1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia

83 816 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triển vọng ký kết đàm phán hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia
Tác giả Nguyễn Thị Loan
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Hải Ninh
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 606 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại TRIỂN VỌNG KÝ KẾT ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM AUSTRALIA Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Loan Mã sinh viên : 0851010650 Lớp : Anh 15 Khối 7 KT Khóa : 47 Người hướng dẫn khoa học : Th.S Nguyễn Hải Ninh Hà Nội, tháng 5 năm 2012 MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii DANH MỤC BẢNG v DANH MỤC HÌNH vi LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH TPP VÀ THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA 4 1.1. HIỆP ĐỊNH TPP 4 1.1.1. Giới thiệu chung 4 1.1.2. Bối cảnh ra đời 4 1.1.3. Sự phát triển 6 1.1.4. Phạm vi điều chỉnh 7 1.1.5. Những điểm mới 9 1.1.6. Quá trình đàm phán Hiệp định TPP 10 1.1.7. Việt Nam đối với Hiệp định TPP 12 1.2. THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA 18 1.2.1. Khái quát chung 18 1.2.2. Thị trường Australia 20 CHƯƠNG 2: TRIỂN VỌNG KÝ KẾT ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – AUSTRALIA 24 2.1. HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – AUSTRALIA 24 2.1.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng 24 2.1.2. Cơ cấu hàng hóa 27 2.1.3. Hợp tác thương mại 32 2.1.4. Thuận lợi và khó khăn trong quan hệ thương mại Việt Nam – Australia 34 2.2. TRIỂN VỌNG KÝ KẾT ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP 36 2.2.1. Khả năng mở rộng số lượng thành viên 36 2.2.2. Kế hoạch hoàn tất đàm phán 37 2.2.3. Tầm vóc và mức độ ảnh hưởng 38 2.3. ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM AUSTRALIA 38 2.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại song phương 38 2.3.2. Ảnh hưởng của Hiệp định TPP đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia 44 CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 49 3.1. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP CỦA VIỆT NAM 49 3.1.1. Kiến nghị chung 49 3.1.2. Kiến nghị về một số vấn đề liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trong tiến trình đàm phán Hiệp định TPP 51 3.2. GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – AUSTRALIA 55 3.2.1. Giải pháp chung 55 3.2.2. Giải pháp đối với các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại song phương 60 KẾT LUẬN 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT I. Tiếng Việt Từ viết tắt DNVN Doanh nghiệp Việt Nam KNNK Kim ngạch nhập khẩu KNXK Kim ngạch xuất khẩu NHTW Ngân hàng Trung Ương XNK Xuất nhập khẩu II. Tiếng Anh Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt AANZFTA Asean Australia New Zealand Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Asean Australia New Zealand AFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Asean APEC AsiaPacific Economic Cooperation Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương ASEAN Association of Southeast Asia Nations Hiệp hội Đông Nam Á BA Biosecurity Australia An toàn sinh học Australia BTA Bilateral Trade Agreement Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ CEPT Common Effective Preferential Tariff Chương trình thế quan ưu đãi có hiệu lực chung CEPII Centre dEtudes Prospectives et dInformations Internationales Trung tâm nghiên cứu và dự báo thông tin kinh tế EU European Union Liên minh Châu Âu FTA Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do FTAAP Free Trade Area of Asia Pacific Khu vực thương mại tự do Châu Á Thái Bình Dương FTAs Free Trade Areas Các khu vực mậu dịch tự do GATs General Agreement on Trade in Services Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATT General Agreement of Trade and Tariff Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc dân IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế LDCs Least Developed Coutries Những quốc gia kém phát triển nhất R D Research Development Nghiên cứu và Phát triển SBV The State Bank of Vietnam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam SPS Sanitary and Phytosanitary Measures Biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật TBT Technical Barriers to Trade Hàng rào kỹ thuật trong Thương mại TPP Trans Pacific Parnership Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương USA United State of America Hợp chủng quốc Hoa Kỳ USD The United States Dollar Đồng đô la Mỹ USTR US Trade Representative Đại diện thương mại Hoa Kỳ WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới DANH MỤC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang Bảng 2.1 Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam Australia giai đoạn 2000 2011 24 Bảng 2.2 Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Australia năm 2010 2011 28 Bảng 2.3 Mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Australia năm 2010 2011 30 Bảng 2.4 GDP của Việt Nam và Australia giai đoạn 2002 2011 40 Bảng 2.5 Dự báo GDP của Việt Nam và Australia trong giai đoạn 2015 2025 46 Bảng 2.6 Dự báo tổng kim ngạch XNK của Việt Nam và Australia trong giai đoạn 2015 2025 46 Bảng 2.7 Dự báo KNXK tăng thêm theo mặt hàng của Việt Nam và Australia trong giai đoạn 2015 2025 47 DANH MỤC HÌNH Số hiệu Tên bảng Trang Hình 2.1 Tăng trưởng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam Australia 25 Hình 2.2 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam Australia 25 Hình 2.3 Tăng trưởng thặng dư thương mại Việt Nam Australia 26 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chúng ta đã chứng kiến sự ra đời của GATT, GATS, rồi sau đó là WTO tương ứng với quá trình phát triển từ thương mại hàng hóa tới thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế. Và giờ đây, chúng ta đang chứng kiến sự ra đời của một Hiệp định mới – Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) – một Hiệp định thiết lập mối quan hệ song phương và đa phương giữa các nước, khu vực. Nói đến những thành tựu đáng kể mà Việt Nam đã đạt được về mặt kinh tế và xã hội không thể không nhắc đến phần đóng góp quan trọng của chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế toàn cầu của Đảng và Nhà nước ta. Việt Nam bên cạnh tham gia các diễn đàn hợp tác đa phương như Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO)... cũng đã và đang đẩy mạnh những mối quan hệ đa phương và song phương khác. Đặc biệt, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đang tham gia vào quá trình đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tham gia đàm phán TPP là một trong những bước phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới. Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiên nước ta tham gia đàm phán một Hiệp định đa phương với phạm vi sâu rộng, tốc độ đàm phán nhanh và các cam kết mạnh mẽ như vậy. Khi tham gia bất kỳ một Hiệp định song phương hay đa phương nào, các quốc gia đầu tiên đều hướng tới đó là khai thác được những lợi ích mà Hiệp định đó mang lại từ đó có được những lợi ích về kinh tế và xã hội. Xét trong phạm vi các nước cùng tham gia Hiệp định TPP, các nước thành viên TPP đều là những đối tác lớn của Việt Nam và đây là những thị trường mà Việt Nam luôn có được thặng dư thương mại trong những năm gần đây. Đặc biệt, một trong những quốc gia thành viên TPP có Australia – một trong những đối tác kinh tế lớn của Việt Nam. Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa hai nước có những bước tiến triển quan trọng, tuy nhiên, vẫn chưa xứng với tiềm năng sẵn có của mỗi bên. Câu hỏi đặt ra là trên con đường đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định TPP và trong thời gian tới Hiệp định này đi vào hiệu lực thì liệu quan hệ thương mại Việt Nam – Australia sẽ tiến triển ra sao, hai nước có thể khai thác triệt để các tiềm năng vốn có của mình hay không và đặc biệt Việt Nam có những chiến lược đàm phán TPP như thế nào để gặt hái được nhiều lợi ích nhất từ Hiệp định này. Với lý do trên, em lựa chọn đề tài: “Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. 2. Mục đích nghiên cứu Căn cứ vào đề tài: “Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia”, tác giả xác định khóa luận có 5 mục đích nghiên cứu sau: Tìm hiểu các nội dung chính, chủ yếu của Hiệp định TPP: bối cảnh ra đời, sự phát triển, Việt Nam đối với Hiệp định TPP... Nghiên cứu hoạt động thương mại Việt Nam Australia trong những năm gần đây cũng như những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ thương mại Việt Nam – Australia

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại

TRIỂN VỌNG KÝ KẾT ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) ẢNH HƯỞNG

ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - AUSTRALIA

Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Loan

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH TPP VÀ THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA 4

1.1 HIỆP ĐỊNH TPP 4

1.1.1 Giới thiệu chung 4

1.1.2 Bối cảnh ra đời 4

1.1.3 Sự phát triển 6

1.1.4 Phạm vi điều chỉnh 7

1.1.5 Những điểm mới 9

1.1.6 Quá trình đàm phán Hiệp định TPP 10

1.1.7 Việt Nam đối với Hiệp định TPP 12

1.2 THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA 18

1.2.1 Khái quát chung 18

1.2.2 Thị trường Australia 20

CHƯƠNG 2: TRIỂN VỌNG KÝ KẾT ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – AUSTRALIA 24

2.1 HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – AUSTRALIA 24

2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng 24

2.1.2 Cơ cấu hàng hóa 27

2.1.3 Hợp tác thương mại 32

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn trong quan hệ thương mại Việt Nam – Australia 34

2.2 TRIỂN VỌNG KÝ KẾT ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP 36

2.2.1 Khả năng mở rộng số lượng thành viên 36

2.2.2 Kế hoạch hoàn tất đàm phán 37

2.2.3 Tầm vóc và mức độ ảnh hưởng 38

2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - AUSTRALIA 38

2.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại song phương 38

2.3.2 Ảnh hưởng của Hiệp định TPP đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia 44

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ - GIẢI PHÁP 49

Trang 4

3.1 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP CỦA VIỆT

NAM 49

3.1.1 Kiến nghị chung 49

3.1.2 Kiến nghị về một số vấn đề liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trong tiến trình đàm phán Hiệp định TPP 51

3.2 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – AUSTRALIA

55

3.2.1 Giải pháp chung 55

3.2.2 Giải pháp đối với các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại song phương 60

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 5

II Tiếng Anh

AANZFTA Asean - Australia - New Zealand

Free Trade Area

Khu vực mậu dịch tự do Asean Australia - New Zealand

-AFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do AseanAPEC Asia-Pacific Economic

Cooperation

Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á

- Thái Bình DươngASEAN Association of Southeast Asia

Nations

Hiệp hội Đông Nam Á

BA Biosecurity Australia An toàn sinh học AustraliaBTA Bilateral Trade Agreement Hiệp định Thương mại Việt

