1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài Tập Lớn - Phân Tích Tình Hình Tài Chính Của Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Tphcm.docx Phân Tích Tài Chính Tổng Công Ty Hàng Không Việt Nam – Vietnam Airlines - Hvn.docx

92 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tình Hình Tài Chính Của Tổng Công Ty Hàng Không Việt Nam – Vietnam Airlines
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Phân Tích Tài Chính
Thể loại Bài Cuối Kỳ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

🙧🙧🙧

-BÀI CUỐI KỲ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM – VIETNAM AIRLINES

Mã niêm yết: HVN

Trang 2

Lời mở đầu

Trong bối cảnh mà nước ta đã mở rộng nền kinh tế thị trường, tiếp xúc, giao thoa vớinhiều nền kinh tế trên thế giới và mới đây là ký kết CPTPP đã mở ra nhiều cơ hội cùngcuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung với không ít thách thức về việc thay đổi, điều chỉnhchiến lược phát triển sản xuất, làm sao để đứng vững trên thị trường và xa hơn nữa là khẳngđịnh thương hiệu Ngoài bỏ nguồn vốn ra thì nhà đầu tư, doanh nghiệp luôn phải tìm hiểu

và đưa ra những giải pháp, chiến lược, chính sách đưa doanh nghiệp đến thành công Ngoài

ra doanh nghiệp cũng phải xác định và nắm bắt dòng tiền của mình lưu chuyển ra sao Báocáo tài chính cung cấp thông tin cần thiết, giúp các đối tượng sử dụng đánh giá khách quan

về sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp… Tuy nhiên để hiểu rõ cụ thể về tình hình tài chính thôngqua hệ thống báo cáo tài chính của một doanh nghiệp là không hề đơn giản Vì vậy công tácphân tích tình hình tài chính thông qua hệ thống báo cáo tài chính có một ý nghĩa quantrọng Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp doanh nghiệp nắm rõ đượctình hình tài chính của công ty nhằm đưa ra những giải pháp hữu hiệu, những quyết địnhchính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý tài chính, nâng cao chất lượng hiệuquả sản xuất kinh doanh

Để hiểu rõ được báo báo tài chính cũng như đưa ra cái nhìn về tình hình tài chínhcủa công ty, em chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính của Tổng Công ty Hàng khôngViệt Nam – Vietnam Airlines” để làm chuyên đề kết thúc học phần môn Phân tích tàichính

MỤC LỤC

Trang 3

CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 56

3.2 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dưới góc độ tài chính 62

Trang 4

3.4.3 Phân tích khả năng hoạt động 71

Trang 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY1.1 Tổng quan về công ty

Tên tiếng Anh: Vietnam Airlines JSC

Tên viết tắt: VNA

1.2.1 Thời kỳ đầu tiên

Lịch sử của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bắt đầu từ tháng Giêng năm 1956, khiCục Hàng không Dân dụng được Chính phủ thành lập, đánh dấu sự ra đời của Ngành Hàngkhông Dân dụng ở Việt Nam Vào thời điểm đó, đội bay còn rất nhỏ, với vẻn vẹn 5 chiếc

Trang 6

máy bay cánh quạt IL 14, AN 2, Aero 45… Chuyến bay nội địa đầu tiên được khai trươngvào tháng 9/1956.

Giai đoạn 1976 - 1980 đánh dấu việc mở rộng và khai thác hiệu quả nhiều tuyến bayquốc tế đến các các nước châu Á như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines,Malaysia và Singapore Vào cuối giai đoạn này, hàng không dân dụng Việt Nam trở thànhthành viên của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO)

Tháng 4 năm 1993, Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) chínhthức hình thành với tư cách là một đơn vị kinh doanh vận tải hàng không có quy mô lớncủa Nhà nước Vào ngày 27/05/1995, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam được thành lậptrên cơ sở liên kết 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ hàng không, lấy VietnamAirlines làm nòng cốt

1.2.2 Những cột mốc đáng nhớ

Năm 1993: Thành lập Hãng hàng không quốc gia Việt Nam

Năm 1995: Thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam gồm Hãng hàng không quốcgia Việt Nam và 20 doanh nghiệp trong ngành

Năm 2002: Giới thiệu biểu tượng mới - Bông Sen Vàng gắn với các cải tiến vượt trội vềchất lượng dịch vụ, mở rộng mạng bay và nâng cấp đội bay

Năm 2003: Tiếp nhận đưa vào khai thác tàu bay hiện đại Boeing 777 đầu tiên, khởi đầuchương trình hiện đại hóa đội bay

Năm 2006: Trở thành thành viên chính thức của IATA

Năm 2010: Chính thức là thành viên thứ 10 của Liên minh hàng không Skyteam

Năm 2014: Chào bán thành công cổ phần lần đầu ra công chúng tại Sở giao dịch chứngkhoán TP HCM

Năm 2015:

- 04/2015: Chính thức hoạt động theo mô hình CTCP từ ngày 01/4/2015

- 07/2015: Trở thành hãng hàng không đầu tiên của Châu Á và thứ 2 trên thế giới tiếpnhận máy bay thế hệ mới Airbus A350-900, đồng thời ra mắt hệ thống nhận diện thươnghiệu mới

Trang 7

1.2.3 Những thành tựu, giải thưởng đạt được:

2016: “Hãng hàng không hàng đầu Châu Á về bản sắc văn hoá” và “Hãng hàng không

có hạng Phổ thông hàng đầu Châu Á” bởi World Travel Awards

2016: Top 3 Hãng hàng không tiến bộ nhất thế giới (SKYTRAX)

2016: Hãng hàng không có thiết kế ghế khoang Thương gia đẹp nhất trên Boeing 787-9

và Airbus A350-900” (Tạp chí Global Traveler Trung Quốc)

Top 4 hãng hàng không khu vực Đông Nam Á có lưu lượng vận chuyển hành khách đạttrên 20 triệu lượt (CAPA)

2017: “Hãng hàng không của năm tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” bởi Center for Aviation

CAPA-2017: “Hãng hàng không hàng đầu thế giới về bản sắc văn hoá” và “Hãng hàng khônghàng đầu thế giới về hạng Phổ thông đặc biệt” bởi World Travel Awards 2017

2018: Nằm trong top những Hãng hàng không lớn được yêu thích nhất châu Á năm 2018(Traveler’ Choice Major Airlines – Asia 2018) do Tripadvisor bình chọn

Trang 8

2018: Skytrax công nhận Vietnam Airlines là Hãng hàng không 4 sao năm thứ 3 liên tiếp2018: Hãng hàng không 4 sao toàn cầu do tổ chức APEX (The Airline PassengerExperience Association) trao tặng.

1.2.4 Hướng tới tương lai

Là một hãng hàng không quốc tế năng động, hiện đại và mang đậm dấu ấn bản sắc vănhóa truyền thống Việt Nam, trong suốt hơn 20 năm phát triển với tốc độ tăng trưởng ở mứchai con số, Vietnam Airlines đã và đang dẫn đầu thị trường hàng không Việt Nam - mộttrong những thị trường nội địa có sức tăng trưởng nhanh nhất thế giới Là hãng hàng khônghiện đại với thương hiệu được biết đến rộng rãi nhờ bản sắc văn hóa riêng biệt, VietnamAirlines đang hướng tới trở thành hãng hàng không quốc tế chất lượng 5 sao dẫn đầu khuvực châu Á

1.3 Lĩnh vực kinh doanh

- Vận tải hành khách hang không (vận chuyển hang không đối với hành khách), vận tảihàng hóa hàng không (vận chuyển hành lý, hàng hóa, bưu kiện, bưu phẩm, thư)

- Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải hàng không:

• Hoạt động hàng không chung (bay chụp ảnh địa hình, khảo sát địa chất, bay hiệu chuẩncác đài dẫn đường hàng không, sửa chữa bảo dưỡng đường điện cao thế, phục vụ dầu khí,trồng rừng, kiểm tra môi trường, tìm kiếm cứu nạn, cấp cứu y tế, bay phục vụ cho nhiệm vụchính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng)

- Sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải: bảo dưỡng máy bay, động cơ, phụ tùng vật

tư, thiết bị hàng không, thiết bị phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất và các thiết bị kỹ thuậtkhác

Trang 9

- Sản xuất thiết bị đo lường, kiểm tra, định hướng và điều khiển: sản xuất linh kiện, phụtùng, vật tư máy bay, trang thiết bị kỹ thuật và các nội dung khác thuộc lĩnh vực côngnghiệp hàng không; cung ứng các dịch vụ kỹ thuật và vật tư phụ tùng cho các hãng hàngkhông trong nước và nước ngoài.

