ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ � � � � � BÀI TẬP CUỐI KỲ MÔN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM OPC 4 1 1 Sơ lƣợc về Công ty Cổ phần Dƣợc[.]
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM OPC
Phân tích PEST
Yếu tố chính trị (Political Factors)
Ngành dược nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Nhà nước thông qua các chính sách sản xuất, kinh doanh và quảng bá Những nỗ lực này đã giúp thuốc Việt ngày càng hiện diện sâu rộng trong đời sống người dân Thực hiện đề án "Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam", Bộ Y tế và Sở Y tế các tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp để tăng cường sự hiện diện của doanh nghiệp dược nội địa Đề án đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, không chỉ mở rộng thị phần trong nước mà còn định vị thuốc Việt trên bản đồ dược phẩm thế giới.
Nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm ưu tiên sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc nội Từ năm 2013 đến nay, có tổng cộng 21 văn bản liên quan được phát hành.
Luật Đấu thầu năm 2013 quy định rằng nếu có thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu điều trị và khả năng cung cấp, thì không được chào thầu thêm thuốc nhập khẩu tương đương Thông tư 10/2016/TT-BYT đã tăng danh mục thuốc sản xuất trong nước từ 146 lên 640 loại, không cho phép chào thầu thuốc nhập khẩu Ngoài ra, có quy định ưu tiên chấm thầu cao hơn 5 điểm cho 62 mặt hàng thuốc được vinh danh "Ngôi sao thuốc Việt", thuộc sở hữu của 30 doanh nghiệp dược nội địa.
Các thông tư liên quan đến đấu thầu đã quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thuốc nội Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014 cũng đã tăng cường tỷ lệ sử dụng thuốc nội tại các cơ sở khám chữa bệnh Việc lựa chọn danh mục thuốc do bảo hiểm xã hội chi trả được thực hiện trên nguyên tắc ưu tiên thuốc sản xuất trong nước đạt tiêu chuẩn GMP hoặc sử dụng dược liệu khai thác tại Việt Nam, nhằm khuyến khích người tiêu dùng.
Việt Nam sử dụng thuốc Việt Nam
Các Sở Y tế đã thiết lập các cơ chế hỗ trợ linh hoạt cho doanh nghiệp dược địa phương Nhiều quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành nhằm thúc đẩy Chiến lược phát triển ngành dược Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn trong tương lai.
2030 Theo đó, doanh nghiệp dược nội địa sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi sản xuất và kinh doanh
Yếu tố kinh tế (Economic Factors)
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Thương mại toàn cầu tăng chậm hơn dự báo do thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung diễn biến phức tạp Lạm phát toàn cầu gia tăng, đặc biệt là giá năng lượng và giá dầu, cùng với căng thẳng thương mại giữa các nước lớn và xu hướng bảo hộ mậu dịch, đã ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam và các nước trong khu vực Thêm vào đó, tác động nặng nề từ dịch bệnh càng làm trầm trọng thêm tình hình kinh tế.
Nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực trong những năm gần đây, với chất lượng tăng trưởng và môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện Năm 2018, GDP tăng 7,08%, vượt mục tiêu 6,7%, và kim ngạch xuất khẩu ước đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017 Mặc dù dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất – kinh doanh trong ba quý đầu năm 2020, Việt Nam vẫn ghi nhận tỷ lệ tăng trưởng dương Ngành dược phẩm, ít chịu tổn thương từ đại dịch, chứng kiến nhu cầu tăng nhẹ, đặc biệt là sản phẩm dược liệu an toàn cho sức khỏe, thúc đẩy sự phát triển của thị trường dược phẩm và hoạt động sản xuất kinh doanh của OPC trong thời gian tới.
Yếu tố xã hội (Social Factors)
Những năm gần đây, nhận thức của người dân về thuốc nội đã tăng lên rõ rệt nhờ vào các buổi tọa đàm do Bộ Y tế tổ chức để quảng bá ưu điểm của thuốc Việt Bộ Y tế cũng định kỳ tổ chức hội chợ triển lãm quốc tế hai lần mỗi năm để giới thiệu thuốc Việt ra thế giới, cùng với các hội thảo nhằm đánh giá hiệu quả điều trị và chất lượng sản phẩm, góp phần thay đổi thói quen "sính ngoại" trong việc sử dụng thuốc.
Truyền hình đã phát sóng nhiều phim phóng sự về ngành công nghiệp dược Việt Nam, giới thiệu các nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, EU-GMP, PIC/s-GMP và Japan-GMP Điều này giúp người dân hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất dược phẩm đạt chất lượng quốc tế, từ đó tăng cường niềm tin vào thuốc Việt với mức giá cạnh tranh hơn so với thuốc nhập khẩu.
Việt Nam đã bước vào giai đoạn dân số vàng, nhưng việc già hóa dân số là điều không thể tránh khỏi Ô nhiễm môi trường trở thành mối quan tâm lớn toàn cầu Thu nhập gia tăng khiến người dân chú trọng hơn đến chăm sóc sức khỏe, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 ảnh hưởng toàn cầu Điều này không chỉ thúc đẩy nhu cầu với các sản phẩm ngoại mà còn tạo cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài thâm nhập thị trường Đây là cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp dược phẩm trong việc mở rộng thị trường và tìm kiếm hướng đi mới giữa thời kỳ kinh tế trững lại.
Yếu tố công nghệ (Technological Factors)
Yếu tố công nghệ là then chốt trong quản trị sản xuất của doanh nghiệp, giúp tăng năng suất lao động và giảm chi phí sản phẩm Công nghệ mới không chỉ cải thiện hiệu quả sản xuất mà còn hỗ trợ phát triển sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng Mặc dù trong ngành dược phẩm, công nghệ chưa phải là yếu tố nổi bật, nhưng các doanh nghiệp đang dần nhận thức và chú trọng hơn đến vai trò của nó.
11 việc phát triển công nghệ, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe và nâng cao chất lƣợng tiêu dùng
Khoa học và công nghệ Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, với tốc độ đổi mới công nghệ ngày càng nhanh Các công ty dược phẩm không ngừng cải tiến mẫu mã sản phẩm để thu hút người tiêu dùng, đồng thời học hỏi công nghệ tiên tiến từ toàn cầu và điều chỉnh cho phù hợp với thị trường Việt Nam Nhiều nhà máy sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế đã ra đời, phản ánh nỗ lực của doanh nghiệp trong nước Các sáng chế mới về công nghệ của Việt Nam cũng được thế giới công nhận, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp trong nước.
Phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh ngành dƣợc phẩm
Nguồn: Tác giả tự đánh giá dựa trên các tài liệu đã tìm hiểu
Rào cản gia nhập ngành
Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành
Sức mạnh của người mua
Khả năng ép giá của nhà cung cấp Sản phẩm thay thế
Biểu đồ 1.4 Đánh giá 5 áp lực cạnh tranh ngành dược phẩm
Rào cản gia nhập ngành:
Ngành dược phẩm chịu sự quản lý chặt chẽ từ Chính phủ với nhiều quy định và yêu cầu đặc biệt Sự khó khăn trong việc nhân rộng sản phẩm do các công ty sở hữu bằng sáng chế để bảo vệ sản phẩm của mình tạo ra rào cản lớn cho các đối thủ cạnh tranh tiềm năng.
Chi phí trong ngành dược phẩm, bao gồm nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất, chiếm tỷ lệ lớn và để giảm thiểu, cần sản xuất với quy mô lớn Do đó, áp lực về nguồn lực kinh tế và quy mô khiến các đối thủ cạnh tranh tiềm năng e ngại khi muốn gia nhập ngành dược phẩm.
Công ty có kinh nghiệm lâu năm sẽ dễ dàng tiếp cận các nhà cung cấp nguyên vật liệu chất lượng tốt với giá cả hợp lý, trong khi các công ty mới gia nhập thị trường sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn cung cấp tương tự.
Công ty lâu năm trong ngành thường có uy tín cao, giúp họ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hơn so với các công ty mới gia nhập.
Công ty, với bề dày kinh nghiệm trong sản xuất và điều hành, mang lại lợi thế cạnh tranh vượt trội Hơn nữa, nguồn lao động dồi dào và tay nghề kỹ thuật cao của công ty càng củng cố vị thế trên thị trường.
Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành:
Cạnh tranh trong ngành dược phẩm nội địa chủ yếu tập trung vào 10 công ty lớn, bao gồm OPC, bên cạnh đó còn có sự cạnh tranh từ các công ty nước ngoài Gần đây, ưu thế của thuốc ngoại đã giảm do sự phát triển vượt bậc của thuốc Việt và sự tin tưởng ngày càng cao của người dân vào thuốc nội Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh giữa thuốc nội và ngoại vẫn đáng chú ý.
Ngành dược phẩm đang thu hút mạnh mẽ sự đầu tư từ các tập đoàn nước ngoài cũng như những đại gia từ các lĩnh vực khác, cho thấy tiềm năng phát triển lớn của thị trường này.
Nhu cầu về dƣợc phẩm: khá ổn định
Ngành dược phẩm có rào cản gia nhập cao, yêu cầu đầu tư vốn lớn, do đó, việc rời bỏ ngành đồng nghĩa với việc từ bỏ khoản đầu tư này, dẫn đến rào cản rời ngành cũng rất lớn.
Sức mạnh của người mua:
Các công ty dược phẩm thường không thể phân phối thuốc trực tiếp đến tay bệnh nhân, do đó, khách hàng chính của họ là bệnh viện, trung tâm bảo vệ sức khỏe và các quầy thuốc Số lượng sản phẩm mà khách hàng mua sẽ phụ thuộc vào quy mô của họ; bệnh viện thường cần số lượng lớn thuốc hơn, do đó có khả năng ép giá cao hơn so với các quầy thuốc nhỏ lẻ.
Khả năng ép giá của nhà cung cấp: Thấp
Ngành dược phẩm sử dụng nguồn nguyên liệu phổ biến trên nhiều quốc gia, nhưng những nguyên liệu này lại không phổ biến trong các ngành hàng khác, dẫn đến khả năng ép giá của nhà cung cấp là thấp.
Sản phẩm thay thế là sản phẩm có chức năng tương tự như sản phẩm trong ngành
Các sản phẩm thay thế dược phẩm đang chú trọng vào các sản phẩm phòng bệnh, ví dụ như thay vì sử dụng "C sủi", người tiêu dùng có thể lựa chọn trà thảo mộc hoặc nước hoa quả để giúp làm mát cơ thể.
Với sản phẩm thuốc để chữa bệnh thì không có sản phẩm thay thế
Phân tích SWOT
Hệ thống phân phối sâu, rộng cả trong và ngoài nước
Xây dựng nhiều nhà máy với công suất lớn, đạt tiêu chuẩn thế giới
Công tác nghiên cứu và phát triển đạt đƣợc nhiều thành tựu tốt
Nguồn lực tài chính lành mạnh
Nhiều mặt hàng uy tín quen thuộc với người tiêu dùng như: Cao sao vàng, viên trị sỏi thận Kim Tiền Thảo, thuốc điều kinh Cao Ích Mẫu,…
Công tác nghiên cứu sản phẩm mới đạt thành tựu nhƣng tiến độ còn chậm
Thị phần chủ yếu tập trung ở miền Nam, tuy đã có mở rộng nhiều nhà máy ở miền Bắc và Trung nhƣng hiệu quả marketing chƣa cao
Sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu đã khiến các doanh nghiệp nội địa, bao gồm OPC, phải đối mặt với tình trạng bất ổn về giá cả và gia tăng chi phí.
Cơ hội phát triển nghiên cứu đến từ các mối quan hệ hợp tác, liên doanh liên kết, nhận chuyển giao công nghệ, mua các đề tài khoa học và thuê nghiên cứu.