Nam - Hoa KỳCEPT Common Effective Preferential

FTA Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do

FTAAP Free Trade Area of Asia -

Pacific

Khu vực thương mại tự do Châu

Á - Thái Bình DươngFTAs Free Trade Areas Các khu vực mậu dịch tự doGATs General Agreement on Trade in

IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

Trang 6

LDCs Least Developed Coutries Những quốc gia kém phát triển

nhất

R $ D Research & Development Nghiên cứu và Phát triển

SBV The State Bank of Vietnam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam SPS Sanitary and Phytosanitary

Bình DươngUSA United State of America Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

USD The United State's Dollar Đồng đô la Mỹ

USTR US Trade Representative Đại diện thương mại Hoa KỳWTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Australia giai đoạn

Bảng 2.3 Mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Australia năm 2010 - 2011 30

Bảng 2.4 GDP của Việt Nam và Australia giai đoạn 2002 - 2011 40

Bảng 2.5 Dự báo GDP của Việt Nam và Australia trong giai đoạn 2015 -

Bảng 2.7 Dự báo KNXK tăng thêm theo mặt hàng của Việt Nam và

Australia trong giai đoạn 2015 - 2025

47

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tăng trưởng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam -

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đã chứng kiến sự ra đời của GATT, GATS, rồi sau đó là WTOtương ứng với quá trình phát triển từ thương mại hàng hóa tới thương mại dịch vụ,

sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế Và giờ đây, chúng ta đang chứng kiến sự rađời của một Hiệp định mới – Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) –một Hiệp định thiết lập mối quan hệ song phương và đa phương giữa các nước, khuvực

Nói đến những thành tựu đáng kể mà Việt Nam đã đạt được về mặt kinh tế

và xã hội không thể không nhắc đến phần đóng góp quan trọng của chủ trương tíchcực, chủ động hội nhập kinh tế toàn cầu của Đảng và Nhà nước ta Việt Nam bêncạnh tham gia các diễn đàn hợp tác đa phương như Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á– Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng đã vàđang đẩy mạnh những mối quan hệ đa phương và song phương khác Đặc biệt, ViệtNam cũng là một trong những quốc gia đang tham gia vào quá trình đàm phán Hiệpđịnh đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Tham gia đàm phán TPP là một trongnhững bước phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam tronggiai đoạn mới Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiên nước ta tham gia đàm phán mộtHiệp định đa phương với phạm vi sâu rộng, tốc độ đàm phán nhanh và các cam kếtmạnh mẽ như vậy

Khi tham gia bất kỳ một Hiệp định song phương hay đa phương nào, cácquốc gia đầu tiên đều hướng tới đó là khai thác được những lợi ích mà Hiệp định đómang lại từ đó có được những lợi ích về kinh tế và xã hội Xét trong phạm vi cácnước cùng tham gia Hiệp định TPP, các nước thành viên TPP đều là những đối táclớn của Việt Nam và đây là những thị trường mà Việt Nam luôn có được thặng dưthương mại trong những năm gần đây Đặc biệt, một trong những quốc gia thànhviên TPP có Australia – một trong những đối tác kinh tế lớn của Việt Nam Trongnhững năm gần đây, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa hai nước có nhữngbước tiến triển quan trọng, tuy nhiên, vẫn chưa xứng với tiềm năng sẵn có của mỗibên Câu hỏi đặt ra là trên con đường đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định TPP vàtrong thời gian tới Hiệp định này đi vào hiệu lực thì liệu quan hệ thương mại Việt

Trang 10

Nam – Australia sẽ tiến triển ra sao, hai nước có thể khai thác triệt để các tiềm năngvốn có của mình hay không và đặc biệt Việt Nam có những chiến lược đàm phánTPP như thế nào để gặt hái được nhiều lợi ích nhất từ Hiệp định này.

Với lý do trên, em lựa chọn đề tài: “Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Căn cứ vào đề tài: “Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia”, tác giả xác định khóa luận có 5 mục đích nghiên cứu sau:

- Tìm hiểu các nội dung chính, chủ yếu của Hiệp định TPP: bối cảnh rađời, sự phát triển, Việt Nam đối với Hiệp định TPP

- Nghiên cứu hoạt động thương mại Việt Nam - Australia trong những nămgần đây cũng như những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ thương mạiViệt Nam – Australia

- Nghiên cứu triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định TPP

- Phân tích những ảnh hưởng của Hiệp định TPP đối với quan hệ Thươngmại Việt Nam – Australia

- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp cho Việt Nam trong quá trình đàm phánHiệp định TPP cũng như thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam –Australia

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Căn cứ vào đề tài “Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia” tác giả xác định khóa luận có 3 đối tượng

nghiên cứu, cụ thể như sau:

- Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

- Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương(TPP)

- Quan hệ thương mại Việt Nam – Australia

Trang 11

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận gồm phạm vi thời

gian và phạm vi nội dung

- Phạm vi thời gian: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu hoạt độngquan hệ thương mại Việt Nam – Australia từ năm 2000 trở lại đây

- Phạm vi nội dung: Khóa luận giới hạn phạm vi nội dung là chỉ nghiêncứu hoạt động thương mại hàng hóa Việt Nam – Australia chứ khôngnghiên cứu hoạt động thương mại dịch vụ

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, khóa luận sử dụng kết hợp các phươngpháp nghiên cứu gồm: Phương pháp thu thập tài liệu (từ sách báo, tạp trí, giáotrình ), phương pháp thống kê mô tả, đối chiếu, phương pháp phân tích – đánh giá,phương pháp quy nạp, diễn giải Ngoài ra khóa luận còn sử dụng phương pháp tổnghợp để khái quát và hệ thống hóa các vấn đề nghiên cứu thông qua các thông tin, sốliệu thu thập được

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo, bảng từ viết tắt, danh mụcbảng hình thì nội dung của khóa luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về Hiệp định TPP và thị trường Australia

Chương 2: Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định TPP ảnh hưởng đến quan

hệ thương mại Việt Nam – Australia

Chương 3: Kiến nghị - Giải pháp

Trang 12

CHƯƠNG 1

Trang 13

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH TPP

VÀ THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA 1.1 HIỆP ĐỊNH TPP

1.1.1 Giới thiệu chung

Hiệp định TPP (tên tiếng anh là Trans – Pacific Strategic EconomicPartnership Agreement) là Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương Hiệpđịnh TPP có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (chưa bao gồmdịch vụ tài chính do đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹthuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạchhóa Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi kèm về Hợp tác Môitrường và Hợp tác Lao động

Hiệp định này khời nguồn là Hiệp định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn donguyên thủ 3 nước Chile, New Zealand, Singapore (P3) phát động đàm phán nhândịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại Mexico Tháng 04/2005, Brunei xingia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kếtthúc, biến P3 thành P4

Đây là Hiệp định mang tính “mở” Tuy không phải là chương trình hợp táctrong khuôn khổ APEC nhưng các thành viên APEC đều có thể gia nhập nếu quantâm Singapore đã nhiều lần mong muốn mở rộng TPP và sử dụng TPP như mộtcông cụ để hiện thực hóa ý tưởng về khu vực Mậu dịch Tự do Châu Á – Thái BìnhDương của APEC (FTAAP) (Bộ công thương, 2011)

1.1.2 Bối cảnh ra đời

Trang 14

Hiệp định TPP ra đời khi hai khuynh hướng thế giới quan trọng đã hìnhthành, đó là toàn cầu hóa và khu vực hóa, trong đó, khu vực hóa hay tự do hóathương mại thông qua ký kết các Hiệp định thương mại tự do khu vực đã trở thànhtrào lưu nổi bật trong những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI Xu hướngtoàn cầu hóa được minh chứng bằng một loạt những Hiệp định đàm phán thươngmại đa phương được tiến hành bởi GATT/WTO Tuy nhiên, các vòng đàm phán củaHiệp định này rất gay go và căng thẳng do tính chất đa dạng về đặc thù và quyền lợiquốc gia, điển hình trong số đó là vòng đàm phán Doha của WTO tiến triển chậmchạp và vẫn chưa đi đến hồi kết Chính điều này đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợicho sự hình thành các cam kết mậu dịch tự do song phương và đa phương giữa cácnước, khu vực nổi lên mạnh mẽ Với sự xuất hiện của nhiều liên kết kinh tế thươngmại như EU, khu vực mậu dịch tự do ASEAN, Bắc Mỹ, xu hướng khu vực hóađang chứng tỏ tầm ảnh hưởng và sức hấp dẫn lớn hơn bao giờ hết.