1.4 Tầm nhìn và sứ mệnh

1.4.1 Tầm nhìn – sứ mệnh

- Giữ vững vị thế Tập đoàn hàng không số 1 tại Việt Nam

- Vietnam Airlines trở thành hãng hàng không hàng đầu châu Á được khách hàng tin yêulựa chọn, là Hãng hàng không Quốc gia, lực lượng vận tải chủ lực tại Việt Nam

- Cung cấp dịch vụ đa dạng, chất lượng đáp ứng tốt nhất nhu cầu mọi khách hàng

- Tạo dựng môi trường làm việc thân thiện, chuyên nghiệp, nhiều cơ hội phát triển thànhđạt cho người lao động

- Kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo lợi ích bền vững cho cổ đông

1.4.2 Giá trị cốt lõi

- An toàn là số 1, nền tảng cho mọi hoạt động

- Khách hàng là trung tâm Chúng tôi thấu hiểu sự phát triển của tổ chức đi cùng với sự tinyêu của khách hàng

- Người lao động là tài sản quý giá nhất Mọi chính sách đãi ngộ được xây dựng trên cơ sởcông bằng và lợi ích xứng đáng để duy trì sự gắn kết và tạo sức mạnh đoàn kết trong tổchức

- Lấy sáng tạo là phương châm hoạt động, chúng tôi luôn đổi mới không ngừng trên mọilĩnh vực với tư duy đột phá để đạt được thành công lớn

- Tập đoàn hàng không có trách nhiệm Chúng tôi ý thức rằng trách nhiệm xã hội là mộtphần trong hoạt động kinh doanh để đưa ra quyết định và hành động gắn liền với sự pháttriển bền vững của xã hội

Trang 10

1.4.3 Mục tiêu

- Đạt nhóm 3 Tập đoàn hàng không dẫn đầu về doanh thu khu vực Đông Nam Á

- Vietnam Airines đạt nhóm 10 hãng hàng không được ưa thích hàng đầu tại châu Á, nhóm

3 hãng hàng không có quy mô lớn nhất khu vực Đông Nam Á

- Củng cố dịch vụ 4 sao và từng bước đưa Vietnam Airines đạt tiêu chuẩn hãng hàng không

5 sao

- Thực hiện các bước chuyển đổi công nghệ mạnh mẽ hướng tới là Tập đoàn hàng khôngchuyển đổi số toàn diện

- Trở thành Tập đoàn hàng không được ưa thích hàng đầu tại thị trường lao động Việt Nam

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH NGÀNH HÀNG KHÔNG2.1 Phân tích nền kinh tế

Yếu tố vĩ mô của nền kinh tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng của doanhnghiệp Hiệu quả hoạt động và triển vọng kinh doanh đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phảithích nghi kịp thời với sự biến động của các yếu tố từ môi trường kinh doanh Rủi ro vềkinh tế được xác định là loại rủi ro hệ thống tạo ra từ yếu tố vĩ mô, trong đó các yếu tố cơbản tác động đến hoạt động kinh doanh là i) tốc độ tăng trưởng kinh tế; ii) tỷ lệ lạm phát;iii) Tỷ giá; và iv) mức lãi suất Phân tích môi trường vĩ mô nền kinh tế nhằm dự phòng mức

độ tác động của yếu tố rủi ro đến chiến lược tăng trưởng và đảm bảo sự vận hành mô hìnhkinh doanh

2.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Những biến động trong tốc độ tăng trưởng GDP sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới mức chi tiêucủa nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu đi lại của người tiêu dùng, và theo đó ảnhhưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh vận tải hàng không của Tổng công ty Hàng khôngViệt Nam (Vietnam Airlines)

Trang 11

Nhận xét chung: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 2017 - 2019 đạtkhá cao, ở mức bình quân 6,8% (Đồ thị 1) và thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhấtkhu vực, thế giới Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa – hiệnđại hóa Tỉ trọng trong GDP của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ mức 17% củanăm 2015 xuống 13,96% vào năm 2019, trong khi đó, tỉ trọng của khu vực dịch vụ tăng từmức 39,73% của năm 2015 lên 41,17% vào năm 2018 và 41,64 % trong năm 2019; tỉ trọngkhu vực công nghiệp và xây dựng duy trì ổn định ở mức 33-34,5% từ năm 2015 đến năm

2019

Đồ thị 1: Tăng trưởng GDP thực và đóng góp của các ngành sản xuất, 2015-2019

Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán của NHNNNăm 2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, tốc độ tăng trưởngbình quân 9 tháng năm 2020 ước tính tăng 2,12% (Quý I tăng 3,68%; quý II tăng 0,39%;quý III tăng 2,62%), là mức tăng thấp nhất của 9 tháng các năm trong giai đoạn 2011-2020.Trong đó, quý II/2020 chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của dịch Covid-19 khi Chính phủ chỉđạo thực hiện mạnh mẽ các giải pháp nhằm giãn cách xã hội, sau đó dịch Covid-19 đượckiểm soát chặt chẽ, nền kinh tế từng bước hoạt động trở lại trong điều kiện bình thường mớinên GDP quý III/2020 tăng trưởng khởi sắc so với quý II/2020

Năm 2017

Trang 12

Tăng trưởng kinh tế năm 2017 đạt 6,81%, tăng trưởng cao nhất trong 10 năm và vượtmục tiêu (6,7%).

* Theo ngành kinh tế, cả 3 ngành nông – lâm – thuỷ sản, công nghiệp và xây dựng, dịch

vụ đều có mức cao hơn cùng kỳ

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,9%, là mức tăng trưởng cao nhất trongvòng 3 năm gần đây, chủ yếu là do thời tiết thuận lợi hơn, tình hình bệnh dịch, sâu bệnhđược kiểm soát chặt chẽ, hoạt động khai thác thủy sản biển ở các tỉnh Bắc Trung bộ đãphục hồi trở lại sau sự cố môi trường biển trong năm 2016

Khu vực Công nghiệp tăng trưởng 7,85%, cao hơn mức tăng 7,06% của cùng kỳ năm

2016 chủ yếu là do đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng mạnh ở mức14,4% (2016: 11,9%) bắt nguồn từ sự tăng trưởng vượt bậc của Samsung, Formosa và FDIgiải ngân tăng 10,8%, cao hơn mức 9% của cùng kỳ Tuy nhiên, ngành công nghiệp khaikhoáng giảm sâu nhất kể từ năm 2011 (-7,1%) chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác giảmhơn 1,6 triệu tấn so với năm 2016; sản lượng khai thác than đạt 38 triệu tấn, giảm hơn 180nghìn tấn Hai ngành còn lại là ngành Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơinước và điều hòa không khí và ngành Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải,nước thải có mức tăng thấp hơn cùng kỳ

Khu vực Xây dựng tăng trưởng chậm lại ở mức 8,7% so với mức tăng trưởng 10% năm

2016 trong bối cảnh giải ngân vốn đầu tư công chậm Tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhànước thực hiện năm 2017 tăng 7,2%, thấp hơn mức tăng 15,1% của cùng kỳ năm 2016.Trong năm 2017, các Bộ, ngành, địa phương đã tích cực thực hiện các giải pháp tháo gỡkhó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các công trình dự án theo tinh thần Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 03/8/2017 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanhtiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công Dịch vụ tăng trưởng 7,44%, làmức tăng cao nhất trong vòng 5 năm qua, hầu hết các ngành đều có mức tăng cao hơn cùng

kỳ (ngoại trừ ngành Thông tin và Truyền thông) Tỷ trọng ngành dịch vụ so với GDP liêntục mở rộng từ mức 38,3% năm 2015 lên mức 39% năm 2017, số lượng khách khách quốc

Trang 13

tế đến nước ta trong năm 2017 ước tính đạt 12,9 triệu lượt người, tăng 29,1% so với năm2016.

* Về tổng cầu, động lực tăng trưởng kinh tế chủ yếu do cầu trong nước, trong khi cầunước ngoài ròng tiếp tục có mức đóng góp âm vào tốc độ tăng trưởng chung

Tiêu dùng cuối cùng tăng 7,35%, cao hơn chút ít mức tăng 7,32% của năm 2016 Mặc dùtiêu dùng của Chính phủ có mức tăng thấp hơn năm 2016 nhưng Tiêu dùng cuối cùng vẫntăng cao hơn năm 2016 do tiêu dùng tư nhân tăng cao hơn

Tổng tích lũy tài sản tăng 9,8%, là mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây và có mứcđóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung đạt mức cao nhất từ năm 2011 do đầu tư vốn củakhu vực ngoài Nhà nước tăng 16,8%, cao hơn nhiều mức 9,7% của cùng kỳ 2016 và khuvực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 12,8%, cao hơn mức 9,4%

Xuất khẩu ròng mặc dù vẫn đóng góp âm vào tăng trưởng kinh tế (đóng góp âm 1,97điểm phần trăm) nhưng đã cải thiện so với mức đóng góp âm 5,3 điểm phần trăm của năm

2015 và âm 2,17 điểm phần trăm 2016 Trong đó, cả xuất khẩu và nhập khẩu đều có mứctăng cao hơn cùng kỳ (xuất khẩu tăng 16,74%, cao hơn mức 13,86% của năm 2016, nhậpkhẩu tăng 17,5%, cao hơn mức tăng 15,29% của năm 2016)

Năm 2018

Kinh tế - xã hội nước ta năm 2018 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởngchậm lại và tiềm ẩn yếu tố khó lường Thương mại toàn cầu tăng chậm hơn dự báo donhững thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ, chiến tranh thương mại Mỹ - Trungngày càng diễn biến phức tạp Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại giữa các nước lớn cùngvới xu hướng gia tăng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch có tác động đến sản xuất, xuất khẩu củaViệt Nam và các nước trong khu vực Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quảtích cực trong năm 2017, nền kinh tế nước ta cũng đối mặt tình hình thời tiết diễn biến phức

Trang 14

tạp, tác động đến giá lương thực, thực phẩm, ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát;giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp.

