, sự kết hợp các
bộ phận hay sự thay thế đơn thuần các bộ phận hay chức năng tương đương…
7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Điều 61
Trang 19Những giải pháp kể trên không được coi là đủ tính sáng tạo để bảo hộ độc quyềnđối với sáng chế, tuy nhiên, tại Việt Nam, chúng có thể được bảo hộ dưới dạng giảipháp hữu ích So với sáng chế, các điều kiện để được bảo hộ là giải pháp hữu ích ítchặt chẽ hơn về tính sáng tạo hay tính không hiển nhiên tuy vẫn phải đáp ứng điềukiện về tính mới Trên thực tế, việc bảo hộ dưới dạng giải pháp hữu ích thườngđược áp dụng cho các ý tưởng có tính chất bổ sung và có thể không cần đáp ứng đủcác điều kiện đối với bảo hộ sáng chế Thời gian bảo hộ thường ngắn hơn so vớisáng chế và khác nhau giữa các nước (thường là từ 7 đến 10 năm và không được giahạn)
Quá trình kiểm tra tính sáng tạo mang tính chủ quan và khó giải thích Nó phụthuộc vào việc chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan có coi đó là một sáng chế có
đủ tính sáng tạo vào thời điểm sáng tạo hay không Chính vì vậy mà có nhữngtrường hợp thẩm định viên và người nộp đơn hoặc luật sư không đạt được sự nhấttrí về trình độ sáng tạo của sáng chế và phải nhờ đến sự giải quyết của tòa án Cũng
có không ít trường hợp quyết định của thẩm định viên của cơ quan sáng chế bị tòa
án bác bỏ hoặc quyết định của tòa án cấp dưới bị tòa án cấp trên bác bỏ
c) Khả năng áp dụng công nghiệp
Sáng chế muốn được bảo hộ còn phải có tính hữu ích hay có khả năng ápdụng công nghiệp “Khả năng áp dụng công nghiệp” là một thuật ngữ được sử dụngnhằm để chỉ khả năng chế tạo, sản xuất hoặc khả năng thực hiện hay sử dụng trongthực tiễn của sáng chế Đây là một trong những tiêu chí bảo hộ sáng chế có lịch sử hình thành và pháp triển từ rất lâu đời Ngay từ đạo luật đầu tiên trên thế giới về bảo
hộ sáng chế, yêu cầu về khả năng thực hiện trong thực tế của giải pháp kỹ thuật
được tạo ra Đạo luật Venice năm 1474 đã quy định rất rõ: “Bất kỳ người nào sáng tạo ra những cỗ máy mới trong thành phố, chưa từng được biết đến trong xã hội chúng ta, khi đã hoàn thiện và có thể sử dụng trên thực tế thì có thể trình diện trên hội đồng thành phố Trong thời hạn 10 năm, không bất kỳ một vùng lân cận được quyền chế tạo ra loại cỗ máy giống hoặc tương tự, nếu không được sự cho phép của nhà sáng chế »
Theo Điều 62, Luật sở hữu trí năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009,sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được
Trang 20việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nộidung của sáng chế và thu được kết quả ổn định
Một sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu nó có thểđược sử dụng, sản xuất với một quy mô kỹ thuật nhất định Bất kỳ một giải pháp kỹthuật nào có khả năng sử dụng hoặc thực hiện được bằng các hoạt động thực tiễncủa con người đều được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp Các giải pháp kỹthuật mang tính chất tự biện thuần tuý hoặc đi ngược lại với các quy luật của tựnhiên như động cơ vĩnh cửu hoặc giải pháp chống lại hiện tượng thủng tầng ôzônbằng cách chế tạo một lớp màng ngăn bằng chất dẻo bao trùng toàn bộ trên bầu khiquyển trái đất… sẽ không được bảo hộ sáng chế vì không có khả năng thực hiệntrong thực tế… Ngoại lệ, có một số giải pháp kỹ thuật mặc dù hoàn toàn có khảnăng thực hiện được trên thực tế nhưng vẫn bị coi là không có khả năng áp dụngcông nghiệp ví dụ như các sáng chế chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân của mộtngười nào đó hoặc chỉ có khả năng thực hiện được đối với một cá nhân cụ thể nào
đó, hoặc việc khai thác sáng chế trái với quy định pháp luật hoặc trái đạo đức xãhội
1.2.2.2 Đối tượng loại trừ
Không phải tất cả các sáng chế đều được bảo hộ Để có được sự bảo hộ củapháp luật, các sáng chế phải thuộc cái đối tượng có khả năng được bảo hộ sáng chế.Trên thực tế, các quy định về các đối tượng này ở pháp luật các nước có sự khônggiống nhau Hiệp định TRIPs cho phép các thành viên có thể loại trừ không cấppatent cho các sáng chế cần phải bị cấm khai thác thương mại nhằm bảo vệ trật tựcông cộng, đạo đức xã hội hay cuộc sống con người và động thực vật, tránh gâynguy hại nghiêm trọng đến môi trường, với điều kiện những ngoại lệ đó được quyđịnh không chỉ vì lý do duy nhất là việc khai thác các sáng chế tương ứng bị phápluật của nước đó ngăn cấm Cụ thể, các thành viên của TRIPs có thể không cấppatent cho các đối tượng sau:
Các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp nội và ngoại khoa đểchữa bệnh cho người và thực vật
Trang 21 Thực vật và động vật không thuộc chủng vi sinh và các quy trính sản xuấtđộng, thực vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quytrình vi sinh hoặc phi sinh học8
Tuy nhiên các nước thành viên phải bảo hộ giống cây trồng bằng hệ thốngpatent hoặc bằng hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng việc kết hợp hai hệ thống nàydưới bất kì hình thức nào Tại Hoa Kỳ, giống cây trồng được bảo hộ bằng cách cấpbằng như đối với sáng chế Theo khoản 161 Điều luật 35 về Bằng sáng chế của Hoa
Kỳ, “bất cứ ai tạo ra hoặc phát hiện và sản xuất bằng phương pháp vô tính mộtgiống cây mới và riêng biệt bao gồm giống cây biến dị đã canh tác, giống cây độtbiến, cây lai, cây giống mới phát hiện, ngoại trừ cây được nhân giống hoặc giốngcây trong tình trạng chưa được canh tác, thì có thể được cấp văn bằng bảo hộ sángchế”
Tại Hoa Kỳ, những sáng chế chỉ nhằm mục đích khai thác nguyên liệu nguyên
tử đặc biệt hoặc năng lượng nguyên tử trong các loại vũ khí hạt nhân không đượccấp văn bằng bảo hộ
Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, các đối tượng sau đây khôngđược bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:
Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấnluyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;
Cách thức thể hiện thông tin;
Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
Giống thực vật, giống động vật;
Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà khôngphải là quy trình vi sinh;
Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật9
Có thể thấy quy định của mỗi nước có những điểm khác nhau Về cơ bản, pháp luậtViệt Nam vẫn thỏa mãn những quy định của hiệp định TRIPs, tuy nhiên, điểm khácbiệt so với Hoa Kỳ là giống thực vật ở Việt Nam được bảo hộ theo một hình thức
8 Hiệp định TRIPs, Điều 27
9 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Điều 59
Trang 22riêng biệt chứ không phải bảo hộ sáng chế Những quy định về giống cây trồng vàbảo hộ giống cây trồng được quy định từ chương 12 đến chương 15 của Luật SHTT
2005
1.3 Nội dung bảo hộ sáng chế
1.3.1 Quyền của chủ sở hữu bằng sáng chế
Theo hiệp định TRIPs, chủ patent có độc quyền trong việc sử dụng và khaithác sáng chế Cụ thể là:
Nếu sáng chế được cấp patent ở dạng sản phẩm thì chủ sở hữu có quyền cấmbất kỳ người nào thực hiện các hành vi chế tạo, sử dụng, chào bán, bán hoặc nhậpkhẩu các sản phẩm đó để thực hiện các mục đính nói trên mà không được sự chophép của chủ sở hữu
Nếu sáng chế được bảo hộ ở dạng quy trình thì cấm bên thứ ba thực hiện hành
vi sử dụng quy trình đó và các hành vi sử dụng , chào bán, bán hoặc nhập khẩunhằm các mục đích trên ít nhất đối với các sản phẩm được tạo ra bởi quy trình đó
mà không có sự cho phép của chủ sở hữu patent
Ngoài ra chủ sở hữu cũng có quyền chuyển nhượng, để thừa kế quyền sở hữupatent và kí kết các hợp đồng li xăng chuyển nhượng
Tuy nhiên, hiệp định TRIPs cũng đặt ra những quy định về cách thức khôngđược sử dụng của người nắm giữ quyền bao gồm việc sử dụng của chính phủ hoặccủa người thứ ba được chính phủ cho phép Cụ thể, trong luật pháp Hoa Kỳ, bảnchất của quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế là độc quyền ngăn cấm ngườikhác sử dụng và khai thác sáng chế mà không được phép của chủ sở hữu chứ khôngphải là quyền được khai thác, sử dụng sáng chế đó tùy ý Người sáng chế cho dù đãđược cấp patent cũng không có quyền tự do sử dụng , khai thác sáng chế của mìnhnếu các hành vi trên vi phạm các quy định của pháp luật nước đó hoặc ảnh hưởngđến quyền lợi của một người khác, ví dụ như trường hợp patent được cấp cho mộtcải tiến kĩ thuật cho một sáng chế gốc đã được bảo hộ trước đó và thời hạn bảo hộvẫn còn hiệu lực Trong trường hợp này, chủ sở hữu patent chỉ có quyền ngăn cấmngười khác sử dụng giải pháp của mình chứ cũng không có quyền khai thác nó vìhành vi đó sẽ là xâm phạm quyền của chủ sở hữu patetn được cấp cho sáng chế gốc
Trang 23Quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của mình cũng được quy định tạiđiều 125 Luật SHTT 2005
Khác với Hoa Kỳ, Việt Nam quy định chủ sở hữu văn bằng có quyền tài sảnđối với sáng chế bao gồm quyền sử dụng, cho phép hoặc ngăn cấm người khác sửdụng sáng chế của mình và quyền định đoạt sáng chế Khái niệm sử dụng sáng chếcũng được quy định tại điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 bao gồm các hành vi: sảnxuất sản phẩm, áp dụng quy trình được bảo hộ, khai thác công dụng của sản phẩmđược bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ, lưu thông,quảng cáo, chào hàng và nhập khẩu sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sảnxuất theo quy trình được bảo hộ Trong trường hợp sáng chế đó có khả năng ápdụng để đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, trật tự công cộng xã hội, phòngbệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân thì việc sử dụng sáng chế đã trở thànhmột nghĩa vụ đối với chủ sở hữu văn bằng bảo hộ Trong trường hợp đối tượng củavăn bằng là một sáng chế phụ thuộc mà bản thân nó tạo ra một bước tiến quan trọng
về kỹ thuật so với sáng chế cơ bản và có ý nghĩa kinh tế lớn thì chủ sở hữu sáng chếphụ thuộc cũng có quyền yêu cầu chủ sở hữu sáng chế cơ bản chuyển giao quyền sửdụng sáng chế cơ bản với giá cả và điều kiện thương mại hợp lý
1.3.2 Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Việc sở hữu bằng sáng chế có nghĩa là chủ sở hữu có quyền sử dụng và khaithác sáng chế đồng thời ngăn cấm người khác sử dụng, bán, chào bán hoặc nhậpkhẩu sáng chế của mình Vì vậy, thực hiện những hành vi nói trên mà không có sựcho phép của chủ sở hữu văn bằng được coi là vi phạm quyền sở hữu công nghiệpđối với sáng chế Cụ thể hơn, Hoa Kỳ định nghĩa việc một người bất kỳ sử dụng,chế tạo,chào bán và bán bất cứ sáng chế nào đã được bảo hộ tranh lãnh thổ Hoa Kỳ,hoặc nhập khẩu sáng chế đã bảo hộ vào lãnh thổ nước này khi thời hạn bảo hộ cònhiệu lực là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế Tương
tự, tại Việt Nam, xâm phạm quyền đối với sáng chế là hành vi sử dụng sáng chếđược bảo hộ trong thời hạn hiệu lực của văn bằng mà không có sự cho phép của chủ
sở hữu và sử dụng sáng chế mà không trả tiền đền bù trong trường hợp sử dụngtrước sáng chế được quy định tại điều 131 của Luật SHTT
Trang 24Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ Việc sử dụng một sáng chế trong các loạitàu thủy, máy bay, các phương tiện giao thông của bất kỳ quốc gia nào được hưởngđặc quyền như các loại tàu thủy, máy bay hay các phương tiện giao thông của Hoa
Kỳ, tạm thời hoặc do tai nạn tại lãnh thổ Hoa Kỳ sẽ không cấu thành hành vi xâmphạm sáng chế nếu việc sử dụng sáng chế là rất cần thiết cho các loại tàu thủy, máybay và phương tiện đó và không phải để chào bán, bán hay nhằm mục đích sản xuấtmột sản phẩm nào đó để bán hoặc nhập khẩu vào Hoa Kỳ10 Như vậy, sự xuất hiệntạm thời và không nhằm mục đích thương mại của các sáng chế đã được bảo hộtrong các phương tiện giao thông được Hoa Kỳ coi là một ngoại lệ của xâm phạmquyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Những ngoai lệ khác bao gồm việc sử dụng sáng chế nhưng không nhằmmục đích thương mại, ví dụ như sử dụng để phục vụ cho quá trình nghiên cứu củacác tổ chức phi lợi nhuận, các trường đại học hay các trung tâm nghiên cứu…Những ngoại lệ này cũng được đề cập trong điều 125 Luật SHTT 2005 rằng chủ sởhữu patent không có quyền cấm việc một người bất kỳ sử dụng sáng chế theo nhucầu cá nhân nhằm các mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá,nghiên cứu, thử nghiệm… Tóm lại, hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệpchỉ cấu thành khi việc sử dụng sáng chế đã được bảo hộ cho các mục đích thươngmại nhằm kiếm lời và là cố ý