Trang 15

Trong nhiều thập kỷ gần đây, cục diện thế giới có những biến đổi nhanhchóng và đáng kể, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang nổi lên, trở thành khuvực có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, năng động nhất thế giới, là một trongnhững trọng tâm triển khai chính sách đối ngoại của nhiều cường quốc, trong đó cóHoa Kỳ, EU, Trung Quốc và Nga Bên cạnh đó, có thể nói rằng, nếu như WTOhướng tới một thể chế toàn cầu về thương mại quốc tế thì giờ đây các nước có thểnhận ra phần nào những hạn chế của tổ chức này, đặc biệt là từ sau khủng hoảng tàichính kinh tế toàn cầu vừa qua Trong khi khu vực đồng Euro và cả thế giới nóichung đang gánh chịu những ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng toàn cầu trênquy mô sâu rộng, Châu Á – Thái Bình Dương vẫn tiếp tục là người cầm lái nền kinh

tế toàn cầu trong những năm gần đây với những nền kinh tế hàng đầu thế giới nhưHoa Kỳ, Nhật Bản cùng sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ Trước tìnhhình đó, các quốc gia APEC cam kết đẩy mạnh liên kết kinh tế thông qua nỗ lựchóa và thuận lợi hóa thương mại đầu tư, giảm thiểu các rào cản đối với hàng hóa,dịch vụ và vốn Đã có nhiều khu vực mậu dịch tự do được hình thành như khu vựcMậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Nhật Bản, ASEAN – Australia –New Zealand Tuy nhiên, phạm vi liên kết của những Hiệp định thương mại nàycòn tập trung chủ yếu ở thương mại hàng hóa, mức độ cam kết chưa sâu, địnhhướng mở rộng chưa rõ nét Chính vì vậy, các nhà lãnh đạo APEC cũng đã bàn vềcách thức hướng tới khu vực mậu dịch tự do Châu Á – Thái Bình Dương trên cơ sởcác hợp tác khu vực hiện có

Như vậy, sự ra đời của Hiệp định TPP là phù hợp với xu hướng hội nhậpkinh tế trên thế giới và khu vực, là cầu nối giúp APEC tiến dần đến mục tiêu thànhlập khu vực mậu dịch tự do FTAAP đồng thời là phương tiện để các nước thúc đẩy

xu hướng tập hợp lực lượng mới, mang tính chiến lược, đáp ứng cục diện mới củakhu vực và thế giới

1.1.3 Sự phát triển

Từ ba thành viên ban đầu là Chile, New Zealand và Singapore, đến nay Hiệpđịnh TPP đã chứng tỏ được sức hút, tầm vóc và mức độ ảnh hưởng lớn của mìnhvới số lượng thành viên chính thức cũng như chuẩn bị gia nhập lên tới 12

Trang 16

Tháng 04/2005, Brunei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trướckhi phiên đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4 và hình thành Hiệp địnhhợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương – được ký kết ngày 03/06/2005,

có hiệu lực từ ngày 25/05/2006 giữa 4 nước Chile, New Zealand, Singapore vàBrunei, thời gian đầu ảnh hưởng của Hiệp định chưa đủ lớn do 4 quốc gia thànhviên dẫu có nền kinh tế khá phát triển nhưng dân số ít, thị trường còn hẹp

Năm 2007, các nước thành viên P4 quyết định mở rộng phạm vi đàm pháncủa Hiệp định này ra các vấn đề dịch vụ, tài chính và đầu tư và trao đổi với Hoa Kỳ

về khả năng nước này tham gia vào đàm phán mở rộng của P4 Cũng trong nămnày, Hoa Kỳ bắt đầu tiếp cận, tiến hành nghiên cứu vấn đề, tham vấn nội bộ với cácnhóm lợi ích về vấn đề này

Tháng 09/2008, USTR thông qua quyết định của Hoa Kỳ dự các cuộc đàmphán mở rộng của P4 và chính thức tham gia vào các cuộc thảo luận về mở cửa dịch

vụ tài chính và đầu tư với các nước P4

Tháng 11/2008, các nước Australia, Peru và Việt Nam cũng bày tỏ sự quantâm và tham gia đàm phán TPP, nâng tổng số thành viên tham gia lên 8 nước (trừViệt Nam đến ngày 13/11/2010 mới tuyên bố tham gia đàm phán với tư cách làthành viên đầy đủ) Cũng từ thời điểm này, đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại làHiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Tại hội nghị APEC năm 2010 ở Nhật Bản, các đối tác TPP đã nhất trí đểMaylaysia tham gia đàm phán Sự tham gia chính thức của Hoa Kỳ, Australia, ViệtNam và Peru năm 2008 và Malaysia năm 2010 đã nâng tổng số quốc gia tham giaTPP lên 9 thành viên Ngay trước ngày khai mạc Hội nghị cấp cao APEC tại Hawaiingày 11/11/2011, Nhật Bản đã tuyên bố quyết định tham gia đàm phán gia nhậpHiệp định TPP Sau đó, ngày 13/11/2011 lại có thêm hai nước nữa thông báo thamgia đàm phán đó là Canada và Mexico Như vậy, lúc này tổng số quốc gia tham giađàm phán Hiệp định TPP đã lên tới 12

1.1.4 Phạm vi điều chỉnh

Trang 17

Hiệp định TPP được coi là một Hiệp định kỳ vọng nhất của thế kỷ XXI, vớimục tiêu tăng cường thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên TPP, thúc đẩy

sự đổi mới, tăng cường kinh tế và phát triển, hỗ trợ tạo thêm và duy trì việc làm.Hơn nữa, Hiệp định này cũng được cho là một tiến trình hội nhập thương mại kinh

tế tham vọng nhất lịch sử khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, TPP có phạm viđiều chỉnh rộng, bao gồm hầu hết các lĩnh vực có liên quan tới thương mại, hànghóa, dịch vụ, vệ sinh an toàn thực phẩm, rào cản kỹ thuật, chính sách cạnh tranh, sởhữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa Trong đó có nhiều lĩnh vực mớinhư môi trường, lao động, các vấn đề xuyên suốt liên quan tới chuỗi cung ứng,doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngoài ra còn có một số chương về hợp tác và 02 văn kiện

đi kèm về Hợp tác Môi trường và Hợp tác Lao động Trong báo cáo mô tả các lĩnhvực đàm phán của Hiệp định TPP của các Bộ trưởng Thương mại (2011) đã nêu rõnội dung Hiệp định TPP gồm 5 điểm chính sau:

(1) Tiếp cận thị trường toàn diện

Khi tham gia Hiệp định TPP, hàng hóa các nước thành viên được tiếp cậnthị trường một cách toàn diện và miễn thuế Các hạn chế về dịch vụ được đồng loạtxóa bỏ nhằm tạo ra những cơ hội mới cho người lao động và doanh nghiệp cũngnhư lợi ích trực tiếp cho người tiêu dùng

(2) Hiệp định khu vực toàn diện

Hiệp định này sẽ tạo điều kiện cho thương mại và phát triển chuỗi sản xuất

và cung ứng giữa các nước thành viên TPP, hỗ trợ mục tiêu tạo việc làm, nâng caomức sống và cải thiện phúc lợi tại các nước thành viên

(3) Các vấn đề thương mại xuyên suốt

Trên cơ sở những thỏa thuận đã thực hiện trong khuôn khổ APEC và cácdiễn đàn khác và thông qua việc đưa vào Hiệp định TPP 04 vấn đề mới mang tínhxuyên suốt gồm:

- Gắn kết môi trường chính sách: Các cam kết sẽ thúc đẩy thương mại giữa

các nước thành viên thông qua việc tạo ra môi trường trao đổi thương mạigắn kết và hiệu quả;

Trang 18

- Tạo động lực thúc đẩy năng lực cạnh tranh và kinh doanh: Các cam kết sẽ

nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và khu vực của từng nền kinh tếTPP và thúc đẩy hội nhập kinh tế và tạo thêm việc làm trong khu vựcthông qua phát triển chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng khu vực;

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các cam kết sẽ giải quyết những quan ngại

của những doanh nghiệp vừa và nhỏ về khó khăn trong việc hiểu và vậndụng các Hiệp định thương mại, khuyến khích các doanh nghiệp vừa vànhỏ giao thương quốc tế;

- Phát triển: Tự do hóa thị trường một cách toàn diện và mạnh mẽ, cải thiện

thương mại và đầu tư, tăng cường kỷ cương và những cam kết khác, baogồm việc thiết lập cơ chế giúp các thành viên TPP thực thi hiệu quả vàtận dụng được tối đa những lợi ích mà Hiệp định mang lại, qua đó gópphần tăng cường vai trò của những thể chế quan trọng đối với quản lý vàphát triển kinh tế, và từ đó góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy những ưutiên phát triển kinh tế của từng thành viên TPP

(4) Những vấn đề mới trong thương mại

Các vấn đề mới nổi lên trong thương mại toàn cầu sẽ là một phần quan trọngđược đàm phán trong Hiệp định TPP Công nghệ mới sẽ tạo ra những cơ hội mớicho thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên, đồng thời cũng làm nảy sinhcác vấn đề thương mại tiềm ẩn cần giải quyết để có thể thúc đẩy thương mại hànghóa và dịch vụ, đảm bảo tất cả các nền kinh tế các nước nước TPP đều được hưởnglợi Ngoài ra các vấn đề thương mại liên quan đến tăng trưởng xanh cũng được xemxét nhằm đảm bảo các nước thành viên TPP tiếp tục giữ vững vị trí tiên phong tronglĩnh vực này

(5) Hiệp định mở

Để xây dựng Hiệp định TPP thành một Hiệp định mở, các nhóm đàm phánHiệp định TPP đang thiết lập một cấu trúc, thể chế và quy trình cho phép Hiệp địnhnày tiếp tục phát triển để đáp ứng những tiến triển mới trong thương mại, công nghệhoặc các vấn đề thách thức mới nổi khác

Trang 19

1.1.5 Những điểm mới

Như đã phân tích ở trên, sự ra đời của Hiệp định TPP là phù hợp với xuhướng hội nhập kinh tế trên thế giới và khu vực, là cầu nối giúp APEC tiến gần hơnvới mục tiêu thành lập khu vực mậu dịch tự do FTAAP Sự ra đời của Hiệp địnhTPP là một bước phát triển vượt bậc với mức độ cam kết sâu rộng và những nét mớinổi trội sẽ khắc phục được những hạn chế, tồn tại của những Hiệp định thương mạitrước Nhìn chung, so với các Hiệp định trước, TPP có 4 điểm mới sau:

(1) Đối tượng và thành viên tham gia

Nét mới trong đàm phán Hiệp định TPP so với các FTAs truyền thống trướcđây là sự tham gia của các đối tượng liên quan như doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức

xã hội Tại mỗi phiên đàm phán, các đối tượng trên luôn được tạo cơ hội để trao đổithông tin, bày tỏ quan điểm và nguyện vọng đối với các nội dung đàm phán củaHiệp định thông qua các buổi hội thảo và diễn đàn dành cho các đối tượng liên quanđược tổ chức bên lề các phiên đàm phán

