Kết quả tìm kiếm, thăm dò, khai thác của Công ty vàng Phước Sơn trong những năm gần đây cho thấy vùng có tiềm năng lớn về vàng gốc với những biểu hiện khoáng hoá, điểm quặng, mỏ quặng có
Trang 1LÊ VĂN LƯỢNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN, TRỮ LƯỢNG VÀNG GỐC VÙNG PHƯỚC SƠN - QUẢNG NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
Hà Nội – 2014
Trang 2LÊ VĂN LƯỢNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN, TRỮ LƯỢNG VÀNG GỐC VÙNG PHƯỚC SƠN - QUẢNG NAM
Ngành: Kỹ thuật Địa chất
Mã số: 62520501
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS TRƯƠNG XUÂN LUẬN
2 PGS.TS NGUYỄN PHƯƠNG
Hà Nội - 2014
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vùng Phước Sơn tỉnh Quảng Nam có cấu trúc địa chất phức tạp, biểu hiện khoáng sản khá phong phú; đặc biệt là vàng gốc Kết quả tìm kiếm, thăm dò, khai thác của Công ty vàng Phước Sơn trong những năm gần đây cho thấy vùng
có tiềm năng lớn về vàng gốc với những biểu hiện khoáng hoá, điểm quặng, mỏ quặng có quy mô khác nhau, phân bố trong các trầm tích biến chất hệ tầng Núi
Vú Vấn đề nghiên cứu đặc điểm quặng hoá và lựa chọn mô hình đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc trong vùng chưa được quan tâm đúng mức Để làm sáng tỏ đặc điểm quặng hoá vàng gốc; đặc biệt là việc lựa chọn mô hình đánh giá tài nguyên, trữ lượng phù hợp, làm cơ sở định hướng cho công tác thăm dò, khai thác là nhiệm vụ cần thiết Luận án dành học vị tiến sĩ Địa chất với đề tài
“Nghiên cứu lựa chọn mô hình đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc vùng Phước Sơn - Quảng Nam” được NCS lựa chọn nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu do thực tế đòi hỏi
2 Mục tiêu của luận án
Nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm quặng hoá vàng gốc vùng Phước Sơn; Lựa chọn mô hình đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc và các thành phần có ích đi kèm nhằm góp phần hoàn thiện phương pháp luận thăm dò trên
cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các thân quặng, đới khoáng hoá vàng gốc vùng Phước Sơn; đặc biệt là khu Đăk Sa
- Phạm vi nghiên cứu: vùng Phước Sơn thuộc huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam
4 Nội dung nghiên cứu
- Thu thập, tổng hợp, hệ thống hoá, xử lý dữ liệu địa chất khoáng sản; nghiên cứu bổ sung thành phần vật chất quặng nhằm làm sáng tỏ đặc điểm quặng hoá vàng gốc trong vùng
Trang 4- Xác định các yếu tố khống chế quặng vàng gốc làm cơ sở phân vùng triển vọng, góp phần định hướng công tác thăm dò, đầu tư khai thác
- Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất và đặc điểm biến đổi các thông số địa chất thân quặng chủ đạo phục vụ công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng và các nguyên tố có ích đi kèm
- Khai thác ứng dụng hệ thông tin địa lý (GIS) và các phần mềm chuyên dụng đặc biệt là phần mềm Surpac 5.1 để xây dựng CSDL và đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc vùng nghiên cứu
- Nghiên cứu lựa chọn mô hình nhận thức và phương pháp đánh giá tài nguyên, trữ lượng phù hợp kiểu quặng vàng gốc Phước Sơn
5 Các phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, NCS sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Tổng hợp, xử lý tài liệu đã có, nghiên cứu bổ sung tài liệu địa chất khoáng sản;
- Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chất khoáng sản dạng biểu bảng trên
cơ sở ứng dụng phần mềm Surpac 5.1 và CSDL trong GIS để quản trị bản đồ số;
- Nghiên cứu sử dụng các mô hình toán thống kê (một chiều, hai chiều), hàm cấu trúc (Variogram), hình học mỏ, mặt cắt địa chất để mô hình hoá đối tượng nghiên cứu, làm cơ sở lựa chọn phương pháp đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc;
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp Kriging, nghịch đảo khoảng cách để tính trữ lượng, tài nguyên xác định và phương pháp tính thẳng theo thông số quặng hoá, phương trình hồi quy để dự báo tài nguyên chưa xác định
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
- Luận án đóng góp những cứ liệu bổ sung vào sự hiểu biết toàn diện hơn về thành phần vật chất quặng, đặc điểm quặng hoá và biến đổi không gian của các thông số địa chất thân quặng vàng gốc vùng nghiên cứu;
Trang 5- Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện phương pháp luận thăm dò; trọng tâm là nghiên cứu lựa chọn các mô hình phù hợp để mô hình hoá và đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp cho các nhà quản lý và các doanh nghiệp cơ sở dữ liệu địa chất khoáng sản vàng gốc vùng Phước Sơn đảm bảo độ tin cậy và là tài liệu tham khảo định hướng công tác tìm kiếm, thăm dò, đầu tư khai thác vàng gốc trong vùng
- Cung cấp cho cơ sở sản xuất hệ phương pháp nhằm nâng cao độ tin cậy trong đánh giá tài nguyên, trữ lượng; lựa chọn mạng lưới thăm dò phù hợp với kiểu quặng vàng gốc Phước Sơn và các vùng khác có điều kiện địa chất khoáng sản tương tự
7 Những điểm mới của luận án
- Vàng gốc vùng Phước Sơn thuộc kiểu thạch anh - sulfua đa kim - vàng điển hình, có hai giai đoạn tạo khoáng với tổ hợp cộng sinh khoáng vật đặc trưng là thạch anh - pyrit II - vàng I và thạch anh - pyrotin II - vàng II - galenit - sphalerit (có thể có electrum)
- Hàm lượng Au và các nguyên tố đi kèm (Ag, Pb và Zn) trong các thân quặng vàng gốc vùng nghiên cứu có thể quy nạp về hàm phân bố loga chuẩn
và giữa chúng có mối quan hệ tương quan thuận từ tương đối chặt chẽ đến chặt chẽ
- Đặc điểm biến đổi không gian của Au có thể mô hình hoá bằng hàm cấu trúc kiểu mô hình cầu, hàm lượng Au có tính biến đổi cục bộ và dị hướng yếu; về cơ bản có thể xem như đẳng hướng trong không gian Đặc điểm này là luận cứ khoa học để sử dụng mạng lưới thăm dò hình vuông, hình tam giác đều, hình thoi đồng thời cho phép sử dụng phương pháp bình phương nghịch đảo khoảng cách để tính tài nguyên, trữ lượng vàng gốc vùng nghiên cứu
Trang 6- Kết quả nghiên cứu với sự trợ giúp của phần mềm Surpac đã khẳng định tính ưu việt của mô hình hàm cấu trúc và phương pháp Kriging trong đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc vùng Phước Sơn
- Kết quả nghiên cứu đã đề xuất quy trình đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc vùng Phước Sơn (hình 2.11) đảm bảo độ tin cậy, tiện ích cho thăm dò và khai thác mỏ
8 Các luận điểm bảo vệ của Luận án
Luận điểm 1: Sử dụng giải pháp mô hình hoá thành phần phản ánh chất
lượng vàng gốc bằng tổ hợp mô hình toán thống kê (một chiều, hai chiều) và hàm cấu trúc (Variogram) cho phép nhận thức toàn diện hơn về đặc điểm quặng hoá; Hàm lượng Au trong không gian hai chiều (theo đường phương và hướng dốc thân quặng), biến đổi cục bộ, dị hướng yếu, có thể xem như đẳng hướng Đây là luận cứ khoa học cho áp dụng mạng lưới thăm dò phù hợp cho kiểu quặng vàng gốc vùng Phước Sơn
