Là hình thức quảng bá sản phẩm, dịch vụ trên internet với cơ sở đẩy mạnh doanh số bán sản phẩm, quảng bá thương hiệu của mình đến nhiều người ở nhiều nơi khác nhau hơn, marketing sẽ giúp
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING
CHO KHÓA HỌC THẠC SĨ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
CỦA TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ ĐÀO TẠO KỸ NĂNG KINH
DOANH CBS
PHAN THỊ HOÀI NHI
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING
CHO KHÓA HỌC THẠC SĨ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
CỦA TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ ĐÀO TẠO KỸ NĂNG KINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thành công không chỉ có một cá nhân tạo ra mà còn gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ của nhiều người khác
Trong quá trình hoàn thiện khóa luận, em đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp
đỡ từ quý thầy cô, gia đình và bạn bè Lời đầu tiên, em xin tỏ lòng biết ơn đến Thạc Sĩ
Lê Quang Trực, người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian làm khóa luận
Tiếp theo, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại học
Kinh Tế - Đại học Huế, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Quản Trị Kinh Doanh đã tận
tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức quý báu đến chúng em qua từng buổi học trên lớp
trong suốt 4 năm qua cũng như giúp đỡ chúng em hoàn thành khóa luận lần này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô, chú, anh, chị đang công tác tại Trung
tâm Tư vấn và Đào tạo Kỹ năng Kinh doanh CBS đã tạo điều kiện và hỗ trợ em trong
quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, em xin cảm ơn đến người thân và bạn bè đã luôn tiếp sức, động viên,
đồng hành cùng em trong suốt quá trình làm khóa luận
Tuy nhiên, vì sự tiếp nhận kiến thức vẫn còn nhiều hạn chế, nên trong quá trình
hoàn thành khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ
bảo, góp ý của quý thầy cô, ban lãnh đạo, cùng toàn thể các anh chị trong doanh nghiệp
để bài khóa luận đạt được kết quả tốt hơn
Sau cùng, em kính chúc quý thầy cô, các cô, chú, anh, chị trong doanh nghiệp
dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công và tốt đẹp trong công việc
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
2.1 Mục tiêu chung 1
2.2 Mục tiêu cụ thể 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi không gian 2
3.3 Phạm vi thời gian 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Khái niệm về marketing 3
1.1.2 Khái niệm truyền thông marketing 3
1.1.3 Truyền thông marketing tích hợp 4
1.1.4 Phát triển chương trình truyền thông marketing 7
1.1.5 Những công cụ chủ yếu của truyền thông marketing 16
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HIỆU QUẢ CỦA KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING CHO KHÓA HỌC THẠC SĨ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ ĐÀO TẠO KỸ NĂNG KINH DOANH CBS 32
2.1 Tổng quan doanh nghiệp – Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kỹ năng Kinh doanh CBS 32
2.1.2 Giới thiệu về khóa học HRM 36
2.1.3 Khách hàng mục tiêu 38
(Nguồn: Tác giá tự đề xuất) 39
2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm tư vấn và đào tạo kỹ năng kinh doanh CBS 39
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 52.1.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 41
2.2 Tình hình hoạt động và thực trạng truyền thông marketing khóa học HRM của CBS 43
2.2.1 Mục tiêu của hoạt động truyền thông marketing 43
2.2.2 Phân bổ ngân sách cho hoạt động truyền thông marketing 43
2.2.3 Các hoạt động và thực trạng truyền thông marketing được áp dụng cho khóa học HRM tại Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kỹ năng Kinh doanh CBS 43
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING CHO KHÓA HỌC THẠC SĨ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC CỦA TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ ĐÀO TẠO KỸ NĂNG KINH DOANH CBS 59
3.1 Xác định chân dung khách hàng 59
3.2 Mục tiêu truyền thông 59
3.3 Thông điệp truyền thông 59
3.4 Xây dựng kế hoạch truyền thông marketing cho khóa học HRM của Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kỹ năng Kinh doanh CBS 59
3.4.1 Xây dựng và nâng cao trình độ đội ngũ marketing 59
3.4.2 Giải pháp cho các công cụ truyền thông marketing 60
3.4.2.1 Giai đoạn Tháng 11/2021 – 01/2022 và Tháng 05– 07/2022 60
3.4.2.2 Giai đoạn Tháng 02 – 04/2022 và Tháng 08 – 10/2022 63
PHẦN III: KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 67
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các yếu tố trong quá trình truyền thông
Hình 1.2 Truyền thông marketing tích hợp
Hình 1.3 Các giai đoạn sẵn sàng của người mua
Hình 1.4 So sánh chiến lược marketing kéo và marketing đẩy
Hình 1.5 Các hình thức của marketing trực tiếp
Hình 1.6 Các hình thức của marketing trực tuyến
Hình 2.1 Các lĩnh vực của CBS hiện nay
Hình 2.2 Cơ cấu bộ máy của Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kỹ năng Kinh doanh CBS
Hình 2.3 Các tính năng của Hubspot Marketing Hub
Hình 2.4 Email Marketing trên Hubspot
Hình 2.5 Mô tả chức năng “Send test mail” trên Hubspot
Hình 2.6 Mô tả chức năng “Recipients” trên Hubspot
Hình 2.7 Mẫu “Form” trên Hubspot
Hình 2.8 Danh sách các list trên Hubspot
Hình 2.9 Các tính năng của Hubspot Sales Hub
Hình 2.10 Danh mục các “Deal” trên Hubspot
Hình 2.11 Mô tả chức năng “Task” trên Hubspot
Hình 2.12 Các tính năng của Hubspot Service Hub
Hình 2.13 Mô tả chức năng “Live chat” trên Hubspot
Hình 2.14 Mô tả chức năng “Template” trên Hubspot
Hình 2.15 Mô tả hồ sơ và các tính năng của 1 khách hàng trên Hubspot
Hình 2.16 Tổng quan bài viết trên Fanpage Thạc sĩ Quản trị Nguồn nhân lực
Hình 2.17 Kết quả của một bài quảng cáo đang được CBS thực hiện
Hình 2.18 Hình ảnh bài truyền thông sự kiện Lunch&Connect số 170
Hình 2.19 Thống kê số lượng người ghé thăm trang Linkedin của Khóa HRM
Hình 3.1 Hình ảnh minh họa tính năng “Bình chọn” trên Linkedin
Hình 3.2 Hình ảnh một số group về nhân sự trên Linkedin
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các mục tiêu quảng cáo
Bảng 2.1 Đặc điểm về nhân khẩu học và hành vi của những khách hàng mà CBS muốn
hướng đến
Bảng 2.2 Các chỉ số đo lường sau khi hoàn tất chạy email marketing truyền thông số 1
Bảng 2.3 Các chỉ số đo lường sau khi hoàn tất chạy email marketing truyền thông số 2
Bảng 3.1 Một số giải pháp đối với Linkedin trong giai đoạn truyền thông đầu
Bảng 3.2 Một số giải pháp đối với Facebook trong giai đoạn truyền thông đầu
Bảng 3.3 Một số giải pháp đối với Linkedin trong giai đoạn truyền thông cuối
Bảng 3.4 Một số giải pháp đối với Facebook trong giai đoạn truyền thông cuối
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
CBS Trung tâm Tư Vấn Và Đào tạo Kỹ năng Kinh doanh CBS
Khóa học HRM Khóa học Thạc Sĩ Quản Trị Nguồn Nhân Lực
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Dưới sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, sự có mặt của marketing
không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp hiện nay Là cầu nối giữa thị trường khách
hàng và doanh nghiệp, marketing đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp hướng
đến đúng thị trường mục tiêu đặt ra
Với tốc độ phát triển công nghệ nhanh như chớp thì số người dùng internet mỗi
ngày không ngừng tăng kéo theo sự phát triển của các dịch vụ marketing Là hình thức
quảng bá sản phẩm, dịch vụ trên internet với cơ sở đẩy mạnh doanh số bán sản phẩm,
quảng bá thương hiệu của mình đến nhiều người ở nhiều nơi khác nhau hơn, marketing
sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận tệp khách hàng tiềm năng nhanh hơn, dễ dàng hơn, từ đó
doanh nghiệp có thể đưa ra những chiến lược marketing nhằm tối ưu hóa chi phí, nâng
cao hiệu quả truyền thông và bán sản phẩm
Là một phần trong kế hoạch marketing, truyền thông marketing luôn đóng vai trò
quan trọng trong mỗi kế hoạch marketing của doanh nghiệp Tùy vào mục tiêu truyền
thông mà doanh nghiệp có thể sử dụng một hay kết hợp các hình thức truyền thông khác
nhau
Trong thời gian vừa qua Trung tâm Tư Vấn Và Đào tạo Kỹ năng Kinh doanh
CBS đã sử dụng social media, email marketing và các sự kiện để truyền thông cho khóa
học HRM Đây là một khóa học về Quản Trị Nguồn Nhân Lực được tài trợ bởi Đại Học
Massey – một trong những trường Đại học hàng đầu ở New Zealand
Tuy nhiên, các hoạt động truyền thông marketing của Trung tâm vẫn còn nhiều
hạn chế Trung tâm cần dựa trên nhận xét, ý kiến của các học viên để có cái nhìn đầy đủ
hơn trong việc đánh giá và xây dựng kế hoạch truyền thông marketing nhằm thu hút
thêm những học viên đến với Trung tâm
Xuất phát từ tình hình tại doanh nghiệp như trên kết hợp với quá trình thực tập
tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Xây dựng kế hoạch truyền thông marketing cho khóa
học HRM của Trung Tâm Tư Vấn Và Đào Tạo Kỹ Năng Kinh Doanh CBS”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng hoạt động truyền thông marketing đối với khóa học Thạc Sĩ
Quản Trị Nguồn Nhân Lực từ đó xây dựng kế hoạch truyền thông marketing đối với
khóa học Thạc Sĩ Quản Trị Nguồn Nhân Lực cho Trung Tâm Tư Vấn Và Đào Tạo Kỹ
Năng Kinh Doanh CBS
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tổng quan cơ sở lý thuyết về truyền thông marketing
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10- Phân tích thực trạng kế hoạch truyền thông marketing cho khóa học Thạc sĩ Quản trị
Nguồn nhân lực của Trung Tâm Tư Vấn Và Đào Tạo Kỹ Năng Kinh Doanh CBS
- Xây dựng và đề xuất giải pháp thực hiện kế hoạch marketing cho Trung Tâm Tư Vấn