1.4. Thực thi bảo hộ sáng chế
Thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế có thể được hiểu là việcngười nắm giữ quyền thông qua các biện pháp thực thi quyền và các cơ quan Nhànước có thẩm quyền để ngăn chặn việc người khác sử dụng sáng chế được bảo hộ
mà không có sự cho phép của chủ sở hữu văn bằng và xử lý các hành vi xâm phạmquyền
1.4.1 Các chủ thể tham gia
1.4.1.1. Chủ sở hữu quyền
Bằng sáng chế được các cơ quan Nhà nước cấp cho chủ sở hữu với mục đíchngăn cấm người khác sử dụng và khai thác thương mại sáng chế của mình mà chưađược phép Tuy nhiên, sau khi được cấp bằng sáng chế thì trách nhiệm chính trong
10 35 U.S.C 272
Trang 25việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp và theo dõi xem có ai có hành vi xâm phạmquyền đối với sáng chế đã được bảo hộ hay không lại thuộc về chủ sở hữu văn bằngbảo hộ
Khoản 281 thuộc USC 35 quy định chủ sở hữu có thể dùng các biện pháp dân
sự để thực thi quyền chủ sở hữu của mình Luật SHTT 2005 cũng quy định cóquyền tự bảo vệ đối với sáng chế được bảo hộ của mình bằng việc áp dụng các biện
pháp sau: Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ, yêu cầu các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại, yêu cầu
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan, khởi kiện
ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
1.4.1.2 Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm áp dụng các biện pháp dân sự,hình sự hay hành chính để xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệpđối với sáng chế khi có yêu cầu của chủ sở hữu Tại Hoa Kỳ, các cơ quan bao gồmtòa án các cấp, Hải quan, Ủy ban thương mại quốc tế, USPTO cùng phối hợp đểthực thi bảo hộ sáng chế Các quy định về chức năng và hoạt động của USPTO,được quy định rất cụ thể trong phần I, Luật sáng chế Hoa Kỳ Trách nhiệm thực thibiện pháp bảo hộ tại biên giới và quyền của người nước ngoài do ITC đảm nhiệmtheo Luật Thuế quan 1930 của Hoa Kỳ
Tại Việt Nam, các cơ quan này bao gồm Tòa án thực hiện các thủ tục tố tụngdân sự và hình sự và các biện pháp tạm thời, Hải quan đối với các biện pháp thựcthi tại biên giới và Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Ủy ban nhân dân cáccấp, Hải quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp hành chính Trong trường hợpcần thiết, các cơ quan này có thể có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xửphạt hành chính theo quy định của pháp luật11
11 Luật SHTT 2005, Điều 200
Trang 261.4.2 Các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
1.4.2.1. Biện pháp dân sự và hành chính
Đây là biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế phổbiến nhất tại các quốc gia “Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâmphạm theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bịthiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đã được xử lý bằng biệnpháp hành chính hoặc hình sự.”
Mục 2 phần III của Hiệp định TRIPs đã quy định các thủ tục và các biệnpháp cùng chế tài dân sự mà các cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng để xử lý cáchành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế như lệnh cấm củatòa án, hay yêu cầu bên bị bồi thường cho bên bị thiệt hại dựa theo mức độ thiệt hạicủa hành vi xâm phạm Ngoài ra các cơ quan có thẩm quyền cũng có quyền áp dụngcác biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của chủ sở hữu nhằm tịch thu, giữnguyên vật chứng… Căn cứ vào điều luật 35 về bằng sáng chế của Hoa Kỳ thì chủ
sở hữu có quyền được áp dụng các biện pháp dân sự để ngăn chặn các hành vi xâmphạm của người khác đối với sáng chế của mình Các chế tài dân sự bao gồm lệnhcấm của tòa án, bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, bồi thường chiphí tố tụng
Theo Luật SHTT 2005, Tòa án có thẩm quyền thực hiện các biện pháp dân
sự để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:
Ngoài ra, Bộ luật dân sự 2005 cũng cho phép chủ sở hữu tài sản có tự quyềnbảo vệ tài sản bằng các quy định của pháp luật
Bên cạnh các biện pháp dân sự trên, Tòa án và chủ sở hữu cũng có thể áp dụng cácbiện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp có nguy cơ gây thiệt hại không thể bùđắp được cho chủ sở hữu hoặc nhằm mục đích ngăn chặn hành vi tiêu hủy vậtchứng Có thể nói, các quy định của pháp luật Hoa Kỳ và Việt Nam về các biệnpháp dân sự khá đồng nhất Tuy nhiên, điểm khác biệt là luật Hoa Kỳ quy định đốivới sản phẩm đã được cấp bằng bảo hộ, chủ sở hữu quyền phải đánh dấu nhận biếtsản phẩm đó đã được bảo hộ lên bao bì thì mới được bồi thường khi có hành vi xâmphạm Điều này đã được quy định rõ trong khoản 287, Luật sáng chế Hoa Kỳ
Trang 27Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, tòa án có thể yêu cầu bên xâm phạmphải bồi thường chi phí tố tụng12
1.4.2.2. Biện pháp hình sự
Hiệp định TRIPs yêu cầu các thành viên phải quy định việc áp dụng các thủtục hình sự các chế tài bao gồm cả tù và/hoặc phạt tiền đủ để ngăn ngừa hành vixâm phạm, tương ứng với mức phạt được áp dụng cho các tội phạm có mức độnghiêm trọng tương đương trong những trường hợp thích hợp Các thành viên cóthể quy định áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt áp dụng cho các trườnghợp khác nhằm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trong trường hợp hành vixâm phạm là cố ý và có quy mô thương mại
Đối với bằng sáng chế, không có chế tài hình sự được đề cập đến trong Điềuluật 35 của Hoa Kỳ Tuy nhiên, tại Việt Nam, nếu hành vi xâm phạm quyền cấuthành hành vi phạm tội thì có thể thực hiện các thủ tục hình sự đối với người cóhành vi xâm phạm
1.4.2.3. Biện pháp thực thi tại biên giới
Đối với hành vi nhập khẩu sản phẩm có nguồn gốc từ sáng chế đã được bảo