Luận điểm 2: Đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc vùng nghiên cứu
theo quy trình đề xuất trong Luận án (hình 2.11); trong đó phương pháp Kriging là chủ đạo, đảm bảo độ tin cậy và tiện ích cho sử dụng tài liệu trong quy hoạch thăm dò và khai thác mỏ
9 Cơ sở tài liệu
- Các công trình đo vẽ bản đồ địa chất khu vực tỷ lệ 1:200.000, 1:50.000
- Báo cáo kết quả thăm dò, khai thác vàng gốc phân khu Bãi Đất và Bãi
Trang 710 Nơi thực hiện luận án
Luận án được hoàn thành tại Bộ môn Tìm kiếm Thăm dò, khoa Địa chất, trường Đại học Mỏ - Địa chất dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Trương Xuân Luận, PGS TS Nguyễn Phương NCS xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các thầy hướng dẫn khoa học
NCS nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của Bộ môn Tìm kiếm Thăm
dò, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Lãnh đạo Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia Tác giả cũng nhận được sự động viên giúp đỡ, góp ý tận tình của TS Nguyễn Tiến Dũng, TS Lương Quang Khang, PGS TS Nguyễn Văn Lâm, PGS TS Nguyễn Quang Luật, GS TS Đồng Văn Nhì, PGS TS Đặng Xuân Phong, PGS TS Lê Thanh Mẽ, PGS TS Trần Thanh Hải, TS Đỗ Văn Nhuận, TS Nguyễn Mai Quân, TS Đặng Văn Lãm, TS Trần Văn Miến, TS Hoàng Văn Khoa, TS Quách Trọng Tín, TS Bùi Hoàng Bắc, TS Khương Thế Hùng, TS Nguyễn Quốc Phi và các nhà khoa học trong và ngoài trường Đại học Mỏ - Địa chất NCS xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới lãnh đạo các cơ quan, các nhà khoa học trên
NCS chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các nhà địa chất và các đồng nghiệp cho phép sử dụng và kế thừa tài liệu để hoàn thành luận án này
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÙNG PHƯỚC SƠN
1.1.1 Vị trí vùng nghiên cứu trong bình đồ cấu trúc khu vực
Vùng Phước Sơn có diện tích khoảng 100km2, nằm về phía Bắc địa khối Kon Tum, thuộc á địa khu Nam Ngãi [24] (hình 1.1) Á địa khu Nam Ngãi có cấu trúc dạng uốn cong và bị bẻ gập tạo thành hai nhánh: phương á vĩ tuyến và á kinh tuyến được hình thành trong Paleozoi sớm, tương ứng với kiến sinh Pan - Africa muộn hay Caledoni sớm, nằm giữa á địa khu Ngọc Linh và đai tạo núi Đà Nẵng -
Sê Công [24]
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu địa chất, khoáng sản
1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 1975
Tài liệu nghiên cứu địa chất trong vùng để lại rất sơ lược Theo thông tin của người dân địa phương, những người đầu tiên phát hiện và khai thác vàng trong vùng là người Tràm, sau đó là người Pháp Nghiên cứu ban đầu về địa chất và khoáng sản khu vực có J H Hofet (1941), Fromaget (1952) đã đo vẽ Bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1:2.000.000 và 1:500.000, ngoài ra còn một
số công trình nghiên cứu chuyên đề về địa tầng, kiến tạo và magma của
La Croix A, Trần Huỳnh Anh (1932-1968); nghiên cứu tuổi đồng vị của
T C V Hilde (1967); C Faure (1969)
1.1.2.2 Giai đoạn sau năm 1975
Công tác nghiên cứu địa chất và tìm kiếm khoáng sản mang tính hệ thống trong vùng được các nhà địa chất Việt Nam tiến hành từ năm 1980, bao gồm: Đo vẽ bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do Trần Đức Lương và Nguyễn Xuân Bao đồng chủ biên (1988); Bản đồ địa chất khoáng sản nhóm
tờ Huế - Quảng Ngãi (1986) tỷ lệ 1:200.000 của Nguyễn Văn Trang và nnk; Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 nhóm tờ Bà Nà do Nguyễn Đức Thắng và nnk
Trang 9hiệu đính năm 2006 Bản đồ địa chất Việt Nam - Lào - Campuchia tỷ lệ 1: 1.000.000 của Phan Cự Tiến và nnk (1989)
Hình 1.1 Sơ đồ vùng Phước Sơn trong cấu trúc địa chất Nam Trung Bộ,
tỷ lệ in 1:3.500.000 “Nguồn: Trần Văn Trị và Vũ Khúc 2010”[24]
Công trình đo vẽ Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000, phía Đông có nhóm tờ Tam Kỳ - Hiệp Đức của Koliada A A và nnk (1990); Phía Bắc có nhóm tờ A Hội của Bùi Thế Vinh và nnk (2011); Phía Nam là nhóm tờ Đăk Glêi - Khâm Đức của Đỗ Văn Chi và nnk (1997)
Trong các công trình nêu trên, công trình của Bùi Thế Vinh đã xếp các trầm tích biến chất phân bố chủ yếu ở vùng Phước Sơn vào hệ tầng Núi Vú
Trang 10(NP-1nv) và chúng liên quan đến khoáng hoá vàng gốc, đây là cơ sở định hướng cho công tác tìm kiếm, thăm dò vàng gốc trong vùng
Năm 1996, Công ty Indochina Goldfields Việt Nam (IGF), New Vietnam Mining (NVM) và Tổng cục Địa chất và Khoáng sản đã thực hiện chương trình hợp tác đánh giá tổng quan tiềm năng khoáng sản khu vực Tây Quảng Nam Kết quả hợp tác đã xác định một loạt dị thường địa hoá liên quan với vàng gốc, một trong số đó là dị thường Đăk Sa
Công tác tìm kiếm vàng tỷ lệ 1:10.000 đã thực hiện ở 7 khu bao gồm: Bãi Chuối, K7, Trà Long - Suối Cây, Bãi Bướm, Vàng Nhẹ, Bãi Gió và Núi Vàng Năm 2010, công tác thăm dò đã được thực hiện tại khu Đăk Sa, gồm 2 phân khu mỏ Bãi Đất và Bãi Gõ [5]
1.1.3 Khái quát về địa tầng
Đặc điểm địa tầng vùng Phước Sơn được mô tả trên cơ sở Bản đồ địa chất vùng Phước Sơn tỷ lệ 1: 25.000 của Lê Văn Hải và nnk [5], kết hợp với kết quả hiệu đính bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 tờ Bà Nà của Nguyễn Đức Thắng và nnk hiệu đính năm 2006 [20], bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ A Hội của Bùi Thế Vinh và nnk [25] Bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:25.000 đã thể hiện khá chi tiết và chính xác về vị trí các đứt gãy, ranh giới các thành tạo địa chất trong vùng nghiên cứu so với tài liệu trước đây (hình 1.2)
ra ở phía đông nam vùng nghiên cứu, bao gồm đá phiến thạch anh - biotit, thạch anh - chlorit, thạch anh - biotit chứa granat Chiều dày phân hệ tầng khoảng 2.800m
và phân bố ở trung tâm vùng Thành phần thạch học gồm đá phiến thạch anh - biotit, actinolit - albit, actinolit - chlorit và đá vôi hoa hoá, phiến sét vôi [5] Thế nằm đá biến đổi mạnh, góc dốc phổ biến 30-500 Trong các đới dập vỡ, khe nứt của các đá phiến thạch anh - biotit, phiến sét vôi, phân bố các thân
Trang 11quặng thạch anh - sulfua đa kim - vàng dạng mạch, mạng mạch, mạch thấu kính Chiều dày phân hệ tầng khoảng 1.300m
hạn từ đứt gãy tây Khâm Đức về phía Bắc Thành phần thạch học gồm phiến thạch anh - biotit, thạch anh - biotit - chlorit, sericit - thạch anh, biotit - chlorit, đá phiến giàu vật chất than, cát kết ít khoáng Chiều dày hệ tầng 800 - 1.600m
Trong các tập đá phiến thạch anh - biotit, phiến sét vôi thuộc hệ tầng Núi
Vú, phân hệ tầng trên có chứa các thân quặng thạch anh - sulfua đa kim - vàng Đây là tiền đề thạch địa tầng thuận lợi cho tìm kiếm quặng vàng gốc trong vùng