Và Đào Tạo Kỹ Năng Kinh Doanh CBS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kế hoạch truyền thông marketing cho khóa học Thạc Sĩ Quản Trị Nguồn Nhân
Lực của Trung Tâm Tư Vấn Và Đào Tạo Kỹ Năng Kinh Doanh CBS
3.2 Phạm vi không gian
Thành phố Hồ Chí Minh
3.3 Phạm vi thời gian
Nghiên cứu 01/10 đến tháng 12/2021
- Số liệu thứ cấp thu thập từ: Giai đoạn 2018 – 2021
- Số liệu sơ cấp thu thập từ 01/10 đến 31/12/2021
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu cần thu thập:
- Các thông tin chung về Trung Tâm Tư Vấn Và Đào Tạo Kỹ Năng Kinh Doanh
CBS và khóa học Thạc Sĩ Quản Trị Nguồn Nhân Lực của CBS
- Nghiên cứu các lý thuyết về marketing mix
- Thu thập kết quả thống kê về các hoạt động marketing mix cũng như các công cụ
đang được CBS sử dụng để đánh giá như thống kê trên Facebook, Hubspot về
các chỉ số như lượt tương tác, tiếp cận, phản hồi,…
- Thông tin từ các báo cáo tình hình hoạt động của công ty năm 2021 của bộ phận
marketing CBS
4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Nghiên cứu định tính
Phỏng vấn chuyên sâu nhân viên thực hiện hoạt động marketing của CBS, nhằm hiểu rõ
hơn các hoạt động trong marketing mà CBS đang thực hiện, các hệ thống KPIs sử dụng
để đánh giá cũng như các chiến lược sắp tới của công ty
Nội dung phỏng vấn sẽ xoay quanh phương thức, mục tiêu của các hoạt động marketing
Online mà CBS đang thực hiện Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về marketing
Marketing là làm việc với khách hàng Mặc dù chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu sâu
về định nghĩa của marketing sau, tuy nhiên, có thể hiểu một cách đơn giản nhất là
marketing là quản lý các mối quan hệ khách hàng nhằm mang lại lợi nhuận Hai mục
tiêu của marketing là thu hút thêm nhiều khách hàng mới bằng việc đưa ra những giá trị
vượt trội và tạo ra sự thỏa mãn để gìn giữ và phát triển lực lượng khách hàng hiện tại
Ngày nay, marketing cần được hiểu theo một lối tư duy mới đó là cách thức thảo
mãn nhu cầu của khách hàng chứ không phải một lối mòn cố gắng bán được hàng Nếu
như người làm marketing hiểu được nhu cầu của khách hàng từ đó phát triển những sản
phẩm mang lại những giá trị vượt trội cho khách hàng, ấn định một mức giá hợp lý, tổ
chức phân phối và xúc tiến hiệu quả thì việc bán được hàng hóa sẽ trở nên vô cùng dễ
dàng Thật vậy, đúng như chuyên gia quản lý Peter Drucker nhận định “Mục đích của
marketing là khiến cho việc bán hàng trở nên không cần thiết” Quảng cáo và bán hàng
chỉ là một phần nhỏ nằm trong một khái niệm lớn hơn – marketing hỗn hợp – một bộ
công cụ marketing hoạt động đồng bộ, phối hợp với nhau để thỏa mãn nhu cầu khách
hàng và xây dựng nên những mối quan hệ với khách hàng
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, “Marketing là hoạt động, tập hợp các tổ chức,
và các quá trình để tạo ra, truyền thông, phân phối và trao đổi những thứ có giá trị cho
khách hàng, đối tác và xã hội nói chung”
Hiểu một cách rộng hơn marketing là một tiến trình quản lý và mang tính chất xã
hội được thực hiện bởi những chủ thể và tổ chức mà qua đó nhu cầu tự nhiên và mong
muốn của họ được tạo ra, trao đổi và thỏa mãn Theo nghĩa hẹp trong phạm vi kinh
doanh, marketing là các hoạt động liên quan đến việc xây dựng những mối quan hệ
khách hàng hữu ích Vì vậy, Philip Kotler và Gary Amstrong (2014) đã định nghĩa
“Marketing là một tiến trình trong đó các doanh nghiệp sáng tạo ra các giá trị cho khách
hàng và xây dựng cho mình những mối quan hệ mật thiết với khách hàng để từ đó thu
lại lợi nhuận”
1.1.2 Khái niệm truyền thông marketing
Nhà marketing sử dụng những công cụ truyền thông marketing để giao tiếp với
khách hàng và các bên liên quan khác Để chuyển tải một thông điệp rõ ràng, hấp dẫn,
mỗi công cụ phải được nhà marketing điều phối cẩn thận theo quan điểm truyền thông
marketing tích hợp
Hoạt động truyền thông marketing là sự phối hợp giữa quảng cáo, PR, bán hàng
cá nhân, khuyến mãi và marketing trực tiếp Doanh nghiệp sử dụng những hoạt động
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12này để chuyển tải thành công giá trị và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với công chúng
và khách hàng mục tiêu
Năm công cụ chính trong truyền thông marketing được định nghĩa như sau:
- Quảng cáo là hình thức giới thiệu hay truyền thông đại chúng về ý tưởng, sản
phẩm, dịch vụ do một cá nhân hay tổ chức chi tiền để thực hiện
- Khuyến mãi là những ưu đãi ngắn hạn để khuyến khích việc mua hay bán một
sản phẩm hay dịch vụ
- Bán hàng cá nhân là việc lực lượng bán hàng tiếp xúc trực tiếp nhằm mục đích
bán hàng và xây dựng quan hệ khách hàng
- PR là việc xây dựng mối quan hệ tốt bằng cách giành lấy thiện cảm từ giới công
chúng, xây dựng hình ảnh doanh nghiệp tích cực, xử lý những tin đồn, câu chuyện và
sự kiện bất lợi của doanh nghiệp
- Marketing trực tiếp là những mối liên kết trực tiếp với từng khách hàng mục
tiêu đã được lựa chọn cẩn thận để có thể vừa thu được phản hồi lập tức vừa nuôi dưỡng
mối quan hệ lâu dài với khách hàng
Trong mỗi công cụ nói trên bao gồm nhiều công cụ chuyên biệt được sử dụng để
giao tiếp với khách hàng
Quảng cáo bao gồm quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo in ấn, quảng cáo trên
internet, quảng cáo ngoài trời và các hình thức khác
Khuyến mãi bao gồm chiết khấu, phiếu giảm giá, các buổi trưng bày
Bán hàng cá nhân bao gồm giới thiệu về sản phẩm, triển lãm thương mại và các
chương trình ưu đãi
PR bao gồm thông cáo báo chí, hoạt động tài trợ, sự kiện đặc biệt và website
Marketing trực tiếp bao gồm marketing qua catalogue, marketing qua điện thoại,
các cửa hàng, internet, marketing trên điện thoại di động…
Những công cụ nói trên được sử dụng để truyền thông marketing Bên cạnh đó,
kiểu dáng, giá bán, hình dạng và màu sắc bao bì, cửa hàng bán lẻ - tất cả đều chuyển tải
một điều gì đó về thương hiệu đến khách hàng Hơn nữa, môi trường truyền thông đang
có những chuyển dịch từ kiểu truyền thống sang hiện đại Chính vì vậy, nhà marketing
cần hoạch định chiến lược truyền thông marketing tích hợp để phối hợp tất cả các công
cụ và kênh truyền thông marketing nhằm tác động mạnh mẽ nhất đến công chúng và
khách hàng mục tiêu
1.1.3 Truyền thông marketing tích hợp
Sau nhiều thập niên, các chuyên gia marketing đã hoàn thiện nghệ thuật
marketing đại chúng, tức là bán những sản phẩm được tiêu chuẩn hóa mức độ cao đến
khách hàng đại chúng Trong quá trình này, nhà marketing đã phát triển các kỹ thuật
truyền thông đại chúng hiệu quả để hỗ trợ chiến lược marketing Nhiều doanh nghiệp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13lớn ngày nay thường đầu tư hàng triệu, thậm chí hàng tỷ đô la Mỹ cho quảng cáo trên
truyền hình, tạp chí hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng khác, tiếp cận hàng
chục triệu khách hàng chỉ bằng một quảng cáo duy nhất Tuy nhiên, nhiều giám đốc
marketing hiện đại đang đối mặt với những vấn đề mới khi bối cảnh marketing thay đổi
Có lẽ không lĩnh vực marketing nào lại chuyển biến nhanh chóng và rõ nét như truyền
thông marketing, khiến những nhà marketing vừa phấn khích vừa lo lắng
Nhu cầu về truyền thông marketing tích hợp:
Trong bối cảnh mới của marketing, doanh nghiệp có xu hướng chuyển sang mô
hình truyền thông marketing tích hợp, trong đó sử dụng các phương tiện và phương pháp
truyền thông đa dạng Mặt khác, người tiêu dùng đang bị “dội bom” bởi thông điệp
quảng cáo từ nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên, cách mà họ phân biệt giữa các nguồn
thông điệp lại không giống như chuyên gia marketing Trong tâm trí người tiêu dùng,
tất cả thông điệp truyền thông trên các kênh khác nhau đều trở thành một thông điệp duy
nhất về doanh nghiệp Nếu có sự mâu thuẫn thông điệp giữa các nguồn khác nhau sẽ
làm cho hình ảnh doanh nghiệp, vị thế thương hiệu và các mối quan hệ khách hàng trở
nên rối bời, khó hiểu Tất nhiên, không có doanh nghiệp nào mong muốn điều này xảy
ra
Ngày nay, nhiều doanh nghiệp đang áp dụng truyền thông marketing tích hợp
Theo khái niệm này, như minh họa trong Hình 1.2, doanh nghiệp tích hợp một cách bài
bản nhiều công cụ truyền thông để đem đến cho khách hàng một thông điệp rõ ràng,
nhất quán và hấp dẫn về thương hiệu
Theo Gary Armstrong và Philip Kotler (2011) truyền thông marketing tích hợp
là những hoạt động truyền thông mang tính phối hợp và gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm
chuyển giao một thông điệp rõ ràng, nhất quán và thuyết phục về một tổ chức và những
sản phẩm của tổ chức đó
Hiệp hội các đại lý quảng cáo Mỹ (4As) cho rằng truyền thông marketing tích
hợp là khái niệm về sự hoạch định truyền thông marketing nhằm xác định giá trị gia
tăng của một kế hoạch tổng hợp, đánh giá vai trò chiến lược của các thành phần khác
nhau trong truyền thông như quảng cáo, khuyến mại, PR, và sự kết hợp các thành phần
này để tạo ra hoạt động truyền thông rõ ràng, đều đặn nhằm đạt hiệu quả tối đa
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Hình 1.2 Truyền thông Marketing tích hợp
Truyền thông marketing tích hợp đòi hỏi nhà marketing phải nhận biết tất cả cơ
hội tiếp xúc giữa khách hàng với sản phẩm và doanh nghiệp Mỗi đầu mối sẽ cung cấp
một thông điệp Mục tiêu của doanh nghiệp là chuyển tải thông điệp nhất quán và tích
cực đến từng điểm tiếp xúc Truyền thông marketing tích hợp tạo ra chiến lược truyền
thông marketing toàn diện nhằm xây dựng quan hệ khách hàng bền chặt bằng cách cho
khách hàng thấy doanh nghiệp và sản phẩm có thể giúp khách hàng giải quyết vấn đề
của họ như thế nào
Truyền thông marketing tích hợp kết nối tất cả những thông điệp và hình ảnh của
doanh nghiệp với nhau Quảng cáo trên truyền hình và quảng cáo trên các ấn phẩm sẽ
chuyển tải cùng một thông điệp, diện mạo và cảm nhận giống như thư điện tử và các