hộ, các quốc gia áp dụng biện pháp thực thi tại biên giới nhằm ngăn chặn việc cácloại hàng hóa vi phạm này lưu thông vào thị trường của nước mình Cơ quan trựctiếp thực thi tại biên giới thường tại Hải quan Các biện pháp thường áp dụng làlệnh cấm nhập khẩu, đình chỉ việc thông quan và tịch thu hoặc tiêu hủy hàng hóaxâm phạm quyền
1.5. Lợi ích của bảo hộ sáng chế
1.5.1 Lợi ích đối với xã hội
Đầu tiên, bảo hộ sáng chế góp phần thúc đẩy, khuyến khích hoạt động sáng tạo Có thể nói bằng sáng chế như một khế ước giữa xã hội và người sáng tạo13.Theo điều khoản của hợp đồng này, nhà sáng chế được độc quyền ngăn cấm ngườikhác không được sao chép, sử dụng, khai thác thương mại, bán những sáng chế đãđược bảo hộ để đổi lấy việc nhà phát minh bộc lộ sáng chế cho công chúng Do đó,
hệ thống bảo hộ sáng chế khuyến khích việc công bố thông tin cho công chúng bằngcách dành phần thưởng cho sự đầu tư về thời gian, công sức, tiền của và những nỗ
12 35 U.S.C 287
13 Laurence R.Hefter và Robert D.Litowitz , Sở hữu trí tuệ là gì? – Bản dịch Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam
Trang 28lực trong nghiên cứu của nhà phát minh Điều này thúc đẩy họ tiếp tục nghiên cứu
vì các đối thủ cạnh tranh muốn tìm ra những giải pháp thay thế cho những sáng chế
đã được cấp bằng Điều này đã thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ về công nghệ và đemlại nhiều lợi ích cho xã hội
Thời hạn bảo hộ độc quyền của bằng sáng chế cũng thúc đẩy quá trình khaithác thương mại sáng chế Doanh nghiệp sẽ phải nhanh chóng đưa sáng chế vàotrong sản xuất, từ đó tạo ra những sản phẩm có tính năng được cải thiện và ngườitiêu dùng sẽ được hưởng lợi ích từ điều này Theo ước tính, cứ trung bình từ 8-12tháng, hãng Apple lại cho ra mắt một sản phẩm mới thuộc dòng máy tính của mình
Ở các nước, sau khi cấp văn bằng bảo hộ, sáng chế sẽ được công bố cho công chúng
và tư liệu sáng chế sẽ được lưu trữ Việc tiếp cận được các nguồn thông tin sáng chếnày là khá dễ dàng Điều này tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức có thể liên kếtvới nhau trong hoạt động nghiên cứu công nghệ mới và cũng tránh việc các nghiêncứu trùng lặp nhau là quan trọng nhất là làm tăng kho kiến thức của xã hội14
Bảo hộ sáng chế và bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung là một công cụ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và Giooc Đani là một ví dụ minh chứng cho
nhận định này Cuộc cải cách trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ở nước này đã đem đếnrất nhiều lợi ích cho ngành dược phẩm nói riêng và nền kinh tế của quốc gia này nóichung Việc nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chếtrong ngành dược phẩm tại Giooc Đani cùng với việc kí kết hiệp định Thương mai
tự do với Hoa Kỳ đã đem lại cho ngành dược phẩm nước này cơ hội mở rộng hoạtđộng nghiên cứu và triển khai dược phẩm cũng như bán sản phẩm và kí kết thỏathuận cấp phép Việc nhanh chóng đưa các sản phẩm mới tới người tiêu dùng đãđem lai nhiều lợi ích cho ngành du lịch dưỡng bệnh của Giooc Đani Kể từ khi triểnkhai hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ chặt chẽ hơn, tỉ trọng của ngành chăm sóc y tếtrong GDP của Giooc-đa-ni tăng từ 2,8% năm 1997 lên tới 3,5% năm 2001 Kể từnăm 1997 số lượng việc làm trong các lĩnh vực y tế tăng thêm 52% Báo cáo cũngcho thấy “ngành dược phẩm là ngành lớn thứ hai ở Giooc-đa-ni và từ năm 1999 tới
2002 lượng thuốc xuất khẩu của các công ty Giooc-đa-ni tăng thêm 30%”15 Rõ
14 Laurence R.Hefter và Robert D.Litowitz , Sở hữu trí tuệ là gì? – Bản dịch Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam
15 Jeanne Holden (2008), Giooc Đani hưởng lợi từ cải cách quyền sở hữu trí tuệ? – Hội nghị quốc tế về thư
viện
Trang 29ràng, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế và bảo hộ sở hữu trí tuệnói chung đã thu hút nguồn đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển, đồngthời tạo cơ hội cho họ tiếp xúc với công nghệ mới để nâng cao hiệu quả sản xuấtcủa các ngành công nghiệp, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước Từ đó, đời sốngnhân dân các nước này sẽ được cải thiện, phúc lợi xã hội tăng bởi chỉ khi kinh tếphát triển thì mới có đủ nguồn lực để đầu tư vào các hoạt động phúc lợi xã hội
1.5.2 Lợi ích đối với doanh nghiệp
Ngoài việc đem lại những lợi ích to lớn cho sự phát triển của mỗi quốc gia vàtoàn xã hội nói chung, xét ở cấp độ nhỏ hơn, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũngrất có lợi cho doanh nghiệp, dù quy mô lớn hay nhỏ
Thứ nhất, bảo hộ sáng chế tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Hoạt động R&D là một quá trình kéo dài, tốn kém và chứa đựng nhiều rủi ro Khácvới những sáng chế được tạo ra bởi các cá nhân, các sáng chế của các doanh nghiệpthường là kết quả nghiên cứu của tập hợp một nhóm các chuyên gia có trình độtrong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp hoặc từ những nguồn bên ngoài công
ty như từ các viện nghiên cứu hay các trường đại học…Bản thân chi phí cho hoạtđộng này đã tốn kém bởi muốn có nguồn nhân lực để phục vụ cho hoạt động R&Dthì doanh nghiệp phải trả một số tiền tương đương cho những nỗ lực, công sứcnghiên cứu của các chuyên gia trong khi giá trị của trí tuệ là vô giá Thế nhưng,không phải hoạt động nghiên cứu nào cũng thành công và đem lại kết quả nhưdoanh nghiệp mong muốn Do tính rủi ro cao của việc nghiên cứu, một khi đã thànhcông và có được sáng chế, nếu doanh nghiệp không bảo hộ quyền sở hữu côngnghiệp cho sáng chế, các đối thủ cạnh tranh có thể đi trước một bước và đăng kýbảo hộ cho sáng chế Do vậy, bảo hộ sáng chế sẽ loại trừ nguy cơ các doanh nghiệpkhác sử dụng bán sáng chế của mình, tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh,tạo tâm lý yên tâm khi kinh doanh cho doanh nghiệp
Thứ hai, bảo hộ sáng chế có thể đem lại cơ hội cho doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận thông qua việc khai thác sáng chế hoặc bán sáng chế cho một doanh nghiệp khác Về bản chất, sáng chế chính là những giải pháp kĩ thuật nhằm cải thiện