1.1.4 Khái quát về magma xâm nhập
Diện lộ lớn nhất là xâm nhập granođiorit, granit - biotit phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn phân bố ở phía tây, ít hơn là đá olivinit, pyroxenit phức hệ Hiệp Đức phân bố hạn chế ở phía nam và granosyenit phức hệ Đèo Cả phân bố dạng khối nhỏ ở phía đông; ngoài ra còn có các đai đá mạch không rõ tuổi
1.1.4.1 Phức hệ Hiệp Đức (σPZ1hđ) gồm nhiều thể đá siêu mafic nhỏ phân bố
dọc theo đứt gãy K7, xuyên cắt gây biến chất nhiệt hệ tầng Núi Vú Thành phần thạch học gồm olivinit, pyroxenit [5], [25] Đá thường bị talc hóa, serpentin hóa Nguyên tố vi lượng gồm Ti, V, Co, Ni, Cr nhỏ hơn trị số Clark, riêng Cu vượt trị số Clark 1-2 lần Các nguyên tố hiếm Be, Y, Yb, Zn cao hơn hoặc xấp xỉ trị số Clark Tuổi của phức hệ Hiệp Đức được xếp vào Paleozoi sớm (Nguyễn Xuân Bao, 1981; Nguyễn Văn Trang, 1985) với giá trị tuổi tuyệt đối là 530 triệu năm Khoáng sản liên quan bao gồm: serpentin, talc, cromit
Nguyễn Xuân Bao, Nguyễn Văn Trang cho rằng magma phức hệ Hiệp Đức phân bố ở vùng Phước Sơn không có biểu hiện nguồn cung cấp vàng [21]
1.1.4.2 Phức hệ Đèo Cả (γ-γKđc) thuộc kiểu I – granit, thành phần gồm đá
granosyenit hai mica từ hạt nhỏ đến hạt lớn, granosyenit có muscovit và
granosyenit có biotit hạt nhỏ, bị biến đổi sericit và chlorit hóa yếu [5]
Trang 121.1.4.3 Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn (γδPZ 3bg-qs) thuộc pha 2 của dãy phân
dị, thuộc loạt kiềm vôi Thành phần thạch học gồm chủ yếu là granođiorit, granit - biotit Thành phần khoáng vật tạo đá bao gồm (%): plagioclas (43 61), felspat kali (9 18), thạch anh (14 21), hornblend (5 14), biotit (3 12), pyroxen (ít hoặc vắng mặt) Các khoáng vật phụ hay gặp là sphen, apatit, magnetit, zircon, pyrit
Nghiên cứu mối quan hệ giữa quặng vàng gốc và magma xâm nhập trong vùng Phước Sơn có các công trình sau:
Lê Xuân Vinh và nnk (2011) khi nghiên cứu về magma xâm nhập phức
hệ Bến Giằng - Quế Sơn tại đới Đà Lạt đã kết luận về đặc điểm phân dị và vị trí kiến tạo biểu thị mối liên quan của các thành tạo magma với khoáng hóa
Au - Pb - Zn và Au - Cu Trên biểu đồ tương quan số lượng nguyên tử K - Mg theo Sattran, thấy rõ pha 2 tập trung đặc trưng vào trường Au, một số ít ở nơi giao nhau giữa Au và Mo (hình 1.3) Với kết quả phân tích các nguyên tố vi lượng cho thấy pha 2 phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn có chứa các nguyên tố:
V, Ti, Co, Ni, Cu, Ag, Pb [26]
Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Trung (1979) cho thấy: phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn thuộc kiểu I - granit Về địa hóa, các nguyên tố vi lượng Cr,
Co, Ni, Cu có trị số lớn hơn Clark từ 1,07 - 3,5 lần Các nguyên tố Cu, Pb và
Zn biến đổi mạnh Tại vị trí tiếp xúc giữa xâm nhập phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn và hệ tầng Núi Vú phát hiện các biểu hiện khoáng hoá vàng gốc
Trong đới Đăk Rông - A Lưới nằm về phía tây bắc vùng Phước Sơn, Nguyễn Tiến Thành, trong Luận án của mình đã chứng minh vàng gốc liên quan đến magma xâm nhập phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn [22]
Lê Văn Hải và nnk đã lấy và phân tích mẫu trong xâm nhập granođiorit Kết quả phân tích mẫu tại khu Trà Long - Suối Cây hàm lượng
Au là 0,17g/T; khu K7 có 01 mẫu hàm lượng Au là 0,18g/T [5]
Trang 13Kết quả đo vẽ địa chất tờ Bà Nà (phía đông bắc vùng nghiên cứu), Nguyễn Văn Trang và nnk (1997) đã phát hiện quặng vàng gốc liên quan đến xâm nhập acid phức hệ Hải Vân và phức hệ Đại Lộc Tuy nhiên, trong khu vực Phước Sơn không thấy mối liên hệ giữa quặng vàng với 2 phức hệ xâm nhập này
Hình 1.2 Sơ đồ địa chất vùng Phước Sơn “Nguồn: Lê Văn Hải và nnk 2010, có
chỉnh lý) [5]
Từ các dẫn liệu nêu trên, NCS đồng tình với quan điểm của Huỳnh Trung (1979), Lê Văn Hải (2010) và nnk cho rằng vàng gốc trong vùng liên quan với đá magma thuộc pha 2 phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn
Trang 14Hình 1.3 Biểu đồ tương quan K+ - Mg2+ theo Sattran, 1977 “Nguồn: Lê Xuân Vinh và
đá bị xiết ép, không phát hiện thấy sự phân bố của vàng gốc [20]
- Đứt gãy Đăk Pơ Kô là đứt gãy thuận phân bố phía đông nam, kéo dài gần bắc nam (dọc theo quốc lộ 14), có quy mô lớn, cắt qua nhiều hệ tầng khác nhau Dị thường trọng lực liên quan đến đứt gãy có dạng kéo dài phương á kinh tuyến, cắm về tây với góc dốc 70-800, dọc đứt gãy đá bị ép phiến, milônit hoá, phân bố các tập đá phiến thạch anh chứa sulfua - vàng - đồng (phân bố ngoài vùng nghiên cứu) [20], [24]
- Đứt gãy K7 là đứt gãy thuận nằm song song với đứt gãy Đăk Pơ Kô, mặt trượt cắm về tây với góc dốc 70 - 800, phân bố các mạch thạch anh - sulfua đa kim - vàng ở khu K7, Đăk Sa [5], [20]
Trang 15Từ các dẫn liệu trên cho thấy, trong 3 đứt gãy, chỉ có đứt gãy K7 có liên quan đến khoáng hoá vàng gốc trong vùng
1.1.5.2 Nếp uốn
Trong vùng Phước Sơn thể hiện rõ nhất và có ý nghĩa trong tìm kiếm khoáng sản là nếp lồi Sông Giang [20], phân bố ở phía đông nam, trục nếp uốn phương tây bắc - đông nam kéo dài 14 - 15km từ Đăk Sa, qua K7 đến Sông Giang, hai bên cánh góc dốc 30 ÷ 400 Tại Đăk Sa phân bố các mạch thạch anh - sulfua đa kim - vàng trên cánh tây nam [5] Đây là tiền đề thuận lợi để tìm kiếm quặng vàng gốc trong vùng
Tóm lại, vùng Phước Sơn nằm trong á địa khu Nam Ngãi có cấu trúc địa chất phức tạp, phân bố chủ yếu trầm tích biến chất hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên bao gồm đá phiến thạch anh - biotit, xen các tập đá vôi bị hoa hoá, tập phiến sét vôi Các thân quặng thạch anh - sulfua đa kim - vàng liên quan đến đứt gãy K7, trong các mặt tách lớp của các tập đá phiến thạch anh - biotit,
đá phiến sét vôi, thường phân bố trên cánh của nếp lồi Sông Giang Đây là cơ
sở góp phần khoanh định diện tích có triển vọng vàng gốc trong vùng
1.2 ĐẶC ĐIỂM QUẶNG HOÁ VÀNG GỐC VÙNG PHƯỚC SƠN
Trong vùng nghiên cứu đã xác định được 8 khu phân bố quặng vàng gốc
đó là: Đăk Sa, Bãi Chuối, K7, Trà Long - Suối Cây, Bãi Bướm, Vàng Nhẹ, Bãi Gió và Núi Vàng Trong đó khu Đăk Sa đã được thăm dò, các khu còn lại được tìm kiếm tỉ mỉ Kết quả tìm kiếm, thăm dò trong vùng đã xác định các đới khoáng hoá và một số thân quặng vàng gốc có giá trị công nghiệp
1.2.1 Đặc điểm các đới khoáng hoá
1.2.1.1 Đới khoáng hoá Bãi Chuối bao gồm các mạch thạch anh sulfua vàng
phân bố trong tập đá phiến thạch anh - biotit hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên kéo dài phương á kinh tuyến khoảng 300m, rộng 20m, chiều sâu dự kiến khoảng 75m; được khống chế bằng hào trên mặt và 13 lỗ khoan dưới sâu Kết
Trang 16quả phân tích mẫu mặt hàm lượng Au: 0,1 - 2,96g/T, dưới sâu hàm lượng Au<1g/T, trung bình đới khoảng 0,5g/T