kênh bán hàng cá nhân Các tài liệu PR thì xây dựng cùng một hình ảnh trên trang web
hay mạng xã hội Thông thường, mỗi phương tiện truyền thông có vai trò riêng biệt
trong việc thu hút, thông báo và thuyết phục người tiêu dùng Những vai trò này phải
được phối hợp bài bản dựa theo một kế hoạch truyền thông marketing tổng thể
Trước đây, không có bất cứ cá nhân hay bộ phận nào trong doanh nghiệp chịu
trách nhiệm điều phối các công cụ truyền thông marketing Ngày nay, để hỗ trợ thực
hiện truyền thông marketing tích hợp, nhiều doanh nghiệp bổ nhiệm chức danh giám
đốc markeing truyền thông Người đảm nhận vị trí này có trách nhiệm quán xuyến toàn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15bộ hoạt động truyền thông, giúp thông điệp được chuyển tải thống nhất hơn và tác động
mạnh hơn đến doanh số bán hàng Như vậy, trách nhiệm thống nhất hình ảnh thương
hiệu, hình ảnh doanh nghiệp (được hình thành bởi hàng loạt hoạt động khác nhau) được
đặt vào tay một người, điều mà trước đây chưa từng xảy ra
1.1.4 Phát triển chương trình truyền thông marketing
1.1.4.1 Nhận diện khán giả mục tiêu
Việc nhận diện khán giả mục tiêu luôn là điểm khởi đầu của quá trình truyền
thông marketing Đó có thể là khách hàng hiện tại hoặc khách hàng tiềm năng, là người
trực tiếp quyết định mua hàng hoặc những người gây ảnh hưởng Khán giả có thể là cá
nhân, nhóm hoặc giới công chúng Khán giả mục tiêu sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quyết
định của người làm truyền thông về việc sẽ nói cái gì, cách thức nói, thời gian, địa điểm
và ai nói
1.1.4.2 Xác định mục tiêu truyền thông
Khi đã nhận diện được đối tượng mục tiêu, nhà marketing phải xác định mình
mong muốn nhận được phản ứng gì từ đối tượng mục tiêu? Tất nhiên, trong nhiều trường
hợp, đó là phản ứng mua hàng Nhưng có thể việc mua hàng chỉ có thể xảy ra sau cả
một quá trình ra quyết định khá lâu của người tiêu dùng Người làm truyền thông
marketing cần biết vị trí hiện tại của đối tượng mục tiêu và họ cần phải được di chuyển
đến giai đoạn nào Như trong Hình 1.3, đối tượng mục tiêu truyền thông có thể ở bất cứ
đâu trong các giai đoạn sẵn sàng của người mua, là những giai đoạn mà người tiêu dùng
thường trải qua quá trình quyết định mua hàng, bao gồm nhận thức, kiến thức, thích, ưu
ái, tin tưởng và mua hàng
Hình 1.3 Các giai đoạn sẵn sàng của người mua
Thị trường mục tiêu của người làm truyền thông marketing có thể hoàn toàn chưa
có khái niệm gì về sản phẩm ngoài tên sản phẩm hoặc một vài điều không đáng kể Như
vậy, trước tiên người làm truyền thông phải xây dựng nhận thức và kiến thức
Hãng xe hơi Kia tung ra chiến dịch marketing lớn nhất trong lịch sử của mình để
giới thiệu mẫu Sorento CUV 2011 được thiết kế lại Nhằm khơi gợi sự quan tâm và hứng
thú ban đầu của công chúng, trước tiên Kia cho phát đoạn quảng các 15 giây hàng tuần
trước ngày diễn ra sự kiện Đoạn phim không hề đề cập đến chiếc Sorento nhưng khép
lại bằng lời mời gọi khán giả “Hãy gặp chúng tôi vào hiệp thứ ba của trận chung kết
Kia, sức mạnh đáng kinh ngạc” Chiếc Sorento mới sau đó được công bố trong đoạn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16quảng cáo thương mại hoàn chỉnh dài 60 giây chiếu suốt sự kiện Super Bowl, nội dung
là cảnh những nhân vật của một bộ phim đến thăm nhiều địa điểm khác nhau tại Vegas
Cuối cùng, tất cả lại chỉ là một giấc mơ Những món đồ chơi trở lại bình thường, đặt bên
cạnh một đứa bé trên bang ghế sau của chiếc Sorento mới Đoạn quảng cáo kết thúc với
những cảnh quay nhanh khái quát lại những tính năng của mẫu Sorento thiết kế mới, sử
dụng công nghệ CUV, sản xuất tại Hoa Kỳ, tiết kiệm nhiên liệu, giá chỉ từ 29.000 đô la
Mỹ Tất cả các gói gọn trong câu khẩu hiệu “Cuộc khởi hành từ mong đợi”
Giả sử người tiêu dùng mục tiêu đã biết về sản phẩm, vậy họ cảm nhận như thế
nào? Khi khách hàng tiềm năng đã biết về mẫu Sorento mới, các nhà marketing của Kia
muốn đưa họ đến những giai đoạn mạnh hơn và khả năng thành công cao hơn của cảm
xúc đối với sản phẩm, đó là thích (cảm thấy ưa thích chiếc CUV này), ưu ái (thích
Sorento hơn những chiếc CUV khác) và tin tưởng (tin rằng Sorento là chiếc xe tốt nhất
cho họ) Kia đã kết hợp nhiều công cụ truyền thông marketing để tạo ra cảm xúc tích
cực và khơi gợi niềm tin của khách hàng Mẫu quảng cáo ban đầu đã khơi gợi ở mọi
người sự mong chờ và mối liên kết tình cảm với thương hiệu Quảng cáo in và quảng
cáo kỹ thuật số minh họa thiết kế và các tính năng của Sorento Thông cáo báo chí và
các hoạt động PR đảm bảo rằng khách hàng luôn cảm thấy thích thú với sản phẩm Trang
web có đầy đủ thông tin cho người mua tiềm năng biết về thông số kỹ thuật, tính năng
và các tùy chọn, xếp hạng an toàn và giá cả Lực lượng bán hàng ở các đại lý trình bày
với người mua về giá trị, các gói tùy chọn, giá cả và dịch vụ hậu mãi
Cuối cùng, một số khách hàng tiềm năng có thể đã thích sản phẩm nhưng chưa
quyết định mua Khách hàng tiềm năng có thể cần thêm thông tin hoặc chờ tình hình
kinh tế khá hơn Người làm truyền thông phải dẫn dắt những đối tượng này đến bước
cuối cùng, có thể bằng cách áp dụng giá khuyến mãi đặc biệt, chiết khấu hoặc tặng phí
bảo hiểm Đại lý có thể gọi điện, viết thư hoặc thư điện tử để mời khách hàng đến thăm
phòng trưng bày Các trang web Sorento thậm chí còn tặng quà nếu khách hàng đăng ký
lái thử tại đại lý Kia địa phương
Tất nhiên, chỉ hoạt động truyền thông marketing không thể tạo ra cảm xúc tích
cực và làm khách hàng quyết định mua Chiếc xe phải cung cấp giá trị ưu việt cho khách
hàng Trên thực tế, chiến lược truyền thông marketing khiến một sản phẩm kém cỏi sụp
đổ nhanh hơn Người mua tiềm năng càng nhanh chóng biết được về sản phẩm nghèo
nàn đó thì họ càng nhanh chóng nhận ra những thiếu sót của nó Như vậy, truyền thông
marketing tốt kêu gọi “những việc làm tốt theo sau những lời nói tốt”
1.1.4.3 Thiết kế thông điệp
Sau khi xác định phản ứng mong muốn từ khán giả, người làm truyền thông phải
thiết kế thông điệp hiệu quả Thông điệp phải thu hút được sự chú ý, duy trì được sự
hứng thú, khơi dậy sự ham muốn và dẫn tới hành động (được gọi là mô hình AIDA, viết
tắt của các từ Attention Interest, Desire và Action) Trong thực tế, không nhiều thông
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17điệp lôi kéo người tiêu dùng đi hết chặng đường từ nhận thức đến mua hàng, nhưng mô
hình AIDA cho biết những đặc điểm lý tưởng để có thông điệp tốt
Khi thiết kế thông điệp, người làm truyền thông marketing phải quyết định sẽ nói
cái gì (nội dung thông điệp) và nói như thế nào (cấu trúc và định dạng thông điệp)?
- Nội dung thông điệp: nhà marketing phải tìm ra điểm hấp dẫn hoặc chủ đề sẽ
đem lại phản ứng mong muốn từ khán giả mục tiêu Có ba dạng lôi cuốn: lý trí, tình cảm
và đạo đức Dạng lôi cuốn lý trí liên quan đến lợi ích cá nhân của khán giả Doanh
nghiệp cần cho thấy sản phẩm sẽ đem lại những lợi ích mong muốn cho khán giả bằng
việc thể hiện chất lượng, tính kinh tế, giá trị hoặc hiệu quả của sản phẩm Sự lôi cuốn
cảm xúc cố gắng khuấy động cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực có khả năng thúc đẩy hành
vi mua hàng Người làm truyền thông có thể sử dụng nhiều hình thức lôi cuốn cảm xúc
khác nhau từ tình yêu, niềm vui, sự hài hước tới cảm giác sợ hãi và tội lỗi Những người
ủng hộ thông điệp cảm xúc cho rằng đối tượng mục tiêu dễ dàng bị thu hút và tin tưởng
hơn vào nhà tài trợ lẫn thương hiệu Dạng lôi cuốn này xuất phát từ ý tưởng người tiêu
dùng thường cảm nhận trước rồi mới suy nghĩ và bản chất của sự thuyết phục thuộc về
tình cảm của con người Sự lôi cuốn đạo đức nhắm vào cảm giác của khán giả về những
gì “đúng” và “phù hợp” Chúng thường được sử dụng để thúc giục mọi người hỗ trợ các
hoạt động thiện nguyện hay hoạt động xã hội khác
Ngày nay, nhiều doanh nghiệp muốn đưa sự hài hước vào chương trình quảng
cáo Tuy nhiên, nhà marketing cần thận trọng khi áp dụng cách này Nếu làm không tốt,
sự hài hước có thể làm khán giả xao nhãng và không hiểu nội dung của quảng cáo, từ
đó họ nhanh chóng mất cảm tình với quảng cáo, làm lu mờ sản phẩm và thậm chí khiến
mọi người khó chịu
- Cấu trúc thông điệp: Nhà marketing cần quyết định cách xử lý ba vấn đề về cấu
trúc thông điệp Đầu tiên là có nên đưa kết luận hay để cho khán giả tự làm điều đó
Nghiên cứu cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp, thay vì đưa ra kết luận thì nhà quảng
cáo nên đặt câu hỏi và để người mua đi đến kết luận riêng của họ Vấn đề thứ hai là nên
trình bày những lý lẽ mạnh nhất ngay lúc đầu tiên hay để đến cuối cùng Trình bày trước
sẽ tạo được sự chú ý mạnh mẽ nhưng có thể dẫn đến kết thúc hụt hẫng và nhạt nhòa
Vấn đề thứ ba là nên trình bày lý lẽ một chiều hay hai chiều, tức là chỉ đề cập đến những
điểm mạnh hay vừa ca ngợi điểm mạnh đồng thời cũng thừa nhận hạn chế của sản phẩm
Thông thường, lý lẽ một chiều hiệu quả hơn cho doanh số bán hàng, trừ khi khán giả có
trình độ học vấn cao, thích nghe tranh luận phản biện hoặc khi người làm truyền thông
cần phải khắc phục một kết luận phủ định Trong những trường hợp này, thông điệp hai
chiều có thể tăng cường độ tin cậy của nhà quảng cáo và làm cho người mua kiên cường
hơn trước sự tấn công của đối thủ cạnh tranh
- Định dạng thông điệp: Người làm truyền thông marketing cũng cần định dạng
mạnh mẽ cho thông điệp của mình Trong quảng cáo in, truyền thông phải quyết định
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18tạo sự mới lạ và tương phản, hình ảnh, tiêu đề bắt mắt, định dạng đặc biệt, kích thước
và vị trí của thông điệp, hình dạng, màu sắc, sự chuyển động Nếu thông điệp được thực
hiện trên đài phát thanh, người làm truyền thông phải lựa chọn từ ngữ, âm thanh, phát