Tuy nhiên bất chấp những khó khăn đó, tiếp nối đà tăng trưởng từ năm 2017, tình hìnhkinh tế Việt Nam cả năm 2018 tiếp tục chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết quả nổi bật, tăngtrưởng GDP năm 2018 đạt 7,08% so với năm 2017 và là mức tăng cao nhất trong 11 nămqua Mức tăng trưởng GDP năm 2018 vượt mục tiêu đề ra là 6.7%

* Theo lĩnh vực kinh tế, cả 3 ngành nông - lâm - thủy sản, công nghiệp và xây dựng tăngcao hơn cùng kỳ; dịch vụ giữ được mức tăng trưởng khá

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, mức tăng cao nhất trong giai đoạn2012- 2018, chủ yếu do thời tiết thuận lợi, xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản phẩm trong nội

bộ ngành theo hướng đầu tư vào những sản phẩm có hàm lượng giá trị kinh tế cao; mở rộngxuất khẩu các mặt hàng thủy sản của Việt Nam tại các thị trường mới, tiềm năng

Khu vực công nghiệp, tăng 8,79%, là mức tăng cao nhất trong 3 năm gần đây, chủ yếu từđóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ được mức tăng trưởng cao trong khikhai khoáng tiếp tục đà suy giảm -3,1% của năm 2017 (2017 giảm -7,1%) Ngành côngnghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,98%, thấp hơn so với mức tăng đột biến 14,4% của năm

2017 song cao hơn mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2012-2016 (tăng 10,09%) và làngành có đóng góp lớn nhất vào mức tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (2,55 điểmphần trăm) Hoạt động sản xuất chế biến - chế tạo tăng cao xuất phát từ việc đẩy nhanh tiến

độ sản xuất xe ô tô và xe máy điện của tập đoàn Vingroup và hoạt động mở rộng sản xuấtcủa Samsung và Formosa trong giai đoạn nửa cuối năm Chỉ số sản xuất công nghiệp một

số nhóm hàng tăng cao như: nhóm sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩmquang học 11,29% (2017: 32,71%); sản xuất kim loại 25,11% (2017: 17,6%), than cốc vàdầu mỏ tinh chế 65,54%, xe có động cơ 16,77% (2017: 0,18%)

Khu vực Xây dựng tăng 9,16%, cao hơn mức 8,7% của năm 2017 do nhu cầu phát triển

cơ sở hạ tầng và nhu cầu về nhà ở tăng cao Tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực

Trang 15

hiện năm 2018 tăng 12,5%, cao hơn mức tăng 7,2% của cùng kỳ năm 2017, chủ yếu nhờvốn đầu tư Vốn đầu tư của khu vực tư nhân có sự phát triển mạnh mẽ từ chính sách ưu đãi,

hỗ trợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, kết quảvốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng 18,5%, mức tăng cao trong nhiều năm qua

Khu vực dịch vụ tiếp tục duy trì xu hướng mở rộng, tăng 7,03%, mặc dù thấp hơn mức7,44% cùng kỳ năm 2017, song vẫn cao hơn mức tăng trưởng trung bình 6,83% giai đoạn2011- 2017; trong đó, bán buôn và bán lẻ tăng 8,51% so với cùng kỳ năm 2017, là ngành cótốc độ tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ, đồng thời là ngành có đóng góp lớn thứ hai vàomức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,92 điểm phần trăm); dịch vụ lưu trú và

ăn uống tăng 6,78% (số lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm ước tính đạt 15,5triệu lượt người, tăng 19,9% so với năm 2017); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểmtăng 8,21%; hoạt động kinh doanh bất động sản tiếp tục cải thiện, tăng 4,33% Tỷ trọngngành dịch vụ so với GDP mở rộng từ mức 38,3% năm 2015 lên mức 39% năm 2018

* Về tổng cầu, xuất khẩu ròng có đóng góp dương vào tăng trưởng sau nhiều năm đónggóp âm nhờ xuất siêu đạt kỷ lục Cầu nội địa cải thiện, trong đó tiêu dùng, đầu tư của khuvực tư nhân tăng khả quan

Tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17%, thấp hơn mức tăng 7,35% cùng kỳ nhưng vẫn tăng caohơn mức trung bình 7,07% của 5 năm gần đây Trong khi tiêu dùng khu vực tư nhân duy trì

đà tăng 7,26% (2017: 7,35%) thì tiêu dùng khu vực nhà nước tăng chậm lại 6,28% (2017:7,34%)

Tổng tích lũy tài sản tăng 8,22%, mức tăng thấp nhất trong 4 năm gần đây, chủ yếu dochi đầu tư phát triển tăng thấp 14,5% (2017: 23,3%) Nguyên nhân do chi xây dựng cơ bản(bao gồm cả Trái phiếu Chính phủ) chững lại trong 2 tháng đầu năm 2018; đồng thời, tiến

độ giải ngân vốn xây dựng cơ bản từ ngân sách còn chậm

Trang 16

Xuất khẩu ròng có đóng góp dương vào mức tăng trưởng kinh tế chung (đóng góp 0,73điểm phần trăm) sau 4 năm liên tiếp có mức đóng góp âm Trong đó, xuất khẩu hàng hóa vàdịch vụ tăng 14,27%, đóng góp 17,07 điểm phần trăm (2017: 16,74%, đóng góp 18,33 điểmphần trăm), nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%, đóng góp 16,34 điểm phần trăm(2017 tăng 17,5%, đóng góp 20,3 điểm phần trăm).

Năm 2019

Năm 2019, tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm lại, căng thẳng thươngmại giữa Mỹ - Trung và vấn đề địa chính trị càng làm gia tăng đáng kể tính bất ổn của hệthống thương mại toàn cầu, gây ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin kinh doanh, quyết địnhđầu tư và thương mại toàn cầu Sự biến động khó lường trên thị trường tài chính - tiền tệquốc tế, giá dầu diễn biến phức tạp tác động đến tăng trưởng tín dụng, tâm lý và kỳ vọng thịtrường Tăng trưởng kinh tế năm 2019 đạt 7,02%, mặc dù thấp hơn năm 2018 nhưng caohơn giai đoạn 2011-2017 và vượt mục tiêu Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8%

* Theo lĩnh vực kinh tế, khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có mức tăng cao hơncùng kỳ Tuy nhiên, khu vực nông - lâm - thủy sản có mức tăng thấp nhất trong vòng 3 nămgần đây do hạn hán, biến đổi khí hậu và thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,01% - thấp nhất trong 3 năm gần đây, chủyếu do sụt giảm của ngành nông nghiệp (tăng 0,61%, thấp hơn so với mức bình quân 2,39%giai đoạn 2011-2018) trong bối cảnh hạn hán, nắng nóng kéo dài và thiệt hại từ dịch tả lợnchâu Phi Trong khi đó, ngành lâm nghiệp và thủy sản vẫn có mức tăng trưởng ổn định.Khu vực công nghiệp tăng 8,86% - cao nhất trong 4 năm gần đây, chủ yếu do ngànhcông nghiệp chế biến, chế tạo duy trì tăng trưởng cao và sự phục hồi của ngành khaikhoáng Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,29%, thấp hơn tăng trưởng giai đoạn2017-2018 nhưng cao hơn tăng trưởng bình quân giai đoạn 2012-2016 (9,23%) Ngành khaikhoáng có mức tăng trưởng dương (1,29%) sau 3 năm suy giảm, nhờ khai thác than tăngcao bù đắp cho sự sụt giảm của khai thác dầu thô

Trang 17

Khu vực Xây dựng tăng 9,1%, tương đương mức tăng của năm 2018, chủ yếu nhờ vốnđầu tư duy trì mức tăng khá Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,2% (2018: 11,2%) do vốnđầu tư khu vực ngoài Nhà nước tăng 17,3% (2018: 18,5%), trong khi khu vực Nhà nước vàkhu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng thấp hơn cùng kỳ.

Khu vực Dịch vụ tăng 7,3%, cao hơn năm 2018 (7,03%) chủ yếu do lĩnh vực bán buôn

và bán lẻ tăng 8,82% - cao nhất trong 4 năm qua; vận tải kho bãi tăng 9,12% - mức tăng caonhất trong vòng 11 năm qua và là ngành có mức tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ; hoạtđộng tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,62%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,71%(số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt khoảng 18 triệu lượt người, tăng 16,2% so vớinăm 2018); hoạt động kinh doanh bất động sản tiếp tục cải thiện, tăng 4,61%

* Cầu nội địa (đầu tư và tiêu dùng) là yếu tố chính đóng góp vào tăng trưởng kinh tế,xuất khẩu ròng đóng góp âm vào tăng trưởng

Tiêu dùng cuối cùng tăng 7,23%, cao hơn năm 2018 (7,17%), chủ yếu do tiêu dùng tưnhân tăng 7,36% - cao nhất trong vòng 4 năm qua, tiêu dùng khu vực nhà nước tăng 5,8%

Tổng tích lũy tài sản tăng 7,91% tương ứng với việc vốn đầu tư toàn xã hội thực hiệntăng 10,2% Trong đó, vốn đầu tư thực hiện của khu vực Nhà nước tăng rất thấp 2,6%, phảnánh việc chậm giải ngân vốn đầu tư công Khu vực ngoài Nhà nước và có vốn đầu tư nướcngoài tăng khá, tương ứng là 17,3% và 7,9% Hiệu quả đầu tư được cải thiện với nhiềuđộng lực sản xuất mới bổ sung cho nền kinh tế Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của nềnkinh tế được cải thiện (Hệ số ICOR giảm từ mức 6,42 năm 2016 xuống 6,11 năm 2017;5,97 năm 2018; năm 2019 ước đạt 6,07) Bình quân giai đoạn 2016-2019 hệ số ICOR đạt6,14, thấp hơn giai đoạn 2011-2015 (6,25%)

Xuất khẩu ròng đóng góp âm vào tăng trưởng kinh tế (âm 2,65 điểm phần trăm) Trong

đó, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 6,71% (2018: 14,27%); nhập khẩu hàng hóa và dịch

vụ tăng 8,35% (2018: 12,81%) Hoạt động xuất nhập khẩu năm 2019 chậm lại do một số

Trang 18

không duy trì được tốc độ tăng trưởng, gặp khó khăn trong bối cảnh một số nước gia tăngcác biện pháp hạn chế và phòng vệ thương mại, bảo hộ sản xuất trong nước.