Được hỗ trợ từ các chính sách nhà nước đã giúp OPC mở ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn
Các bài thuốc đông dƣợc đƣợc kết hợp
Thị trường xuất hiện nhiều thuốc giả ảnh hưởng đến lòng tin của người tiêu dùng khi sử dụng thuốc
Một số nguyên liệu cũng nhƣ máy móc công ty vẫn phải nhập từ nước ngoài nên bị ảnh hưởng bởi các rủi ro tỷ giá, biến động giá,…
Thuốc là mặt hàng Nhà nước quản lý
15 với công nghệ hiện đại đem lại hiệu quả cao hơn trong chất lƣợng cũng nhƣ sản xuất
Nền kinh tế hội nhập giúp công ty tiếp cận được với nhiều thị trường nước ngoài giá trong khi các chi phí đầu vào ngày càng gia tăng
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM OPC
Phân tích hoạt động sản xuất – kinh doanh
Công ty dược phẩm OPC, với hơn 40 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đông dược, đã không ngừng nghiên cứu và phát triển sản phẩm Các sản phẩm của OPC luôn được thị trường đánh giá cao, thể hiện qua nhiều giải thưởng danh giá như Ngôi sao thuốc Việt và top 10 công ty dược phẩm uy tín toàn quốc Doanh thu và lợi nhuận của công ty cũng liên tục tăng trưởng qua các năm.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợptừ các BCTC 2015-2019
Theo phân tích, doanh thu thuần của công ty đã tăng 64% và lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng 35% trong 5 năm qua, cho thấy sự phát triển ổn định Tỷ lệ tăng trưởng này chứng tỏ OPC đang đi đúng hướng Đặc biệt, doanh thu năm 2016 chỉ tăng 8% so với 2015, nhưng đã tăng mạnh 21% trong năm 2017 so với năm trước đó, phản ánh sự phục hồi tích cực của nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam.
Biểu đồ 2.1a Phân tích chuẩn năm gốc DTT và LNT từ
HĐSXKD của OPC từ năm 2015-2019
Doanh thu thuần LNT từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Biến động khí hậu và thời tiết có ảnh hưởng đáng kể đến việc trồng cây nguyên liệu cho ngành đông dược Tuy nhiên, OPC vẫn ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc nhờ tham gia vào thị trường thuốc YHCT, mở rộng cơ hội và thách thức phát triển cho công ty.
Doanh thu tăng là tín hiệu tích cực, nhưng lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh lại chỉ tăng từ 3% đến 15%, chậm hơn so với doanh thu Nguyên nhân là do giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng cao hơn mức tăng doanh thu.
Nguồn: Tác giả tự tính toán thông qua Báo cáo tài chính của công ty từ năm 2015-2019
Biểu đồ phân tích cho thấy mức tăng chi phí vượt xa doanh thu thuần, với doanh thu chủ yếu tăng nhờ vào việc gia tăng sản lượng bán ra, trong khi giá thuốc của OPC chỉ tăng nhẹ trong 5 năm qua do sự điều chỉnh của luật Điều này khiến cho việc tăng chi phí trở nên hợp lý Tuy nhiên, giá vốn hàng bán tăng 72% trong 5 năm, cao hơn mức tăng doanh thu 64%, cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến chi phí.
Biểu đồ 2.1b Phân tích chuẩn năm gốc GVHB, CPBH,
CPQLDN của OPC từ năm 2015-2019
Giá vốn hàng bán Chi phí bán hàng Chi phí quản lý DN
Sự tăng chi phí nguyên vật liệu đầu vào đang ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp dược phẩm, do 60-80% nguyên liệu ngành dược phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài, chủ yếu là Trung Quốc và Ấn Độ Điều này không chỉ khiến các công ty phải đối mặt với rủi ro về biến động giá mà còn cả rủi ro tỷ giá Trong khi giá nguyên vật liệu tăng, giá sản phẩm đầu ra lại bị kiểm soát bởi chính sách Nhà nước và sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, dẫn đến doanh thu của công ty tăng trưởng chậm Đây là một thách thức lớn mà các doanh nghiệp dược phẩm hiện nay đang phải đối mặt.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty đã tăng đáng kể, đặc biệt chi phí quản lý doanh nghiệp tăng hơn 200% Từ năm 2015 đến 2018, mức tăng này đạt khoảng 30% mỗi năm, nhưng đến năm 2019, tỷ lệ tăng giảm còn 10% Sự gia tăng chi phí quản lý là do công ty mở rộng quy mô sản xuất và cần thuê thêm quản lý Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, việc tăng lương và phúc lợi cho cán bộ quản lý là điều cần thiết Tuy nhiên, mức tăng hơn 200% cần được các nhà quản trị tài chính xem xét để có sự điều chỉnh phù hợp trong giai đoạn tới.
Bảng 2.1c So sánh tỷ trọng DT từ bán hàng và cung cấp dịch vụ; DT hoạt động tài chính và Thu nhập khác từ 2015-2019
DT từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
DT hoạt động tài chính
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các BCTC 2015-2019
Doanh thu từ hoạt động cốt lõi (bán hàng và cung cấp dịch vụ) vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp, mặc dù có xu hướng giảm nhẹ trong năm 2018-2019 Mặc dù doanh thu từ bán hàng và dịch vụ tăng, tỷ trọng của nó giảm do doanh thu từ các nguồn thu nhập khác tăng mạnh trong hai năm này Tuy nhiên, các nguồn thu nhập này không ổn định, chủ yếu đến từ việc thanh lý tài sản cố định Do đó, OPC sẽ tiếp tục tập trung vào phát triển hoạt động cốt lõi và cải tiến sản phẩm, dịch vụ.
Năm 2020 đã chứng kiến nhiều biến động trên thị trường do ảnh hưởng của đại dịch và cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Trong bối cảnh này, ngành dược phẩm, đặc biệt là OPC, nổi bật với tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần ổn định, mặc dù lợi nhuận thuần tăng trưởng chậm hơn Nguyên nhân chủ yếu là do phụ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu và chi phí bán hàng, quản lý gia tăng mạnh.
20 vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp bao gồm việc tích cực xây dựng các vùng nguyên liệu, đầu tư vào máy móc và trang thiết bị, cũng như lập kế hoạch quản trị rủi ro giá hàng hóa thông qua việc dự trữ nguyên liệu theo mùa và các nguyên liệu chính Doanh nghiệp cũng phát triển vùng trồng dược liệu tại cả ba miền Bắc, Trung, Nam Mặc dù chi phí bán hàng và quản lý vẫn nằm trong tầm kiểm soát, nhưng đây vẫn là điểm cần lưu ý Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của công ty được đánh giá là khá an toàn, hầu như không có khoản mục bất thường nào.
Phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán
Dòng tiền được coi là "mạch máu" của doanh nghiệp, không đồng nghĩa với lợi nhuận Một công ty có thể có lợi nhuận dương nhưng vẫn thiếu tiền mặt do chính sách nội bộ Thực tế cho thấy, doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thường là do không thể trả nợ, chứ không phải do không có lợi nhuận Do đó, phân tích dòng tiền của công ty là điều hết sức cần thiết Đơn vị: triệu đồng.
Nguồn: BCTC của công ty OPC từ năm 2015 – 2019
Biểu đồ 2.2.1 Dòng tiền thuần từ HĐKD, HĐĐT, HĐTC của
Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD Lưu chuyển tiền thuần từ HĐĐT Lưu chuyển tiền thuần từ HĐTC
Trong 5 năm qua, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn dương, với mức tăng từ hơn 78 tỷ lên hơn 106.5 tỷ từ năm 2015 đến 2017 Tuy nhiên, từ 2017 đến 2019, dòng tiền này giảm mạnh xuống còn 1.5 tỷ, chủ yếu do biến động lớn về hàng tồn kho (HTK) khi dòng tiền chi ra cho HTK tăng gần 90 tỷ so với năm trước Sự gia tăng này là kết quả của việc công ty chủ động mua thêm nguyên liệu để giảm thiểu rủi ro biến động giá trên thị trường, thể hiện chiến lược quản trị rủi ro hiệu quả của doanh nghiệp.
Dòng tiền từ HĐĐT chủ yếu được sử dụng để đầu tư vào máy móc, thiết bị và tài sản cố định phục vụ cho sản xuất kinh doanh, do đó thường có xu hướng âm.
Từ năm 2015 đến 2019, dòng tiền từ hoạt động đầu tư của OPC luôn ở mức âm, với các mức -5.7 tỷ, -5.3 tỷ và -23 tỷ trong các năm 2015, 2017 và 2019 Dòng tiền chủ yếu được chi cho việc mua tài sản cố định và tài sản dài hạn khác Năm 2016, dòng tiền từ hoạt động đầu tư chi ra hơn 63 tỷ do công ty đầu tư góp vốn vào các công ty dược phẩm khác trong ngành Đặc biệt, năm 2018, dòng tiền âm tăng đột biến lên -212 tỷ, nguyên nhân chủ yếu là do công ty mua quyền sử dụng bất động sản.
Dòng tiền từ hoạt động tài chính (HĐTC) của công ty chủ yếu đến từ vốn chủ sở hữu (VCSH) và vốn vay, nhưng có sự biến động không ổn định trong 5 năm qua Mặc dù dòng tiền này không phải là vấn đề tài chính nghiêm trọng, vì phần lớn được sử dụng để trả nợ gốc và cổ tức, nhưng chỉ trong năm 2018, công ty ghi nhận dòng tiền dương 137 tỷ, trong khi các năm còn lại đều âm từ 10 đến 60 tỷ Nguyên nhân cho dòng tiền dương năm 2018 là do công ty đã vay thêm nợ ngắn hạn với mức tăng lớn hơn, giúp duy trì dòng tiền dương sau khi trả nợ gốc và cổ tức.
Mặc dù dòng tiền thuần từ ba hoạt động của công ty có sự biến động khác nhau, nhưng khoản mục “tiền và các khoản tương đương tiền cuối năm” luôn ở mức dương, dao động từ 40 tỷ đến 126 tỷ Sự dương này chủ yếu đến từ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, trong khi năm 2018 còn được hỗ trợ thêm từ việc tăng nợ trong dòng tiền từ hoạt động đầu tư Tuy nhiên, tình hình năm 2019 vẫn cần được xem xét kỹ lưỡng.
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty giảm mạnh, nhưng nhờ vào dòng tiền từ cuối năm 2018, công ty vẫn duy trì mức ổn định Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức khỏe của doanh nghiệp, ghi nhận dương trong giai đoạn 2015-2019 và có xu hướng tăng ổn định Tuy nhiên, năm 2019 chứng kiến mức giảm mạnh do sự chủ động dự trữ nguyên vật liệu của OPC Các dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư và tài chính có sự biến động qua các năm, phản ánh chiến lược phát triển và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp, mà không ghi nhận vấn đề tài chính đáng báo động nào.
Năm 2019, công ty ghi nhận kết quả âm, nhưng nhờ vào dư địa mạnh mẽ, tiền và các khoản tương đương tiền cuối năm vẫn đạt mức dương Điều này cho thấy khả năng quản trị dòng tiền của công ty ở mức khá.
2.2.2 Phân tích khả năng thanh toán
Công ty cổ phần dược phẩm OPC có cấu trúc nợ vay đặc biệt, với tỷ trọng nợ ngân hàng chiếm tới 99% tổng nợ Do đó, bài viết sẽ tập trung vào việc phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty, mà không đi sâu vào khả năng thanh toán dài hạn.
Bảng 2.2.2 a Hệ số thanh toán ngắn hạn của OPC từ 2015 đến 2019 (đơn vị: lần)
Hệ số TT Hiện hành
Hế số TT tức thời
Nguồn: BCTC của công ty từ năm 2015 – 2019
Hệ số thanh toán hiện hành của công ty luôn duy trì ở mức tốt, với giá trị từ 2.33 đến 2.72 trong giai đoạn 2015 – 2017, tương đương với mức trung bình ngành dược phẩm Điều này chứng tỏ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty rất khả quan Mặc dù hệ số này giảm xuống còn 1.24 trong năm 2018 và 2019 do công ty tăng nợ vay ngắn hạn nhanh hơn mức tăng tài sản ngắn hạn, nhưng vẫn lớn hơn 1, cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty vẫn an toàn.
Hệ số thanh toán nhanh của công ty thấp hơn nhiều so với hệ số thanh toán hiện hành, với các giá trị lần lượt là 1.08 và 1.12 trong năm 2017 và 2018, trong khi năm 2016, 2018 và 2019 đều dưới 1, cụ thể là 0.83, 0.60 và 0.46, thấp hơn so với mức trung bình ngành là 1.5 Điều này cho thấy khả năng ứng phó với các khoản vay ngắn hạn của công ty tương đối thấp Hơn nữa, sản lượng hàng tồn kho (HTK) chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn (TSNH), dao động từ 52% đến 62% trong 5 năm qua Dù việc gia tăng HTK là một phương pháp quản trị rủi ro, tỷ trọng lớn của HTK, bao gồm cả nguyên liệu và thành phẩm, có thể khiến công ty phải đối mặt với rủi ro về sản phẩm hết hạn, mặc dù rủi ro này không quá lớn do hầu hết sản phẩm dược phẩm có hạn sử dụng dài.