thanh viên “Âm thanh của quảng cáo về dịch vụ ngân hàng phải khác với “âm thanh”
của quảng cáo ô tô
Nếu thông điệp được thực hiện trên truyền hình hoặc trực tiếp đến người tiêu
dùng, tất cả những yếu tố trên cộng với ngôn ngữ cơ thể phải được lên kế hoạch trước
Người trình bày phải lên kế hoạch đến từng chi tiết, từ biểu cảm gương mặt, cử chỉ,
trang phục, tư thế đến kiểu tóc Nếu thông điệp được đưa ra trên bao bì sản phẩm, người
làm truyền thông phải xem xét kết cấu, mùi hương, màu sắc, kích thước và hình dạng
Như vậy, để thiết kế chiến dịch truyền thông hiệu quả, nhà marketing phải hết sức cẩn
thận khi cân nhắc màu sắc và những chi tiết nhỏ khác
1.1.4.4 Lựa chọn phương tiện truyền thông marketing
Nhà marketing cần quyết định sử dụng hai phương tiện truyền thông marketing
chính, bao gồm kênh truyền thông marketing cá nhân và kênh truyền thông marketing
đại chúng
- Kênh truyền thông marketing cá nhân: Trong kênh này, hai hoặc nhiều người
trực tiếp giao tiếp với nhau qua bán hàng cá nhân, qua điện thoại, qua thư hoặc thư điện
tử, qua phương tiện “chat” trên internet Kênh truyền thông cá nhân hiệu quả vì nó cho
phép doanh nghiệp tiếp cận và phản hồi với từng cá nhân một Đối tượng giao tiếp trong
truyền thông marketing cá nhân có thể là khách hàng, chuyên gia độc lập (người bảo vệ
người tiêu dùng, người hướng dẫn mua hàng trực tuyến, ) hoặc người thường xuyên
tương tác với khách hàng (hàng xóm, bạn bè, người thân, đồng nghiệp) Ảnh hưởng
truyền miệng ngày càng có tác động đáng kể trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sản phẩm
đắt tiền, nhiều rủi ro hoặc xuất hiện nhiều trên thị trường
Trong bối cảnh ngày nay, việc doanh nghiệp thường xuyên khẳng định mình
thông qua thông điệp quảng cáo không có ý nghĩa nhiều như trước đây vì khách hàng
cần tìm hiểu người khác nói gì về sản phẩm Thế giới này không đáng tin Đó là lý do
tại sao “người thân hoặc bạn bè” luôn đúng trong top đầu các cuộc khảo sát về yếu tố
ảnh hưởng đến hành vi tiêu tiêu dùng
- Kênh truyền thông marketing đại chúng: đây là kênh chuyển tải thông điệp
marketing đến cộng đồng người hay nhóm người trong xã hội Truyền thông marketing
đại chúng bao gồm các phương tiện truyền thông lớn, bầu không khí và các sự kiện
Phương tiện truyền thông lớn bao gồm: Truyền thông in ấn (báo, tạp chí, gửi thư trực
tiếp), truyền thông phát sóng (đài phát thanh, truyền hình), truyền thông hiển thị (bảng
quảng cáo, bảng hiệu, áo phích) và truyền thông trực tuyến (thư điện tử, trang web của
doanh nghiệp, mạng xã hội và mạng chia sẻ) Bầu không khí là môi trường được thiết
kế để tạo ra hoặc tăng cường khuynh hướng của người mua đối với sản phẩm Sự kiện
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19được tổ chức nhằm chuyển tải thông điệp đến khán giả mục tiêu Ví dụ, bộ phận PR tổ
chức các buổi khai trương, trưng bày triển lãm, tham quan công cộng và các sự kiện
khác
Truyền thông maketing đại chúng tác động trực tiếp đến người mua Ngoài ra,
việc sử dụng phương tiện truyền thông marketing đại chúng thường ảnh hưởng gián tiếp
đến người mua bằng cách dẫn đến những hình thức truyền thông mang tính cá nhân hơn
Ví dụ, thông điệp đầu tiên có thể đi từ truyền hình, tạp chí và các phương tiện thông tin
đại chúng khác tới những người dẫn dắt dư luận, từ đó lan tới những người khác Như
vậy, những người dẫn dắt dư luận đã chen vào giữa phương tiện truyền thông marketing
đại chúng và khán giả, mang thông điệp đến những người ít tiếp xúc với phương tiện
truyền thông Một điều thú vị là các chuyên gia marketing thường sử dụng truyền thông
marketing đại chúng để thay thế hoặc kích thích truyền thông marketing cá nhân bằng
cách đưa sự xác nhận hoặc lời chứng thực “truyền miệng” của người tiêu dùng vào
quảng cáo và các hoạt động marketing khác của mình
1.1.4.5 Lựa chọn nguồn thông điệp
Trong truyền thông marketing cá nhân lẫn truyền thông marketing đại chúng, tác
động của thông điệp còn phụ thuộc vào việc đối tượng mục tiêu nghĩ gì về người phát
đi thông điệp Nếu đó là những nguồn đáng tin cậy thì sức thuyết phục cao hơn Vì vậy,
nhiều doanh nghiệp thực phẩm “chăm sóc” các bác sĩ, nha sĩ và nhà cung cấp dịch vụ
chăm sóc sức khỏe khác để tạo động cơ cho những chuyên gia này giới thiệu sản phẩm
đến bệnh nhân Còn chuyên gia marketing có thể thuê người nổi tiếng làm đại diện, như
các vận động viên, diễn viên, ca sĩ và thậm chí cả nhân vật phim hoạt hình để chuyển
tải thông điệp đến khách hàng mục tiêu và giới công chúng
Tuy nhiên, doanh nghiệp phải rất cẩn thận khi lựa chọn người nổi tiếng làm đại
diện thương hiệu Sai lầm trong việc lựa chọn người phát ngôn dẫn đến uy tín và hình
ảnh doanh nghiệp bị tổn thất Một chuyên gia marketing cho biết: “Cuộc hôn nhân được
sắp đặt giữa các thương hiệu và người nổi tiếng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro” Chuyên gia
khác thì nói: “99% số người nổi tiếng mang lại rất nhiều lợi ích cho thương hiệu họ đại
diện, còn 1% đi chệch đường ray” Ví dụ, ban lãnh đạo thương hiệu Gillette của hãng
P&G đã quyết định không tiếp tục gia hạn hợp đồng quảng cáo với tay golf người Mỹ
Tiger Woods và cầu thủ bóng đá người Pháp Thierry Henry vì hai người này dính đến
những vụ bê bối Tiger Woods đã li dị vợ sau vụ bê bối tình dục còn Thierry Henry dính
vào scandal sau vụ “chạm tay” đưa bóng vào lưới trong trận đấu vé vớt với Cộng hòa
Ailen để giành quyền tham gia World Cup 2010 ở Nam Phi
1.1.4.6 Thu thập phản hồi
Sau khi phát đi thông điệp, người làm truyền thông phải nghiên cứu hiệu ứng đối
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20thông điệp hay không? Họ nhìn thấy bao nhiêu lần? Họ nhớ lại điều gì và cảm thấy thế
nào về thông điệp? Thái độ trong quá khứ và hiện tại của khán giả đối với sản phẩm và
doanh nghiệp? Người làm truyền thông cũng muốn đo lường hành vi phát sinh từ thông
điệp như có bao nhiêu người đã mua? Bao nhiêu người nói về sản phẩm với người khác?
Bao nhiêu người đến thăm cửa hàng bán lẻ? Thông qua những phản hồi này, nhà
marketing có những điều chỉnh để phục vụ khách hàng tốt hơn
1.1.4.7 Tích hợp các công cụ truyền thông marketing
Nội dung trên thảo luận cách xác định ngân sách truyền thông Bây giờ doanh
nghiệp phải quyết định làm thế nào để phối hợp các công cụ truyền thông có hiệu quả?
Khái niệm truyền thông marketing tích hợp cho thấy doanh nghiệp phải kết hợp
các công cụ truyền thông để hoạt động hài hòa và đồng bộ Do đó, nhà marketing cần
xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn công cụ truyền thông marketing,
bao gồm: (1) Bản chất của công cụ truyền thông marketing, (2) Chiến lược kéo hay
chiến lược đẩy, (3) Dạng sản phẩm/ thị trường và (4) Giai đoạn trong chu kỳ sống sản
phẩm
Thứ nhất, bản chất của công cụ truyền thông marketing
Mỗi công cụ đều có đặc điểm và chi phí riêng Chuyên gia marketing phải hiểu
rõ những điều này khi tích hợp các công cụ truyền thông marketing
Quảng cáo có thể tiếp cận số đông người mua hàng trên nhiều vùng địa lý với chi
phí thấp cho mỗi lần tiếp xúc và người bán có thể lặp đi lặp lại thông điệp nhiều lần
Quảng cáo truyền hình có thể tiếp cận một số lượng khán giả khổng lồ Đối với những
doanh nghiệp muốn tiếp cận khán giả đại chúng thì truyền hình chính là lựa chọn phù
hợp Ngoài phạm vi tiếp cận, quảng cáo còn đem lại lợi ích về quy mô, danh tiếng và
thành công của người bán Do bản chất công cộng của quảng cáo, người tiêu dùng có
xu hướng dễ chấp nhận sản phẩm được quảng cáo hơn Quảng cáo cũng có khả năng
diễn cảm rất tốt, cho phép doanh nghiệp nâng tầm sản phẩm của mình thông qua việc
sử dụng khéo léo những hình ảnh, tác phẩm in ấn, âm thanh và màu sắc Một mặt, quảng
cáo có thể được dùng để xây dựng hình ảnh lâu dài cho sản phẩm hoặc có thể làm tăng
doanh số bán hàng nhanh chóng
Quảng cáo cũng có một số hạn chế Mặc dù tiếp cận được nhiều người nhanh
chóng nhưng quảng cáo không thể thuyết phục khách hàng cụ thể giống nhân viên bán
hàng Quảng cáo là kênh giao tiếp một chiều nên khán giả không cảm thấy cần phải chú
ý hoặc phản ứng lại Một số kênh quảng cáo như báo chí và đài phát thanh có thể ít chi
phí nhưng quảng cáo truyền hình thì tốn kém hơn
Bán hàng cá nhân là công cụ hiệu quả nhất trong một số giai đoạn của quá trình
mua hàng, đặc biệt là khi doanh nghiệp thuyết phục khách hàng tin tưởng và mua hàng
Đây là hoạt động tương tác cá nhân giữa hai hoặc nhiều người, để mỗi người có thể quan
sát nhu cầu và đặc điểm của người khác rồi nhanh chóng điều chỉnh cho phù hợp Bán
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21hàng cá nhân cũng cho phép các loại quan hệ khách hàng hình thành và phát triển từ
quan hệ mua bán “tiền trao cháo múc” hay tình bạn cá nhân Để bán hàng hiệu quả, nhân
viên phải nhớ những sở thích của khách hàng để xây dựng mối quan hệ lâu dài Cuối
cùng, với bán hàng cá nhân, người mua cảm thấy cần lắng nghe và phản ứng lại nhiều
hơn, thậm chí chỉ là câu nói “Không, cảm ơn”
Thông thường, lực lượng bán hàng đòi hỏi sự cam kết với khách hàng mang tính
dài hạn hơn so với quảng cáo Quảng cáo có thể dễ dàng thay đổi, ngược lại quy mô lực
lượng bán hàng thì khó thay đổi hơn Bán hàng cá nhân cũng là công cụ truyền thông
marketing tốn kém nhất của doanh nghiệp Chẳng hạn, tại Mỹ chi phí bình quân mỗi lần
giao dịch của bán hàng cá nhân thấp nhất là 350 đô la Mỹ, tùy thuộc vào ngành Trong
ngân sách truyền thông marketing của các doanh nghiệp, chỉ tiêu cho bán hàng cá nhân
nhiều hơn gấp ba lần so với quảng cáo
Khuyến mãi bao gồm nhiều công cụ đa dạng như phiếu giảm giá, các cuộc thi,
mua hàng tiết kiệm và nhiều hình thức khác Khuyến mãi thu hút sự chú ý của người
tiêu dùng, tạo ra động lực mua hàng mạnh mẽ và làm tăng tính hấp dẫn của sản phẩm