Năm 2020

Năm 2020, Kinh tế - xã hội nước ta diễn ra trong bối cảnh dịch viêm đường hô hấp cấp

do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh trên phạm vi toàn cầu, ảnhhưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Các nềnkinh tế lớn đối mặt với tình trạng suy thoái sâu, tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ qua thươngmại toàn cầu tiếp tục suy giảm, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, giá dầu thô giảm mạnh do nhucầu sử dụng hạn chế; thất nghiệp tăng cao Cùng với đó, chiến tranh thương mại Mỹ –Trung vẫn tiếp diễn, căng thẳng chính trị gia tăng giữa Mỹ – Iran, bất đồng nội bộ trong tổchức các nước xuất khẩu dầu mỏ và trên bán đảo Triều Tiên đã tác động tiêu cực đến kinh

tế Việt Nam

Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm 2019, kinh tếnước ta phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp,khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại Tình hình đứt gãythương mại quốc tế gây ra những hệ lụy tới hoạt động sản xuất và xuất, nhập khẩu của ViệtNam Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở mức cao Bên cạnh đó, hạn hán, xâm nhập mặndiễn ra sớm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng

Theo số liệu TCTK, GDP 9 tháng năm 2020 ước tính tăng 2,12% (Quý I tăng 3,68%;quý II tăng 0,39%; quý III tăng 2,62%), là mức tăng thấp nhất của 9 tháng các năm tronggiai đoạn 2011-2020 Trong đó, quý II/2020 chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của dịch Covid-

19 khi Chính phủ chỉ đạo thực hiện mạnh mẽ các giải pháp nhằm giãn cách xã hội, sau đódịch Covid-19 được kiểm soát chặt chẽ, nền kinh tế từng bước hoạt động trở lại trong điềukiện bình thường mới nên GDP quý III/2020 tăng trưởng khởi sắc so với quý II/2020

Trang 19

Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng1,84%, đóng góp 13,62% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựngtăng 3,08%, đóng góp 58,35%; khu vực dịch vụ tăng 1,37%, đóng góp 28,03%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2020 tăng thấp so với cùng kỳ nămtrước do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, dịch Covid-19 và dịch tả lợn châu Phi Trong đó,ngành nông nghiệp tăng 1,65%, chỉ cao hơn mức tăng trưởng 0,02% và 0,91% của 9 thángnăm 2016 và năm 2019 trong giai đoạn 2011-2020, đóng góp 0,19 điểm phần trăm vào mứctăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 2,02% nhưngchiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,01 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2,44%, caohơn mức tăng 2,11% và 1,81% của 9 tháng năm 2015 và 2016 trong giai đoạn 2011-2020,đóng góp 0,08 điểm phần trăm

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp 9 tháng năm 2020 tăng2,69% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ các năm 2011-

2020, đóng góp 0,91 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh

tế Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6%, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ các

Trang 20

5,35%, làm giảm 0,32 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế

do sản lượng dầu thô khai thác giảm 14,1% và khí đốt tự nhiên giảm 9,1% Ngành xâydựng tăng 5,02%, cao hơn mức tăng trưởng âm 0,01% và 2,78% của 9 tháng năm 2011 và

2012 trong giai đoạn 2011- 2020, đóng góp 0,33 điểm phần trăm

Trong những tháng đầu năm 2020, dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạtđộng thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu Khu vực dịch vụ trong 9 tháng đạt mức tăngthấp nhất của cùng kỳ các năm 2011-2020 Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một sốngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của 9 thángnhư sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 4,98% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,54 điểmphần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,68%, đóng góp 0,4 điểmphần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 4%, làm giảm 0,14 điểm phần trăm; ngành dịch vụlưu trú và ăn uống giảm 17,03%, làm giảm 0,76 điểm phần trăm

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷtrọng 14,05%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,16%; khu vực dịch vụ chiếm42,73%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,06% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳnăm 2019 là: 13,21%; 33,97%; 42,75%; 10,07%)

Về sử dụng GDP 9 tháng năm 2020, tiêu dùng cuối cùng tăng 0,86% so với cùng kỳ năm2019; tích lũy tài sản tăng 3,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 0,9%; nhập khẩuhàng hóa và dịch vụ giảm 1,25%

Mục tiêu Quốc hội

Năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XV, là năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch pháttriển KTXH 5 năm 2021 - 2025 và Chiến lược phát triển KTXH 10 năm 2021 - 2030 Dựbáo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường Hoà bình, hợp tác,liên kết phát triển vẫn là xu thế lớn nhưng cạnh tranh chiến lược giữa một số quốc gia, đốitác lớn trong khu vực, trên biển tiếp tục diễn ra gay gắt Xung đột thương mại gia tăng và

Trang 21

những tác động tiêu cực của đại k dịch Covid-19 có thể kéo dài, tiềm ẩn nhiều nguy cơkhủng hoảng về tài chính, tiền tệ, nợ công trên phạm vi toàn cầu và những thách thức lớnđối với thương mại, đầu tư, tăng trưởng, bất bình đẳng, nghèo đói và các vấn đề xã hội.

Ở trong nước, sau 35 năm đối mới, thể và lực của ta đã lớn mạnh hơn nhiều; kinh tế vĩ

mô ổn định, đời sống của Nhân dân không ngừng được nâng lên; tình hình chính trị - xã hội

ổn định; vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên Năm trongkhu vực Châu Á - Thái Bình Dương năng động với vị trí chiến lược quan trọng, Việt Namđược đánh giá là nước đang phát triển đầy tiềm năng, có thị trường gần 100 triệu dân vớithu nhập ngày càng tăng, lực lượng lao động dồi dào với cơ cấu dân số vàng; có không gianphát triển rộng mở với 13 hiệp định thương mại tự do đã ký kết Tuy nhiên, chúng ta tiếptục gặp nhiều khó khăn, thách thức Nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và tụt hậuhiện hữu; nguồn lực còn hạn hẹp trong khi phải đáp ứng cùng lúc các yêu cầu rất lớn chođầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh Tác động, ảnhhưởng của thiên tại, dịch bệnh, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng

Trong bối cảnh đó, chúng ta cần tiếp tục đổi mới tư duy phát triển, hành động quyết liệthơn, hiệu quả hơn, vượt qua khó khăn, biển thách thức thành cơ hội, tận dụng tốt các thànhtựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng dịch chuyển đầu tư, thươngmại, chuyển đổi số, sự phát triển các mô hình kinh doanh mới, sự thay đổi phương thức sảnxuất, tiêu dùng và giao tiếp trên toàn cầu để đưa đất nước vươn lên mạnh mẽ, thu hẹpkhoảng cách phát triển, nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công toàn diện các mục tiêu,nhiệm vụ kế hoạch năm 2021, tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện các mục tiêu, địnhhướng chiến lược phát triển đất nước trong 5 năm, 10 năm tới và hiện thực hoá khát vọngphát triển về tầm nhìn đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập caotheo tinh thần các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội

Các chỉ tiêu chủ yếu Chính phủ xin trình Quốc hội 12 chỉ tiêu chủ yếu về các lĩnh vựckinh tế, xã hội, môi trường trong kế hoạch phát triển KTXH năm 2021; trong đó: tổng sảnphẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6%;

Trang 22

Trong giai đoạn 2021 - 2025, dự kiến có 15 chỉ tiêu chủ yếu; trong đó tốc độ tăng trưởngGDP bình quân khoảng 6,5 - 7%; đến năm 2025, GDP bình quân đầu người đạt 4.700 -5.000 USD;

Dự báo

* Triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2020 phụ thuộc vào khả năng khống chế bệnhdịch không chỉ trong nước mà còn trên thế giới Những yếu tố có thể hỗ trợ cho tăng trưởngtrong phần còn lại của năm bao gồm kỳ vọng về triển vọng kinh tế do việc hoàn tất ký kếtHiệp định thương mại tự do và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVFTA và IPA) đemlại; tiến độ giải ngân và thi công các dự án đầu tư công trọng điểm được đẩy nhanh nhưmong đợi; chi phí nguyên nhiên vật liệu duy trì ở mức thấp do suy giảm nhu cầu tiêu thụ vàsản xuất; làn sóng dịch chuyển đầu tư nhằm phân tán rủi ro từ thương chiến Mỹ - Trung vàtận dụng các ưu đãi đầu tư tại Việt Nam; môi trường vĩ mô ổn định, lạm phát kiểm soátđược ở mức trung bình, tạo điều kiện tốt cho việc thực thi các chính sách hỗ trợ tăngtrưởng