(2) Phạm vi điều chỉnh

Hiệp định TPP được đánh giá là có cách tiếp cận cả gói, bao gồm toàn bộ cáclĩnh vực then chốt về thương mại và có liên quan đến thương mại Bên cạnh việccập nhật các cách tiếp cận truyền thống đối với những vấn đề đã có trong Hiệp địnhmậu dịch tự do FTAs trước đây, Hiệp định TPP còn bao gồm những vấn đề thươngmại mới, đang nổi và những vấn đề xuyên suốt Những vấn đề mới và đang nổi lêncủa TPP bao gồm thương mại và đầu tư trong các sản phẩm và dịch vụ có tính chấtđổi mới như công nghệ số và đảm bảo các xí nghiệp quốc doanh cạnh tranh côngbằng với các công ty tư nhân và không bóp méo sự cạnh tranh theo cách đẩy cáccông ty và người lao động Hoa Kỳ vào thế bất lợi

(3) Mức độ cam kết

Hoa Kỳ - bên đàm phán cầm trịch của TPP quyết tâm để TPP trở thành

“Hiệp định thương mại của thế kỷ XXI”, theo nghĩa này, đây sẽ là một Hiệp định cómức độ tự do cao ở tất cả các lĩnh vực thương mại và cả lĩnh vực phi thương mại

Trang 20

TPP chú trọng thúc đẩy hàng hóa của các nước thành viên được tiếp cận thịtrường của nhau một cách toàn diện và miễn thuế, các hạn chế về dịch vụ đượcđồng loạt xóa bỏ nhằm tạo ra những cơ hội mới cho người lao động và doanhnghiệp cũng như lợi ích trực tiếp cho người tiêu dùng TPP đưa ra lộ trình xóa bỏthuế quan và các gói mở cửa khác, cụ thể là:

- Lộ trình xóa bỏ thuế quan sẽ áp dụng cho tất cả hàng hóa, tương đương

khoảng 11.000 dòng thuế (Bộ công thương 2011);

- Các nước thành viên đang xây dựng các nguyên tắc chung về xuất xứ

hàng hóa, và cân nhắc các đề xuất nhằm thực hiện việc này một cách đơngiản và hiệu quả nhất;

- Các gói cam kết về dịch vụ và đầu tư sẽ bao gồm hầu hết các ngành dịch

vụ, Hiệp định sẽ bao trùm lên một phạm vi toàn diện nhưng vẫn cho phépcác nước đàm phán các ngoại lệ cụ thể trong cam kết ở các ngành dịch vụ

cụ thể;

- Gói cam kết về mua sắm chính phủ đòi hỏi các thành viên phải nỗ lực mở

cửa thị trường mua sắm chính phủ hơn nữa nhằm đảm bảo sự tiếp cận tối

đa của các nước khác trong lĩnh vực này

(4) Kết cấu

TPP là Hiệp định có kết cấu “mở” tức là có cơ chế kết nạp thêm thành viênmới trong tương lai và các bên có thể tiếp tục đàm phán những vấn đề phát sinh saukhi Hiệp định có hiệu lực Tuy không phải là chương trình hợp tác trong khuôn khổAPEC nhưng các nước thành viên APEC đều có thể gia nhập nếu quan tâm Vớimục tiêu duy trì tính mở của Hiệp định TPP, các nhóm đàm phán cũng đang nỗ lựcđưa ra nhiều đề xuất và biện pháp liên quan để đảm bảo Hiệp định sẽ mang lạinhiều lợi ích nhất cho các nước đã và sẽ tham gia

1.1.6 Quá trình đàm phán Hiệp định TPP

Đàm phán Hiệp định TPP là một đàm phán thương mại tự do nhiều bên, vớimục tiêu thiết lập một khu vực thương mại tự do chung cho các nước đối tác trongkhu vực Châu Á – Thái Bình Dương Mặc dù, rất nhiều thỏa thuận hiện hành đãđược tạo ra một cách cẩn thận nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho các bên, một sốtrong những thỏa thuận đó có thể bị xóa bỏ khi đàm phán Hiệp định này

Trang 21

Năm 2008, sau khi có sự tham gia của Hoa Kỳ, Australia, Puru và Việt Nam,đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại là đàm phán Hiệp định đối tác xuyên TháiBình Dương (TPP) Tuy nhiên, do phải chờ đợi Hoa Kỳ hoàn thành kỳ bầu cử Tổngthống và Chính quyền mới của Tổng thống Obama tham vấn và xem xét lại việctham gia đàm phán Hiệp định TPP của Hoa Kỳ cho nên đàm phán TPP đã bị trìhoãn đến cuối năm 2009 Tháng 12/2009, USTR mới thông qua quyết định củaTổng thống Obama về việc Hoa Kỳ tiếp tục tham gia TPP Cho đến nay, Hiệp địnhTPP đã trãi qua 11 vòng đàm phán lần lượt được tổ chức ở các quốc gia thành viên

và gần đây nhất là vòng đàm phán thứ 11 tại Australia diễn ra vào tháng 03/2012

Trong quá trình đàm phán của Hiệp định TPP, tại vòng đàm phán thứ 5 tổchức vào tháng 02/2011 diễn ra ở Chile, các nước được xem là đã đạt được nhất trí

cơ bản trong các nguyên tắc đàm phán và đã thiết lập được khuôn khổ cho các camkết nền (về kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cạnh tranh ) Đây được xem

là thành công ban đầu tuy vẫn còn rất chung chung và vẫn tồn tại những bất đồngxung quanh vấn đề này

Đặc biệt, điểm nhấn trong quá trình đàm phán của Hiệp định TPP là vàongày 12/11/2011, bên lề hội nghị cấp cao APEC 19, các nhà lãnh đạo 9 nước thànhviên (Việt Nam, Hoa Kỳ, Australia, Singapore, Malaysia, Brunei, Peru, Chile vàNew Zealand) tuyên bố đã đạt được Bản mô tả các lĩnh vực đàm phán chính củaHiệp định TPP – một Hiệp định nhiều kỳ vọng của thế kỷ XXI – với mục tiêu tăngcường thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên TPP và thúc đẩy sự đổi mới,tăng cường kinh tế và phát triển, hỗ trợ thêm và duy trì việc làm

Vòng đàm phán thứ 10 diễn ra tại Malaysia vào tháng 12/2011, các đoànđàm phán tuyên bố đã đạt được một Hiệp định khung về TPP và thông qua báo cáo

từ các Bộ trưởng thương mại của các nước TPP, bao gồm cam kết về một FTA toàndiện và tham vọng mà sẽ giúp xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đốivới thương mại và đầu tư

Trang 22

Vòng đàm phán thứ 11 Hiệp định TPP diễn ra tại Australia với 9 quốc giađàm phán trên hai nhánh đó là đàm phán sớm để ký kết Hiệp định TPP trong nămnay và tham vấn trong nước về việc Nhật Bản, Canada và Mexico mới đây xin gianhập đàm phán TPP Phiên đàm phán đã ghi nhận nhiều tiến bộ đáng kể trong đàmphán lời văn tại nhiều chương của Hiệp định TPP, kể cả các vấn đề xuyên suốt nhưhài hòa chính sách, doanh nghiệp vừa và nhỏ, chuỗi cung ứng và một số vấn đề pháttriển Các nước thành viên cũng hoan nghênh ý định tham gia của 3 nước Nhật Bản,Canada và Mexico Quyết định cuối cùng về việc mở rộng thành viên TPP sẽ đượccác bộ trưởng TPP tiến hành theo nguyên tắc đồng thuận

Hiện vẫn còn một số vấn đề nhạy cảm từ sự khác biệt giữa các nước thànhviên, trong đó có vấn đề chênh lệch cấp độ phát triển chưa được đàm phán Tuynhiên, các nhà lãnh đạo đã nhất trí tìm ra cách thức phù hợp để giải quyết trong mộtgói cam kết toàn diện và hài hòa, trong đó có tính đến sự đa dạng về trình độ pháttriển của mỗi nước thành viên

Trên cơ sở những tiến bộ đã đạt được, lãnh đạo các nước thành viên đã camkết dành nguồn lực cần thiết để hoàn tất Hiệp định mang tính chất biểu tượng nàytrong thời gian sớm nhất có thể Dự kiến các nước sẽ tiếp tục thúc đẩy đàm phánthông qua việc tổ chức các phiên đàm phán giữa kỳ cho một số lĩnh vực đàm phán.Mục tiêu của các nước đặt ra là thu hẹp tối đa các vấn đề tồn tại sự khác biệt quanđiểm nhằm tạo đà cho phiên đàm phán thứ 12 sẽ được tổ chức tại Hoa Kỳ Cácnước thành viên TPP cũng đã thống nhất đưa kế hoạch hoàn tất Hiệp định cuối năm2012

1.1.7 Việt Nam đối với Hiệp định TPP

1.1.7.1 Sự cần thiết tham gia Hiệp định TPP đối với Việt Nam

TPP được đánh giá như một Hiệp định quan trọng xét trên tầm vóc và sự ảnhhưởng của nó Khác với các cam kết WTO hay các Hiệp định thương mại tự dokhác, ảnh hưởng của TPP rộng hơn cả về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ

và đặc biệt là đầu tư, sỡ hữu trí tuệ Mặc dù Việt Nam đã ký hầu hết các BTA vàFTAs với các quốc gia đối tác ở TPP hoặc cùng là thành viên WTO, nhưng ViệtNam vẫn phải tham gia đàm phán TPP bởi 3 lý do sau:

(1) Hội nhập khu vực

Trang 23

Hội nhập khu vực đang nổi lên đóng vai trò chủ đạo với nhiều hình thứcphong phú và đa dạng, đặc biệt là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Xu thế nàykhông chỉ phản ảnh sự mưu cầu lợi ích kinh tế mà còn phản ánh cục diện kinh tếchính trị quốc tế, sau sự nổi lên nhanh chóng của một số nước phát triển hàng đầu

Việt Nam tham gia đàm phán Hiệp định TPP không những theo xu hướngcủa thời đại mà còn nhất quán với chủ trương đổi mới và hội nhập quốc tế, đồngthời quyết tâm đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của Đảng

và Nhà nước ta Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục

mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta vàđảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương nhưAFTA, APEC, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ” Đặc biệt, Đại hội Đảng

XI nhất trí với đa số áp đảo từ bỏ quan niệm kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo,Nhà nước chiếm hữu tư liệu sản xuất Chủ trương này hoàn toàn phù hợp với yêucầu của TPP 12 đối với hệ thống doanh nghiệp Nhà nước