1.2.1.2 Đới khoáng hoá K7 gồm các mạch thạch anh sulfua vàng phân bố
trong tập đá phiến thạch anh - biotit hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên kéo dài phương á kinh tuyến khoảng 400m, rộng 20m, cắm về tây với góc dốc 400, chiều sâu dự kiến khoảng 100m; được khống chế bằng các vết lộ, hào và 01 lỗ khoan Kết quả phân tích mẫu khoáng tướng hàm lượng khoáng vật sulfua từ
2 đến 4% gồm: pyrotin, pyrit, ít chalcopyrit, sphalerit, galenit và vàng tự sinh Kết quả phân tích 84 mẫu rãnh hàm lượng Au: 0,1 - 98,16g/T, đặc biệt trong
lò khai thác thủ công gặp 01 mạch quặng dày 0,5m, hàm lượng Au: 98,16g/T,
01 lỗ khoan gặp mạch quặng dày 2m, hàm lượng Au: 1,4g/T Hàm lượng Au trung bình đới khoảng 3g/T
1.2.1.3 Đới khoáng hoá Trà Long - Suối Cây gồm các mạch thạch anh sulfua
vàng phân bố trong tập đá phiến thạch anh - graphit - chlorit bị cà nát thuộc
hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên, phương kéo dài đông bắc - tây nam khoảng 1.500m, rộng 20m, chiều sâu dự kiến khoảng 60m; khống chế bởi các vết lộ quặng, hào, lò khai thác thủ công và 02 lỗ khoan Kết quả phân tích mẫu khoáng tướng hàm lượng sulfua đến 1% (chủ yếu là pyrit) Kết quả phân tích 43 mẫu rãnh, hàm lượng Au từ 0,1 đến 35,17g/T Tại lò khai thác thủ công gặp mạch quặng dày 2m (2 mẫu rãnh hàm lượng Au: 8,8g/T và 11,3g/T), lỗ khoan TLDD02 gặp 1m quặng (ở độ sâu 75 - 76m), hàm lượng Au: 69,70g/T Hàm lượng Au trung bình đới khoảng 3g/T
1.2.1.4 Đới khoáng hoá Bãi Bướm gồm các mạch thạch anh - sulfua - vàng phân
bố trong mặt tách lớp phương á vĩ tuyến phát triển trong đá phiến thạch anh, graphit, chlorit thuộc hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên, kéo dài khoảng 200m, rộng 5m, chiều sâu khoảng 50m; được khống chế bởi các vết lộ quặng, lò khai thác thủ công và 02 lỗ khoan Hàm lượng khoáng vật pyrotin 0,5 - 1%, mẫu rãnh
Trang 17hàm lượng Au: 0,12 - 64,37g/T Tại công trình khoan gặp đới biến đổi chứa sulfua nhưng không thấy vàng Hàm lượng Au trung bình đới khoảng 1g/T
1.2.1.5 Đới khoáng hoá Vàng Nhẹ gồm các mạch thạch anh sulfua vàng phân
bố trong tập đá phiến thạch anh - biotit hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên, kéo dài phương tây bắc - đông nam khoảng 400m, rộng 30m, cắm về tây nam với góc dốc 60 - 700, duy trì theo chiều sâu khoảng 100m Trong đới đã lấy và phân tích 19 mẫu cục, 61 mẫu rãnh ở các vết lộ quặng, công trình khai thác thủ công Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu gồm pyrit và pyrotin chiếm đến 3% Kết quả phân tích mẫu cục hàm lượng Au từ 0,11 đến 17,17g/T, các mẫu còn lại đều có hàm lượng Au nhỏ hơn 1g/T Hàm lượng Au trung bình đới khoảng 3,27g/T
1.2.1.6 Đới khoáng hoá Bãi Gió gồm các mạch thạch anh - sulfua - vàng
phân bố ở vòm nếp lồi trong đá phiến thạch anh - biotit, kéo dài khoảng 200m theo phương á kinh tuyến, rộng 10m, chiều sâu dự kiến khoảng 50m; được khống chế bằng 4 hào trên mặt và 9 lỗ khoan, lò khai thác thủ công Kết quả phân tích 412 mẫu rãnh, hàm lượng Au thấp, phần lớn nhỏ hơn 1g/T, duy nhất
01 mẫu đạt hàm lượng 1,26g/T Khoan gặp 01 mạch quặng dày 0,8m hàm lượng Au: 4,46g/T Trung bình đới hàm lượng Au khoảng 0,5g/T
1.2.1.7 Đới khoáng hoá Núi Vàng phát hiện 02 dị thường địa hoá liên quan đến vàng
gốc, kéo dài theo phương á kinh tuyến Dị thường (I) dài 300m, rộng 90m Dị thường (II) dài 200m, rộng 80m Hàm lượng vàng thấp, trung bình khoảng 0,1g/T
Nhận xét: trong 7 khu mới được tìm kiếm tỉ mỉ thì có 6 khu đã xác định được các đới khoáng hoá phân bố trong các trầm tích biến chất hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên Phương kéo dài chủ yếu đông bắc - tây nam, á kinh tuyến, phương tây bắc
- đông nam Chiều dài các đới khoáng hoá từ 200 đến 1.500m, rộng từ 5 đến 20m, chiều sâu từ 45 đến 100m Hàm lượng Au trung bình đới từ 0,5 đến 3,27g/T
Trang 181.2.2 Đặc điểm các thân quặng
Khu Đăk Sa (phụ lục 2, hình 1) gồm hai phân khu Bãi Đất và Bãi Gõ
đã được thăm dò và hiện đang được khai thác ở thân quặng BĐMQ
1.2.2.1 Phân khu Bãi Đất có thân quặng chính (BĐMQ) và thân quặng nhỏ
(BĐUQ) nằm trên (hình 1.4) Thân quặng BĐUQ có chiều dày nhỏ, biến đổi không liên tục, ít có giá trị
Thân quặng BĐMQ là thân quặng chính (chiếm 98% trữ lượng toàn phân khu) duy trì khá liên tục theo mặt tách lớp trùng với mặt phân phiến của đá phiến thạch anh - biotit thuộc hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên; được khống chế bởi
57 lỗ khoan, phần vách thường phân bố các tập đá vôi bị hoa hoá, đá phiến thạch anh - biotit, phần trụ phân bố các tập đá phiến thạch anh - biotit, kéo dài phương bắc đông bắc - nam tây nam (100 - 290m), cắm về tây - tây bắc với chiều sâu khống chế khoảng 490m, góc dốc 25 - 320, trung bình 30o Trong lò dọc quan sát
rõ thân quặng duy trì ổn định theo đường phương và hướng dốc
Hình 1.4 Mặt cắt địa chất tuyến AA’ TQ BĐMQ “Nguồn: Lê Văn Hải và nnk 2010”
(chỉ dẫn ở phụ lục 2 kèm theo) [5]
TQ BĐMQ
TQ BĐUQ
Trang 19Thân quặng BĐMQ được cấu thành bởi các mạch thạch anh - sulfua đa kim - vàng duy trì khá ổn định, có ranh giới tương đối rõ ràng với đá vây quanh (Ảnh 1.1), chiều dày: 0,2 ÷ 9,58m, trung bình 2,96m, biến đổi không ổn định (Vm = 70%), chu vi đường viền: 1,23, thuộc loại đơn giản Khoáng vật quặng chủ yếu gồm pyrit, pyrotin, galenit, sphalerit, (có thể có electrum) và vàng tự sinh Tổng hàm lượng sulfua thay đổi 3 ÷ 65%, trong đó pyrit: 2%, pyrotin: 1%, galenit: từ ít đến 12%, sphalerit từ ít đến 50%, (electrum) và vàng tự sinh
Ảnh 1.1 Thân quặng BĐMQ, ranh giới tương đối rõ ràng với đá vây quanh
“Nguồn: Lê Văn Hải và nnk 2010”
Hình 1.5 Mặt cắt địa chất tuyến BB’ TQ QTZ3 “Nguồn: Lê Văn Hải và nnk 2010” (chỉ
dẫn xem phụ lục 2 kèm theo) [5]
Ranh giới TQ với đá vây quanh Thân quặng BĐMQ
Trang 201.2.2.2 Phân khu Bãi Gõ có 6 chùm thân ký hiệu SERP, BGUQ, SC2, MB2,
BGLQ, QTZ4 và 02 thân đơn SC3, MB1 (phụ lục 2, hình 2 đến hình 7) Trong đó chùm thân SERP gồm 4 thân ký hiệu: SERP1, SERP2, SERP3, SERP4; chùm thân BGUQ gồm 3 thân ký hiệu: QTZ1, BGUQ1, BGUQ2; chùm thân SC2 gồm 6 thân ký hiệu 1, 2, 3, 4, 5, 6; chùm thâm MB2 gồm 2 thân 1 và 2; chùm thân BGLQ gồm 2 thân QTZ2, QTZ3; chùm thân QTZ4 gồm 3 thân 1, 2, 3 Trong đó thân quặng QTZ3 thuộc chùm thân BGLQ (hình 1.5) có giá trị nhất (chiếm 56% trữ lượng trong toàn phân khu), thân quặng là mạch thạch anh chứa vàng phân bố trong tập đá phiến thạch anh - biotit, xen các tập phiến sét vôi thuộc hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên Thân quặng được khống chế bởi 76 lỗ khoan, kéo dài phương bắc đông bắc – nam tây nam khoảng 150 - 300m, cắm về tây - tây bắc với góc dốc từ 33 đến 370, trung bình 35o, chiều sâu khống chế đến 1.220m Thân quặng QTZ3 dạng mạch, mạch thấu kính có ranh giới tương đối rõ ràng với đá vây quanh, chiều dày 0,23 ÷ 16m, trung bình 3,11m, biến đổi rất không ổn định (Vm = 115%), chu