nhằm vực dậy doanh số bán hàng Khách hàng thường phản ứng nhanh chóng khi tiếp
xúc với chương trình khuyến mãi Trong khi quảng cáo nói rằng “Hãy mua sản phẩm
của chúng tôi” thì khuyến mãi nói là “Hãy mua ngay bây giờ” Tuy nhiên, khuyến mãi
thường chỉ hiệu quả trong ngắn hạn và không có lợi cho việc xây dựng thương hiệu hay
tạo mối quan hệ khách hàng so với quảng cáo và bán hàng cá nhân
PR rất đáng tin cậy Đối với độc giả, dường như những câu chuyện thời sự, những
hình mẫu, những chương trình tài trợ và sự kiện luôn thực tế và đáng tin hơn quảng cáo
PR có thể tiếp cận những người khó tính khi họ không thích nhân viên bán hàng và
quảng cáo do thông điệp được truyền thông dưới dạng tin tức nhiều hơn là lời kêu gọi
mua hàng Cũng như quảng cáo, PR có thể nâng tầm hình ảnh thương hiệu Tuy nhiên,
nhiều nhà marketing sử dụng chưa hết tiềm năng hoặc chỉ xem PR là biện pháp chữa
cháy Nếu chiến dịch PR được cân nhắc kỹ lưỡng kết hợp với các yếu tố khác trong
truyền thông marketing có thể đem lại hiệu quả tốt cho doanh nghiệp
Có nhiều hình thức marketing trực tiếp như thư gửi trực tiếp, catalogue,
marketing trực tuyến, marketing qua điện thoại cùng nhiều hình thức khác Marketing
trực tiếp có các đặc điểm: tính đại chúng thấp vì thông điệp thường hướng tới một cá
nhân cụ thể, mang tính tức thời có thể tùy chỉnh thông điệp khi tiếp xúc đối tượng mục
tiêu và có tính tương tác cao Như vậy, marketing trực tiếp rất phù hợp trong việc xây
dựng mối quan hệ khách hàng
Thứ hai, chiến lược marketing kéo và chiến lược marketing đẩy
Nhà marketing có thể lựa chọn giữa hai chiến lược là marketing kéo hoặc
marketing đẩy hoặc phối hợp cả hai Với marketing đẩy, nhà sản xuất đưa sản phẩm qua
trung gian phân phối rồi đến người tiêu dùng Nhà sản xuất tổ chức các hoạt động
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22marketing, chủ yếu là bán hàng cá nhân và khuyến mãi cho trung gian, hướng đến trung
gian phân phối và thuyết phục họ đưa sản phẩm đến người tiêu dùng
Khi sử dụng chiến lược marketing kéo, nhà sản xuất tổ chức hoạt động marketing,
chủ yếu là quảng cáo và khuyến mãi cho người tiêu dùng, hướng đến người tiêu dùng
để kích thích họ mua nhiều sản phẩm Nếu chiến lược kéo hiệu quả, người tiêu dùng sẽ
hỏi mua sản phẩm này từ các nhà bán lẻ, đến lượt mình, nhà bán lẻ sẽ yêu cầu nhà sản
xuất cung cấp sản phẩm Như vậy, nhu cầu của người tiêu dùng “kéo” sản phẩm từ nhà
sản xuất thông qua trung gian phân phối
Một số doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp chỉ sử dụng chiến lược đẩy trong
khi một số doanh nghiệp marketing trực tiếp chỉ sử dụng chiến lược kéo Tuy nhiên, hầu
hết các doanh nghiệp lớn sử dụng kết hợp cả hai Ví dụ, Unilever dành 2,4 tỷ đô la Mỹ
cho quảng cáo và khuyến mãi ở thị trường Mỹ để giành được sự ưu ái và kéo khách
hàng đến cửa hàng bán lẻ Đồng thời, hãng này cũng huy động lực lượng bán hàng của
mình và của nhà phân phối, kết hợp với khuyến mãi nhằm đẩy sản phẩm qua trung gian
để có sẵn trên kệ hàng khi người tiêu dùng tìm kiếm Trong những năm gần đây, do tình
hình kinh tế khó khăn và doanh số sụt giảm, nhiều doanh nghiệp hàng tiêu dùng đang
giảm dần việc sử dụng chiến lược kéo (xây dựng thương hiệu tốt hơn) để chuyển sang
chiến lược đẩy Điều này dấy lên mối lo ngại là doanh nghiệp phải đánh đổi việc xây
dựng thương hiệu lâu dài để có được doanh số ngắn hạn
Hình 1.4 So sánh chiến lược marketing kéo và marketing đẩy
Thứ ba, thị trường tiêu dùng hay thị trường doanh nghiệp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Các công cụ truyền thông marketing có tầm quan trọng khác nhau tùy thuộc đó
là thị trường tiêu dùng (B2C) hay thị trường kinh doanh (B2B) Thông thường, doanh
nghiệp B2C sử dụng chiến lược marketing “kéo” nhiều hơn bằng cách chi nhiều tiền
vào quảng cáo rồi khuyến mãi, bán hàng cá nhân và cuối cùng là PR Ngược lại, doanh
nghiệp B2B sử dụng marketing “đẩy” theo cách chi nhiều tiền hơn cho bán hàng cá
nhân, tiếp theo là xúc tiến thương mại, quảng cáo và PR Nhìn chung, bán hàng cá nhân
được sử dụng trong trường hợp mặt hàng đắt tiền và rủi ro cao hoặc trong những thị
trường có quy mô lớn và ít người bán
Thứ tư, giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm
Hiệu quả của mỗi công cụ truyền thông marketing cũng khác nhau tùy thuộc các
giai đoạn trong chu kỳ sống sản phẩm Trong giai đoạn giới thiệu, quảng cáo và PR tốt
cho việc xây dựng nhận thức khách hàng, khuyến mãi phù hợp với giai đoạn thử nghiệm
ban đầu, bán hàng cá nhân được sử dụng để thuyết phục nhà bán lẻ chịu trưng bày và
bán sản phẩm Trong giai đoạn tăng trưởng, quảng cáo và PR vẫn có tác động tốt và nên
giảm bớt khuyến mãi vì không cần “đẩy” nhiều nữa Với giai đoạn bão hòa, khuyến mãi
trở nên quan trọng hơn quảng cáo Vì người mua đã biết đến thương hiệu nên quảng cáo
nhắc nhở được nhà marketing sử dụng Cuối cùng, trong giai đoạn suy thoái, quảng cáo
được duy trì ở mức nhắc nhở, PR cần được loại bỏ và nhân viên bán hàng không chú ý
nhiều đến sản phẩm nữa Tuy nhiên, khuyến mãi có thể tiếp tục được đẩy mạnh
Sau khi dự kiến ngân sách và lập kế hoạch, nhà marketing cần kết hợp các công
cụ truyền thông marketing để chuyển tải thông điệp và lợi thế bán hàng độc nhất của
doanh nghiệp Việc tích hợp các công cụ cần xuất phát từ khách hàng Cho dù quảng
cáo, bán hàng cá nhân, khuyến mãi, PR hay marketing trực tiếp thì thông điệp và chiến
lược định vị phải được chuyển tải thống nhất tại tất cả các điểm tiếp xúc với người tiêu
dùng Truyền thông marketing tích hợp đảm bảo rằng các hoạt động truyền thông sẽ
được thực hiện vào bất cứ khi nào, tại bất cứ nơi đâu và bằng bất cứ cách nào mà khách
hàng cần
Để tích hợp hiệu quả các công cụ truyền thông marketing, tất cả bộ phận chức
năng của doanh nghiệp phải hợp tác để cùng thực hiện Thậm chí, nhiều doanh nghiệp
còn đưa khách hàng, nhà cung cấp và các bên liên quan vào những giai đoạn khác nhau
của quá trình lập kế hoạch truyền thông marketing Các hoạt động truyền thông nhỏ lẻ,
rời rạc sẽ không tốt vì làm loãng thông tin và rối loạn định vị Ngược lại, truyền thông
marketing tích hợp sẽ tối đa hóa ảnh hưởng kết hợp của tất cả những nỗ lực của doanh
nghiệp đến công chúng mục tiêu
Bên cạnh đó, trong quá trình hình thành hoạt động truyền thông marketing tích
hợp, doanh nghiệp phải ý thức được vấn đề pháp lý và đạo đức liên quan Hầu hết các
nhà marketing đều nỗ lực để giao tiếp cởi mở, trung thực với người tiêu dùng và trung
gian Tuy nhiên, những hành vi sai trái hoàn toàn có thể xảy ra và các nhà hoạch định
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24chính sách công đã phát triển hành lang pháp lý nhằm quản lý hoạt động quảng cáo,
khuyến mãi, bán hàng cá nhân và marketing trực tiếp
1.1.5 Những công cụ chủ yếu của truyền thông marketing
1.1.5.1 Quảng cáo
a Khái niệm
Quảng cáo là hình thức giới thiệu và truyền thông đại chúng về ý tưởng, sản
phẩm, dịch vụ do một cá nhân hay tổ chức chi tiền để thực hiện
Quảng cáo xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử loài người Các nhà khảo cổ ven bờ
Địa Trung Hải phát hiện nhiều bằng chứng về lời chào và thông báo cho các sự kiện
Vào thời Hy Lạp cổ đại, con người đã sử dụng lời rao để bán gia súc và mỹ phẩm Người
La Mã còn biết dùng sơn để vẽ lên tường thông báo về cuộc chiến của các đấu sĩ Tuy
nhiên, quảng cáo ngày nay rất khác xa Theo ước tính cho thấy hàng năm các nhà quảng
cáo Hoa Kỳ chi hơn 148 tỷ đô la Mỹ cho các phương tiện quảng cáo đo lường được
Tổng chi phí quảng cáo dự kiến trên toàn thế giới đã vượt quá con số 450 tỷ đô la Mỹ
Trong năm 2010, công ty P&G đã chi khoảng 4,2 tỷ đô la Mỹ cho quảng cáo tại thị
trường Hoa Kỳ và khoảng 9,7 tỷ đô la Mỹ trên toàn thế giới (Philip Kotler và Gary
Armstrong, 2012)
Không chỉ được sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh, quảng cáo còn được các tổ
chức phi lợi nhuận, vận động viên chuyên nghiệp hay cơ quan chính quyền sử dụng
quảng cáo để truyền bá thông điệp đến công chúng mục tiêu Doanh nghiệp làm quảng
cáo theo nhiều cách khác nhau Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phân công một
cá nhân ở bộ phận kinh doanh phụ trách hoạt động quảng cáo Doanh nghiệp lớn và kinh
doanh bài bản thường có bộ phận phụ trách quảng cáo Một số nhiệm vụ chính của bộ
phận này là lập kế hoạch quảng cáo, xét duyệt nội dung quảng cáo, thực hiện quảng cáo
qua thư điện tử, thư gửi trực tiếp và các hình thức khác mà nhà cung cấp dịch vụ quảng
cáo không làm Hầu hết doanh nghiệp đều sử dụng dịch vụ quảng cáo từ các nhà cung
cấp chuyên nghiệp trên thị trường
b Các quyết định chính trong quảng cáo
Khi xây dựng chương trình quảng cáo, nhà marketing phải cân nhắc năm quyết
định quan trọng sau:
(1) Xác định mục tiêu quảng cáo
(2) Xác định ngân sách quảng cáo
(3) Thiết kế thông điệp quảng cáo
(4) Lựa chọn phương tiện truyền thông
(5) Đo lường hiệu quả quảng cáo
Quyết định 1: Xác định mục tiêu quảng cáo
Quảng cáo thông tin được sử dụng rất nhiều khi giới thiệu một loại sản phẩm
mới, thông báo thay đổi giá, xây dựng hình ảnh thương hiệu hoặc mô tả chính sách dịch
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25vụ hỗ trợ đang có của doanh nghiệp Ví dụ, chiến dịch truyền thông của nhãn hiệu nước
tương Chinsu thuộc tập đoàn Masan cung cấp thông tin cho khách hàng là “sản phẩm
không chứa 3MCPD” trong bối cảnh thị trường xuất hiện tin đồn nước tương chứa chất
gây ung thư 3MCPD
Quảng cáo thuyết phục trở nên quan trọng khi mức độ cạnh tranh tăng lên Ở đây,
mục tiêu của doanh nghiệp là hình thành nhu cầu lựa chọn Một số quảng cáo thuyết
phục đã trở thành quảng cáo so sánh (hoặc quảng cáo tấn công), trong đó doanh nghiệp