(2) Các nước TPP là thị trường quan trọng của Việt Nam

Hầu hết các đối tác tham gia Hiệp định TPP có trình độ phát triển kinh tế cao

và có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế Việt Nam Trong các nướcthành viên TPP, có những quốc gia quan trọng, có khả năng bổ sung cao cho nềnkinh tế Việt Nam như Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Singapore và thành viênmới Nhật Bản Hơn thế, trong 9 quốc gia đang tham gia đàm phán Hiệp định TPP,Hoa Kỳ là đối tác xuất khẩu quan trọng của Việt Nam nhưng Việt Nam vẫn chưa cóđược FTA với Hoa Kỳ Do vậy, nếu là thành viên TPP cơ hội của hàng Việt Namvào thị trường Hoa Kỳ nói riêng và thị trường các nước TPP nói chung sẽ lớn hơnvới nhiều ưu đãi

(3) Mở ra nhiều cơ hội để nền kinh tế Việt Nam phát triển

Trang 24

Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP sẽ có nhiều nét khác biệt, đổi mới cầnthiết cho quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam so với những Hiệp định thươngmại song phương, khu vực mà Việt Nam từng tham gia Mức độ, phạm vi cam kếtsâu rộng, tính chất toàn diện của Hiệp định này hứa hẹn mở ra nhiều cơ hội cho nềnkinh tế Việt Nam chuyển mình và cải cách triệt để Đặc biệt, khi đàm phán WTOViệt Nam là kẻ đến sau muốn gia nhập phải đưa ra các cam kết của mình thì vớiTPP, cơ hội đàm phán của Việt Nam với các quốc gia còn lại là bình đẳng.

Ở TPP, Việt Nam – một trong các thành viên sáng lập TPP, có lợi thế đặt raluật chơi và chuẩn mực cho những nước gia nhập sau phải tuân theo nên những cơhội xây dựng và loại trừ tiêu chuẩn cho TPP của Việt Nam là hiện thực Bên cạnh

đó, khác với các Hiệp định song phương khác của Việt Nam, phạm vi của TPP baoquát nhiều lĩnh vực từ dịch vụ, đầu tư, viễn thông và thương mại điện tử, quyền sởhữu trí tuệ đến các biện pháp vệ sinh dịch tễ, hàng rào kỹ thuật trong thương mạiđồng thời mức độ cam kết cũng sâu hơn và tham vọng hơn Điều này sẽ mở ranhững cơ hội cho Việt Nam phát triển hơn nữa các lĩnh vực này trong tương lai

1.1.7.2 Quá trình tham gia Hiệp định TPP của Việt Nam

Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Singapore đã rất tích cực mời Việt Nam thamgia TPP (P4) Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt Namchưa nhận lời mời này của Singapore Tuy nhiên, tháng 09/2008, Hoa Kỳ tuyên bốtham gia TPP, nhưng trước khi tuyên bố tham gia TPP, Hoa Kỳ đã mời Việt Namcùng tham gia Hiệp định này, Việt Nam đã cân nhắc lại việc tham gia hay khôngtham gia TPP

Ngày 03/02/2009, Việt Nam đã có thư gửi các thành viên TPP chính thức đềnghị tham gia đàm phán Hiệp định này với tư cách là thành viên liên kết Trong giaiđoạn này, quyết định của Việt Nam không chỉ thể hiện quyết tâm tiếp tục đổi mới

và hội nhập mà còn xuất phát từ nguyện vọng muốn góp phần tăng cường liên kếtkinh tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển

Trang 25

Ngày 15/11/2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách thànhviên liên kết, Chủ tịch nước thông qua quyết định của Việt Nam chính thức thamgia đàm phán Hiệp định TPP Đây là những bước triển khai hội nhập quốc tế củaViệt Nam trong giai đoạn mới đồng thời cũng là lần đầu tiên Việt Nam tham giađàm phán một FTA đa phương với tốc độ đàm phán nhanh, quy mô sâu rộng, mức

độ cam kết cao và phức tạp như TPP (Bộ công thương 2011)

1.1.7.3 Cơ hội và thách thức cho Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP

Khi tham gia Hiệp định TPP, bên cạnh những cơ hội sẽ mở ra cho nền kinh

tế Việt Nam còn có những thách thức ở phía trước Tính chất toàn diện, mức độ,phạm vi cam kết sâu rộng của TPP so với cam kết trước kia của Việt Nam tạo ranhững cơ hội rõ ràng hơn bao nhiêu thì cũng tạo ra những thách thức lớn hơn bấynhiêu Việc đánh giá cơ hội và thách thức cho Việt Nam khi tham gia Hiệp địnhTPP là cần thiết, quan trọng cho Chính phủ trước khi ký kết Hiệp định này

a Cơ hội cho Việt Nam

So với các các Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đaphương đang tồn tại, TPP là một bước phát triển mới về chất lượng cam kết Thamgia TPP,mỗi quốc gia thành viên sẽ gặt hái được những lợi ích, tìm được những cơhội khác nhau Cũng không ngoại lệ, tham gia Hiệp định TPP Việt Nam cũng sẽ gặthái được những lợi ích và cơ hội cho riêng mình, cụ thể là:

(1) Mở ra cơ hội to lớn để xuất khẩu sang các nước TPP

TPP mở ra cơ hội quý giá để tiếp cận thị trường thương mại quan trọng làHoa Kỳ cũng như các thành các nước thành viên khác trong Hiệp định TPP, qua đó

mở rộng thương mại hơn nữa ra bên ngoài khu vực ASEAN

Theo đánh giá chung, từ các đối tác trong TPP, Việt Nam có thể tận dụnghưởng lợi theo hai hình thức là lợi ích thế quan (đối với hàng hóa) và lợi ích tiếpcận thị trường (đối với dịch vụ và đầu tư) Với mức độ cam kết sâu của Hiệp địnhnày, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang các quốc gia TPP và ngượclại đều có thể được hưởng mức thuế xuất bằng 0% hoặc rất nhỏ, từ đó mở ra conđường tiếp cận thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu sang các quốc gia này thuận lợi hơn

vì ít rào cản và điều kiện hơn Sự thay đổi này chắc chắn sẽ làm tăng kim ngạchxuất khẩu tới các thị trường lớn của hàng hóa Việt Nam

Trang 26

(2) Có lợi từ thị trường nội địa

Đối với thị trường trong nước, do tham gia Hiệp định TPP, Việt Nam cũngphải đối xử với hàng hóa, dịch vụ của đối tác tương xứng với sự ưu ái mà họ dànhcho ta, nên ngay tại thị trường nội địa Việt Nam vẫn có thể có lợi

Trước hết, là việc hưởng lợi từ giảm thuế nhập khẩu từ các nước đối tác TPP,người tiêu dùng và các ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu nhập khẩu đầu vào,hàng hóa, dịch vụ sẽ hưởng lợi từ nguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ rẻ giúp giảm chiphí, từ đó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của những ngành này, nâng cao chấtlượng cuộc sống của người tiêu dùng

Thứ hai, với đầu tư, TPP sẽ mở ra cơ hội thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tếđang khát vốn của nước ta, đặc biệt là cơ hội cho các nhà đầu tư đưa kỹ thuật caovào Việt Nam, qua đó góp phần giúp Việt Nam tiếp cận với hướng sản xuất hiệnđại, công nghệ cao

(3) Cơ hội để Việt Nam tái cơ cấu nền kinh tế triệt để

Thực tế cho thấy, Việt Nam là nền kinh tế kém phát triển nhất trong số cácquốc gia tham gia Hiệp định TPP cũng như chưa phải tất cả các nước thành viênTPP đều công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường Do đó, đối với các nền kinh

tế chuyển đổi như Việt Nam, tham gia một Hiệp định trình độ cao, phạm vi cam kếtsâu rộng như TPP còn là một cơ hội để Việt Nam tái cơ cấu triệt để nền kinh tế, đẩynhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, minh bạch hóa đầu tư công vàhướng tới phát triển bền vững

Đặc biệt, trong lĩnh vực mở cửa thị trường mua sắm công mà Hiệp định TPPquy định rất cởi mở và minh bạch sẽ giúp cho Việt Nam có điều kiện để giải quyếtnhững bất cập trong những hợp đồng mua sắm công và hoạt động đấu thầu xuấtkhẩu xuất phát từ tình trạng thiếu minh bạch hiện nay Nếu không có cơ hội này, sựnghiệp tái cơ cấu nền kinh tế sẽ có thể bị trì hoãn, kéo dài vì thiếu động lực, sức ép

từ bên ngoài

(4) Cơ hội xác lập vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Trang 27

Tham gia vào Hiệp định TPP – nơi có những quốc gia phát triển hàng đầuthế giới và có những định hướng để tìm ra cách thức phù hợp để giải quyết trongmột gói cam kết toàn diện và hài hòa, trong đó có tính đến sự đa dạng về trình độphát triển của mỗi nước thành viên TPP Việt Nam sẽ có được những hỗ trợ nhấtđịnh trong nỗ lực chung của tất cả các nước thành viên Các nền kinh tế nhỏ vàđang phát triển như Việt Nam không chỉ tìm thấy ở TPP cánh cửa mở vào các thịtrường tiêu thị rộng lớn mà còn có cơ hội hợp tác để phát triển cơ sở hạ tầng, xáclập vai trò của mình trong chuỗi cung ứng hàng hóa toàn cầu.