vi đường viền (): 1,62, thuộc loại phức tạp Khoáng vật quặng chủ yếu gồm
pyrotin, pyrit, sphalerit và galenit, (có thể có electrum) và vàng tự sinh
Nhận xét: tại khu Đăk Sa, các thân quặng vàng gốc có dạng mạch, mạng mạch, mạch thấu kính lấp đầy các mặt tách lớp phát triển phương đông bắc - tây nam, ít hơn là phương á kinh tuyến hoặc phương tây bắc - đông nam Trên vách thường phân bố các tập đá vôi hoa hoá, phiến sét vôi xen tập
đá phiến thạch anh - biotit, trụ thường là tập đá phiến thạch anh - biotit thuộc
hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên, ranh giới giữa thân quặng với đá vây quanh tương đối rõ ràng Các thân quặng có hình thái từ đơn giản đến phức tạp, chiều dày biến đổi từ không ổn định đến rất không ổn định
1.2.3 Đặc điểm thành phần vật chất và tính chất công nghệ
Trong Luận án, NCS tập trung nghiên cứu chi tiết các thân quặng đã được thăm dò (hai phân khu mỏ Bãi Đất và Bãi Gõ), làm cơ sở luận giải đặc
Trang 21điểm quặng hoá, lựa chọn mô hình và áp dụng các phương pháp đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc trong vùng
1.2.3.1 Thành phần khoáng vật
a Thành phần khoáng vật quặng
Kết quả phân tích mẫu khoáng tướng cho thấy khoáng vật quặng tương đối đơn giản, giống nhau về đặc điểm hình thái khoáng vật tiêu biểu và điển hình bao gồm: pyrit, pyrotin, galenit, sphalerit, (có thể có electrum) và vàng
tự sinh, song biến đổi cạnh mạch phức tạp (chi tiết mục 1.2.3.6)
Tổng hàm lượng khoáng vật sulfua trong các thân quặng cụ thể ở các phân khu như sau:
- Phân khu Bãi Đất khoáng vật quặng chủ yếu là pyrit, galenit,
sphalerit, (có thể có electrum) và vàng tự sinh dạng lấp đầy các khe nứt, chiếm 1 ÷ 65% Trong đó sphalerit từ ít đến 50%, galenit từ ít đến 12%, pyrit đến 2%, ít hơn là pyrotin đến 1%
- Phân khu Bãi Gõ khoáng vật quặng chủ yếu gồm pyrotin, pyrit,
sphalerit, galenit, (có thể có electrum) và vàng tự sinh; tổng khoáng vật sulfua dao động 2 ÷ 15%, cục bộ lên đến 45%
Hàm lượng khoáng vật sulfua phân khu Bãi Đất thường cao hơn so với phân khu Bãi Gõ, đặc biệt là khoáng vật galenit và sphalerit, trong đó khoáng vật sphalerit chiếm ưu thế hơn cả, có thể là do phân khu Bãi Đất có sự phân
bố tập đá vôi ưa chì và kẽm
b Đặc điểm khoáng vật chính
+ Pyrit (FeS2) gồm 2 thế hệ I và II, dạng hạt tha hình, kích thước hạt 0,03
- 1mm, xâm tán rải rác trong nền thạch anh Quan sát rõ pyrit bị galenit và sphalerit thay thế, gặm mòn, gắn kết ở một số nơi Pyrit II có quan hệ tiếp xúc phẳng (đồng sinh) với vàng tạo thành THCSKV, thể hiện rất rõ trên ảnh 1.9
Trang 22+ Pyrotin (FeS) có thể phân biệt 2 thế hệ pyrotin: pyrotin I chiếm 90% tổng số pyrotin trong mẫu, dạng hạt tha hình với kích thước chủ yếu 0,2 - 1mm, xâm tán thành ổ và rải rác trong thạch anh Nhiều vị trí gặp pyrotin I bị melnhicovit thay thế chỉ còn lại ít tàn dư kích thước < 0,2mm, phân bố rải rác Pyrotin II chiếm tỷ lệ nhỏ, khoảng 10% tổng số pyrotin, kích thước hạt thường < 0,2mm xâm tán không đều trong thạch anh cùng với sphalerit và galenit (ảnh 1.10, 1.11, 1.12, 1.13, 1.15, 1.16)
+ Galenit (PbS) tồn tại dạng hạt tha hình, kích thước 0,02-2mm, phân
bố không đều, dạng ổ lớn đôi khi tập hợp đặc xít, đôi chỗ xâm tán thành đám hạt trong thạch anh Ngoài ra, galenit phân bố theo các vi khe nứt trong thạch anh (ảnh 1.14, 1.15) đôi chỗ thay thế rõ cho các hạt pyrotin (ảnh 1.15); có quan hệ tiếp xúc phẳng với sphalerit và vàng tạo thành THCSKV (ảnh 1.3, 1.6, 1.13, 1.16)
+ Sphalerit (ZnS) dạng hạt và tập hợp hạt tha hình với kích thước 0,2 - 2mm, đôi khi > 2mm, phân bố xâm tán (ảnh 1.6) Quan sát rõ quan hệ tiếp xúc phẳng với galenit và vàng tự sinh tạo thành THCSKV (ảnh 1.3, 1.16)
+ Vàng tự sinh (Au) tồn tại rất đa dạng, bao gồm 2 thế hệ vàng I và vàng
II, xâm tán rải rác trong thạch anh (ảnh 1.2, 1.4, 1.8, 1.10, 1.11); dạng vi mạch lấp đầy khe nứt (ảnh 1.5, 1.12, 1.14, 1.15); xâm tán dạng đám hạt, xâm tán cùng gelenit và sphalerit Hạt vàng có kích thước 0,01 - 0,2mm, từ tương đối đẳng thước (ảnh 1.3, 1.7) đến hạt méo mó (ảnh 1.2, 1.6, 1.8, 1.9, 1.10, 1.13, 1.16) hay dạng hạt tha hình (ảnh 1.4, 1.6, 1.8) đến hạt lớn (ảnh 1.3, 1.6, 1.7, 1.16), Trong mẫu gặp Au tự sinh quan hệ tiếp xúc phẳng với pyrotin II, galenit, sphalerit tạo thành tổ hợp cộng sinh khoáng vật thạch anh - pyrotin II - vàng II - galenit - sphalerit (ảnh 1.16); thạch anh - pyrit II - vàng I (ảnh 1.9)
+ Bạc (Ag): trong tất cả các mẫu khoáng tướng chưa phát hiện thấy Ag tồn tại ở dạng tự sinh, theo tài liệu nghiên cứu trước đây Ag có thể trong khoáng vật electrum [26] và không loại trừ trong khoáng vật galenit
Trang 23- Tập ảnh mẫu khoáng tướng lấy trong thân quặng BĐMQ phân khu Bãi Đất
Ảnh 1.2 Mẫu LV1.1, tầng lò 1, TQ BĐMQ Vàng
tự sinh, hạt tha hình xâm tán rải rác trong thạch
anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.3 Mẫu LV1.2, tầng lò 1, TQ BĐMQ Vàng tự sinh, hạt đẳng thước, xâm tán trong thạch anh, tiếp xúc phẳng với galenit và sphalerit (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.4 Mẫu LV2-2.1, tầng lò 2 TQ BĐMQ Vàng
tự sinh hạt tha hình xâm tán theo các vi khe nứt
trong thạch anh (Nikon +, độ phóng đại 50x1.7)
Ảnh 1.5 Mẫu LV2-2.2, tầng lò 2, TQ BĐMQ Vàng
tự sinh hạt kéo dài nấp đầy theo vi khe nứt trong thạch anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.6 Mẫu LV3-3.1, tầng lò 3, TQ BĐMQ Vàng tự
sinh, hạt tha hình xâm tán trong thạch anh, tiếp xúc phẳng
với galenit và sphalerit (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.7 Mẫu LV3-3.2, tầng lò 3, TQ BĐMQ Vàng
tự sinh hạt đẳng thước xâm tán trong thạch anh cùng galenit và sphalerit (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Trang 24Ảnh 1.8 Mẫu LV3-3.3, tầng lò 3, TQ BĐMQ Vàng
tự sinh, hạt tha hình xâm tán cùng galenit trong thạch
anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.9 Mẫu DSDH24.1, Lỗ khoan DSDH24, TQ BĐMQ Vàng tự sinh tiếp xúc phẳng với pyrit tạo thành THCSKV xâm tán trong thạch anh (Nikon
+, độ phóng đại 200x1.7)
- Tập ảnh mẫu khoáng tướng lấy trong thân quặng QTZ3 phân khu Bãi Gõ
Ảnh 1.10 BG 1.1 (lò 1) TQ QTZ3 Vàng tự sinh
(Au) xâm tán cùng pyrotin II (Pyr) trong thạch
anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.11 BG 1.2 (lò 1) TQ QTZ3 Vàng tự sinh (Au) tương đối đẳng thước xâm tán cùng pyrotin II (Pyr) trong thạch anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.12 BG 1.3 (lò 1) TQ QTZ3 Vàng tự sinh (Au) hạt
kéo dài xâm tán cùng pyrotin II (Pyr) tạo vi mạch ngắn