trực tiếp hoặc gián tiếp so sánh thương hiệu của mình với một hoặc nhiều thương hiệu
khác Ví dụ, Trung Nguyên sử dụng phương pháp “thử nghiệm mù” đối với cà phê hòa
tan G7 khi muốn so sánh với cà phê hòa tan Netcafe của Nestle
Nhà quảng cáo nên thận trọng khi sử dụng quảng cáo so sánh vì dễ khiến đối thủ
cạnh tranh phản ứng Cuộc chiến quảng cáo sẽ nổ ra mà không bên nào giành chiến
thắng Những đối thủ cạnh tranh “bị đụng chạm” có thể hành động quyết liệt như khiếu
nại để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ
Bảng 1.1 Các mục tiêu quảng cáo Quảng cáo thông tin nhằm chuyển tải giá trị dành cho khách hàng, xây dựng hình ảnh
thương hiệu, cung cấp thông tin về sản phẩm mới, giải thích cách hoạt động của sản
phẩm, gợi ý những công dụng mới của sản phẩm, thông báo thay đổi giá, điều chỉnh
những ấn tượng sai lầm,
Quảng cáo thuyết phục để thuyết phục khách hàng mua ngay, khuyến khích khách
hàng chuyển sang thương hiệu khác, thay đổi cảm nhận khách hàng về giá trị sản
phẩm,
Quảng cáo nhắc nhở nhằm duy trì quan hệ khách hàng, nhắc khách hàng họ có thể
cần đến sản phẩm trong thời gian sắp tới, duy trì hình ảnh thương hiệu vào mua thấp
điểm,
Quảng cáo nhắc nhở quan trọng đối với sản phẩm ở giai đoạn bão hòa để giúp
duy trì quan hệ khách hàng và hình ảnh thương hiệu Những quảng cáo truyền hình rất
tốn kém của hãng Coca hướng đến mục tiêu nhắc nhở là phần lớn chứ không hướng đến
mục tiêu ngắn hạn là thông báo hay thuyết phục
Mục tiêu của quảng cáo là góp phần thúc đẩy người tiêu dùng di chuyển qua các
bước trong quá trình mua hàng Một số quảng cáo được thiết kế để khuyến khích người
xem hành động tức thì Ví dụ, quảng cáo truyền hình phản hồi trực tiếp của kênh truyền
hình mua sắm “Sự lựa chọn hoàn hảo” kêu gọi người tiêu dùng nhấc điện thoại và đăng
ký ngay lập tức, còn tờ rơi thông báo giảm giá cuối tuần mà siêu thị Big C gửi đến các
hộ gia đình nhằm khuyến khích mọi người đến siêu thị mua sắm Tuy nhiên, nhiều quảng
cáo tập trung vào xây dựng hoặc tăng cường mối quan hệ khách hàng lâu dài Ví dụ,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26của Nike vượt qua những thử thách khắc nghiệt không bao giờ trực tiếp gợi ý khán giả
mua sản phẩm Thay vào đó, mục tiêu nhằm đến việc thay đổi suy nghĩ hoặc cảm nhận
của khách hàng về thương hiệu
Quyết định 2: Xác định ngân sách quảng cáo
Ngân sách quảng cáo là tiền và các nguồn lực khác được phân bổ cho hoạt động
quảng cáo của doanh nghiệp Sau khi xác định được mục tiêu quảng cáo, tiếp theo doanh
nghiệp cần dự trù ngân sách quảng cáo cho từng sản phẩm
Ngân sách quảng cáo thường phụ thuộc vào sản phẩm đang ở giai đoạn nào trong
vòng đời Ví dụ, sản phẩm mới thường cần ngân sách quảng cáo lớn để xây dựng nhận
thức và khuyến khích khách hàng dùng thử Ngược lại, thương hiệu đã bão hòa thường
đòi hỏi tỷ lệ phần trăm trong doanh thu bán hàng thấp hơn Thị phần cũng ảnh hưởng
đến số tiền cần chi cho quảng cáo Xây dựng thị phần hoặc chiếm thị phần từ đối thủ đòi
hỏi chi phí quảng cáo lớn hơn so với việc duy trì thị phần hiện tại Những thương hiệu
chiếm thị phần nhỏ thường chi một tỷ lệ phần trăm cao hơn trong doanh thu bán hàng
cho quảng cáo Ngoài ra, trong thị trường nhiều đối thủ cạnh tranh và mức độ hỗn loạn
quảng cáo cao, thương hiệu cần phải quảng cáo mạnh mẽ hơn thì mới thu hút được sự
chú ý của mọi người Loại sản phẩm ít có sự khác biệt cần quảng cáo nhiều để làm nổi
bật (ví dụ, bột giặt), với những sản phẩm có sự khác biệt nhiều, quảng cáo nên được sử
dụng để cho người tiêu dùng thấy sự khác biệt (ví dụ, ô tô)
Quyết định 3: Thiết kế thông điệp quảng cáo
Trong quá khứ, doanh nghiệp cho rằng việc lựa chọn phương tiện truyền thông
được thực hiện sau thiết kế thông điệp quảng cáo Trước tiên, bộ phận sáng tạo nghĩ ra
một chương trình quảng cáo tốt, sau đó bộ phận truyền thông lựa chọn và trả tiền cho
những phương tiện truyền thông tối ưu để đăng tải quảng cáo tới khán giả mục tiêu Quy
trình này thương gây ra va chạm giữa hai bộ phận nói trên
Bất kể ngân sách lớn đến đâu thì quảng cáo chỉ có thể thành công khi thu hút
được sự chú ý và thông tin hiệu quả Thông điệp quảng cáo tốt đặc biệt quan trọng trong
môi trường quảng cáo tốn kém và lộn xộn ngày nay Nhà quảng cáo không còn nhồi
nhét những thông điệp quảng cáo cũ kỹ và nhàm chán vào đầu người tiêu dùng thông
qua các phương tiện truyền thông truyền hống Giờ đây, chỉ riêng việc làm sao để người
xem chịu để mắt tới và nán lại xem quảng cáo thôi cũng đòi hỏi thông điệp quảng cáo
phải được lên kế hoạch tốt hơn, giàu sức tưởng tượng hơn, tính giải trí cao hơn và lôi
cuốn hơn về mặt cảm xúc Nếu chỉ chen ngang hay làm phiền người tiêu dùng thì sẽ
không thu được kết quả tích cực từ khán giả Trừ khi quảng cáo cung cấp thông tin bổ
ích thú vị, còn không thì nhiều người sẽ bỏ qua ngay lập tức
Quyết định 4: Lựa chọn phương tiện truyền thông
Đây là các phương tiện truyền thông giúp chuyển tải thông điệp quảng cáo đến
khản giả mục tiêu Các bước chính trong việc lựa chọn phương tiện quảng cáo:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27(1) Xác định phạm vi, tần suất và ảnh hưởng: để lựa chọn phương tiện truyền
thông, nhà quảng cáo phải xác định phạm vi và tần suất cần thiết để đạt được các mục
tiêu quảng cáo Phạm vi là tỷ lệ phần trăm người dân trong thị trường mục tiêu được
tiếp xúc với chiến dịch quảng cáo trong một thời gian nhất định Ví dụ, nhà quảng cáo
có thể cố gắng đạt được 60% thị trường mục tiêu trong hai tháng đầu của chiến dịch
Tần suất là thước đo trung bình một người trong thị trường mục tiêu sẽ tiếp xúc bao
nhiêu lần với thông điệp Ví dụ, nhà quảng cáo có thể muốn tần số tiếp xúc trung bình
là ba lần
(2) Lựa chọn giữa các loại truyền thông chính: người lập kế hoạch truyền thông
phải biết phạm vi, tần suất và ảnh hưởng của từng loại phương tiện truyền thông chủ
yếu Mỗi phương tiện có ưu điểm và nhược điểm riêng Những người lập kế hoạch
truyền thông cần xem xét nhiều yếu tố khi lựa chọn phương tiện truyền thông Họ muốn
chọn phương tiện truyền thông có thể chuyển tải thông điệp quảng cáo đến khách hàng
mục tiêu hiệu quả nhất Vì vậy, họ phải xem xét ảnh hưởng, hiệu quả thông điệp và chi
phí của mỗi phương tiện
Thông thường, các nhà quảng cáo không tìm kiếm một phương tiện đơn lẻ Thay
vào đó, họ chọn một tổ hợp nhiều phương tiện truyền thông và kết hợp chúng thành một
chiến dịch truyền thông marketing tích hợp hoàn chỉnh Mỗi phương tiện đóng một vai
trò nhất định Tổ hợp phương tiện truyền thông phải được thường xuyên kiểm tra lại
Trong một thời gian dài, truyền hình và tạp chí thống lĩnh và các loại hình khác thường
bị bỏ quên Tuy nhiên, cấu trúc truyền thông marketing dường như đang chuyển hướng
khi nhà quảng cáo đang tìm tòi những cách thức mới để tiếp cận khách hàng với những
thông điệp cá nhân hóa thông qua truyền thông số
(3) Lựa chọn phương tiện truyền thông cụ thể: nhà quảng cáo cần lựa chọn các
phương tiện truyền thông tối ưu trong từng loại tổng quát Ví dụ, khi chọn báo chí cần
nêu rõ là báo Tuổi Trẻ, báo Thanh Niên hay báo Tiếp thị và Gia đình, kênh VTV6 hay
VTV3 khi quảng cáo trên truyền hình
Người lập kế hoạch truyền thông phải tính toán chi phí cho mỗi 1.000 người mà
phương tiện truyền thông tiếp cận được Người lập kế hoạch truyền thông xếp hạng mỗi
tạp chí/báo chí theo chi phí trên 1.000 người và thường ưu ái những tạp chí có chi phí
thấp hơn để hướng đến khách hàng mục tiêu Ví dụ, nếu quảng cáo chiếm hết một trang
báo, in bốn màu trên nhật báo Tuổi Trẻ có giá 68,25 triệu đồng và độc giả của Tuổi Trẻ
khoảng 500.000 người (tương ứng 500.000 tờ phát hành hằng ngày trên cả nước), thì
chi phí tiếp cận cho mỗi 1.000 người là khoảng 136.500 đồng Việc quảng cáo tương tự
trên tờ Thanh Niên sẽ tốn 72 triệu đồng nhưng chỉ tiếp cận được có 460.000 người
(tương ứng 460.000 tờ phát hành mỗi ngày trên cả nước) nên chi phí cho mỗi 1.000
người là hơn 156.500 đồng
Người lập kế hoạch truyền thông cũng phải xem xét chi phí sản xuất quảng cáo
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28cáo truyền hình lại rất tốn kém Nhiều quảng cáo trực tuyến không tốn nhiều chi phí sản
xuất, nhưng chi phí có thể tăng cao khi sản xuất video trực tuyến
Trong việc lựa chọn phương tiện truyền thông cụ thể, những người lập kế hoạch
truyền thông phải cân bằng giữa chi phí dành cho phương tiện truyền thông với các yếu
tố hiệu quả: chất lượng khán giả của phương tiện (đồng hồ Rolex quảng cáo trên tạp chí
Heritage có giá trị tiếp xúc cao hơn so với tạp chí Tiếp thị và Gia đình), mức độ quan
tâm của khán giả và chất lượng biên tập của phương tiện
(4) Quyết định thời điểm truyền thông: nhà quảng cáo cần quyết định lịch trình
trong một năm Giả sử máy điều hòa Sanyo có doanh số bán cao vào mùa hè thì nhà
marketing cần thực hiện chiến dịch quảng cáo trước mùa hè vài tuần Doanh nghiệp có
thể điều chỉnh quảng cáo của mình để đi theo khung mùa sự kiện, đi ngược lại khung
mùa sự kiện hoặc giữ nguyên một kiểu suốt năm Hầu hết các doanh nghiệp tăng cường
quảng cáo trong những mùa nhất định Một số thương hiệu thì chỉ quảng cáo theo mùa
Quyết định 5: Đo lường hiệu quả quảng cáo
Đo lường hiệu quả quảng cáo và hệ số lợi nhuận trên vốn đầu tư cho quảng cáo
đã trở thành vấn đề nóng đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong tình hình kinh tế
khó khăn hiện nay Nền kinh tế ít thân thiện hơn “đã bắt buộc tất cả chúng ta phải cân
nhắc đến từng xu và đo lọ muối đếm lọ cà”, một giám đốc quảng cáo cho biết Điều này
khiến cho lãnh đạo không ít doanh nghiệp yêu cầu giám đốc marketing trả lời làm thế
nào để biết số tiền chi tiêu cho quảng cáo là hợp lý và doanh nghiệp nhận được gì từ vốn
đầu tư cho quảng cáo?