Tham gia vào Hiệp định TPP – một cấu trúc quan trọng của khu vực sẽ giúpViệt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình tái cấu trúc cục diệnquốc tế và khu vực cũng như xu thế hội nhập kinh tế khu vực đem lại Đặc biệt,Việt Nam sẽ có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội, triển khai chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiếnlược đối ngoại ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói riêng, qua đó nâng cao vịthế Việt Nam trên trường quốc tế

b Thách thức cho Việt Nam

Như đã phân tích ở trên, Hiệp định TPP là một bước phát triển mới về chấtlượng cam kết, nó không chỉ thúc đẩy tự do hóa trong lĩnh vực thương mại hànghóa, thương mại dịch vụ và đầu tư mà còn đề ra những tiêu chuẩn nghiêm ngặt vềmôi trường, lao động, quyền sở hữu trí tuệ Chính vì vậy, khi tham gia TPP, ViệtNam không chỉ có được những cơ hội to lớn kể trên mà còn phải đối mặt với nhiềuthách thức, cụ thể là:

(1) Cạnh tranh tăng mạnh ở thị trường nội địa

Trang 28

Tham gia các FTA nói chung, TPP nói riêng, Việt Nam phải mở cửa nhanhthị trường nội địa hàng hóa, dịch vụ đến từ các nước đối tác Cho nên bất lợi chính

là áp lực cạnh tranh tăng mạnh ở thị trường nội địa do mức thuế giảm và mở cửa thịtrường Tác động trực tiếp của việc cắt giảm thuế sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa củacác nước đối tác vào nhiều hơn, cạnh tranh hơn, từ đó làm giảm thị phần của hàngViệt Nam ngay trên sân nhà Do đó, tham gia Hiệp định TPP có thể gây ra một số

hệ quả xã hội tiêu cực như tình trạng phá sản và thất nghiệp ở các doanh nghiệp cónăng lực cạnh tranh yếu và không có sự chuẩn bị tốt Tuy nhiên, đây là con đường

mà sớm hay muộn Việt Nam cũng phải đi qua để chuyển dịch cơ cấu thành công,theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và hiệu quả

(2) Thách thức từ rào cản kỹ thuật các nước nâng cao

Một thách thức gián tiếp từ việc giảm mạnh hàng rào thuế quan là khẳ năngcác nước đều nâng cao rào cản kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu Điều này là vô cùngkhó khăn cho hàng hóa của nước ta khi trình độ sản xuất còn có những bất cập Đểđáp ứng được những tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe, các doanh nghiệp sẽ phải tốnthêm những khoản chi phí lớn, từ đó tăng chi phí sản xuất và giảm sức cạnh tranh

về giá của hàng hóa Nhưng chính sức ép này sẽ khiến ngành sản xuất của ViệtNam phải đổi mới trang thiết bị kỹ thuật để có thể tạo ra những sản phẩm có tínhcạnh tranh về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật tăng hơn, góp phần nâng cao uy tín,hình ảnh của doanh nghiệp

(3) Thách thức ở góc độ pháp lý

Hệ thống các quy định của Việt Nam nhìn chung kém phát triển hơn nhữngbên khác của TPP là một thách thức cho Việt Nam Trong khi có một số loại trừ cóthể được áp dụng để phản ánh việc Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, ViệtNam cũng không nên mong chờ rằng mình có thể vượt qua hoàn toàn những đòi hỏi

đó Để thực thi cam kết trong Hiệp định TPP, Việt Nam có thể sẽ phải sửa đổi nhiềuquy định pháp luật về thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ, đặc biệt là cải cách đạoluật lao động để có sự chấp nhận của các nước thành viên Tuy nhiên, với nhữngkinh nghiệm từ đàm phán gia nhập WTO, đây có thể là một thử thách không quálớn đối với Việt Nam

(4) Thách thức về mặt kinh doanh và chính sách công

Trang 29

Kinh tế Việt Nam được bảo hộ khỏi đầu tư nước ngoài nhiều hơn và gắn kếtvới chính phủ nhiều hơn bất cứ quốc gia nào trong TPP nên Việt Nam sẽ phải đốimặt với đòi hỏi từ các nước TPP mở rộng cửa hơn nữa cho đầu tư nước ngoài ở lĩnhvực như viễn thông và dịch vụ tài chính Thỏa mãn những yêu cầu này sẽ là tháchthức về mặt kinh doanh và chính sách công Nhưng những bất lợi đó thực sự khôngphải là bất lợi nếu như Việt Nam quyết tâm hướng tới một con đường phát triểnnăng động và bền vững, phù hợp với xu hướng tiến bộ của thế giới.

Như vậy, tiến trình đàm phán sẽ còn nhiều phức tạp, nhất là các vấn đề liênquan đến sở hữu trí tuệ, các tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường, an toàn thực phẩm, laođộng và vấn đề đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa khu vực tư nhân và khu vực Nhànước Tuy nhiên, xét về mặt tổng thể, quyết định tham gia TPP là xu thế phù hợp vàhứa hẹn mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam Để tranh thủ tốt các cơ hội từ TPP,bên cạnh việc nâng cao năng lực đàm phán ký kết cũng như công tác chuẩn bị vềmặt chính sách, luật và quy định, Chính phủ cần tăng cường thông tin, tuyên truyềnsâu rộng về TPP để các cơ quan tổ chức, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp và cácngười dân có sự chuẩn bị tốt hơn để sẵn sàng tham gia TPP

1.2 THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA

1.2.1 Khái quát chung

Australia có tên đầy đủ là Liên bang Australia, thuộc Châu Đại Dương rộnglớn nằm về hướng Nam của Indonesia và Paque New Guinea, nằm giữa hai đạidương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Australia có diện tích đứng hàng thứ

6 trên thế giới với tổng diện tích là 7.686.850 km2 trong đó diện tích đất đai là7.617.930 km2 và diện tích mặt nước là 68.920 km2 (Cổng thương mại điện tử quốcgia, 2005a)

1.2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên – chính trị - văn hóa – xã hội

a Đặc điểm tự nhiên

Trang 30

Là một lục địa lâu đời nhất do tác dụng của xói mòn cách đây khoảng 2.500triệu năm, Australia hiện đã trở thành miền đất lớn bằng phẳng, ổn định với sự đadạng về địa hình và cũng là một trong những lục địa khô nhất thế giới Do quy môdiện tích lớn nên Australia rất giàu tài nguyên khoáng sản như vàng, bô xít, sắt,kẽm, đồng, kim cương, dầu khí, than, thiếc và uranium Đất đai và khí hậu ởAustralia khá thuận lợi cho việc phát triển ngành nông nghiệp và chăn nuôi với khíhậu nhiệt đới ở phía Bắc và ôn đới ở phía Nam và phía Đông, nhiệt độ trung bình là

270C ở phía Bắc và 130C ở phía Nam

b Đặc điểm chính trị

Liên bang Australia là một nhà nước theo thể chế quân chủ lập hiến vớingười đứng đầu trên danh nghĩa là Nữ hoàng Elizabeth II của Anh Hệ thống lãnhđạo được đảm trách bởi 3 quyền lực liên hệ lẫn nhau đó là Lập pháp (Quốc hội Liênbang), Hành pháp (Hội đồng Hành pháp) và Tư pháp (Tòa án tối cao của Australia

và các tòa án Liên bang) Cơ chế phân quyền là nguyên tắc theo đó hệ thống tamquyền thực hiện hoạt động riêng biệt nhau, Lập pháp thiết lập luật pháp, giám sáthoạt động của 2 hệ thống kia để thay đổi luật pháp khi thích hợp, Hành pháp banhành thực thi và cưỡng chế pháp luật, Tư pháp diễn giải luật pháp Thể chế chính trị

ở Australia là thể chế đa đảng với 8 Đảng: Đảng dân chủ Australia, Đảng lao độngAustralia, Đảng liên minh tiến bộ Australia, Đảng xanh Australia, Đảng tự do, Đảngđộc lập, Đảng một dân tộc, Đảng gia đình thứ nhất

c Đặc điểm văn hóa – xã hội

Mặc dù tiếng Anh là ngôn ngữ chính của Australia song có hơn 200 ngônngữ khác cũng được sử dụng tại đây Trong khi những nước nói tiếng Anh khác lại

có sự khác biệt ngữ âm lớn giữa các vùng miền và thành phố trong cùng một nước,giọng Anh – Australia nghe đặc biệt dễ hiểu và không có sự khác biệt lớn như ởUSA, Vương Quốc Anh hay Canada

Văn hóa Australia là văn hóa đa nguyên, có khoảng 20% người dân Australiađược sinh ra tại đất nước khác; 25% khác có ít nhất mẹ hoặc bố là người nước ngoài

và đặc biệt hơn nữa nơi đây tụ họp thu hút dân cư từ hơn 140 quốc gia trên thế giớiđến sinh sống Người Australia ham mê thể thao và yêu thích nghệ thuật

Trang 31

Tính đến năm 2010, tổng dân số Australia là 22.299.000 (Worldbank, 2010)người Australia là một trong những nước có mức độ đô thị hóa cao nhất thế giớivới 70% dân số tập trung ở 10 thành phố lớn Australia không có một tôn giáo chínhthức nào, theo ước tính thì có 26,1% Anh giáo, 26% Thiên chúa giáo La mã, 24,3%

Cơ đốc giáo, không tôn giáo là 11% và 12,6% là các tôn giáo khác (Cổng thươngmại điện tử quốc gia, 2005a)

1.2.1.2 Đặc điểm về kinh tế

Kinh tế Australia là một nền kinh tế thịnh vượng, phát triển theo mô hìnhkinh tế phương Tây, chi phối bởi ngành dịch vụ sau đó là ngành nông nghiệp vàkhai thác mỏ Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Australia là nước xuấtkhẩu chính các sản phẩn nông nghiệp, đặc biệt là ngũ cốc và len, các khoáng sảngồm các kim loại, than đá và khí ga thiên nhiên Australia là thị trường xuất khẩulớn nhất của Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ và New Zealand Xu hướng quantrọng nhất trong sự tăng trưởng nền kinh tế Australia là sự phát triển khu vực khaithác khoáng sản

Nói chung, Australia là một trong những nước có nền kinh tế lớn có tính mở

và có sức cạnh tranh cao Sở dĩ nền kinh tế Australia phát triển mạnh bắt nguồn từ

sự quản lý kinh tế hiệu quả và cải cách cơ cấu hợp lý Bên cạnh đó, khu vực kinh tế

tư nhân của Australia có sức cạnh tranh cao, năng động với lực lượng lao động dồidào có tay nghề cao Không chỉ có vậy, Australia còn là một nền công nghiệp tríthức với việc tận dụng công nghệ thông tin đã mang lại cho đất nước này nhiềuthành tựu to lớn

1.2.2 Thị trường Australia

1.2.2.1 Thói quen tiêu dùng của thị trường Australia

Trang 32

Australia là một quốc gia đa văn hóa với rất nhiều cư dân từ các nước khácnhau trên thế giới đến nhập cư, chính vì vậy, nhu cầu tiêu dùng của người Australiacũng rất đa dạng và phong phú Trong những năm gần đây, người Australia có xuhướng tiêu dùng với tiêu chí “giá cả tương xứng với giá trị” và họ có cái nhìn rấthiểu biết nhưng lại khá bảo thủ về vấn đề này Tuy nhiên, vấn đề này không cónghĩa là người tiêu dùng Australia luôn sẵn sàng trả giá cao Trên thực tế, phần lớnngười tiêu dùng luôn so sánh giá cả của rất nhiều người bán lẻ khác nhau trước khiquyết định mua hàng.