theo vi khe nứt trong thạch anh (Nikon +, độ phóng đại
200x1.7)
Ảnh 1.13 BG 2.1 (lò 1) TQ QTZ3 Vàng tự sinh (Au), galenit (Gal) và pyrotinII (Pyr) tạo THCSKV trong thạch anh (Nikon +, độ phóng
đại 50x1.7)
Trang 25Ảnh 1.14 BG 7 (lò 1) TQ QTZ3 Vàng tự sinh (Au),
hạt kéo dài xâm tán theo vi khe nứt cùng galenit (Gal)
trong thạch anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.15 BG 7.2 (lò 1) TQ QTZ3 Vàng tự sinh (Au) dạng vi mạch, lấp đầy vi khe nứt cùng với pyrotin (Pyr) và galenit (Gal) (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.16 BG 7.3 (lò 1) TQ QTZ3 Vàng tự sinh (Au) kích thước lớn tạo thành THCSKV với sphalerit (Spl), galenit (Gal) pyrotin II trong thạch anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
(Ảnh: PGS.TS Nguyễn Quang Luật, 2013)
c Khoáng vật phi quặng
Khoáng vật không quặng chủ yếu là thạch anh, dolomit, calcit, rất ít
sericit và chlorit
1.2.3.2 Thành phần hoá học quặng
a Nguyên tố Au
- Trong các đới khoáng hoá: kết quả lấy mẫu trên các vết lộ, hào tìm
kiếm, các lò khai thác thủ công, hàm lượng Au: 0,1 - 98,16g/T (K7); dưới sâu hàm lượng Au: 0,1 - 69,7g/T; trung bình đới 0,5 - 3,27g/T
- Trong các thân quặng: TQ BĐMQ hàm lượng Au: 0,13 ÷ 76g/T (đã xử
lý mẫu đặc cao), trung bình 18,65g/T; hệ số biến thiên hàm lượng Vc = 267%, thuộc loại đặc biệt không đồng đều; TQ QTZ3 hàm lượng Au: 0,11 ÷ 48g/T (đã
xử lý mẫu đặc cao), trung bình: 9,57g/T, hệ số biến thiên hàm lượng Vc = 206%, cũng thuộc loại đặc biệt không đồng đều
Trang 26Một số vị trí khoáng hóa phát triển cả trong đá phiến ở vách và trụ thân quặng, tuy nhiên hàm lượng Au thấp, không đạt chỉ tiêu công nghiệp
1.2.3.3 Cấu tạo, kiến trúc quặng
Vùng Phước Sơn, quặng vàng có cấu tạo phổ biến: dạng đặc sít (ảnh 1.17), dạng nấp đầy các khe nứt (ảnh 1.18), dạng mạng mạch (ảnh 1.19) Khoáng vật quặng từ tha hình đến dạng hạt lớn, hạt kéo dài, đôi khi hạt tương đối đẳng thước, góc cạnh
Ảnh 1.17 Quặng thạch anh sulfua vàng
cấu tạo dạng đặc xít, TQ BĐMQ “Nguồn:
Trang 271.2.3.4 Tính chất công nghệ
Mẫu công nghệ được thí nghiệm tại nhà máy tuyển vàng Bồng Miêu và
ở Australia Các mẫu thí nghiệm được nghiền mịn trên 80% cỡ hạt 75m; tuyển trọng lực để thu hồi vàng có kích thước hạt lớn; đuôi quặng sau tuyển tiếp tục được tuyển nổi Phần tinh quặng tuyển nổi và tuyển trọng lực tiến hành ngâm chiết toàn bộ bằng xyanua
Kết quả cho thấy tuyển theo quy trình ngâm chiết xyanua trực tiếp có hiệu quả thu hồi vàng cao, đại đa số vàng ở dạng tự sinh, không chứa các nguyên tố có hại Vàng chiếm hơn 90% tổng giá trị các kim loại có trong
quặng Thực tế kết quả tuyển, luyện hệ số thu hồi có thể đạt trên 90%
Tóm lại, khoáng vật quặng khu Đăk Sa tương đối đơn giản song phân
bố phức tạp, hàm lượng Au biến đổi đặc biệt không đồng đều; trong vùng có
2 thế hệ quặng vàng; hoàn toàn có thể sản xuất ra vàng thương phẩm ở quy
mô công nghiệp với các quy trình công nghệ và kỹ thuật đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới (ảnh 1.20)
1.2.3.5 Tổ hợp cộng sinh khoáng vật và giai đoạn tạo quặng
Trên cơ sở nguyên tắc phân chia các giai đoạn tạo quặng của Bechechin
A G và kết quả nghiên cứu mẫu khoáng tướng, có thể chia quá trình tạo khoáng trong vùng nghiên cứu thành 3 giai đoạn chính với tổ hợp cộng sinh khoáng vật đặc trưng sau:
+ Giai đoạn 1: thạch anh, pyrotin I, pyrit I;
+ Giai đoạn 2: thạch anh, pyrit II, vàng I;
+ Giai đoạn 3: thạch anh, pyrotin II, vàng II, galenit, sphalerit (có thể
có electrum)
1.2.3.6 Biến đổi đá vây quanh
Các thân quặng thạch anh - sulfua đa kim - vàng có ranh giới tương đối rõ ràng với đá vây quanh (ảnh 1.1) Đới biến đổi xung quanh thân quặng có chiều
Trang 28dày 0,1 ÷ 0,3m (ảnh 1.21), xâm tán vàng với hàm lượng thấp, không đạt chỉ tiêu công nghiệp
Ảnh 1.21 Đới biến đổi đá vây quanh thân quặng BĐMQ “Nguồn: Dr Brett
Davies 2006” [32]
Biến đổi cạnh mạch có hiện tượng thạch anh hoá chứa quặng (ảnh 1.22, 1.28, 1.29), thạch anh, dolomit hoá, (chlorit hoá yếu) chứa quặng (ảnh 1.23), đá dolomit bị talc hoá, magnesit hoá xâm tán quặng (ảnh 1.24, 1.25), đá hoa bị thạch anh hoá xâm tán quặng (ảnh 1.26) Ngoài ra còn có đá phiến thạch anh - actinolit bị calcit hoá, chlorit hoá (ảnh 1.31) Quặng chủ yếu đi cùng hiện tượng thạch anh hoá, ít hơn là dolomit hoá và calcit hoá Đá phiến thạch anh - biotit bị thạch anh hoá chứa khoáng vật quặng lên đến 10% (Bãi Đất, Bãi Gõ), dolomit hoá, calcit hoá chứa khoáng vật quặng từ ít đến 2%, (K7, Trà Long - Suối Cây), chlorit hoá (Trà Long - Suối Cây, Bãi Bớm), hiện tượng sericit hoá rất hạn chế
Trang 29Ảnh 1.24 DSDH251.1, đá dolomit bị talc hoá,
magnesit hoá xâm tán quặng (Nikon +, độ
phóng đại 50x1.7)
Ảnh 1.25 DSDH251.2, đá dolomit bị talc hoá, magnesit hoá xâm tán quặng (Nikon +, độ
phóng đại 50x1.7)
Ảnh 1.26 LV1 Đá hoa bị thạch anh hoá xâm
tán quặng (Nikon +, độ phóng đại 50x1.7)
Ảnh 1.27 DSDH213-8 Đá hoa bị thạch anh hoá (Nikon +, độ phóng đại 50x1.7)
Ảnh 1.28 LV1-3 Đá phiến thạch anh - biotit bị
thạch anh hoá chứa quặng ) (Nikon -, độ phóng
độ phóng đại 50x1.7)
(Mẫu lát mỏng do PGS.TS Lê Thanh Mẽ, TS Đỗ Văn Nhuận, Trường
Đại học Mỏ - Địa chất phân tích)
Trang 30Tóm lại, quặng vàng chủ yếu đi cùng với hiện tượng thạch anh hoá, ít hơn là dolomit hoá và calcit hoá, (sericit hoá và chlorit hoá yếu) Trong các đới biến đổi đều chứa quặng vàng song với hàm lượng thấp, không đạt chỉ tiêu công nghiệp
1.2.3.7 Nhận định nguồn gốc quặng vàng gốc vùng Phước Sơn
Vùng Phước Sơn nói chung, khu Đăk Sa nói riêng đã có các công trình nghiên cứu về địa chất cũng như những nghiên cứu ban đầu về nguồn gốc quặng vàng Trong đó đáng kể nhất là các công trình nghiên cứu của các tác giả:
- Trần Trọng Hòa và nnk năm 2005 [7], cho rằng các thân quặng vàng gốc vùng Phước Sơn hình thành trong điều kiện nhiệt độ từ trung bình đến trung bình thấp (300 - 230oC và 245 - 185oC) được khẳng định bằng kết quả nghiên cứu về tổng độ muối của dung dịch khá biến động: 1,7 - 6,4‰ NaCl đương lượng
- Lê Văn Hải và nnk, trong báo cáo kết quả thăm dò vàng gốc khu Đăk
Sa (năm 2008, 2010), cho rằng quặng vàng gốc ở đây có nguồn gốc nhiệt dịch liên quan đến xâm nhập acid phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn [5]
- Kết quả đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ A Hội, năm
2011, Bùi Thế Vinh và nnk cũng đồng quan điểm cho rằng vàng gốc vùng Phước Sơn có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ trung bình - thấp, liên quan xâm nhập acid phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn [25]