Khả năng thanh toán nhanh của công ty rất thấp, giảm từ 0.8 vào năm 2015 xuống còn 0.17 vào năm 2019, thấp hơn nhiều so với mức trung bình ngành là 2.51 Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do nợ ngắn hạn của công ty gia tăng.
Trong giai đoạn 2018 và 2019, công ty ghi nhận lưu chuyển tiền thuần âm, dẫn đến sự gia tăng chậm hơn của tiền mặt Phân tích tỷ trọng cho thấy tiền mặt và các khoản tương đương tiền chiếm trung bình 15% tài sản ngắn hạn của công ty, cho thấy công ty duy trì mức tiền mặt ổn định để ứng phó kịp thời với các tình huống, đồng thời ngăn chặn tình trạng ứ đọng tiền trong công ty.
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận trước thuế và lãi vay của doanh nghiệp, đảm bảo khả năng chi trả lãi vay Nếu chỉ số này lớn hơn 1, doanh nghiệp có khả năng trả lãi vay; ngược lại, nếu nhỏ hơn 1, điều này cho thấy doanh nghiệp đã vay quá nhiều so với khả năng tạo ra lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT).
Ngoài giá trị tuyệt đối từ công thức, việc xác định khả năng thanh toán lãi vay của
Hệ số chi trả lãi vay của các doanh nghiệp dược giai đoạn 2017-2019 phụ thuộc vào chiến lược phát triển, điều kiện kinh tế - xã hội, và ngành nghề sản xuất, đồng thời cần so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành Dưới đây là bảng so sánh cụ thể.
Bảng 2.2.2b Hệ số chi trả lãi vay giai đoạn 2017-2019 của một số DN dược trong ngành (đơn vị: lần)
STT Mục Năm DCL TRA OPC DBD PME
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các BCTC
Phân tích cơ cấu vốn và cơ cấu tài chính
Doanh nghiệp có hai nguồn vốn chính: vốn tự có và vốn vay Vốn tự có bao gồm vốn góp từ cổ phiếu, thặng dư vốn cổ phần và lợi nhuận giữ lại, thường tăng khi công ty phát hành thêm cổ phần mới Lợi nhuận giữ lại là phần lợi nhuận sau thuế được quyết định theo chính sách chia cổ tức của công ty, có thể thay đổi hàng năm tùy theo chiến lược đầu tư Vốn vay bao gồm nợ ngân hàng, trái phiếu, và một phần vốn chiếm dụng từ nhà cung cấp, thuế, lương cho nhân viên, thường là nguồn ngắn hạn không phải trả lãi suất.
Dưới đây là biểu đồ phân tích cấu trúc vốn của OPC từ năm 2015 – 2019
Nguồn: BCTC của công ty OPC từ năm 2015 – 2019
Nhìn vào biểu đồ ta thấy đƣợc nguồn vốn của công ty OPC liên tục tăng từ năm
Từ năm 2015 đến 2019, nguồn vốn của doanh nghiệp đã tăng từ hơn 533 tỷ lên hơn 1189 tỷ, tương ứng với mức tăng hơn 2,2 lần trong 5 năm, với mức tăng bình quân hàng năm từ 60 tỷ đến 300 tỷ Công ty có nợ dài hạn rất thấp, giúp giảm thiểu rủi ro liên quan đến lãi suất trong dài hạn.
Trong hai năm đầu của giai đoạn xem xét, công ty đã tuân theo lý thuyết trật tự phân hạng với tỷ trọng nợ và vốn chủ sở hữu (VCSH) cao, ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ, đặc trưng của hầu hết doanh nghiệp ngành dược Tuy nhiên, từ năm 2017-2019, tỷ lệ nợ ngắn hạn đã gia tăng đáng kể, gần bằng với VCSH, cho thấy công ty đã áp dụng đòn bẩy tài chính theo mô hình M&M Xu hướng này cũng thấy ở nhiều công ty dược khác như DHG, DHL, IPM, khi họ tận dụng sức mạnh đòn bẩy để mở rộng đầu tư vào sản xuất, nhằm gia tăng khả năng cung cấp nguyên liệu, với hiện tại 80%-90% nguyên liệu sản xuất dược phẩm.
Biểu đồ 2.3a Phân tích cấu trúc vốn của công ty OPC từ năm
VCSH Nợ DH Nợ NH
Nhiều nước phụ thuộc vào nhập khẩu, đặc biệt từ Ấn Độ và Trung Quốc, dẫn đến việc các doanh nghiệp phải đối mặt với biến động về giá vốn hàng bán và các yếu tố như tỷ giá và chính trị Điều này càng trở nên khó khăn hơn khi mức giá bán của thuốc bị giới hạn bởi quy định của nhà nước, do đây là mặt hàng đặc biệt.
Mức tăng của nguồn vốn chủ yếu do nợ NH của công ty tăng lên Nợ ngắn hạn năm
Năm 2017, nợ ngân hàng tăng mạnh từ 223 tỷ lên 485 tỷ, chủ yếu do công ty vay thêm nợ và sự gia tăng của khoản phải trả người bán, cho thấy uy tín của công ty với nhà cung cấp và khách hàng Khoản vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn cũng tăng từ 51 tỷ năm 2016 lên 239 tỷ năm 2017, nhằm bổ sung vốn lưu động Đến năm 2018, nợ ngắn hạn tăng nhẹ, chủ yếu từ khoản người mua trả tiền trước ngắn hạn, phản ánh các khoản đặt cọc theo hợp đồng chuyển nhượng tài sản chưa hoàn tất.
OPC là một công ty có cấu trúc nguồn vốn đầu tư tốt trong ngành dược, với tỷ lệ đầu tư 0,51% vào tài sản dài hạn năm 2018 và nợ dài hạn chỉ chiếm 1% tổng nợ Phần lớn trong số nợ này là quỹ đầu tư và phát triển công nghệ, cho thấy công ty chủ yếu sử dụng vốn tự có để đầu tư vào tài sản cố định, giảm thiểu rủi ro lãi suất dài hạn Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định có thể ảnh hưởng đến dòng tiền và khả năng thanh toán của công ty nếu không được quản lý hợp lý.