Đại bộ phận người tiêu dùng Australia có thái độ khá cởi mở đối với hànghóa nhập khẩu Tuy nhiên, khi hàng hóa trong nước được đánh giá là có “giá cảtương xứng với giá trị” thì sẽ được người tiêu dùng chọn mua Dù sao họ cũng đãquen với các chủng loại hàng hóa nhập khẩu và sẽ đưa ra quyết định cuối cùng theocác yếu tố như chất lượng, kiểu dáng và giá cả mà không quá coi trọng nguồn gốcxuất xứ

Bên cạnh đó, ở Australia vẫn luôn tồn tại thị hiếu đối với một số hàng nhậpkhẩu ở phân đoạn thị trường có mức giá cao và mang tính thời trang như quần áp vàdày dép nhập từ Italy và Pháp hay ô tô nhập khẩu từ Châu Âu được bán với mức giárất cao nhưng vẫn được thị trường Australia đón nhận Một điểm nữa cần lưu ý làngười tiêu dùng Australia rất quan tâm đến vấn đề chất lượng, các nhà nhập khẩuAustralia kinh doanh theo chính sách hoàn trả lại tiền hoặc đổi hàng nếu hàng hóa

có vấn đề về chất liệu Chính vì vậy, một điều đặt ra đối với các quốc gia xuất khẩuhàng hóa vào thị trường Australia phải luôn chú trọng vào chất lượng của hàng hóa,đáp ứng đủ yêu cầu như trong hợp đồng mua bán ngoại thương

Nói tóm lại, người tiêu dùng Australia đặt ra tiêu chuẩn chất lượng rất caođối với hàng hóa Những tiêu chuẩn này được hỗ trợ bởi một loạt các quy định bảo

vệ người tiêu dùng ở tất cả các bang Quan điểm này cũng được các nhà nhập khẩu

và bán lẻ chấp nhận và yêu cầu khắt khe (Cổng thương mại điện tử quốc gia,2005a)

1.2.2.2 Quan điểm của nhà nhập khẩu Australia

Trang 33

Khi kinh doanh làm ăn với Australia, không chỉ nghiên cứu về thị hiếu củathị trường Australia mà còn cần phải tìm hiểu quan điểm của nhà nhập khẩuAustralia từ đó có những giải pháp thích hợp khi quan hệ thương mại với đối tácAustralia để thu được lợi nhuận cao nhất.

Đối với nhà nhập khẩu Australia, họ thường mong muốn trả giá thấp hơn sovới nhà nhập khẩu tại Hoa Kỳ và Châu Âu nhưng đòi hỏi hàng hóa phải có chấtlượng đồng đều và giao hàng đúng hạn Thông thường, các nhà nhập khẩu Australiakinh doanh dựa trên thói quen, họ rất ít khi thay đổi nhà cung cấp mới mà thườngtạo ra mối quan hệ gần gũi quen thuộc với một nhà cung cấp để đảm bảo được tínhliên tục của việc kinh doanh Nhà nhập khẩu Australia sẽ không chấp nhận nhà nhậpkhẩu của họ phá vỡ cam kết không bán hàng cho các nhà nhập khẩu khác Một điềuđáng chú ý đối với các đối tác của Australia đó là việc lén qua mặt các nhà nhậpkhẩu Australia sẽ là một sai lầm nghiêm trọng khi kinh doanh trên thị trường nhỏ bénày do họ sẽ sớm phát hiện được điều gì đang xảy ra

Nhà nhập khẩu Australia không thích mặc cả, họ sẵn sàng thương thảo mộtmức giá hợp lý nhưng không giảm quá 20% Nếu nhà cung cấp nước ngoài đưa ramức giá không thực tế, nhà nhập khẩu Australia thường sẽ không xem xét đến đơnchào hàng Vì vậy, khi báo giá cho nhà nhập khẩu Australia, điều quan trọng nhất làđưa ra một mức giá hợp lý nhất Mặt khác, điều đầu tiên hấp dẫn các nhà nhập khẩuAustralia là mức giá cạnh tranh Họ sẽ do dự khi làm ăn với nhà cung cấp khôngchứng tỏ được sự tự tin trong việc cung cấp hàng có chất lượng ổn định, giao hàngđúng hạn và giữ liên lạc thường xuyên (Cổng thương mại điện tử quốc gia, 2005a)

1.2.2.3 Chính sách quản lý nhập khẩu của Australia

a Thuế hải quan

Australia sử dụng biểu thuế nhập khẩu chung đối với các mặt hàng nhậpkhẩu từ các nước đang phát triển (Nhật, Hoa Kỳ, Anh ) Bên cạnh biểu thuế này,Australia cũng dành một số ưu đãi cho nhiều nhóm nước (ví dụ như đối với cácnước đang phát triển và các quốc đảo – Forum Island Countries – có đủ điều kiệnđược hưởng ưu đãi) hay dưới hình thức Hiệp định thương mại song phương nhưNew Zealand, Singapore, Hoa Kỳ và Thái Lan

Trang 34

New Zealand, Singapore, Hoa Kỳ và Thái Lan và quốc đảo ở khu vực TháiBình Dương được miễn thuế khi xuất khẩu hầu hết các sản phẩm vào khu vựcAustralia với điều kiện hàng hóa phải đáp ứng được các quy tắc xuất xứ liên quan.

Kể từ ngày 01/07/2003, tất cả các mặt hàng xuất xứ từ những nước kém phát triển(LDCs) và Đông Timor cũng được miễn thuế khi xuất khẩu vào thị trườngAustralia

b Hàng dệt may và giày dép

Hạn ngạch nhập khẩu đối với một số mặt hàng dệt may và giày dép được bãi

bỏ vào ngày 01/03/1993 Kể từ đó, các biện pháp kiểm soát nhập khẩu duy nhất đốivới những mặt hàng này là thuế nhập khẩu, được thực hiện tăng giảm theo từng giaiđoạn áp dụng từ ngày 01/05/2005

Bên cạnh đó, Australia dành các ưu đãi đặc biệt đối với các mặt hàng maymặc và giày dép, sản xuất thủ công và cho phép miễn thuế nhập khẩu những mặthàng này Tiêu chí đối với những ưu đãi này rất khắt khe, đòi hỏi các sản phẩm phảiđược làm từ phương pháp thủ công, không sử dụng công cụ cầm tay có dùng điện

và trong trường hợp là hàng may mặc, ít nhất 90% nguyên liệu phải là vải sợi tơ tựnhiên

Theo chương trình gia công ở nước ngoài (OAP), nếu các công ty sản xuấthàng may mặc của Australia ra nước ngoài để gia công thì sẽ phải chịu thuế nhậpkhẩu đối với những chi phí thuê may và trang trí hoàn thiện ở nước ngoài

c Hàng thủ công

Australia cho phép miễn thuế nhập khẩu các sản phẩm khác với điều kiệnđáp ứng các tiêu chuẩn ưu đãi chung đối với hàng thủ công Những sản phẩm thỏamãn các tiêu chuẩn của Australia phải là sản phẩm được sản xuất bằng phương phápthủ công theo một hoặc nhiều quy trình như làm bằng tay, làm bằng công cụ cầmtay, làm bằng máy được thao tác bằng tay hoặc chân, sử dụng toàn bộ hoặc phần lớntrọng lượng của nguyên liệu theo phương pháp truyền thống để sản xuất sản phẩmthủ công và do “làm bằng tay” nên sản phẩm cần đạt được những tiêu chí về thẩm

mỹ hay có giá trị trang trí tương đương với sản phẩm làm bằng tay truyền thống củađất nước mà sản phẩm được sản xuất

d Quy định kiểm dịch

Trang 35

Là một quốc đảo có ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng, các quyđịnh kiểm dịch của Australia rất chặt chẽ Tất cả các loại thực vật nhập khẩu, cho dùcòn tươi sống hay không, hay những sản phẩm từ cây cối như quả, hạt, cành, củ cũng như gỗ và tất cả những sản phẩm làm từ gỗ, tre đều phải được kiểm dịchhoặc chuyển đến cơ quan kiểm dịch thực vật Những sản phẩm nhập khẩu bị pháthiện có nhiễm khuẩn sẽ phải được xử lý, tiêu hủy hoặc gửi trả lại bằng chi phí củachủ hàng

e Xử lý bắt buộc

Một số mặt hàng bắt buộc phải được xử lý ngay sau khi nhập khẩu vào thịtrường Australia nếu không đưa ra minh chứng thuyết phục về việc đã được xử lýtheo quy định trước khi nhập khẩu (Cổng thương mại điện tử quốc gia, 2005b)

CHƯƠNG 2 TRIỂN VỌNG KÝ KẾT ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP ẢNH HƯỞNG ĐẾN

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – AUSTRALIA

2.1 HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – AUSTRALIA

2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng

Nhìn chung, Australia là một đối tác thương mại lớn của Việt Nam, Kimngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Australia cũng như kim ngạch nhậpkhẩu hàng hóa từ Australia tới Việt Nam luôn chiếm một tỉ trọng đáng kể trongtổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam Điều đáng mừng là trongquan hệ thương mại Việt Nam – Australia thì Việt Nam luôn là nước xuất siêu, điềunày có tác động tích cực tới cán cân thương mại của Việt Nam