Tuy vậy, Việt Nam cũng đang gặp nhiều rủi ro và thách thức trong một môi trường kinh

tế thế giới bất trắc Sự tái bùng phát của COVID-19 tại nhiều nước đi kèm với các biệnpháp phong tỏa có thể kéo dài thời gian đứt gãy của chuỗi cung ứng; xung đột địa chính trịgiữa các nước lớn có thể khiến một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam đối diện nhữngrủi ro bất ngờ Bên cạnh đó, điểm yếu của kinh tế Việt Nam còn đến từ các rủi ro nội tạinhư mất cân đối tài khóa lớn, tốc độ và mức độ đầu tư phát triển, đặc biệt là hạ tầng, bịchững lại; sức khỏe hệ thống ngân hàng – tài chính tuy dần được củng cố nhưng còn dễ tổnthương; sự phụ thuộc nặng nề của tăng trưởng vào khu vực FDI, thiếu tự chủ công nghệ vànguyên liệu; chất lượng lao động thấp; hiệu quả đầu tư công thấp và tình trạng nhũng nhiễucủa bộ máy công quyền còn nặng nề; tiến trình cổ phần hóa DNNN bị ngưng trệ, môitrường và thể chế kinh doanh chất lượng còn thấp

Báo cáo cập nhật của các tổ chức quốc tế như NHNN, IMF, WB, ADB … đều dự báokinh tế Việt Nam tăng trưởng từ 2,4-2,8% năm 2020

Trang 23

Căn cứ vào các báo cáo này cũng như cân nhắc những yếu tố tích cực và tiêu cực đangtác động đối với kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng tôi đưa ra các dự báo về tăng trưởngtheo các kịch bản khác nhau về tình hình phòng chống bệnh dịch.

Với điều kiện dịch COVID-19 tiếp tục được khống chế ổn định ở trong nước và kinh tếthế giới bắt đầu khởi sắc do các biện pháp phong tỏa được dần gỡ bỏ, kinh tế Việt Nam cóthể đạt mức tăng trưởng trong khoảng 2,6 - 2,8% trong cả năm 2020 Trong trường hợp bấtlợi hơn khi các nước đối tác của Việt Nam phải tái áp dụng các biện pháp phong tỏa, kinh

tế Việt Nam có thể chỉ tăng trưởng trong khoảng 1,8 - 2,0%

Kịch bản 1: Trong kịch bản này, bệnh dịch sẽ không tái bùng phát trong nước trong thờigian còn lại của năm và hoạt động kinh tế nội địa dần trở lại bình thường Trong khi đó,bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới có thể tái xuất hiệncục bộ trên quy mô nhỏ ở một số quốc gia Theo đó, mức độ tác động của COVID–19 lêncác ngành nông lâm ngư nghiệp, sản xuất chế biến chế tạo và các ngành trong khu vực dịch

vụ sẽ không nghiêm trọng hơn so với hiện tại Dự báo tăng trưởng kinh tế GDP cả năm

2020 trong khoảng 2,6 - 2,8%

Kịch bản 2: Ở kịch bản này, bệnh dịch trong nước vẫn được khống chế hoàn toàn trongthời gian còn lại của năm và hoạt động kinh tế dần trở lại bình thường Tuy nhiên, bệnhdịch ở nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới tái bùng phát mạnh, cácnước phải tái áp dụng các biện pháp phong tỏa trong Quý 4 năm 2020 dẫn đến hoạt độngxuất nhập khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng nặng và không có khả năng hồi phục trong năm

2020, kéo theo đó là sản xuất trong nước tăng trưởng yếu và các ngành khai khoáng phục

vụ công nghiệp có khả năng thu hẹp Dịch vụ lưu trú và ăn uống không có động lực hồiphục do thiếu khách du lịch nước ngoài, trong khi nhu cầu trong nước với các loại hình dịch

vụ này cũng bị hạn chế do tình hình kinh tế kém khả quan ảnh hưởng đến hành vi tiêudùng Khi đó, dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam chỉ đạt khoảng 1,8-2,8% năm 2020

Trang 24

Lưu ý rằng cả hai kịch bản nêu trên đều giả định dịch bệnh được kiềm chế một cách tíchcực ở trong nước cho đến hết năm 2020 Nếu dịch virus COVID-19 bùng phát trở lại trongnước trong Quý 4, thì các nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề.

* Giai đoạn 2021-2025, dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ hồi phục trởlại, tuy nhiên đà hồi phục có thể theo 2 kịch bản:

Kịch bản 1: Trường hợp dịch bệnh diễn biến phức tạp tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt độngcủa nền kinh tế và tiếp tục chịu ảnh hưởng đáng kể trong năm 2021 Bên cạnh đó, căngthẳng thương mại - công nghệ, địa chính trị leo thang, không sớm tìm được hướng giảiquyết sẽ khiến thương mại, đầu tư quốc tế sụt giảm, đẩy kinh tế thế giới rơi vào tình trạngbất định, khả năng phục hồi kinh tế toàn cầu xuống thấp Trong khi đó, nền kinh tế ViệtNam có độ mở cửa lớn và đang tham gia nhiều hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu Với kịchbản này, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2021 có thể đạt từ 5-6% Tăng trưởng GDPbình quân giai đoạn 2021 – 2025 khoảng 6 - 7%

Kịch bản 2: Nếu dịch bệnh trong nước được tiếp tục kiểm soát, dịch bệnh trên thế giớiđược đẩy lùi Các nước áp dụng tình trạng "bình thường mới", vừa phục hồi kinh tế, mở lại

và duy trì hoạt động giao thương, sản xuất - kinh doanh, vừa phòng, chống dịch hiệu quả.Còn tại Việt Nam, các hoạt động sản xuất, chế biến - chế tạo nhất là các mặt hàng máymóc, thiết bị, điện, điện tử, vẫn tăng trưởng khá, các ngành may mặc, da giày phục hồinhanh trở lại,… đáp ứng nhu cầu từ đối tác; dịch vụ hồi phục khá nhờ niềm tin của ngườitiêu dùng được khôi phục dần, thiên tai được khắc phục nhanh nhờ sự vào cuộc của Trungương, bộ, ngành, địa phương, các tổ chức xã hội và mạnh thường quân…; nông nghiệp vẫnđóng vai trò quan trọng trong ổn định an ninh lương thực và tăng trưởng kinh tế Theo kịchbản này, dự báo tang trưởng GDP Việt Nam năm 2021 có thể đạt 6,5-7% Tăng trưởngGDP bình quân giai đoạn 2021 – 2025 khoảng 6,5 – 7,5%

2.1.2 Tỷ lệ lạm phát

Trang 25

Lạm phát tăng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh củaVietnam Airlines do chi phí đầu vào tăng cao làm giảm lợi nhuận; bên cạnh đó, người tiêudùng đồng thời cũng tiết giảm chi phí, giảm chi tiêu cho du lịch hay đi lại bằng đường hàngkhông làm doanh thu giảm sút, từ đó tổng lợi nhuận của Vietnam Airlines bị suy giảm.

Nhận xét chung: Trong giai đoạn 2016-2019, Lạm phát được kiểm soát nhờ thực hiệntốt, đồng bộ các giải pháp về tiền tệ, tín dụng và tài khóa cũng như cơ chế phối hợp linhhoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Chỉ số CPI bình quân năm giảm từ4,74% năm 2016 xuống 3,54% năm 2018; năm 2019, giảm còn 2,79%

Năm 2020, chỉ số CPI bình quân trong 9 tháng đầu năm ước tính tăng 3.85% YoY Nếutính riêng theo Quý, chỉ số lạm phát bình quân hạ nhiệt tương đối mạnh xuống chỉ còn3.18% trong Quý 3 từ mức 5.56% vào Quý 1

Năm 2017

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2017 tăng 3,5% so với năm trước, cao hơn mức tăng2,7% của năm 2016, nhưng vẫn thấp hơn mức mục tiêu 4% của Quốc hội đề ra

Lạm phát năm 2017 tăng, tập trung ở một số nguyên nhân đặc thù Thứ nhất, giá dịch vụ

y tế và dịch vụ giáo dục năm 2017 tiếp tục được điều chỉnh tăng mạnh theo lộ trình, theo đóchỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 57,9%, chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tăng 10,4%, gópphần đáng kể làm tăng lạm phát (năm 2016 tương ứng là 38,15% và 7,11%) Thứ hai, giáhàng hóa cơ bản thế giới tiếp tục xu hướng hồi phục, đặc biệt là giá nhiên liệu và chất đốt,làm tăng giá xăng dầu, giá gas trong nước, khiến tốc độ tăng chỉ số giá của nhóm Nhà ở,điện nước, chất đốt, vật liệu xây dựng (tăng 4,3%) và nhóm Giao thông (tăng 6,8%) caohơn so với năm trước (năm 2016 lần lượt tăng 2,5% và giảm 7,3%) Thứ ba, tình hình thiêntai, thời tiết bất lợi (mưa bão, lũ lụt) ảnh hưởng đến nguồn cung và làm tăng giá hàng hóa ởcác tỉnh miền Trung tại thời điểm cuối năm

Trang 26

Mặc dù vậy, lạm phát bình quân so với cùng kỳ có chiều hướng chậm lại qua các thángnăm 2017 và bình quân cả năm thấp hơn so với mục tiêu 4% của Quốc hội, chủ yếu dochính sách tiền tệ đã được điều hành chủ động, linh hoạt, thận trọng để kiểm soát ổn địnhlạm phát cơ bản bình quân ở mức 1,4% (2016: 1,8%) Đồng thời, chính sách quản lý giácủa Nhà nước cũng đã lựa chọn thời điểm, liều lượng điều chỉnh phù hợp giá các mặt hàng,dịch vụ Nhà nước quản lý, qua đó phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ để kiểm soát lạmphát theo mục tiêu Ngoài ra, lần đầu tiên trong vòng 16 năm gần đây, nhóm hàng Thựcphẩm giảm giá trong bối cảnh giá thịt lợn giảm sâu bởi nguồn cung dồi dào trong khi nhucầu trong nước không tăng và xuất khẩu sang một số thị trường gặp khó khăn Điều này đãgóp phần đáng kể giúp kiểm soát lạm phát năm 2017.