Vốn chủ sở hữu (VCSH) của công ty chiếm từ 52% đến 77% tổng nguồn vốn và có sự tăng trưởng ổn định Sự gia tăng này chủ yếu do công ty phát hành thêm cổ phiếu vào các năm 2016 và 2019, nâng mức vốn góp từ 289 tỷ lên 626 tỷ Bên cạnh đó, công ty duy trì mức trả cổ tức 20% hàng năm, giúp lợi nhuận giữ lại cũng góp phần làm tăng VCSH.
Nguồn: BCTC của công ty từ năm 2015 – 2019
Biểu đồ phân tích tỷ trọng nguồn vốn và tài sản của công ty qua 5 năm cho biết công ty đã dùng nguồn vốn nào để tài trợ cho tài sản nào Từ biểu đồ cho thấy cấu trúc TTS của công ty không có sự thay đổi nhiều TSDH – TSNH giữ ở mức 40% - 60% Năm
Năm 2017, tỷ trọng của tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản dài hạn tăng đáng kể, với tài sản ngắn hạn tăng khoảng 50% trong khi tài sản dài hạn chỉ tăng khoảng 3% Sự gia tăng này là hợp lý do khoản mục nợ ngắn hạn của công ty tăng mạnh trong năm 2017.
Cấu trúc vốn của công ty đã có sự thay đổi đáng kể, với tỷ lệ VCSH – Nợ chuyển từ khoảng 75% - 25% xuống còn 55% - 45% Trong giai đoạn 2015 – 2017, VCSH chiếm hơn 70%, cho thấy nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho cả tài sản ngắn hạn (TSNH) và tài sản dài hạn (TSDH) Phần thiếu trong TSNH được bù đắp bằng nợ vay ngân hàng, cho thấy nguồn vốn dài hạn của công ty vững chắc và lớn, giúp giảm thiểu rủi ro lãi suất do công ty hầu như không sử dụng nợ ngắn hạn Tuy nhiên, đến giai đoạn 2018 – 2019, tỷ trọng VCSH giảm xuống còn hơn 50%, trong khi tỷ lệ nợ tăng lên.
Biểu đồ 2.3b Phân tích tỷ trọng nguồn vốn và tài sản của OPC từ 2015 - 2019
Công ty OPC đã ghi nhận mức tăng trưởng 31% trong doanh thu, với dự báo tăng lên hơn 40% Hiện tại, công ty đang mở rộng sản xuất và đầu tư vào cả tài sản nhà nước và dược liệu Kể từ năm 2016, OPC đã đầu tư vào việc mở rộng dây chuyền sơ chế dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền (YHCT) đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, chính thức tham gia vào thị trường YHCT và trở thành công ty mẹ.
Cổ phần Dược phẩm TW25, theo Báo cáo thường niên của OPC năm 2019, cho thấy rằng vào thời điểm này, nguồn vốn tự có và vốn vay của công ty gần như tương đương, điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã áp dụng đòn bẩy tài chính mạnh mẽ hơn.
Việc sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn để đầu tư vào tài sản dài hạn cần được xem xét kỹ lưỡng, vì điều này có thể ảnh hưởng đến dòng tiền và khả năng thanh toán của công ty Thiếu hụt dòng tiền có thể dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, do đó, đây là yếu tố quan trọng mà nhà quản trị, nhà đầu tư và chủ nợ cần lưu tâm.
Phân tích hoạt động đầu tƣ
Nguồn: Tác giả sử dụng số liệu từ BCTC của công ty OPC từ năm 2015 – 2019
Từ năm 2015 đến năm 2019, tổng tài sản của OPC đã tăng trưởng ổn định, từ 533 tỷ lên 1189 tỷ, tương ứng với mức tăng hơn 2,2 lần trong vòng 5 năm.
Biểu đồ 2.4a Cơ cấu tài sản của OPC từ 2015 đến 2019
Trong 5 năm qua, tài sản ngắn hạn (TSNH) của công ty đã tăng từ 322 tỷ lên 692 tỷ, trong khi tài sản dài hạn (TSDH) cũng tăng từ 211 tỷ lên 497 tỷ, cho thấy cả hai đều tăng gấp đôi Sự gia tăng TSNH chủ yếu là do công ty mở rộng thị trường kinh doanh, trong khi TSDH tăng nhờ vào việc mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất và đầu tư vào công ty con để tăng lợi nhuận Đáng chú ý, nợ dài hạn của công ty đã tăng mạnh vào năm 2018 và tiếp tục gia tăng trong năm 2019, trong khi nợ ngắn hạn hầu như không có nhiều biến động, cho thấy việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn là khá cao.
Bảng 2.4b Hệ số vòng quay TTS của OPC từ 2015 – 2019 (đơn vị: lần)
Nguồn: Tác giả từ tính toán dựa trên BCTC của công ty từ năm 2015 – 2019
Trong 5 năm qua, hiệu suất sử dụng tài sản của công ty có xu hướng giảm từ 1.14 xuống 0.89, thấp hơn trung bình ngành (1.03 lần vào năm 2019), mặc dù chênh lệch không quá lớn Đặc biệt, năm 2016, hiệu suất này đạt 1.18, cao hơn trung bình ngành (1.09 lần), cho thấy công ty đã tận dụng tài sản hiệu quả hơn để tạo ra doanh thu.
Trong giai đoạn 2018 – 2019, hệ số tài sản có sự sụt giảm nhẹ so với trước đó, cho thấy doanh thu không tăng trưởng kịp với tài sản bình quân Nguyên nhân của việc giảm hiệu quả sử dụng tài sản từ năm 2017 – 2019 là do công ty đầu tư vào việc xây dựng Chi nhánh Hà Nội, Chi nhánh Nha Trang và mở rộng quy mô hoạt động.