Bảng 2.1: Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Australia

Kimngạch(TriệuUSD)

% tăng

Kimngạch(TriệuUSD)

% tăng

Kimngạch(TriệuUSD)

% tăng

Trang 36

Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng KNXNK

Hình 2.1: Tăng trưởng kim ngạch thương mại hai chiều

Việt Nam – Australia

Trang 37

Hình 2.2:Tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại hai chiều

Việt Nam – Australia

Thặng dư thương mại

Hình 2.3: Tăng trưởng thặng dư thương mại

Việt Nam – Australia

Nhìn vào bảng và các hình trên, tác giả có những nhận xét như sau:

Xét trong giai đoạn 2000 – 2006, là thời kỳ Việt Nam có những chủ động về

cơ chế, chính sách, pháp luật để chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, giá trị kim ngạchxuất nhập khẩu của Việt Nam sang Australia tăng trưởng đều và khá Năm 2000,kim ngạch xuất khẩu đạt 1.272,5 triệu USD tăng 56,2% so với năm 1999, kim

Trang 38

ngạch nhập khẩu đạt 293,3 triệu USD tăng 36,1% so với năm 1999 Tuy nhiên, đếnnăm 2001 kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Australia có giảm đôi chút so vớinăm 2000, trong đó kim ngạch xuất khẩu giảm 18,1% và kim ngạch nhập khẩugiảm 9,2%, do tác động của cuộc tấn công của các phần tử khủng bố vào nước Mỹ.

Từ năm 2002 trở đi, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu tăng trưởng khá đều, vớikim ngạch xuất khẩu tăng từ 1.328,3 triệu USD năm 2002 lên đến 3.744,8 năm

2006 (tăng 2,8 lần qua 5 năm), kim ngạch nhập khẩu tăng từ 286,3 triệu USD năm

2002 lên đến 1.099,7 triệu USD năm 2006 (tăng 3,8 lần qua 5 năm) Sở dĩ, để đạtđược những bước tiến nói trên là do trong giai đoạn này Việt Nam và Australia đãthường xuyên trao đổi và giao lưu các phái đoàn cấp cao để thúc đẩy quan hệthương mại hai nước Mặt khác, bước tiến triển ấn tượng trong năm 2006 còn là kếtquả của sự kiện Chính phủ hai nước ký thỏa thuận kết thúc đàm phán song phươnggia nhập WTO giữa Việt Nam và Australia vào tháng 03 năm 2006 Việc kết thúcđàm phán với Australia - đối tác thương mại lớn của Việt Nam – về việc Việt Namgia nhập WTO mở ra một thời kỳ mới trong phát triển quan hệ kinh tế và thươngmại giữa hai nước Đại sứ Australia Bin - Tuyt - Đen đánh giá: “Thỏa thuận này sẽgiúp cải thiện khả năng tiếp cận thị trường Việt Nam tại những lĩnh vực màAustralia quan tâm, cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam… Chính phủ Australiasẵn sàng cùng các nhà tài trợ khác hỗ trợ Việt Nam thông qua chương trình “hậuWTO“ nhằm giải quyết những yêu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sau khi gianhập tổ chức này” (IPTC, 2010)

Xét trong giai đoạn 2007 – 2011, hai năm đầu tiên sau khi gia nhập WTO,

giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Australia đạt giá trị lớn nhất từ trướcđến nay với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 4.861,6 triệu USD (năm 2007), đạt5.885,7 triệu USD (năm 2008) Tuy nhiên, ngay sau đó, cả kim ngạch xuất khẩu vànhập khẩu trong năm 2009 suy giảm khá nhiều do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảngkinh tế toàn cầu Trong hai năm tiếp theo, tốc độ tăng trưởng đã gần phục hồi, tuynhiên vẫn chưa thể đạt bằng hai năm 2007 - 2008

2.1.2 Cơ cấu hàng hóa

2.1.2.1 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu

Trang 39

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Australia có những chuyểndịch liên tục theo chiều hướng tích cực, với sự suy giảm trong tỉ trọng của một sốnhóm hàng có hàm lượng chế biến thấp như nông lâm thủy sản hay khoáng sản, sựtăng lên của các mặt hàng có sản lượng chế biến, chế tạo cao hơn như dệt may, dagiày, máy móc, linh kiện điện tử Tuy nhiên cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của ViệtNam sang Australia nhìn chung chưa đa dạng, phụ thuộc vào một số mặt hàng chủlực như dầu thô, khoáng sản Bên cạnh đó, những mặt hàng thô, sơ chế vẫn chiếmmột tỉ trọng lớn trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Australia.

Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, với những điều chỉnh hệ thống pháp luậtphù hợp hơn với nền kinh tế toàn cầu, các nhà đầu tư nước ngoài có điều kiện thuậnlợi hơn khi đầu tư vào Việt Nam, thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng giacông, sử dụng nhiều lao động như da giày, dệt may và bên cạnh đó đầu tư nướcngoài cũng tạo điều kiện cho công nghệ thâm nhập vào Việt Nam, dẫn đến việc xuấtkhẩu các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao có những chuyển biến tích cực

Bảng 2.2: Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Australia

Trang 40

15 Túi xách, ví, vaili, mũ & ô dù 13.825 18.435

16 Sản phẩm mây, tre, cói & thảm 9.618 9.452

28 Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác 72.475 71.001

30 Phương tiện vận tải và phụ tùng 19.536 34.383

Tổng trị giá 2.704.004 2.519.098

(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)

Nhìn vào bảng số liệu trên, tính chung trong hai năm 2010 – 2011 Việt Nam

có khoảng 30 mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Australia Trong đó, có nhiều mặthàng có xu hướng tăng về kim ngạch xuất khẩu như hải sản, hàng rau củ quả, hạtđiều… Tuy nhiên, lượng dầu thô xuất khẩu giảm đáng kể, từ 1,84 tỷ USD (năm2010) xuống còn 1,29 tỷ USD (năm 2011), giảm 29,8% khiến cho tổng kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam sang Australia năm 2011 sụt giảm đáng kể so với năm

2010 Nguyên nhân của kim ngạch xuất khẩu dầu thô giảm là do khối lượng khaithác và giá trị dầu thô giảm nhưng mặt hàng dầu thô vẫn luôn là mặt hàng có tỉtrọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Australia, chiếm tới 67,9%(năm 2010), 51,2% (năm 2011) tổng kim ngạch xuất khẩu

Đặc biệt, trong khi năm 2010 không nhìn thấy sự xuất hiện của mặt hàngđiện thoại và các linh kiện xuất hiện trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu chínhsang thị trường Australia thì năm 2011 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong xuấtkhẩu mặt hàng này và vươn lên đứng vị trí thứ 2 sau mặt hàng dầu thô, chiếm 8,3%tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2011 Đứng thứ 3 là hàng thủy sản với kim ngạchxuất khẩu chiếm 5,6% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010, chiếm 6,5% tổng kimngạch xuất khẩu năm 2011

Ngày đăng: 14/06/2014, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Như Tiến, 2010, Vận tải và giao nhận trong ngoại thương, Nhà xuất bản Thông tin và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận tải và giao nhận trong ngoại thương, Nhà xuất bản Thông tin và Kỹ thuật
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và Kỹ thuật"
13. Đinh Xuân Trình, 2006, Giáo trình Thanh toán quốc tế, Đại học Ngoại Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thanh toán quốc tế
14. Lê Thị Thanh Trúc, 2012, Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương và sự tham gia của Việt Nam, Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội, số 73+74 tháng 1/2012, tr.38-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương và sự tham gia của Việt Nam
15. Phạm Việt Tường, 2011, Việt Nam và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, Ngoại thương, số 19/2011, tr.5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
31. Hải Vân, 2011, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương: Những bước tiến mới, Tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, số 346 tháng 11/2011, tr.8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương: Những bước tiến mới
32. VCCI, 2010, Khuyến nghị phương án đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương.II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến nghị phương án đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
16. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2000, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2000 Khác
17. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2001, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2001 Khác
18. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2002, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2002 Khác
19. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2003, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2003 Khác
20. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2004, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2004 Khác
21. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2005, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2005 Khác
22. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2006, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2006 Khác
23. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2007, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2007 Khác
24. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2008, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2008 Khác
25. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2009, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2009 Khác
26. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2010, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2010 Khác
27. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ năm 2011 Khác
29. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ phân theo mặt hàng chủ yếu sơ bộ năm 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Tăng trưởng kim ngạch thương mại hai chiều  Việt Nam – Australia - Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia
Hình 2.1 Tăng trưởng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Australia (Trang 33)
Bảng 2.2: Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Australia Năm 2010 – 2011 - Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia
Bảng 2.2 Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Australia Năm 2010 – 2011 (Trang 36)
Bảng 2.4: GDP của Việt Nam và Australia giai đoạn 2002 - 2010 - Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia
Bảng 2.4 GDP của Việt Nam và Australia giai đoạn 2002 - 2010 (Trang 48)
Bảng 2.6: Dự báo tổng KNXK của Việt Nam và Australia trong giai đoạn 2015 - 2025 - Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia
Bảng 2.6 Dự báo tổng KNXK của Việt Nam và Australia trong giai đoạn 2015 - 2025 (Trang 55)
Bảng 2.7 dự báo kim ngạch xuất khẩu tăng thêm theo các mặt hàng của các  nhóm nước. Như đã giải thích ở trên, Australia thuộc nhóm TPP track và Việt Nam  thuộc nhóm Two tracks, từ đó ta có thể ước lượng được xu thế thay đổi trong cơ cấu  xuất khẩu hàng hó - Triển vọng ký kết đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam – Australia
Bảng 2.7 dự báo kim ngạch xuất khẩu tăng thêm theo các mặt hàng của các nhóm nước. Như đã giải thích ở trên, Australia thuộc nhóm TPP track và Việt Nam thuộc nhóm Two tracks, từ đó ta có thể ước lượng được xu thế thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu hàng hó (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w