Về diễn biến lạm phát, tốc độ tăng lạm phát bình quân so với cùng kỳ có chiều hướngtăng nhanh trong 5 tháng đầu năm nhưng đã chậm lại đáng kể từ tháng 6, góp phần kiềmchế lạm phát bình quân năm 2018 thấp hơn so với mục tiêu 4% của Quốc hội, chủ yếu do

Trang 27

CSTT được điều hành chủ động, linh hoạt, thận trọng để kiểm soát ổn định lạm phát cơ bảnbình quân ở mức 1,5% (2017: 1,4%) Đồng thời, chính sách quản lý giá của Nhà nước cũnglựa chọn thời điểm, liều lượng điều chỉnh phù hợp giá các mặt hàng, dịch vụ Nhà nướcquản lý, qua đó phối hợp chặt chẽ với CSTT trong việc kiểm soát lạm phát theo mục tiêu.Năm 2019

Mặc dù những tháng cuối năm lạm phát trong nước chịu nhiều sức ép từ giá thực phẩm(thịt lợn) tăng cao khi dịch tả lợn châu Phi bùng phát, nhưng CPI bình quân cả năm 2019chỉ tăng 2,79% so với năm 2018, là mức tăng bình quân thấp nhất trong 3 năm gần đây vàphù hợp với mục tiêu khoảng 4% của Quốc hội Nguyên nhân chủ yếu do:

(i) Giá một số hàng hóa, dịch vụ Nhà nước quản lý tiếp tục được điều chỉnh tăng theo lộtrình nhưng mức độ điều chỉnh thấp hơn so với mức điều chỉnh các năm trước Theo đó, chỉ

số giá nhóm Dịch vụ y tế tăng 4,65% (năm 2016-2018 tăng tương ứng là 38,15%, 57,91%

và 13,86%); chỉ số giá nhóm Dịch vụ giáo dục tăng 6,11% (năm 2016-2018 tăng tương ứng

là 7,11%, 10,42% và 7,12%);

(ii) Giá nhiên liệu, chất đốt trong nước (xăng dầu, gas,…) giảm mạnh theo giá thế giới.Trong đó, giá xăng dầu bình quân cả năm 2019 giảm 3,14% làm chỉ số giá nhóm Giaothông giảm 1,04%; giá gas giảm 5,97% nên mặc dù giá điện bình quân tăng 8,38% nhưngchỉ số giá nhóm Nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng chỉ tăng 3,03% (năm 2018 tăng3,32%); (iii) Với sự quyết tâm, chỉ đạo sát sao của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ trongđiều hành thị trường, kiểm soát giá, lạm phát của các bộ, ngành, địa phương, cân đối cung -cầu thị trường hàng hóa được đảm bảo, mặt bằng giá cả hàng hóa không có biến động lớn;(iv) Điều hành CSTT phù hợp và kiên định của NHNN đã neo giữ kỳ vọng lạm phát

Theo đó, lạm phát cơ bản bình quân năm 2019 tăng 2,01%, tiếp theo xu hướng ổn địnhcủa lạm phát cơ bản trong những năm qua (dưới 2%), tạo dư địa để Chính phủ tiếp tục điềuchỉnh giá các loại hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý

Trang 28

Năm 2020

CPI bình quân 9 tháng năm 2020 tăng 3,85% so với bình quân cùng kỳ năm 2019 CPI 9tháng tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá các mặthàng lương thực tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,15%); (ii)Giá các mặt hàng thực phẩm tăng 14,31% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng3,05%), trong đó riêng giá thịt lợn tăng 70,55% (làm CPI chung tăng 2,39%); (iii) Giáthuốc và thiết bị y tế tăng 1,43% do dịch Covid-19 trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp nênnhu cầu về mặt hàng này ở mức cao; (iv) Giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá và các loạiquần áo may sẵn tăng cao, lần lượt tăng 1,58% và 0,73% so với cùng kỳ năm 2019

Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI 9 tháng năm 2020: (i)Giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu giảm 22,12% (làm CPI chung giảm 0,8%); giádầu hỏa giảm 30,1%; giá gas trong nước giảm 1,68%; (ii) Nhu cầu đi lại, du lịch của ngườidân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá của nhóm du lịch trọn gói giảm 2,13%

so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy baygiảm; (iii) Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khókhăn do dịch Covid-19 như gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai

Trang 29

giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng nên giá điện tháng 5 và tháng 6 năm nay giảm lầnlượt là 0,28% và 2,72% so với tháng trước; (iv) Các cấp, các ngành tích cực triển khai thựchiện nhiều giải pháp đồng bộ để ngăn chặn diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, bảođảm cân đối cung cầu và ổn định thị trường.

Dự báo

CPI trong Quý 4.2020 có thể chịu một số áp lực tăng từ: (1) cầu tiêu dùng cải thiện tốthơn và giá một số mặt hàng thiết yếu có thể cao hơn về cuối năm Theo yếu tố thời vụ, cuốinăm thường là cao điểm về nhu cầu hàng hóa phuc vụ sản xuất, tiêu dùng, theo đó làm tănglạm phát Bên cạnh đó, (2) thanh khoản dồi dào cùng dư thừa tiền cũng là yếu tố có thể tạonên áp lực cho lạm phát Mặc dù vậy, (1) Diễn biến của giá thịt lợn hiện đã trong đà kiểmsoát nhờ nguồn cung được cải thiện, (2) Quý 4.2019 đã chứng kiến lạm phát tăng nhanh vàmạnh tạo mặt bằng nền giá tương đối cao, từ đó dư địa áp lực tăng lên lạm phát cho nămnay là không lớn Hơn nữa, (3) biến động giá cả nguyên vật liệu phụ thuộc vào giá nguyênliệu trên thế giới, và đặc biệt là giá dầu Trong khi đó, giá dầu khó có khả năng phục hồitrong bối cảnh đứt quãng chuỗi cung ứng toàn cầu

Chúng tôi dự báo chỉ số CPI bình quân ở mức 3,2-3,3% năm 2020 Với triển vọng kiểmsoát tốt dịch bệnh, nhóm hàng hóa thiết yếu; nhóm giao thông; nhóm văn hóa, giải trí và dulịch sẽ dần hồi phục trạng thái bình thường trước dịch và sẽ ít biến động hơn năm 2020, dự

Trang 30

báo chỉ số CPI bình quân năm 2021 sẽ ở mức 3,4% - 3,6% CPI bình quân trong giai đoạn2021- 2025 ở mức 3,2-3,5%.

Trong trường hợp dịch bệnh diễn biến phức tạp tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động củanền kinh tế và tiếp tục chịu ảnh hưởng đáng kể trong năm 2021, giá lương thực và thựcphẩm sẽ lại tăng mạnh trong điều kiện gián đoạn chuỗi cung ứng, dự báo chỉ số CPI bìnhquân năm 2021 ở mức 3,7-4% và CPI bình quân trong giai đoạn 2021-2025 ở mức 3,4-3,7%

2.1.3 Tỷ giá

Do đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh của Vietnam Airlines có nhiều khoản vay vàthuê tài chính để mua máy bay và máy móc thiết bị; thanh toán chi phí cho các đối tác nướcngoài có giá trị lớn nên rủi ro tỉ giá của Vietnam Airlines đến chủ yếu từ biến động của tỉgiá USD/VND và một số ngoại tệ mạnh khác (CNY, JPY, EUR )

Nhận xét chung: Điểm khá đặc biệt trong cách thức điều hành tỉ giá của NHNN so vớitrước đây, đó là, đã sử dụng những công cụ mang tính thị trường hơn là các công cụ mangtính áp đặt hành chính Điều này thể hiện quyết tâm theo đuổi cơ chế tỉ giá trung tâm linhhoạt và định hướng thị trường của ngành NH Nhờ đó, tỉ giá được duy trì ổn định, thanhkhoản thị trường được đảm bảo, các giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt, dự trữ ngoại hốiđược tăng cường