chức năng của sản phẩm, từ đó có thể tạo ra sự khác biệt với các sản phẩm tương
Trang 30đương và có thể thu được nguồn lợi nhuận cao hơn từ việc bán sản phẩm Nếukhông khai thác sáng chế, doanh nghiệp có thể bán sáng chế cho một công ty khác
và thu về một số tiền từ việc bán quyền Biện pháp này sẽ tiết kiệm cho doanhnghiệp và còn đem lại cho doanh nghiệp một nguồn thu nhập từ sáng chế của mình.IBM có thể coi là doanh nghiệp thành công nhất trong việc chuyển giao công nghệnày Chỉ riêng năm 2011, IBM đã sở hữu 6.800 bằng sáng chế, và công ty này đã cóđến 70.715 bằng sáng chế cấp bởi USPTO và đã liên tục dẫn đầu danh sách cácdoanh nghiệp sở hữu nhiều bằng sáng chế nhất tại Mỹ trong 19 năm liền Ước tínhmỗi năm IBM thu được hơn 1 tỷ USD từ bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác16
Bảo hộ sáng chế giúp doanh nghiệp có vị thế mạnh trên thị trường Việc sở
hữu bằng sáng chế độc quyền giúp doanh nghiệp ngăn chặn các tổ chức, công tykhác sử dụng giải pháp kĩ thuật của mình Nhờ vậy mà chỉ có doanh nghiệp mới cóthể sản xuất ra những sản phẩm có chức năng tiến bộ hơn, và điều này sẽ làm giảm
áp lực cạnh tranh với các đối thủ Một ví dụ điển hình là Apple Hãng này là mộttrong những doanh nghiệp luôn đi đầu trong công tác bảo hộ quyền sở hữu côngnghiệp Mới đây nhất, Apple đã đăng ký bảo hộ cho điều khiển vô tuyến của mình.Năm 2011, doanh thu của hãng này đạt 108 tỷ USD, lợi nhuận tăng 85% so với nămtrước17 Cho dù gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của Samsung, nhưng Apple vẫnchứng tỏ vị trí số một của mình trong lĩnh vực điện thoại, máy tính Ngay kể cả ởquê hương của Samsung, người ta vẫn thấy một số lượng lớn người dân đang sửdụng những sản phẩm, ứng dụng của Apple
Bằng sáng chế còn có tác dụng lớn trong việc nâng cao hiệu quả đàm pháncủa doanh nghiệp Đặc biệt, khi đàm phán kí kết một hợp đồng li-xăng chuyển giaoquyền sở hữu công nghiệp Khi nắm trong tay sáng chế, doanh nghiệp có thể xemxét đến lợi ích của mình để đưa ra những điều khoản có lợi nhất Bên cạnh đó,doanh nghiệp còn có thể cải thiện hình ảnh của mình Bằng sáng chế chính là biểu
16 Lâm Thảo, (2012),IBM phá kỉ lục về bằng sáng chế tại Mỹ
17Võ Hiền, (2012), “Điểm mặt” thành công trong năm của Apple
Trang 31tượng cho sức mạnh của một doanh nghiệp Vì thế, doanh nghiệp nào sở hữu nhiềubằng sáng chế hơn thì có thể để lại ấn tượng tốt hơn với công chúng, với người tiêudùng Bằng sáng chế cho thấy năng lực của doanh nghiệp, sức mạnh của doanhnghiệp về công nghệ trong mắt khách hàng, nhà đàu tư, các đối tác kinh doanh vàcác cổ đông Điều này sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, huyđộng vốn, tìm kiếm nguồn đầu tư và đối tác kinh doanh mới
Tóm lại, sáng tạo và khoa học công nghệ có những mối liên hệ chặt chẽ vớinhau và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta Từ thời xaxưa, những bước tiến lớn về khoa học đã đưa loài người thoát khỏi những hình thái
xã hội lạc hậu Trong một thập kỉ trở lại đây, khả năng dẫn dắt của công nghệ, cụthể là sáng chế, đã trở thành một yếu tố quyết định đến sự phát triển và thịnh vượngcủa mỗi quốc gia Số lượng bằng sáng chế chính là một minh chứng cho trình độphát triển về khoa học và sức sáng tạo của quốc gia đó Bảo hộ sáng chế đã trởthành mối quan tâm của càng xã hội khi sáng chế chứng minh được vai trò quantrọng của mình
Đúng như Abraham Lincohn đã từng nói: “Hệ thống bằng độc quyền sángchế đổ thêm dầu lợi ích vào ngọn lửa thiên tài” Câu nói trên đã phần nào khẳngđịnh tầm quan trọng của bảo hộ sáng chế đối với xã hội hiện đại Đặc biệt, trongthời đại ngày nay, khi mà tri thức và công nghệ là những yếu tố quan trọng để đánhgiá năng lực cạnh tranh cũng như tiềm năng phát triển kinh tế của mỗi quốc gia thìbảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ sáng chế nói riêng càng trở nên có ýnghĩa
Trang 32CHƯƠNG 2 BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI
HOA KỲ 2.1 Cơ sở pháp lý của bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ.
2.1.1 Các điều ước quốc tế về bảo hộ sáng chế
Hoa Kỳ là thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương về quyền sở hữucông nghiệp, trong đó điều ước quốc Hoa Kỳ tham gia sớm nhất là Công ước Paris
1883
2.1.1.1 Công ước Paris 1883 về quyền sở hữu công nghiệp
Hoa Kỳ đã trở thành thành viên của Công ước Paris năm 1887, chỉ sau bốnnăm khi công ước được kí kết Sự xuất hiện của Công ước Paris đã khiến việc bảo
hộ quốc tế cho sáng chế trở nên dễ dàng và thống nhất hơn Các công dân, bao gồm
cả thể nhân và pháp nhân, của các quốc gia khác sẽ được nhận được sự bảo hộgiống như công dân Hoa Kỳ Chế độ đối xử quốc gia còn được áp dụng cho côngdân của những nước không phải là thành viên của công ước nhưng cư trú tại Hoa
Kỳ hoặc có cơ sở kinh doanh tại nước này Người nộp đơn còn được hưởng quyền
ưu tiên, nghĩa là sau khi nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế tại một quốc gia, ngườinộp đơn được hưởng quyền ưu tiên trong một khoảng thời gian nhất định để đăng
ký bảo hộ tại các quốc gia thành viên khác của công ước
Bằng độc quyền sáng chế được cấp ở quốc gia thành viên của Công ước chocông dân nước đó hoặc người cư trú phải được coi là động lập với bằng độc quyềnđược cấp cho cùng một sáng chế ở các quốc gia khác, kể cả các nước không phải làthành viên của Công ước Nguyên tắc về “tính độc lập” này được quy định ở Điều4bis Một sáng chế không được cấp tại Hoa Kỳ vì không đáp ứng những nhu cầucủa luật pháp Hoa Kỳ sẽ vẫn có thể đăng ký bảo hộ tại các quốc gia khác, dù choquốc gia đó có phải là thành viên của Công ước hay không và ngược lại
Công ước Paris cũng đưa ra những quy định về nhập khẩu, không khai thác
và li xăng cưỡng bức đối với sáng chế Điều 5A, khoản 2 có quy định rằng: “Mỗinước thành viên của Liên minh có quyền đưa ra những biện pháp pháp lý quy địnhviệc cấp li-xăng cưỡng bức nhằm ngăn chặn việc lạm dụng có thể nảy sinh từ việcthực hiện độc quyền được xác lập bởi patent, ví dụ như không sử dụng sáng chế”