Kết quả nghiên cứu bổ sung do NCS thực hiện, kết hợp với tài liệu nghiên cứu trước (của Trần Trọng Hoà, Lê Văn Hải, Bùi Thế Vinh và nnk) cho phép rút ra nhận định sau: vàng gốc khu Đăk Sa thuộc kiểu thạch anh- sulfua đa kim - vàng; thể hiện ở tổ hợp cộng sinh khoáng vật điển hình là thạch anh - pyrit II - vàng I và thạch anh - pyrotin II - vàng II - galenit - sphalerit (có thể có electrum) được hình thành trong điều kiện nhiệt độ trung bình, trung bình thấp
Trang 311.3 PHÂN VÙNG TRIỂN VỌNG
1.3.1 Cơ sở phân vùng triển vọng
Để định hướng cho công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc Trên cơ sở các tiền đề, dấu hiệu tìm kiếm đã xác lập, NCS đã chồng xếp các lớp thông tin trong GIS để phân vùng triển vọng
1.3.1.1 Tiền đề
- Thạch địa tầng thuận lợi là trầm tích biến chất hệ tầng Núi Vú, phân
hệ tầng trên cụ thể là tập đá phiến thạch anh - biotit, phiến sét vôi bị bong lớp, dập vỡ, độ nứt nẻ lớn như là tầng chứa Tập đá vôi, đá vôi bị hoa hoá có độ lỗ hổng nhỏ, độ nứt nẻ thấp không thuận lợi cho dung dịch tạo quặng di chuyển vào thường phân bố ở vách thân quặng, như là màn chắn
- Magma phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn, đặc biệt là pha 2 có chứa các
nguyên tố vi lượng V, Ti, Co, Ni, Cu, Ag, Pb xuyên cắt đá biến chất hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên gây biến chất tiếp xúc, dung dịch nhiệt dịch chứa vàng từ khối xâm nhập đi vào và tích tụ lại trong các mặt tách lớp của tập đá phiến thạch anh - biotit, phiến sét vôi
- Cấu trúc là các đới dăm kết trong các khe nứt mở liên quan đến đứt
gãy K7 phương đông bắc - tây nam, á kinh tuyến; ít hơn là phương tây bắc - đông nam Các đứt gãy đóng vai trò là các kênh dẫn dung dịch quặng đi vào trong các mặt tách lớp (đóng vai trò chứa) phát triển trong các tập đá phiến thạch anh - biotit, đá phiến sét vôi Trên cánh thoải của nếp lồi Sông Giang, nơi các tập đá bị uốn tạo ra các khe nứt tách dạng bong lớp, đây là điều kiện thuận lợi để dung dịch tạo quặng đi vào và trú ngụ lại
1.3.1.2 Dấu hiệu tìm kiếm
- Các vết lộ quặng, các công trình khai thác thủ công, các đới biến đổi thạch anh hoá, dolomit hoá và calcit hoá (ít hơn là sericit, chlorit hoá) cũng có thể có chứa vàng
- Vành phân tán địa hoá nguyên sinh của các nguyên tố đi cùng với Au (Cu, Pb, Zn và Ag), các đới tảng lăn có chứa khoáng vật sulfua
Trang 32- Dị thường từ, xạ, điện trường thiên nhiên có thể do các thân quặng thạch anh - sulfua - vàng gây ra
- Dấu hiệu vành phân tán trọng sa của khoáng vật vàng tự sinh
1.3.1.3 Nguyên tắc phân vùng triển vọng
Để phân vùng triển vọng, ngoài các tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm trực tiếp nêu trên NCS còn chú trọng đến tài liệu phân tích ảnh viễn thám Với sự trợ giúp của hệ thông tin địa lý (GIS), cho phép khoanh định các khu có mức
độ triển vọng vàng gốc khác nhau Mỗi khu có các đặc điểm riêng và được tóm lược như sau:
- Khu rất triển vọng (A): có tiền đề địa chất thuận lợi, dấu hiệu trực tiếp là các vết lộ quặng, công trình khai thác thủ công, đã có công trình hào và khoan khống chế các thân quặng, đới quặng, lấy mẫu phân tích Kết quả đã khoanh định được một số thân quặng có giá trị công nghiệp hoặc sơ bộ đã khoanh định được vị trí thân quặng
- Khu triển vọng (B): là phần diện tích nằm kề cận diện tích (A), hoặc là phần diện tích có tiền đề địa chất thuận lợi, các vết lộ quặng, công trình khai thác thủ công, đã kiểm tra hào trên mặt, khoan một vài lỗ khoan, lấy mẫu phân tích kiểm tra Kết quả đã khoanh định được các đới quặng có chứa vàng gốc
- Khu vực chưa rõ triển vọng (C): có tiền đề địa chất tương đối thuận lợi, kết quả đo địa vật lý cho thấy dị thường từ, xạ, điện liên quan đến khoáng hoá sulfua có thể chứa quặng vàng gốc; các vành phân tán địa hoá vàng và các nguyên tố đi kèm, các đới biến đổi có biểu hiện vàng gốc
1.3.2 Kết quả phân vùng triển vọng
Kết quả phân vùng triển vọng đã chia ra 4 khu rất có triển vọng, cấp (A);
3 khu có triển vọng, cấp (B) và 01 khu chưa rõ triển vọng, cấp (C) (hình 1.6)
Cụ thể như sau:
- Diện tích rất triển vọng (A) bao gồm: khu Đăk Sa, với diện tích
khoảng 0,5km2; Bãi Chuối là 0,112km2; Trà Long - Suối Cây là 0,59km2; Bãi Gió là 0,13km2
Trang 33- Diện tích triển vọng (B) bao gồm: khu K7, diện tích 0,173km2; Bãi
Bướm 0,28km2; Vàng Nhẹ 0,185km2
Hình 1.6 Sơ đồ phân vùng triển vọng quặng vàng gốc vùng Phước Sơn,
tỷ lệ in 1 : 50.000 “Nguồn: Lê Văn Hải và nnk 2010, có chỉnh lý” [5]
Trang 34CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ LỰA CHỌN MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ
TÀI NGUYÊN, TRỮ LƯỢNG 2.1 TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HOÁ, KHOÁNG VẬT VÀ CÁC LOẠI HÌNH NGUỒN GỐC MỎ VÀNG CÔNG NGHIỆP
2.1.1 Tổng quan đặc điểm địa hoá, khoáng vật vàng
Vàng có trọng lượng nguyên tử 196,967 điểm nóng chảy 1.0640C, điểm sôi 2.9800C Nguyên tố vàng có 79 điện tử; Au197 ổn định, còn Au198, Au196kém ổn định trong tự nhiên
Hàm lượng vàng trung bình trong vỏ trái đất nhỏ hơn 10-6%, phân bố rộng rãi trong tự nhiên, trong các loại đá khác nhau, trong đất, tro thực vật, trong nước của nhiều con sông và trong nước biển Có gần 1 tỷ tấn vàng trong nước biển và đại dương với hàm lượng tương đối lớn 3 - 5mg/m3 Tuy đã có nhiều công trình nỗ lực giải quyết vấn đề tuyển công nghiệp vàng trong nước biển và đại dương nhưng hiện vẫn chưa được giải quyết
Khoáng vật học của vàng đơn giản, vàng có giá trị công nghiệp chủ yếu
ở dạng tự sinh và tellua của vàng Vàng tự sinh hầu như có chứa Ag, một lượng nhỏ Cu và Fe; đôi khi có Bi, Pd và Rd Liên quan với việc chứa các kim loại khác trong vàng tự sinh, người ta đưa ra khái niệm “Độ tinh khiết của vàng”, nghĩa là hàm lượng vàng: phần nghìn đối với vàng tự nhiên và phần trăm đối với các sản phẩm từ vàng Ví dụ “Độ tinh khiết 900” có nghĩa
là có 900 phần trong 1000 phần vàng và 100 phần các tạp chất khác (Ag, Cu,
Fe và các nguyên tố khác); vàng có màu vàng rực rỡ, độ tinh khiết cao, là kim loại mềm và dễ bị mài mòn, thường tạo hợp kim với các kim loại khác như
Cu, Pb, v.v, để tăng thêm độ cứng
Theo tài liệu của N Phishera (năm 1945), có mối liên hệ mang tính quy luật giữa nhiệt độ thành tạo quặng với độ tinh khiết của vàng Thân quặng
Trang 35thành tạo ở nhiệt độ cao, độ tinh khiết của vàng đạt 850 - 900 hoặc hơn; ở nhiệt độ trung bình, độ tinh khiết thường nằm trong khoảng 800 - 850; nhiệt
độ thấp đạt 500 - 750; khi vàng tự sinh hình thành do kết quả của sự ôxy hóa tellua thì độ tinh khiết đạt tới 900 - 990
Electrum (Au, Ag) là khoáng vật trung gian trong loạt Au - Ag Hàm lượng bạc trong electrum thường là 30, 40, thậm chí có thể đạt tới 50%, màu trắng vàng Vàng thường cộng sinh với sulfua chứa bạc (argentit, quặng đồng xám, proustit, pyrargyrit, v.v.)