3 Dữ liệu trung bình ngành đƣợc lấy tại trang finance.tvsi.com.vn
Chi nhánh Miền Đông tại Bình Dương đã tiếp nhận hơn 22 nghìn mét vuông quyền sử dụng đất tại Nhà máy Bình Dương, hiện đang trong quá trình xây dựng và mới bắt đầu hoạt động, do đó hiệu quả hoạt động chưa cao và đóng góp vào doanh thu còn hạn chế Năm 2019, lượng hàng tồn kho trong tài sản ngắn hạn tăng đột biến, dẫn đến hệ số vòng quay tài sản giảm xuống dưới 1 Đây cũng là năm ghi nhận lợi nhuận của OPC suy giảm, đặc biệt trong quý 4/2019, với mức giảm lớn nhất đạt 23%.
2.4.1 Phân tích hoạt động đầu tư TSNH
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên BCTC của công ty từ năm 2015 – 2019
Biểu đồ cho thấy ba khoản mục chính chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn (TSNH) của công ty gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu (KPThu) và hàng tồn kho (HTK) Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và TSNH khác chiếm tỷ trọng nhỏ Đặc biệt, mức tiền mặt của công ty đã tăng từ 12.35% năm 2015 lên 20.82% năm 2018.
BIỂU ĐỒ 2.4.1 PHÂN TÍCH CHUẨN TỶ TRỌNG
Tiền và các khoản tương đương tiền Đầu tư tài chính ngắn hạn
Công ty đã ghi nhận mức doanh thu tăng trưởng liên tục trong 4 năm, dẫn đến lợi nhuận cao hơn và tiền mặt dư thừa Tuy nhiên, vào năm 2019, tiền và các khoản tương đương tiền giảm xuống còn 13.35% do chi phí mua hàng tồn kho tăng đột biến, điều này đã được giải thích trong phần hoạt động kinh doanh.
Khoản mục KPThu chủ yếu của công ty là phải thu từ khách hàng, trong khi các khoản mục khác chiếm tỷ trọng nhỏ Đặc biệt, khoản mục phải trả trước người bán có xu hướng giảm, cho thấy uy tín của công ty với các nhà cung cấp được cải thiện KPThu ngắn hạn của công ty duy trì sự ổn định, tăng nhẹ từ 19.95% năm 2015 lên 25.92% vào năm 2018.
Năm 2019, tỷ lệ KPThu của công ty giảm xuống còn 22.01% Mặc dù chu kỳ KPThu đã tăng nhẹ lên 57 ngày, nhưng tỷ trọng KPThu trong năm này lại cho thấy sự giảm sút.
Năm 2018, công ty đã ghi nhận sự giảm sút về tỷ lệ TSNH, cho thấy công ty đã kiểm soát hiệu quả các khoản thu nhập và duy trì ở mức ổn định Sự ổn định này giúp công ty giảm thiểu rủi ro nợ xấu từ phía khách hàng.
Lượng hàng tồn kho (HTK) của doanh nghiệp đã giảm liên tục từ 64.20% xuống còn 52.02% trong giai đoạn 2015 – 2018 Mặc dù công ty đã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tỷ trọng HTK lại giảm, cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh đang phát triển tích cực Mức dự trữ HTK chủ yếu là nguyên vật liệu đầu vào chiếm 50% - 60%, trong khi thành phẩm chiếm khoảng 30%, điều này chứng tỏ công ty duy trì được lượng dự trữ ổn định và có nguồn nguyên vật liệu dồi dào để phục vụ cho sản xuất.
Việc duy trì dự trữ ổn định sẽ tạo ra lợi thế cho OPC trong năm 2020, khi hoạt động sản xuất của các nhà máy dược ở một số khu vực Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 Đồng thời, nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong các công ty dược phẩm nội địa.
2.4.2 Phân tích hoạt động đầu tư TSDH
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên BCTC của công ty từ năm 2015 – 2019
Biểu đồ 2.3.2 cho thấy rằng khoản mục TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng TSDH của OPC, với các mức cao từ năm 2015 đến 2017 lần lượt là 91.43%, 81.01% và 86.18% Tuy nhiên, vào năm 2018, tỷ trọng này giảm mạnh xuống còn 45.83%, trước khi tăng trở lại 50.99% vào năm 2019 Sự sụt giảm tỷ trọng TSCĐ không phải do giá trị tuyệt đối của TSCĐ giảm, mà là do sự gia tăng của BĐS đầu tư Mặc dù TSCĐ của công ty vẫn tăng trưởng qua các năm, nhưng sự xuất hiện của các khoản mục BĐS đầu tư từ năm 2018, khi công ty mua quyền sử dụng đất để xây dựng nhà máy, đã dẫn đến sự giảm tỷ trọng của TSCĐ trong tổng TSDH.
BIỂU ĐỒ 2.4.2 Phân tích chuẩn tỷ trọng TSDH của OPC từ 2015 - 2019
Các KPThu DH TSCĐ BĐS ĐT ĐT tài chính DH TS dở dang DH TSDH khác
Việc mở rộng đầu tư xây dựng nhà máy giúp OPC giảm sự phụ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu, phù hợp với chiến lược giai đoạn 2018-2020 đã được công bố trước đó Đây cũng là xu hướng chung của nhiều doanh nghiệp trong ngành dược phẩm, nhằm cạnh tranh với sản phẩm từ các tập đoàn lớn và đối phó với mức biến động giá vốn hàng bán do tỷ trọng nguyên vật liệu nhập khẩu vẫn còn cao.
KPThu DH chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, dưới 1%, trong cơ cấu TSDH của công ty Đây là các khoản khó đòi do công ty hợp tác kinh doanh với đối tác khác nhưng không thu hồi được tiền Mặc dù công ty đã trích lập dự phòng, nhưng điều này vẫn ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Phân tích khả năng sinh lời
Nguồn: Tác giả từ tính toán dựa trên BCTC của công ty từ năm 2015 – 2019
Biểu đồ 2.5a Hệ số ROA và ROE của OPC từ năm 2015 -2019
Trong 5 năm qua, ROA của công ty đã giảm từ 12.32% xuống còn 8.23%, mặc dù có sự tăng nhẹ lên 8.47% vào năm 2019 Tương tự, ROE cũng có xu hướng giảm từ 16.85% xuống 14.45% vào năm 2017, sau đó tăng trở lại lên 16.10% vào năm 2019 So với mức trung bình ngành dược phẩm, ROA của OPC thấp hơn 10%, trong khi ROE năm 2019 cao hơn trung bình ngành, nhưng vẫn chưa cho thấy sự ổn định Năm 2017, cả ROA và ROE đều giảm so với hai năm trước, chủ yếu do lợi nhuận sau thuế sụt giảm.