Trang 33Như vậy, Hoa Kỳ có thể tiến hành các biện pháp pháp lý quy định việc cấp lixăng cưỡng bức để ngăn chặc việc chủ sở hữu patent sử dụng bằng sáng chế chỉ vớimục đích ngăn cản việc khai thác sáng chế đó tại Hoa Kỳ hoặc để dành độc quyềnnhập khẩu vật phẩm được cấp bằng độc quyền sáng chế Tuy nhiên, Mỹ chỉ đượcquyền cấp li-xăng cưỡng bức do không sử dụng hoặc sử dụng không đầy đủ sángchế khi kết thúc thời hạn bốn năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ hoặc ba năm
kể từ ngày cấp bằng độc quyền Thời hạn 3 hoặc 4 năm nêu trên là thời hạn tối thiểu
và có thể được kéo dài thêm bởi Hoa Kỳ Li xăng cưỡng bức do không khai tháchoặc khai thác không đầy đủ phải là li xăng không độc quyền và chỉ được chuyểngiao cùng với doanh nghiệp được hưởng lợi từ li xăng cưỡng bức đó Nói cáchkhác, nó là một ràng buộc cùng doanh nghiệp và không để được chuyển giao riêng
rẽ Những hạn chế này nhằm ngăn chặn người được cấp li xăng cưỡng bức giành lợithế hơn trên thị trường hơn là đảm bảo mục đích chủ yếu của li-xăng cưỡng bức –khai thác đầy đủ sáng chế18
Như vậy, Công ước Paris đã đưa ra những quy định vừa có tính bắt buộc đốivới các quốc gia thành viên, cụ thể ở đây là Hoa Kỳ, nhằm tránh sự từ chối cấppatent cho các sáng chế với lý do liên quan đến tính pháp lý tại các quốc gia khác,đồng thời cũng tạo điều kiện để Hoa Kỳ có thể bảo đảm việc khai thác đầy đủ, hữuích các sáng chế được cấp bằng độc quyền tại quốc gia này
2.1.1.2 Hiệp ước hợp tác quốc tế về bằng sáng chế PCT 1970
PCT được kí kết tại Washington D.C vào năm 1968 và chính thức có hiệu lựcvào 1978 Sự ban hành hiệp ước này đã tạo điều kiện cho việc đăng ký bảo hộ quốc
tế cho sáng chế Theo luật pháp Hoa Kỳ, nếu sáng chế được tạo ra tại nước này thìngười sáng chế cần phải nhận được giấy phép của Giám đốc USPTO trước khi đăng
ký bảo hộ tại một quốc gia khác nếu chưa đăng ký bảo hộ tại Hoa Kỳ hoặc trước khihết thời hạn 6 tháng sau khi nộp đơn đăng ký tại nước này, nếu chưa có giấy phépnày khi nhận được biên lai đăng ký Ngược lại, nếu một sáng chế từ nước ngoàimuốn được cấp bằng độc quyền tại Hoa Kỳ thì phải xin cấp giấy phép và việc từchối hoặc chấp thuận cấp sẽ được cho biết trong biên lai đăng ký được gửi cho mỗiứng viên nộp đơn
18 GS Michael Blakeney, Tài liệu giảng dạy về Sở hữu trí tuệ, Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary, Đại học London, tr23-25
Trang 342.1.1.3 Hiệp định TRIPs
Hiệp định TRIPs được ban hành với ý thức của thế giới về sự cần thiết phảibảo hộ một cách hiệu quả và thỏa đáng các tài sản trí tuệ và mục tiêu đảm bảo rằngcác biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ không trở thành một rào cản đối với hoạtđộng thương mại quốc tế Các nước thành viên WTO, trong đó có Hoa Kỳ, có nghĩa
vụ phải sửa đổi hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của quốc gia mình cho phù hợpvới hiệp định TRIPs và đưa vào áp dụng các biện pháp thực thi được quy định trongHiệp định, đặc biệt là các biện pháp thực thi dân sự vốn chưa được quan tâm đúngmức bởi các hiệp ước quốc tế trước đó Cụ thể, đối với sáng chế, Hiệp định yêu cầucác nước phát triển phải kéo dài thời hạn bảo hộ lên đến một mức chuẩn chung là 20năm kể từ ngày cấp bằng Ngoài ra, điều 31 của Hiệp định cũng yêu cầu tòa ántrong việc xác định người nộp đơn yêu cầu cấp li xăng cưỡng bức đã nỗ lực trongmột thời hạn hợp lý để được chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế cho phép khaithác sáng chế với những điều khoản và điều kiện hợp lý19 Kết quả của quá trình này
là sự hài hòa hóa quốc tế về các tiêu chuẩn bảo hộ pháp lý và thực thi quyền giữacác quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ
Tuy nhiên, Hiệp định chỉ quy định những tiêu chuẩn tối thiểu trong một sốlĩnh vực then chốt Các quốc gia vẫn có quyền linh hoạt và chủ động trong việc điềuchỉnh các quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại nước mình và thiết lập cáctiêu chuẩn vượt quá tiêu chuẩn tối thiểu của Hiệp định TRIPs, ví dụ đối với lĩnh vựcbảo hộ sáng chế, các quốc gia có quyền lựa chọn hệ thống bảo hộ riêng dành chogiống cây trồng Tại Hoa Kỳ, giống cây trồng là một trong ba đối tượng có thể đượccấp bằng sáng chế, trong khi tại một số quốc gia châu Âu khác, giống cây trồngđược bảo hộ theo một hệ thống riêng biệt Do vậy, hệ thống bảo hộ sáng chế cónhững đặc điểm rất riêng biệt khi so sánh với hệ thống bảo hộ của các quốc giakhác
Ngoài ra, Hoa Kỳ còn ký kết các hiệp ước song phương với nhiều quốc gianhư Jordan, Nhật Bản, Việt Nam…về lĩnh vực sở hữu trí tuệ Đây cũng là mộtnguồn luật quan trọng điều chỉnh hoạt động bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ, đặc biệtđối với những người nộp đơn không phải là công dân Hoa Kỳ Trong đó, phải kể
19 GS Michael Blakeney, Tài liệu giảng dạy về Sở hữu trí tuệ, Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary, Đại học London, tr.44
Trang 35đến KORUS – Hiệp định thương mại tự do giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc mà theo đóchính phủ mỗi quốc gia sẽ mở rộng nguyên tắc đối xử quốc gia cho những ngườinắm giữ quyền sở hữu trí tuệ từ quốc gia kia Cũng theo hiệp định này,các quy định
và văn bản luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ được thông báo với đốiphương Điều này tạo lợi thế cho các chủ thể quyền khi đăng ký và thực thi bảo hộ
2.1.2 Luật quốc gia
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đi tiên phong về bảo hộ sở hữu trí tuệnói chung là bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nói riêng trên thếgiới Tại Hoa Kỳ, kể cả khi chưa có một khung pháp lý nào dành cho lĩnh vực bảo