Trong các hợp chất tellua thiên nhiên của vàng gồm những hợp chất sau: Calavêrit - AuTe2, trong đó: Au chiếm đến 39%, Ag đến 3%;
Silvanit - AuAgTe4 , trong đó: Au chiếm đến 24%, Ag đến 13%;
Nagyagit - Au (Pb, Sb, Fe)8(S, Te)11 trong đó vàng chiếm 6-13%
Các tellua của vàng thường gặp trong tổ hợp với electrum và các khoáng vật nhiệt dịch nhiệt độ thấp khác; trong điều kiện trên mặt các hợp chất này không bền nên trong sa khoáng và trong các đới oxy hóa (mũ sắt) chúng bị phân hủy và hình thành vàng tự sinh
Trong quặng vàng thường gặp các thể có hình dạng không tự hình như: dạng móc, dạng dây, mạng mạch, xốp hay dạng hạt Có những dạng hiếm gặp như tinh thể vàng hình lập phương, khối 8 mặt và khối ngũ giác 5 cạnh 12 mặt Khối lượng vàng chính trong quặng nằm ở dạng các mảnh nhỏ không nhìn thấy được bằng mắt thường Theo độ lớn của các mảnh có thể chia thành: vàng mắt thấy được với kích thước mảnh bé nhất 100µm; vàng vi thể (cực nhỏ) từ 100µm đến 0,1µm và vàng siêu hiển vi kích thước mảnh từ 0,1µm đến bán kính nguyên tử vàng (0,000145µm)
Trong điều kiện tự nhiên, vàng thường phân bố trong thạch anh dạng mạch hay trong các khoáng vật quặng asenopyrit, pyrit, chalcopyrit, quặng đồng xám, galenit và các sulfua khác
Trang 36Phân biệt các dạng tồn tại của vàng trong quặng như sau:
- Vàng tự sinh dưới dạng các hạt tương đối lớn (kích thước từ 0,1 đến vài milimet)
- Vàng tự sinh xâm tán mịn trong thạch anh, barit, calcit, limonit (có kích thước 0,0005mm)
- Vàng xâm tán mịn rải rác trong sulfua
Đôi khi các hạt vàng bị phủ bởi một lớp màng mỏng màu sẫm từ hợp chất sắt, mangan và các kim loại khác Vàng có đặc trưng là sự phân bố không đều trong quặng và sự tập trung trong một số phần nhất định của thân quặng Vàng cục thiên nhiên đã được phát hiện ở nhiều mỏ sa khoáng như Ural, Siberia, Yarkut, Kolmu Năm 1842 ở sông Tashkytargan đã tìm được cục vàng thiên nhiên “Tam giác lớn” nặng 36,022 kg, khối vàng “Hy vọng” tìm được ở Australia nặng 68,2kg Năm 1864 cũng ở Australia tìm được 1 cục vàng “Người không quen biết” nặng 70,9kg, ở Brazil giữa thế kỷ 19 tìm được cục vàng tự sinh nặng 193kg
Nhiều cục vàng thiên nhiên có dấu vết của các khoáng vật chỉ ra rằng trước khi bị rơi vào sa khoáng, chúng nằm trong thân quặng gốc và phát triển trong các khoang (ổ) giữa các tinh thể thạch anh, calcit, pyrit, sphalerit và các khoáng vật khác Ngoài vàng cục thiên nhiên đặc trưng, ở một số mỏ còn gặp các tích tụ vàng đặc biệt giàu
Một số lượng lớn các mỏ vàng gốc chứa các nguyên tố có ích đi kèm (Ag, Pb, Zn, v.v.), việc khai thác các nguyên tố này sẽ nâng cao lợi nhuận của
mỏ Vì thế, trong quá trình thăm dò, việc nghiên cứu có hệ thống thành phần vật chất quặng, phân tích các nguyên tố có ích đi kèm trở nên rất quan trọng
Do vậy, việc nghiên cứu định lượng mối quan hệ tương quan giữa vàng với các nguyên tố có ích đi kèm được tác giả đặc biệt quan tâm Ngoài ra, cũng
Trang 37cần nghiên cứu công nghệ chế tuyển các nguyên tố đi kèm trong các thân quặng vàng gốc
Đối với quặng vàng, đặc biệt là vàng gốc có tính biến đổi phức tạp Vấn đề quan trọng của công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên, trữ lượng là nghiên cứu đầy đủ tính biến đổi (mức độ, đặc tính, cấu trúc) và xác định tính đẳng hướng, dị hướng của quặng hoá Để nhận thức về đặc tính biến đổi của quặng hoá vàng gốc trong vùng, NCS sử dụng phương pháp mô hình hoá (nội dung đề cập ở Chương 3)
2.1.2 Các loại hình nguồn gốc công nghiệp
2.1.2.1 Trên thế giới hiện có rất nhiều đề xuất phân loại hình nguồn gốc
quặng vàng gốc (không dưới 100 bảng phân loại)
D I Groves trong công trình nghiên cứu đăng trên tạp trí Ore Geology Reviews 13 (1998), cho rằng các mỏ vàng liên quan đến hoạt động kiến tạo, bao gồm quặng vàng trong đới làm giàu biểu sinh, nhiệt độ thấp, porphyr và skarn phân bố trong đới nông khoảng 5km (hình 2.1) [31] Vàng nhiệt độ thấp
và đồng - vàng porphyr (skarn nhiệt độ trung bình cao) thường xuất hiện ở các cung đại dương và cung lục địa Các đai tạo núi chứa vàng thường xuất hiện trong các đai lục địa tiến triển Vàng nhiệt độ thấp và vàng trong suối nước nóng (kiểu mỏ vàng Carlin) phân bố trong các đới mở sau cung (Hình 2.2)
V M Kreite (1945) đã phân chia các loại hình thành tạo quặng vàng gốc gồm: Cuội kết chứa vàng; vàng - thạch anh dạng mạch và dạng stôcvéc; vàng porphyr (đồng chứa vàng); vàng bạc trong vulcanit
Trang 38Hình 2.1 Sơ đồ phân bố các mỏ vàng gốc theo chiều sâu “Nguồn: D.I Groves
and nnk 1998”, [31]
Hình 2.2 Sơ đồ phân bố các mỏ vàng trong sơ đồ kiến tạo mảng
“Nguồn: D.I Groves and nnk 1998”, [31]
Giai đoạn tạo núi
Mạch nước nóng
Nhiệt độ thấp
Nhiệt độ thấp
Dạng bướu
Giai đoạn kiến tạo (trầm tích phun trào) và sau tạo núi
quặng hình thành trong quá trình tạo núi
Mảng lục địa Dưới thạch quyển dưới Đứt gãy siết ép
Quyển mềm
Trang 39Hình 2.3: Quặng vàng liên quan với khối xâm nhập sâu ở Yukon-Alaska (Mỹ)
“Nguồn: Robert, F và nnk 2007, Lang et al” [36]
Mạch thay thế nằm ngang
Tiếp xúc trao đổi
Thay thế trong sét vôi
Mạch trong đứt gãy muộn
Xâm tán trong đá xâm nhập
Dike/mạch trong đá biến chất tiếp xúc nhiệt
Trang 40Hình 2.4 Sự phân bố các vành địa hoá, khoáng vật nguồn magma xâm nhập sâu từ
trong ra ngoài “Nguồn: Robert, F and nnk 2007” [36]
Hart (2005), sau khi nghiên cứu mỏ vàng ở Yukon-Alaska (Mỹ) đã nhận thấy theo chiều sâu và theo chiều ngang có tính phân đới tương đối rõ ràng (hình 2.3, 2.4) [36] Từ khối xâm nhập ra phía ngoài ông đã chia ra làm bốn trường địa hoá khoáng vật bao gồm:
- Trường 1: Au - Bi - Te±W phân bố ngay trên khối magma ở độ sâu khoảng 5km
- Trường 2: Au - As dạng mạch, xâm tán, ở độ sâu khoảng 4km
- Trường 3: As - Sb - Au dạng mạch trong các khe nứt ở độ sâu từ 3 - 4km
- Trường 4: Ag - Pb - Zn dạng mạch trong các khe nứt phân bố ở mái của khối xâm nhập, độ sâu thành tạo khoảng 2km
Căn cứ vào độ sâu và nhiệt độ thành tạo, Emons (1973) và E Raguin (1961) phân ra vàng thuộc nhóm mỏ nhiệt độ cao (hypothermal), nhiệt độ trung bình (mesothermal) và nhiệt độ thấp (epithermal), ngoài ra còn có các
mỏ liên quan với pegmatit và biến chất tiếp xúc trao đổi skarn (pyrometasomatic) [14]
Tiếp xúc trao đổi
Xâm nhập nhỏ kéo dài
Ngoại tiếp xúc Xâm tán, thay thế
Mạch
Cánh hạ
Cánh treo Đới biến đổi nhiệt phân bố bên trên khối xâm nhập
Dạng chùm vỉa