Trang 31

Nguồn: Bloomberg, KBSV

Năm 2017

Nhìn chung tỷ giá đồng USD trên thị trường thế giới giảm tạo điều kiện thuận lợi để ổnđịnh tỷ giá và thị trường ngoại tệ trong nước năm 2017 Bên cạnh đó, sự ổn định của thịtrường còn có sự đóng góp từ hoạt động kinh tế vĩ mô diễn biến thuận lợi, cán cân thanhtoán tổng thể thặng dư cao, cùng với việc Ngân hàng Nhà nước điều hành đồng bộ, linhhoạt các công cụ chính sách tiền tệ Năm 2017, cán cân thanh toán tổng thể tiếp tục thặng

dư cao, kinh tế vĩ mô tăng trưởng khả quan, lạm phát ổn định giúp thu hút dòng vốn đầu tưvào Việt Nam trong bối cảnh thị trường chứng khoán tăng mạnh, Chính phủ thực hiệnthành công kế hoạch thoái vốn ở một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước, tạo điều kiệnthuận lợi cho cân đối cung - cầu ngoại tệ trong nước và Ngân hàng Nhà nước chủ động thựchiện mua/bán ngoại tệ kip thời đã giúp ổn định thị trường Đồng thời, Ngân hàng Nhà nướctiếp tục điều hành chủ động, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, kết hợp với cách thứcđiều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt hàng ngày theo diễn biến thị trường trong và ngoàinước, phù hợp với các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ, qua đó giúpgiảm tâm lý găm giữ ngoại tệ và hạn chế các cú sốc bên ngoài tới thị trường trong nước.Nhờ đó, trong năm 2017, tỷ giá và thị trường ngoại tệ trong nước cơ bản ổn định (đến cuốinăm 2017, tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,2% so với cuối năm 2016, tỷ giá giao dịch USD/VND trên thị trường giảm khoảng 0,2%) Thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầungoại tệ hợp pháp được đáp ứng đẩy đủ, tình trạng găm giữ ngoại tệ giảm, hệ thống các tổchức tín dụng mua ròng ngoại tệ từ khách hàng, Ngân hàng Nhà nước mua được lượng lớnngoại tệ để tăng quy mô dự trữ ngoại hối Nhà nước

Trang 32

Năm 2018

Mặc dù bối cảnh thị trường quốc tế thay đổi nhanh chóng, thuận lợi trong nửa đầu năm,chịu áp lực liên tục nửa cuối năm nhưng nhìn chung tỷ giá và thị trường ngoại tệ trong nướcdiễn biến tương đối ổn định, phù hợp với điều kiện thị trường Trong hơn 5 tháng đầu năm,trước xu hướng giảm giá của đồng USD trên thị trường quốc tế, nguồn cung ngoại tệ trongnước tương đối dồi dào, tỷ giá giao dịch trên thị trường nhìn chung ổn định, NHNN muađược lượng lớn ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Tuy nhiên, sang nửa cuối năm, thị trườngngoại tệ chịu áp lực từ những yếu tố bất lợi như: (i) Đồng USD quốc tế tăng giá mạnh vớidiễn biến khả quan của kinh tế Mỹ cũng như xu hướng trái chiều trong CSTT giữa Fed vàcác ngân hàng trung ương lớn khác; (ii) Xung đột thương mại Mỹ - Trung leo thang tácđộng tiêu cực đến tâm lý thị trường cũng như hoạt động đầu tư, sản xuất; (iii) Đồng CNY

và các đồng tiền của một số quốc gia mới nổi mất giá mạnh (Thổ Nhĩ Kỳ, Argentina, ) giatăng quan ngại về khủng hoảng kinh tế, tiền tệ tại các quốc gia mới nổi và đang phát triển;(iv) Thị trường chứng khoán nhiều nước giảm mạnh, gia tăng rủi ro tiêu cực đối với tăngtrưởng kinh tế, thu hẹp điều kiện tài chính toàn cầu Theo đó, tỷ giá thị trường có xu hướngtăng nhanh, có thời điểm lên đến trên 23.350 VND/USD

Mặc dù chịu áp lực lớn trong nửa cuối năm nhưng nhìn chung, trong năm 2018, tỷ giá vàthị trường ngoại tệ trong nước ổn định (đến cuối năm 2018, tỷ giá trung tâm tăng khoảng1,78% so với cuối năm 2017, tỷ giá giao dịch USD/VND trên thị trường tăng khoảng2,16%) Thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng

Trang 33

đầy đủ, NHNN mua ròng ngoại tệ để tăng quy mô Dự trữ ngoại hối Nhà nước Thị trường

ổn định là nhờ sự đóng góp từ nền tảng kinh tế vĩ mô diễn biến thuận lợi, cùng với việcNHNN điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường ngoại tệ; cơchế tỷ giá trung tâm tiếp tục phát huy hiệu quả trong việc hấp thụ các cú sốc bên ngoài vàgiảm tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ

Năm 2019

Năm 2019, thị trường ngoại tệ tương đối ổn định, thanh khoản thị trường thông suốt, cácnhu cầu mua, bán ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, NHNNmua được lượng lớn ngoại tệ bổ sung DTNHNN Trong một số giai đoạn (từ tháng 5-8/2019), tỷ giá có xu hướng tăng khi thị trường phản ứng trước một số diễn biến quốc tế;tuy nhiên, tỷ giá thị trường liên ngân hàng tăng cao nhất chỉ trong khoảng 1,2% so với cuốinăm 2018, đây là mức biến động thấp hơn nhiều so với mức biến động của các đồng tiềnkhác trong khu vực Đến cuối năm 2019, tỷ giá trung tâm tăng 1,45% so với cuối năm

2018, tỷ giá giao dịch USD/VND trên thị trường liên ngân hàng giảm 0,14%

Thị trường ổn định là nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô trong nước vững chắc, nguồn cungngoại tệ dồi dào cùng với việc NHNN điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT; cơchế tỷ giá trung tâm tiếp tục phát huy hiệu quả trong việc hấp thụ các cú sốc bên ngoài vàgiảm tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ

Trang 35

Mặc dù có biến động mạnh trong tháng 3 song nhìn chung tỷ giá ổn định trong 9 thángđầu năm Đến ngày 29/9, tỷ giá liên ngân hàng và tỷ giá trung tâm lần lượt tăng 0,03% và0,31% so với đầu năm, trong khi chỉ số USD (DXY) giảm 2,2% và nhiều đồng tiền trongkhu vực mất giá từ 5-7% so với USD kể từ đầu năm.

Tỷ giá USD/VND ổn định nhờ: (i) thanh khoản dồi dào khi thặng dư thương mại 9 thángđầu năm ở mức cao (17 tỷ USD); (ii) đồng USD sau khi biến động mạnh trong tháng 3 vàtháng 4 đã quay lại xu hướng giảm giá trong quý III/2020; (iii) nhu cầu thanh toán, vayngoại tệ của doanh nghiệp ở mức thấp khi hoạt động xuất nhập khẩu chịu tác động tiêu cựccủa dịch bệnh;

(iv) chênh lệch lãi suất VND-USD vẫn duy trì ở mức dương góp phần duy trì sức hấpdẫn của VND (chênh lệch lãi suất kỳ hạn 3 tháng ở mức 0,3-0,5%/năm)

sẽ biến động không quá 1% cho cả năm nay

Giai đoạn 2021- 2025, nếu dịch bệnh trong nước được tiếp tục kiểm soát, dịch bệnh trênthế giới được đẩy lùi, theo kịch bản này, tỷ giá năm 2021 dự kiến tăng ở mức 1,2%-1,5%

Trang 36

(i) hoạt động kinh tế phục hồi khiến nhu cầu thanh toán, vay ngoại tệ bằng đồng USDtăng lên; (ii) triển vọng kinh tế Mỹ tăng trưởng sau dịch bệnh, giúp đồng USD tăng giá.Bình quân giai đoạn 2021-2025, tỷ giá sẽ biến động trong khoảng 1,3%-1,6%.

Trường hợp dịch bệnh diễn biến phức tạp tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh

tế và tiếp tục chịu ảnh hưởng đáng kể trong năm 2021 Tỷ giá năm 2021 dự kiến biến độngtrong khoảng 1%-1,2% Bình quân giai đoạn 2021-2025, tỷ giá sẽ biến động trong khoảng1,2%- 1,5%

2.1.4 Lãi suất

Rủi ro lãi suất tăng sẽ ảnh hưởng chủ yếu đến các khoản vay ngắn hạn khi tuần hoànkhoản vay sau mỗi 3 tháng và lãi suất được tính lại theo lãi suất thị trường

Năm 2017

Lãi suất đồng Việt Nam

Năm 2017, mặt bằng lãi suất diễn biến tương đối ổn định, phù hợp với diễn biến kinh tế

vĩ mô, thị trường tiền tệ Đến cuối năm 2017, Lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng phổbiến ở mức khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn, trung, dài hạn khoảng 9-11%/năm

Lãi suất đồng USD

Lãi suất USD diễn biến phù hợp với chủ trương của Chính phủ và định hướng điều hànhcủa Ngân hàng Nhà nước về chống đô-la hóa trong nền kinh tế, hạn chế tình trạng găm giữngoại tệ, hỗ trợ ổn định tỷ giá Đến cuối năm 2017; lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức2,8- 6,0%/năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2,8-4,7%/năm và lãisuất cho vay trung, dài hạn ở mức 4,6-6,0%/năm

Năm 2018

Lãi suất VND

Năm 2018, mặt bằng lãi suất về cơ bản được duy trì ổn định trong bối cảnh lãi suất trênthế giới có xu hướng gia tăng Đến cuối năm 2018, lãi suất cho vay của các TCTD phổ biến