hộ sáng chế, Hoa Kỳ đã sớm nhận thức được sự cần thiết phải bảo vệ cho quyền lợicủa các nhà phát minh Năm 1641, chính quyền thực dân đã cấp những bằng sángchế đầu tiên cho các nhà phát minh cho dù lúc này chưa có một quy định về phápluật nào về việc này Trên khắp nước Mỹ, chính quyền tại từng bang có những cáchkhác nhau để bảo vệ cho các nhà sáng chế, cụ thể ở Nam California, người phátminh ra các loại máy móc được trao độc quyền sử dụng thiết bị do mình tạo ra trongthời gian 14 năm20 Có thể nói, đây là những tiền đề cho sự hình thành và phát triểnmột hệ thống bảo hộ sáng chế mạnh mẽ tại Hoa Kỳ Đạo luật đầu tiên về bằng sángchế của Hoa Kỳ được ban hành năm 1790 bởi Quốc hội Hoa Kỳ Đạo luật này thuộcđiều I, mục 8 của Hiến pháp Hoa Kỳ với tư cách “một đạo luật để khuyến khích sựphát triển của khoa học và nghệ thuật hữu ích”21 Kể từ đó, luật sáng chế Hoa Kỳliên tục được thay đổi, bổ sung
Hiện nay, các quy định về bằng sáng chế được tập hợp trong Điều luật số 35của Hoa Kỳ Kết cấu của điều luật này gồm 4 chương, cụ thể là:
Phần I gồm các vấn đề liên quan đến sự thành lập, chức năng và hoạt động củaVăn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ
Phần II quy định các vấn đề về khả năng cấp văn bằng và việc cấp văn bằngđộc quyền sáng chế
20
A Brief History of the Patent Law of the United States
<http://www.ladas.com/Patents/USPatentHistory.html> [truy cập ngày
18/03/2012]
21 US Constitution, Article 1, Section 8
Trang 36 Phần III gồm các quy định về văn bằng bảo hộ với các độc quyền sáng chếđược bảo hộ
Phần IV là những quy định riêng về các vấn đề liên quan đến PCT tại Hoa Kỳ Hoa Kỳ là một ví dụ điển hình về các quốc gia nằm trong hệ thống Thông luật(Common Law) –một hệ thống có tầm ảnh hưởng lớn và được áp dụng tại nhiềuquốc gia phát triển trên thế giới Đặc điểm nổi bật của hệ thống pháp luật này là cónguồn chính là các tập quán pháp và án lệ Vì Hoa Kỳ là một hợp chủng quốc nên
hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ khá phức tạp do sự tồn tại đồng thời của luật củatừng bang và luật liên bang Hoa Kỳ là một nước tam quyền phân lập, trên cơ sởtính chất tối cao của Hiến pháp Do vậy, nguồn luật điều chỉnh hoạt động bảo hộsáng chế tại Hoa Kỳ cũng rất đa dạng bao gồm: Điều luật 35 về Bằng sáng chế(Patent), hệ thống án lệ và tập quán pháp, các học thuyết, các nghiên cứu khoa học
về hoạt động này…Những quy định của luật pháp về tính không hiển nhiên củasáng chế đã được Tòa án tối cao Hoa Kỳ làm rõ trong vụ kiện giữa WilliamT.Graham và John Deere.Co vào năm 1966 và những lập luận của Tòa án đã trởthành căn cứ để kiểm tra tính sáng tạo của sáng chế Tranh chấp giữa KSR Int’l Co
và Teleflex và phán quyết của tòa án cũng là một án lệ quan trọng trong việc xácđịnh tính hiển nhiên của sáng chế và trên thực tế, án lệ này thường được các tòa án
sử dụng để từ chối yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ cho sáng chế
2.2 Hoạt động bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ
2.2.1 Thủ tục đăng ký và cấp bằng sáng chế
Theo luật pháp Hoa Kỳ, “ bất kỳ người nào phát minh hoặc tìm ra quy trình,thiết bị, sản phẩm hay các hợp chất mới và có ích hoặc bất kì cải tiến nào đối vớiquy trình, thiết bị, sản phẩm hợp chất đó”22 đều có thể được cấp bằng sáng chế Chỉ
có người tạo ra sáng chế mới được quyền đăng ký bảo hộ Nếu người đăng kýkhông phải nhà sáng chế, bằng sáng chế sẽ không có hiệu lực và người giả mạongười sáng chế sẽ phải nhận hình phạt hình sự Trong trường hợp người sáng chế đãqua đời đơn đăng ký có thể được nộp bởi đại diện vê pháp luật, người quản lý hoặcnắm giữ tài sản đó Nếu sáng chế được tạo ra bởi sự hợp tác giữa hai hay một nhómngười, họ có thể đăng ký bảo hộ với danh nghĩa đồng sáng chế với điều kiện tất cả
22 U.S.C 35 101
Trang 37thành viên đều đồng ý đăng ký bảo hộ Điều cần lưu ý ở đây là người hỗ trợ về mặttài chính cho quá trình tạo ra sáng chế sẽ không được coi là nhà đồng sáng chế vàkhông thể đồng đăng ký bảo hộ cho sáng chế đó Chỉ những người thực sự tham giavào quá trình tạo ra sáng chế hoặc đưa ra giải pháp kĩ thuật mới và hữu ích mới cóthể đồng đăng ký bảo hộ sáng chế
Tại Hoa Kỳ, trách nhiệm xem xét, thẩm định đơn xin cấp bằng độc quyền vàviệc cấp văn bằng này thuộc về Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ Tiềnthân của tổ chức này với tên gọi Văn phòng Sáng chế được thành lập vào năm 1836sau một số sửa đổi trong hệ thống luật pháp về bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ và thuộc
Bộ Ngoại giao của nước này cho đến năm 1849 khi được chuyển sang Bộ Nội vụ.Năm 1925 cho đến nay, quyền quản lý cơ quan này thuộc về Bộ Thương mại Hoa
Kỳ và tên gọi Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ ngày nay được sử dụngbắt đầu từ năm 2000 USPTO là cơ quan có thẩm quyền thiết lập quyền sở hữu côngnghiệp đối với sáng chế bao gồm các hoạt động tiếp nhận và thẩm định đơn đăng kýbảo hộ, cấp và công bố bằng sáng chế độc quyền đồng thời lưu giữ các tài liệu liênquan để tạo điều kiện cho công chúng có thể kiểm tra, tìm hiểu về các sáng chế đãđược cấp bằng Hiện nay, cơ quan này có hơn 6500 nhân viên và tiếp nhận hơn450,000 đơn đăng ký bảo hộ mỗi năm 23
2.2.1.1. Quy trình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế
a) Nộp đơn theo hình thức thông thường
Khi đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, người nộpđơn cần trình lên USPTO các tài liệu sau:
Bản mô tả sáng chế: là văn bản mô tả sáng chế với đầy đủ các đặc trưng đểphân biệt sáng chế và là cơ sở để thẩm định xem sáng chế có đủ điều kiện đượcbảo hộ độc quyền hay không Bản mô tả phải bộc lộ sáng chế, cụ thể là phải trình
23 USPTO, (2011), General information concerning patents
Trang 38bày các thành phần cấu tạo của sáng chế nếu đối tượng của đơn là sản phẩm hoặcmáy móc, là cách thức áp dụng nếu đối tượng là một quy trình