Ngày nay, không khó để nhà marketing đo lường hiệu quả truyền thông của quảng
cáo Ngược lại, hiệu quả bán hàng từ quảng cáo, như doanh thu và lợi nhuận, thường rất
khó đo lường Ví dụ, chiến dịch quảng cáo A làm tăng mức độ nhận biết thương hiệu
thêm 20% và độ ưu ái thương hiệu thêm 10% thì đem lại bao nhiêu doanh thu và lợi
nhuận? Điều này thật khó xác định vì doanh thu và lợi nhuận bị ảnh hưởng bởi nhiều
yếu tố khác ngoài quảng cáo, ví dụ tính năng sản phẩm, giá cả và mức độ sẵn có trong
kênh phân phối
Để đo lường hiệu ứng doanh thu và lợi nhuận của quảng cáo, nhà marketing có
thể so sánh doanh thu bán hàng và lợi nhuận trong quá khứ với ngân sách quảng cáo
trong quá khứ Một cách khác là thông qua thử nghiệm Ví dụ, để kiểm tra tác động của
các mức ngân sách khác nhau cho quảng cáo, hãng Coca có thể thay đổi mức ngân sách
quảng cáo tại các khu vực thị trường khác nhau và đo lường sự khác biệt trong doanh
thu và lợi nhuận thu được Tuy nhiên, vì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
quảng cáo, trong đó có nhiều biến số không thể kiểm soát nên việc đo lường hiệu quả
của ngân sách quảng cáo chỉ mang tính tương đối
1.1.5.2 PR
a Khái niệm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29PR là quá trình xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với giới công chúng thông qua việc
tạo ra những hình ảnh tích cực , xử lý hoặc đánh lạc hướng các tin đồn, câu chuyện hoặc
sự kiện bất lợi
PR được sử dụng để quảng bá sản phẩm, con người, địa điểm, ý tưởng, hoạt động,
tổ chức và thậm chí cả quốc gia Doanh nghiệp sử dụng PR để xây dựng mối quan hệ
tốt với khách hàng và giới công chúng
PR có thể tác động mạnh mẽ đến nhận thức của công chúng với chi phí thấp hơn
nhiều so với quảng cáo Doanh nghiệp không phải trả tiền cho các không gian hoặc thời
gian trên phương tiện truyền thông Thay vào đó, họ trả tiền cho một nhân viên để phát
triển và luân chuyển thông tin, quản lý sự kiện Nếu doanh nghiệp xây dựng được một
câu chuyện hoặc sự kiện thú vị, các phương tiện truyền thông sẽ đưa tin Lúc này, độ tin
cậy của thông điệp cao hơn quảng cáo và tác dụng tương tự như quảng cáo nhưng ít tốn
kém hơn
Đôi khi, hiệu quả của PR thật tuyệt vời Lễ ra mắt Ipad là một trong những sự
kiện ra mắt sản phẩm mới thành công nhất trong lịch sử Điều buồn cười là trong khi
hầu hết những đợt ra mắt sản phẩm lớn luôn đi kèm với chiến dịch quảng cáo hoành
tráng thì Apple lại không hề có bất cứ động thái nào để quảng cáo cho Ipad Thay vào
đó, hãng này chỉ đơn giản thổi bùng ngọn lửa PR Nhiều tháng trước đó, Apple khuấy
động bằng cách chuyển Ipad đến giới công nghệ để họ sử dụng và bình luận về sản
phẩm, từ đó “lộ ra” những mẫu tin hấp dẫn và báo giới “vồ vập” với những thông tin
đó Đến thời điểm ra mắt, họ lại thổi bùng ngọn lửa PR khác bằng một khách mời trong
chương trình hài kịch truyền hình Modern Family Những tin tức về ngày ra mắt sản
phẩm xuất hiện ào ạt trên các talkshow truyền hình Kết quả là, sự kiện iPad xuất hiện
đã tạo ra sự phấn khích tột cùng cho người tiêu dùng lẫn giới truyền thông Những hàng
dài khách hàng đứng chờ ngoài cửa hàng bán lẻ để đến lượt mua Chỉ trong ngày đầu
tiên ra mắt Ipad, Apple đã bán được hơn 300 ngàn sản phẩm, ngay cả khi cầu đã vượt
cung
b Các công cụ chính của PR
Một trong những công cụ chính của PR là tin tức Nhà marketing tìm kiếm hoặc
tạo ra những tin tức tốt đẹp về doanh nghiệp, sản phẩm hoặc cá nhân trong doanh nghiệp
Đôi khi câu chuyện xảy ra một cách tự nhiên và các chuyên viên PR có thể đề xuất sự
kiện hoặc hoạt động để tạo ra tin tức Bài diễn thuyết cũng có thể đưa sản phẩm và doanh
nghiệp đến với công chúng Ngày nay, lãnh đạo doanh nghiệp thường xuyên nhận được
nhiều câu hỏi từ giới truyền thông hay phát biểu tại buổi họp Những sự kiện này có thể
xây dựng hoặc làm tổn thương hình ảnh doanh nghiệp Một công cụ PR phổ biến khác
là sự kiện đặc biệt như họp báo, chuyến tham quan dành cho giới truyền thông, lễ khai
trương, hội nghị khách hàng
Nhà marketing cũng chuẩn bị tài liệu văn bản để tiếp cận và gây ảnh hưởng đến
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30và tạp chí Tài liệu nghe nhìn như chương trình sử dụng máy chiếu kết hợp âm thanh
DVD và video trực tuyến đang ngày càng được sử dụng để truyền thông Hệ thống nhận
diện thương hiệu có thể giúp tạo ra bản sắc vì công chúng dễ dàng nhận ra doanh nghiệp
ngay lập tức Logo, văn phòng phẩm, tờ rơi, biển hiệu, thẻ nhân viên, đồng phục, phương
tiện đi lại của doanh nghiệp đều trở thành công cụ marketing khi chúng hấp dẫn, đặc
biệt và đáng nhớ Ngoài ra, doanh nghiệp có thể nâng cao thiện chí với công chúng bằng
các hoạt động có trách nhiệm xã hội
Như đã thảo luận ở trên, internet cũng là một kênh PR ngày càng quan trọng Các
trang web, blog, mạng xã hội như Youtube, Facebook và Twitter là những phương tiện
mới mẻ và thú vị để tiếp cận số lượng lớn khách hàng tiềm năng “Với thế mạnh cốt lõi
của mình như khả năng kể một câu chuyện và châm ngòi cho cuộc trò chuyện, PR rất
phù hợp với bản chất các phương tiện truyền thông xã hội như vậy”, một chuyên gia
nhận xét Bản thân trang web của doanh nghiệp cũng là một công cụ PR quan trọng
Người tiêu dùng và công chúng thường ghé thăm các trang web để tìm kiếm thông tin
hoặc giải trí Chúng cũng có thể là công cụ rất lý tưởng để xử lý tình huống khủng hoảng
Doanh nghiệp nên đặt ra mục tiêu, chọn thông điệp, phương tiện, triển khai kế
hoạch và đánh giá kết quả PR Bộ phận PR nên phối hợp các hoạt động truyền thông
marketing khác trong khuôn khổ chiến lược truyền thông marketing tích hợp của doanh
nghiệp
1.1.5.3 Bán hàng cá nhân
a Khái niệm
Bán hàng cá nhân là việc thuyết trình mang tính cá nhân, được thực hiện bởi lực
lượng bán hàng của doanh nghiệp với mục đích tạo doanh thu và xây dựng mối quan hệ
với khách hàng
Nhân viên bán hàng là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp trước khách hàng bằng
cách thực hiện một hoặc một số hoạt động, bao gồm: thăm dò, giao tiếp, bán hàng, cung
cấp dịch vụ, thu thập thông tin và xây dựng mối quan hệ
b Vai trò của lực lượng bán hàng
Nếu quảng cáo là hoạt động truyền thông đại chúng thì bán hàng cá nhân là hoạt
động tương tác cá nhân giữa nhân viên bán hàng với khách hàng, dù đó là hình thức mặt
đối mặt, qua điện thoại, thư điện tử, trang web hay bất kỳ cách nào khác Trong tình
huống phức tạp, bán hàng cá nhân có thể hiệu quả hơn so với quảng cáo Nhân viên bán
hàng có thể tìm hiểu thêm vấn đề của khách hàng, sau đó đề xuất điều chỉnh chính sách
marketing nhằm phục vụ nhu cầu đặc thù của khách hàng tốt hơn
Trong các doanh nghiệp khác nhau, vai trò bán hàng cá nhân cũng khác nhau
Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp không hề có nhân viên bán hàng, ví dụ nhà kinh
doanh trực tuyến hoặc doanh nghiệp bán hàng thông qua đại diện của nhà sản xuất, đại
lý bán hàng hoặc môi giới Tuy nhiên, tại hầu hết doanh nghiệp, lực lượng bán hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31đóng vai trò quan trọng Các doanh nghiệp bán sản phẩm cho khách hàng kinh doanh
hay các doanh nghiệp dịch vụ, nhân viên bán hàng làm việc trực tiếp với khách hàng
Trong ngành hàng tiêu dùng như P&G, Unilever thì lực lượng bán hàng đóng vai trò
quan trọng sau hậu trường Đội ngũ này hợp tác với nhà bán buôn và nhà bán lẻ để tiêu
thụ sản phẩm tốt hơn
Về mặt tổng thể, lực lượng bán hàng đóng vai trò như sau:
- Liên kết doanh nghiệp với khách hàng: lực lượng bán hàng được xem là mối
liên kết quan trọng giữa doanh nghiệp và khách hàng Trong nhiều tình huống, nhân
viên bán hàng phục vụ “hai ông chủ”, cả người bán lẫn người mua Trước hết, nhân viên
bán hàng đại diện cho doanh nghiệp trong việc tìm kiếm và phát triển khách hàng mới,
truyền đạt thông tin về sản phẩm và dịch vụ đến khách hàng Họ thực hiện nhiệm vụ bán
hàng, trình bày sản phẩm, thương lượng giá cả và các điều khoản, chốt giao dịch, cung
cấp dịch vụ khách hàng, nghiên cứu thị trường, thu nhận thông tin phản hồi Ngoài ra,
nhân viên bán hàng còn đại diện cho khách hàng khi chuyển mối quan tâm của khách
hàng đến doanh nghiệp, quản lý mối quan hệ khách hàng, làm việc với nhà marketing
khác để phát triển giá trị khách hàng
- Phối hợp marketing với bán hàng: một cách lý tưởng nhất, bộ phận bán hàng
phải liên kết chặt chẽ với các bộ phận khác của marketing như kế hoạch marketing, quản
trị thương hiệu để cùng nhau tạo ra giá trị cho khách hàng Tuy nhiên, thật đáng tiếc khi
trong thực tế nhiều doanh nghiệp vẫn xem bán hàng và marketing là hai bộ phận riêng
biệt Thông thường, giữa hai bộ phận này không có được sự hòa hợp tốt Khi trục trặc
xảy ra, tình trạng “đổ lỗi” xuất hiện và bộ phận này không đánh giá khách quan sự đóng
góp của bộ phận còn lại Doanh nghiệp có thể giải quyết tình trạng này bằng cách tăng