ở mức khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn, trung-dài hạn khoảng 9-11%/năm

Lãi suất USD

Trang 37

Lãi suất USD diễn biến phù hợp với chủ trương của Chính phủ và định hướng điều hànhcủa NHNN về hạn chế đô-la hóa nền kinh tế và tình trạng găm giữ ngoại tệ, hỗ trợ ổn định

tỷ giá

Đến cuối năm 2018, lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8- 6,0%/năm; trong đó lãisuất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2,8-4,7%/năm và lãi suất cho vay trung, dài hạn ởmức 4,5- 6,0%/năm

Năm 2019

Lãi suất VND

Năm 2019, mặt bằng lãi suất thị trường cơ bản ổn định, phù hợp với động thái điều hànhcủa NHNN Đến cuối năm 2019, Lãi suất cho vay của các TCTD phổ biến ở mức khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn, trung-dài hạn khoảng 9-11%/năm

Lãi suất USD

Lãi suất USD diễn biến phù hợp với chủ trương của Chính phủ và định hướng điều hànhcủa NHNN về hạn chế đô-la hóa nền kinh tế Đến cuối năm 2019, lãi suất cho vay ngắn hạnphổ biến ở mức 3,0-4,7%/năm và lãi suất cho vay trung, dài hạn phổ biến ở mức4,5-6,0%/năm

Nguồn: NHNNNăm 2020

Trang 38

Năm 2020, mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm khi: (i) thanh khoản của hệ thống cácTCTD tăng lên nhờ các biện pháp giảm lãi suất điều hành của NHNN (3 lần điều chỉnhgiảm các mức lãi suất điều hành ngày 16/3, 12/5 và 1/10) và NHNN tích cực hỗ trợ thanhkhoản cho các TCTD thông qua việc linh hoạt bơm/hút ròng qua kênh thị trường mở; (ii)nhu cầu tín dụng yếu khi hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn do sức cầu tiêudùng và sản xuất trong nước phục hồi chậm.

Tại thời điểm cuối tháng 9/2020, Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối vớimột số ngành lĩnh vực ở mức 4,5%/năm; lãi suất cho vay bằng USD phổ biến ở mức3-6/năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 3-4,5%/năm, lãi suất cho vaytrung, dài hạn ở mức 4,2-6%/năm

Dự báo

Nhìn chung hiện lãi suất cho vay đang ở mức thấp chưa từng có và đã giảm 2,5% so vớithời điểm năm 2016 Song chúng tôi cho rằng để hỗ trợ cho tăng trưởng tín dụng cuối năm(đạt mức tăng 10% trong năm nay), các TCTD sẽ tiếp tục giảm lãi suất cho vay; đồng thời

cố gắng đảm bảo mức lãi suất huy động ổn định nhằm “giữ chân” khách hàng Hiện một sốNHTM đã áp dụng hình thức huy động vốn linh hoạt hơn, khuyến khích khách hàng gửi kỳhạn dài

Về phía điều hành, chủ trương của NHNN là tiếp tục điều tiết và đáp ứng kịp thời nhucầu thanh khoản cho các TCTD, duy trì lãi suất thị trường liên ngân hàng ở mức phù hợp đểtạo điều kiện hỗ trợ nguồn vốn vớ́i chi phí hợ̣p lý cho các TCTD; chỉ đạo các TCTD cân đốikhả năng tài chính để áp dụng mức lãi suất cho vay hợp lý nhằm chia sẻ khó khăn vớikhách hàng vay…

Giai đoạn 2021- 2025, nếu dịch bệnh trong nước được tiếp tục kiểm soát, dịch bệnh trênthế giới được đẩy lùi, theo kịch bản này, lãi suất năm 2021 có thể chịu nhiều sức ép tăngkhi nhu cầu tín dụng phục hồi, áp lực lạm phát cao hơn, song chỉ tăng nhẹ khi NHNN tiếptục thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ phục hồi kinh tế Dự kiến Lãi suất cho

Trang 39

vay bằng VND sẽ dao động khoảng 6-9%/năm, Lãi suất cho vay bằng USD ở mức3-6/năm; khi NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ phục hồi kinh

tế Bình quân giai đoạn 2021-2025, Lãi suất cho vay bằng VND của các TCTD ở mứckhoảng 6-11%/năm, lãi suất cho vay bằng USD dự kiến ở mức 4-6%/năm

Trường hợp dịch bệnh diễn biến phức tạp tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh

tế và tiếp tục chịu ảnh hưởng đáng kể trong năm 2021 Lãi suất cho vay năm 2021 bằngVND sẽ chỉ dao động khoảng 5-8%/năm, Lãi suất cho vay bằng USD ở mức 3-6/năm Bìnhquân giai đoạn 2021-2025, Lãi suất cho vay bằng VND của các TCTD ở mức khoảng 6-11%/năm, lãi suất cho vay bằng USD dự kiến ở mức 3-6%/năm

2.2 Các áp lực cạnh tranh – Mô hình 5 forces

2.2.1 Rào cản gia nhập ngành:

Rào cản gia nhập ngành hàng không là tương đối cao Đặc biệt, là với các hãng hàng khôngnước ngoài Lý do là vì cho tới nay, ở Việt Nam mới chỉ có duy nhất Qantas – hãng hàngkhông quốc gia Australia có đơn vị hàng không hợp tác kinh doanh tại Việt Nam thông quaviệc góp vốn 30% tại thương hiệu Jestar Pacific AirAsia – hãng hàng không giá rẻ tốtnhất thế giới, từng nỗ lực thành lập hãng hàng không tại Việt Nam nhưng đã thất bại 4 lầnliền

+ Về các quy định của chính phủ:

Pháp luật Việt Nam còn có sự chồng chép trong các quy định về vận tải hàng không Mặc

dù sự ra đời của luật Hàng không dân dụng Việt Nam ra đời, tạo hành lang pháp lý cho hoạtđộng kinh doanh của ngành Song với những quy định còn khắt khe, thủ tục thành lập rắcrối, nó đã trở thành rào cản lớn khi gia nhập ngành, đặc biệt là các hãng hàng không nướcngoài

Một quy định khắt khe nữa về pháp luật đối với ngành hàng không là nghị định thư về khíthải Đây là một quy định chặt chẽ về việc giảm lượng khí thải của các loại máy bay

Hiện nay, đội tàu bay của các hãng hàng không Việt Nam là 214 tàu bay nhưng mới chỉ

Trang 40

cung ứng chưa tới 50% so với năng lực Do đó, tại văn bản số 5833/VPCP – CN ngày17/7/2020, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng đã đồng ý về nguyên tắc kiến nghịcủa Bộ GTVT tại văn bản số 4620/BGTVT – VT ngày 15/6/2020, trong đó đề xuất việcthành lập hãng hàng không mới sẽ được xem xét sau thời điểm thị trường hàng không phụchồi (năm 2022)

+ Sự trung thành của khách hàng

Trong ngành hàng không, sự trung bình của khách hàng tương đối thấp Lý do là vì tâm lýchung của khách hàng là được mua và sử dụng những sản phẩm, dịch vụ giá rẻ Đặc biệtvới đối tượng là nhóm khách hàng mới sử dụng hoặc ít di chuyển thì mức độ trung thành làkhông nhiều Họ sẽ lựa chọn dưa trên nhu cầu và mục đích của mình là chính thay vì lựachọn theo thói quen

+ Tính đặc trưng của tài sản

Đây là một rào cản gia nhập lớn với những đối thủ mới khi gia nhập ngành Do ngành hàngkhông là một ngành đặc thù nên tính đặc trưng của tài sản ngành này là rất cao Việc gianhập ngành đòi hỏi một nguồn vốn lớn để đầu tư vào đội bay, tiếp viên phi công Đội baythường bao gồm tự sở hữu và đi thuê (thuê ướt: thuê cả phi công và máy bay; thuê khô: chỉthuê máy bay) Tuy nhiên, với ngành hàng không ở Việt Nam, do chưa tự sản xuất đượcphương tiện, thiết bị nên tài sản thuê tài chính thường chiếm tỷ trọng lớn với các doanhnghiệp trong ngành

Ngoài ra, Chi phí dầu jet A1 (khó kiểm soát và dự báo) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơcấu giá vốn hàng bán, trung bình khoảng 33%

+ Các hoạt động với nhà cung cấp

Hoạt động chủ yếu với nhà cung cấp đó là đàm phán trong việc đầu tư đội bay Hiện naycác hãng hàng không chủ yếu đặt mua từ các nhà sản xuất chính là Airbus, Boeing hayATR

Ngày đăng: 29/08/2023, 02:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1: Tăng trưởng GDP thực và đóng góp của các ngành sản xuất, 2015-2019 Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán của NHNN Năm 2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, tốc độ tăng trưởng bình quân 9 tháng năm 2020 ước tính tăng 2,12%  - Bài Tập Lớn - Phân Tích Tình Hình Tài Chính Của Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Tphcm.docx Phân Tích Tài Chính Tổng Công Ty Hàng Không Việt Nam – Vietnam Airlines  - Hvn.docx
th ị 1: Tăng trưởng GDP thực và đóng góp của các ngành sản xuất, 2015-2019 Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán của NHNN Năm 2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, tốc độ tăng trưởng bình quân 9 tháng năm 2020 ước tính tăng 2,12% (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w