Ngành dược phẩm đang trải qua sự sụt giảm doanh thu do nhiều nguyên nhân như giá vốn hàng bán biến động mạnh, sự thu hẹp của kênh bán thuốc OPC và sự gia nhập của các tập đoàn dược lớn Mặc dù tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) có dấu hiệu phục hồi trong các năm tới, nhưng tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) lại đang ghi nhận sự giảm sút Trong giai đoạn 2015-2016, ROA của công ty khá tốt so với trung bình ngành Để hiểu rõ nguyên nhân cho sự thay đổi này, mô hình Dupont sẽ được sử dụng để phân tích.
Công thức của mô hình Dupont là:
(ROA) = (LNST/DTT) * (DTT/TTS)
(ROE) = ROA hệ số đòn bẩy tài chính
Hay ( ROE) = (LNST/DTT) * (DTT/TTS) * (TTS/VCSH)
Dựa vào công thức Dupont ta có bảng số liệu dưới đây của công ty dược phẩm OPC nhƣ sau:
Bảng 2.5b Hệ số tỷ suất sinh lợi, hiệu quả sử dụng tài sản và hệ số tự tài trợ của
Hệ số đòn bẩy tài chính 136.76% 129.58% 142.32% 186.11% 189.99%
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên BCTC của công ty từ năm 2015 – 2019
Công thức Dupont cho thấy ROA của công ty phụ thuộc vào tỷ suất sinh lợi và hiệu quả sử dụng tài sản Trong 5 năm qua, tỷ suất sinh lợi giảm từ 10.72% xuống 9.25% vào năm 2018, nhưng đã tăng trở lại 10.25% vào năm 2019, vẫn cao hơn mức trung bình ngành là 6.98% Giai đoạn 2015 – 2018, công ty tạo ra ít đồng LNST hơn từ mỗi đồng doanh thu, nhưng sự thay đổi không đáng kể nên ảnh hưởng đến ROA là nhỏ Sự sụt giảm ROA chủ yếu do hiệu quả sử dụng tài sản giảm mạnh từ 114.9% xuống 84.28% Nguyên nhân là do công ty mở rộng thêm chi nhánh và nhà xưởng, cùng với đầu tư vào bất động sản, khiến tài sản tăng nhưng hiệu quả sử dụng lại giảm.
Hệ số đòn bẩy tài chính của OPC đã tăng từ 136.76% lên 189.99%, dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu vốn từ 75% vốn chủ sở hữu và 25% nợ sang 55% vốn chủ sở hữu và 45% nợ Sự gia tăng này cho thấy công ty đã huy động được nhiều vốn từ nhà cung cấp và người bán Mặc dù ROE của công ty đã giảm nhẹ trong giai đoạn 2015-2017, nhưng sau đó đã tăng trưởng trở lại, cho thấy đòn bẩy tài chính đang được sử dụng hiệu quả hơn.
Dự báo nhu cầu vốn kinh doanh của Doanh nghiệp
Trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông quý I năm 2020, công ty đã đề xuất kế hoạch doanh thu 815 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 130 tỷ đồng, với tỷ lệ doanh lợi doanh thu trước thuế là 15,95% và cổ tức dự kiến chia 20% So với báo cáo tài chính năm 2019, doanh thu đạt 994,1 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 131,18 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ doanh lợi 13,2% Sự sụt giảm doanh thu dự kiến được lý giải bởi các yếu tố thị trường và ảnh hưởng của dịch Covid-19.
Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành 20%
Bảng 2.6.1 Bảng cân đối kế toán năm 2019 (dạng rút gọn)
A – Tài sản lưu động A – Nợ phải trả
I – Nợ ngắn hạn 1.Tiền và các khoản tương đương tiền
2.Các khoản phải thu ngắn hạn
167.821 2 Người mua trả tiền trước 209.810
3.Hàng tồn kho 550.578 3 Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước
4.Tài sản lưu động khác 43.961 4 Vay ngân hàng 124.618
B – Tài sản cố định 355.553 5 Phải trả người lao động 69.038
6 Quỹ khen thưởng, phúc lợi 28.751
8 Doanh thu chƣa thực hiện 1.073
9 Phải trả ngắn hạn khác (Cổ 1.587
40 tức, khinh phí công đoàn,…)
Tất cả các khoản mục trong tài sản lưu động đều bị ảnh hưởng trực tiếp bởi doanh thu, giả định rằng sản lượng tăng vẫn nằm trong công suất của tài sản cố định Thực tế, doanh thu dự kiến của OPC không chỉ tăng mà còn được dự báo sẽ giảm nhẹ trong năm tới Trong phần nguồn vốn, các khoản mục 1, 3, 5, 6, 7, 9 có mối quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với doanh thu.
Bảng 2.6.2 Biểu tỷ lệ phần trăm (%) giữa các khoản mục có quan hệ trực tiếp với doanh thu *
1.Tiền và các khoản tương đương tiền
2.Các khoản phải thu ngắn hạn
20,6% 2.Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước
3.Hàng tồn kho 67,55% 3.Phải trả người lao động 8,47% 4.Tài sản lưu động khác 5,4% 4.Quỹ khen thưởng, phúc lợi 3,53%
6.Phải trả ngắn hạn khác (Cổ tức, khinh phí công đoàn,…)
(*) Doanh thu dự kiến năm 2020 là: 815.000 triệu đồng
- Cứ 1 đồng doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh tăng lên cần phải tăng 1,0117 đồng vốn để bổ sung cho phần tài sản
- Cứ 1 đồng doanh thu từ sản phẩm tăng lên thì doanh nghiệp chiếm dụng đương nhiên là 0,7412 đồng
Thực chất 1 đồng doanh thu tăng lên, DN cần bổ sung số vốn là: 1,0117- 0,7412= 0,2705 đồng vốn (1)
Vậy nhu cầu vốn cần bổ sung thêm cho kỳ kế hoạch là
= (Doanh thu dự kiến kỳ kế hoạch – Doanh thu kỳ thực hiện) * (1)
Doanh thu dự kiến trong kỳ kế hoạch giảm so với kỳ thực hiện, do đó, theo phương pháp này, doanh nghiệp không cần bổ sung thêm vốn cho kỳ kế hoạch.