Một chi tiết quan trọng của mô tả sáng chế là yêu cầu bảo hộ Để bảo hộ tốtnhất cho sáng chế của mình, người nộp đơn cần phải đưa ra những khía cạnh màanh ta cho là mới, có tính sáng tạo và cần được bảo hộ Đây là một phần quan trọngđối với đơn đăng ký bảo hộ vì nó sẽ quyết định mức độ bảo hộ đối của bằng độcquyền và cách xác định các hành vi xâm phạm sáng chế của tòa án Các yêu cầu nàyphải phù hợp với sáng chế trong đơn, các thuật ngữ và điều kiện phải tương ứng vớinhững gì đã đề cập trước đó trong đơn để tránh gây nhầm lẫn hay khó khăn khi đọc.Bản mô tả sáng chế cần miêu tả cụ thể quá trình tạo ra và sử dụng sáng chếđến mức một người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng có thểtạo ra và sử dụng sáng chế đó Hoa Kỳ yêu cầu người nộp đơn phải chỉ ra các đặcđiểm đặc trưng để phân biệt sáng chế của mình với những kĩ thuật đã biết trước đó.Nói cách khác, bản chất của máy móc, thiết bị, sản phẩm hay hợp chất phải được đềcập trong đơn Ngoài ra, người nộp đơn còn phải đưa ra cách sử dụng tốt nhất sángchế Hầu như các nước khác không quy định như vậy dẫn đến việc các nhà phátminh có thể giấu cách tốt nhất để tạo ra hoặc sử dụng sản phẩm hoặc quy trình đượccấp bằng Việc làm này căn bản trái với mục đích của một hệ thống bảo hộ sáng chế
vì nó ngăn cản việc công bố các cải tiến về công nghệ
Hầu hết các trường hợp không yêu cầu vật mẫu đi kèm với đơn bởi sáng chế
đã được mô tả cụ thể qua bản mô tả và bản vẽ kĩ thuật, tuy nhiên, trong một sốtrường hợp cụ thể, như hợp chất hóa học, USPTO có thể yêu cầu sự trình diện củamẫu vật hoặc các nguyên liệu tạo ra chúng, với mục đích thẩm định hoặc thínghiệm
Bản vẽ kĩ thuật
Trong một số trường hợp, luật pháp Hoa Kỳ yêu cần đơn đăng ký phải có kèmbản vẽ kĩ thuật để tạo điều kiện cho việc hiểu rõ về sáng chế Bản vẽ phải mô tả mọichi tiết của sáng chế đã được nhắc đến trong yêu cầu bảo hộ và phải được vẽ theođúng quy định của USPTO về kích thước bản vẽ, loại giấy sử dụng cũng như cáchtrình bày về hình thức như căn lề… Mục đích của việc đưa ra các tiêu chuẩn này là
để phát hành bản vẽ và văn bằng với hình thức đồng bộ, tạo điều kiện cho người sử
Trang 39dụng dễ dàng hiểu được bản chất và cách sử dụng sáng chế Bản vẽ phải được inbằng mực đen, ngoại trừ một số ngoại lệ có thể sử dụng mực màu, tuy nhiên, ngoại
lệ này không áp dụng với đơn xin bảo hộ quốc tế theo quy định của PCT Số trangphải được đánh bằng bắt đầu từ 1, được đặt ở giữa trang hoặc bên, với kích cỡ lớnhơn các con số dùng để ghi chú để tránh gây nhầm lẫn
Lời tuyên thệ
Đây là một yêu cầu thiết yếu đối với mỗi đơn đăng ký bảo hộ Về mặt ý nghĩa,
nó là sự chứng minh về nhân thân của nhà sáng chế rằng mình chính là người đã tạo
ra sáng chế đó Văn bản này yêu cần phải có chữ ký của chính nhà phát minh hoặcngười đại diện hợp pháp, tên họ đầy đủ và quốc tịch của nhà sáng chế
Phí đăng ký, tìm kiếm và thẩm định
Đối với mỗi giai đoạn trong quy trình cấp bằng sáng chế, người nộp đơn phảinộp các loại phí theo một lộ trình nhất định, từ khi đăng ký, thẩm định sáng chế chođến khi cấp bằng, gia hạn bằng hay cấp lại bằng Mức phí rất đa dạng đối với mỗigiai đoạn, mỗi hình thức bảo hộ… và có thể được USPTO điều chỉnh vào tháng 10hàng năm Cụ thể, đối với bằng sáng chế giải pháp, người nộp đơn phải nộp mộtkhoản phí đăng ký là 600 USD, 250USD cho việc thẩm định, và 620USD cho tracứu sáng chế.24
Từ ngày 6 tháng 8 năm 1995, USPTO đưa vào áp dụng hình thức cấp bằngsáng chế tạm thời nhằm giảm chi phí bảo hộ và tạo sự bình đẳng giữa công dân Hoa
Kỳ và các ứng viên nước ngoài Khi đăng ký bảo hộ theo hình thức này, các thủ tụcyêu cầu đối với người nộp đơn và chi phí bảo hộ ít hơn so với hình thức bảo hộthông thường Yêu cầu bảo hộ và lời tuyên thệ có thể không cần thiết trong bảo hộtạm thời và người sáng chế có thể nhận được bằng sáng chế hữu ích và bằng sángchế với giống cây trồng theo hình thức này
Ngày nộp đơn được tính từ này USPTO nhận được văn bản mô tả sáng chế
và các hình vẽ (nếu cần) từ nhà phát minh và họ không cần phải đưa ra yêu cầu bảo
hộ hay lời tuyên thệ trong đơn đăng ký với điều kiện phải làm rõ trong đơn rằng đó
là đơn xin cấp bằng tạm thời và nộp một khoản phí Thời hạn bảo hộ của bằng sáng
24 37, Code of Federal Regulations, khoản 1.362(c)
Trang 40chế tạm thời là 12 tháng, và trong khoảng thời gian này, người sáng chế có thể đăng
ký bảo hộ sáng chế lâu dài để nhận được mức bảo hộ cao hơn
Đối với một quyết định của USPTO, người nộp đơn phải phúc đáp trongvòng một giới hạn thời gian, dài nhất là 6 tháng25 , tuy nhiên, khoảng thời gian này
có thể bị rút ngắn bởi giám đốc USPTO đến không ít hơn 30 ngày Thông thường,người nộp đơn có 3 tháng và có quyền được gia hạn nếu nộp một khoản phí với độcao thấp căn cứ vào thời gian xin gia hạn Nếu hết thời hạn trả lời mà người nộpđơn không có phúc đáp nào thì đơn đăng ký bảo hộ đó xem như bị hủy bỏ.Trongtrường hợp việc tiếp tục tiến hành thủ tục này bị gián đoạn do trường hợp bất khảkháng hoặc sự vô tình của người nộp đơn thì anh ta có thể nộp đơn yêu cầu Giámđốc Văn phòng xem xét phục hồi đơn và lập tức nộp phí phục hồi
b) Nộp đơn trực tuyến
Đơn đăng ký bảo hộ sáng chế tại Hoa Kỳ có thể được nộp trực tuyến qua hệthống EFS-Web và Hoa Kỳ khuyến khích các ứng viên nộp đơn theo hình thức nàybằng cách yêu cầu mỗi đơn đăng ký nộp bằng thư hay nộp trực tiếp tại USPTO sẽphải nộp thêm một khoản phụ phí là 400USD bắt đầu từ tháng 11 năm 201126 Đây
là một biện pháp hữu ích để Hoa Kỳ khuyến khích việc đăng ký bảo hộ điện tử bởi
nó không chỉ tiết kiệm cho nhà sáng chế một khoản phí mà còn tiết kiệm thời gian
vì không phải trực tiếp đến USPTO để nộp đơn Bản mô tả sáng chế có thể đượcsoạn thảo bằng các chương trình phần mềm quen thuộc như Microsoft Word hayCorel WordPerfect và được chuyển đổi tự động sang dạng tài liệu PDF và đượcđính kèm vào đơn đăng ký Các tài liệu viết tay khác như đơn chứng nhận hay bản
vẽ kĩ thuật có thể được scan sang định dạng PDF phù hợp với hệ thống thông tincủa USPTO Điều này giúp người nộp đơn tránh việc phải sửa chữa đơn và phải nộpthêm phụ phí cho dịch vụ này Hơn nữa, đơn đăng ký có thể được nộp vào bất kìthời điểm nào bởi hệ thống này hoạt động suốt 24 ngày trong cả bảy ngày trongtuần Năm 2011, có hơn 90% đơn đăng ký bảo hộ sáng chế được nộp trực tuyến
25 35 U.S.C 133
26 United States Patent and Trademark Office (2011) – General information concerningpatents