cường thông tin liên lạc giữa hai nhóm thông qua các cuộc họp giữa hai bên Giám đốc
thương hiệu có thể tham gia lắng nghe các cuộc gọi từ khách hàng hoặc tham gia cuộc
họp lập kế hoạch bán hàng Đổi lại, các nhân viên bán hàng có thể tham gia cuộc họp
lập kế hoạch marketing và chia sẻ kiến thức trực tiếp từ khách hàng của họ Ngoài ra,
doanh nghiệp cũng có thể tạo ra các mục tiêu chung về hệ thống khen thưởng cho doanh
số bán hàng và đội ngũ marketing hoặc chỉ định người điều phối giữa bộ phận marketing
và bộ phận bán hàng, có thể đó là người của bộ phận marketing nhưng “sống chung”
với bộ phận bán hàng, giúp điều phối các chương trình marketing và bán hàng Cuối
cùng, doanh nghiệp có thể chỉ định giám đốc marketing cao cấp để giám sát cả hai bộ
phận Đây là người có thể chuyển tải mục tiêu chung cho cả hai bộ phận này
1.1.5.4 Khuyến mãi
a Khái niệm
Khuyến mãi là những ưu đãi ngắn hạn được người bán đưa ra nhằm khuyến khích
khách hàng dùng thử hoặc mua sản phẩm nhanh hơn và nhiều hơn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Trong khi quảng cáo và bán hàng cá nhân cung cấp lý do để khách hàng mua sản
phẩm thì khuyến mãi tác động làm khách hàng mua nhanh hơn Do đó, khuyến mãi
thường được sử dụng kết hợp với các công cụ marketing khác để tăng tính hiệu quả, đặc
biệt là quảng cáo và bán hàng cá nhân
b Mục tiêu khuyến mãi
Khuyến mãi có thể được chia thành các nhóm như sau:
(1) Khuyến mãi cho người tiêu dùng
(2) Khuyến mãi cho trung gian (xúc tiến thương mại)
(3) Khuyến mãi cho khách hàng doanh nghiệp (trong thị trường B2B)
- Mục tiêu khuyến mãi đối với người tiêu dùng: khuyến khích mua hàng với số
lượng lớn, thuyết phục khách hàng sử dụng thử hoặc thay đổi thương hiệu Về mặt lý
tưởng, hoạt động khuyến mãi cho người tiêu dùng phải tăng doanh số bán trong ngắn
hạn và tài sản thương hiệu trong dài hạn
- Mục tiêu khuyến mãi đối với trung gian: thuyết phục nhà bán lẻ nhận bán những
mặt hàng mới và dự trữ hàng nhiều hơn, khuyến khích mua hàng trái vụ, khuyến khích
bán những mặt hàng liên quan, xây dựng lòng trung thành thương hiệu và dành được
không gian trong kênh bán lẻ mới
- Mục tiêu khuyến mãi đối với khách hàng doanh nghiệp: khuyến khích lực lượng
bán hàng hỗ trợ sản phẩm mới hoặc mô hình bán hàng mới, khuyến khích thúc đẩy tìm
kiếm khách hàng hoặc tăng doanh số vào trái vụ
c Các công cụ khuyến mãi:
Đối với người tiêu dùng, nhà marketing có thể sử dụng các công cụ khuyến mãi
như sau:
- Hàng mẫu cấp miễn phí một sản phẩm tận nhà, gửi thư hoặc nhận ở cửa hàng;
gắn liền với sản phẩm khác hoặc kết hợp hàng mẫu với quảng cáo
- Phiếu giảm giá (coupon) chứng nhận cho khách hàng khoản tiết kiệm đối với
một sản phẩm cụ thể, được gửi kèm với sản phẩm khác hoặc gắn liền với sản phẩm hoặc
chèn vào các quảng cáo trên tạp chí, báo, internet
- Hoàn trả tiền khi mua sản phẩm là hình thức giảm giá sau khi mua chứ không
phải giảm ngay tại cửa hàng Người tiêu dùng phải gửi “bằng chứng mua hàng” cho nhà
sản xuất, sau đó khác hàng sẽ nhận được một khoản tiền hoàn trả do nhà sản xuất gửi
qua thư hoặc theo một cách thức nào đó
- Giá của gói hàng nhằm cung cấp cho khách hàng khoản tiết kiệm so với giá
thông thường hoặc giá niêm yết trên sản phẩm Gói hàng giảm giá là một gói hàng được
bán với giả rẻ hơn so với việc mua lẻ từng sản phẩm Gói hàng theo nhóm là hai loại sản
phẩm có liên quan được đóng gói với nhau, ví dụ như bàn chải và kem đánh răng
- Quà tặng là hàng hóa được cung cấp với chi phí thấp hoặc miễn phí nhằm
khuyến khích khách hàng mua sản phẩm Quà tặng bao gồm quà tặng kèm với các sản
phẩm bên trong hoặc trên bao bì, quà tặng miễn phí gửi đến người đã gửi bằng chứng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33mua hàng, quà tặng tự thanh toán được bán với giá thấp hơn giá thị trường nếu khách
hàng yêu cầu
- Chương trình thường xuyên cung cấp những phần thưởng cho khách hàng mua
nhiều lần hoặc mua sản phẩm với khối lượng nhiều trong một khoảng thời gian nào đó
- Giải thưởng bao gồn các cuộc thi, rút thăm trúng thưởng hoặc trò chơi Giải
thưởng là cơ hội để khách hàng chiến thắng tiền mặt, các chuyến đi du lịch hoặc vật
phẩm khi mua hàng hóa của doanh nghiệp
- Dùng thử miễn phí là việc mời người mua tiềm năng dùng thử sản phẩm miễn
phí với hy vọng rằng họ sẽ “dùng thật” trong thời gian tới
- Giải thưởng bảo trợ bằng tiền hoặc hình thức khác, tỷ lệ thuận với sự bảo trợ
của một nhà cung cấp nhất định hoặc một nhóm nhà cung cấp
- Bảo hành sản phẩm là lời hứa rõ ràng hoặc hàm ý của người bán về việc sản
phẩm sẽ hoạt động theo cam kết hoặc người bán sẽ sửa chữa nếu hư hỏng hoặc hoàn lại
tiền cho khách hàng trong một khoảng thời nhất định Thông thường, người bán sẽ đưa
ra những điều kiện nhất định khi bảo hành sản phẩm
- Khuyến mãi kết hợp là việc nhiều thương hiệu kết hợp cùng trên phiếu giảm giá,
hoàn lại tiền và các cuộc thi để thu hút cho khách hàng tốt hơn
- Khuyến mãi chéo là việc sử dụng một thương hiệu để quảng cáo một thương
hiệu không cạch tranh trực tiếp với mình
- Trưng bày tại điểm bán là những hoạt động trưng bày, trình diễn tại các điểm
mua hàng hoặc điểm bán hàng
Khi hướng đến trung gian, nhà sản xuất thường quan tâm những công cụ khuyến
mãi sau:
- Giảm giá (giá hóa đơn hoặc giá niêm yết) là việc giảm giá trực tiếp cho một lần
mua hàng trong một khoảng thời gian quy định
- Trợ cấp là khoản tiền hỗ trợ trung gian vì họ đã giúp nhà sản xuất thực hiện một
số công việc như quảng cáo hay trưng bày sản phẩm
- Hàng miễn phí là việc cung cấp sản phẩm phụ trội cho trung gian nếu họ chấp
nhận mua, bán, quảng bá sản phẩm cho nhà sản xuất
Bên cạnh đó, nhiều nhà sản xuất đưa ra những công cụ khuyến mãi đến khách
hàng doanh nghiệp trong thị trường B2B như sau:
- Hội chợ thương mại và hội nghị bán hàng: Các hiệp hội của ngành thường tổ
chức hội chợ và hội nghị bán hàng hàng năm Những doanh nghiệp tham gia mong đợi
nhiều lợi ích như học hỏi được cách thức bán hàng mới, duy trì liên hệ khách hàng, giới
thiệu sản phẩm mới, đáp ứng khách hàng mới và cung cấp cho khách hàng những ấn
phẩm để PR như tài liệu, tập gấp, video
- Cuộc thi bán hàng được tổ chức dành cho lực lượng bán hàng hoặc đại lý nhằm
gia tăng doanh số (trong một khoảng thời gian quy định) kèm theo các giải thưởng như
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34- Quà tặng quảng cáo là những mặt hàng hữu ích, giá thấp được ghi tên và địa
chỉ của doanh nghiệp và đôi khi chỉ là một thông điệp quảng cáo mà người bán cung cấp
cho khách hàng tiềm năng Các mặt hàng phổ biến là bút bi, lịch, móc khóa, giấy ghi
chú, áo mưa
1.1.5.5.Marketing trực tiếp
a Khái niệm
Marketing trực tiếp là việc kết nối trực tiếp với khách hàng đã được xác định cẩn
thận trên cơ sở tương tác một đối một
Thông qua cơ sở dữ liệu khách hàng, nhà marketing xác định các tiêu chí để phân
tích cẩn thận Sau đó, doanh nghiệp tìm ra cách chào hàng và truyền thông phù hợp đến
từng đoạn thị trường hay cá nhân khách hàng cụ thể
Ngoài việc xây dựng thương hiệu và thiết lập mối quan hệ, nhà marketing trực
tuyến cũng thường tìm kiếm những phản ứng trực tiếp, tức thời và có thể đo được của
người tiêu dùng Ví dụ, Amazon.com tương tác trực tiếp thông qua trang web để giúp
khách hàng khám phá và mua mọi thứ trên internet
b Mô hình marketing trực tiếp hiện đại và cơ sở dữ liệu khách hàng
Marketing trực tiếp đầu tiên xuất hiện dưới hình thức bán hàng qua catalogue,
marketing bằng thư trực tiếp và bán hàng qua điện thoại Nhà marketing thu thập danh
sách khách hàng và bán hàng chủ yếu qua thư và điện thoại Ngày nay, sự tiến bộ nhanh
chóng của công nghệ thu thập, lưu trữ dữ liệu và các phương tiện marketing hiện đại,
đặc biệt là internet đã làm cho marketing trực tiếp thay đổi nhanh chóng Nhiều doanh
nghiệp chỉ xem marketing trực tiếp là kênh bổ sung hoặc là phương tiện truyền đạt Trái
lại, những doanh nghiệp khác xem marketing trực tiếp là giải pháp cho hoạt động kinh
doanh Ví dụ, Amazon và eBay chọn marketing trực tiếp là cách tiếp cận duy nhất với
thị trường
Để marketing trực tiếp có hiệu quả, doanh nghiệp cần bắt đầu với cơ sở dữ liệu
khách hàng thật tốt Cơ sở dữ liệu khách hàng là tập hợp dữ liệu toàn diện về khách hàng
hiện thực và khách hàng tiềm năng Đây là công cụ đắc lực để thiết lập mối quan hệ
khách hàng vì cơ sở dữ liệu cung cấp cho doanh nghiệp “góc nhìn 360 độ” về hành vi
khách hàng
Trong thị trường tiêu dùng, cơ sở dữ liệu khách hàng có thể chứa dữ liệu về địa
lý (địa chỉ, vùng miền), dữ liệu về nhân khẩu học (độ tuổi, thu nhập, quy mô gia đình,
sinh nhật), dữ liệu về tâm lý học (hoạt động, sự quan tâm, quan điểm) và hành vi mua
(sở thích, tần suất và doanh số mua) Trong thị trường doanh nghiệp, hồ sơ dữ liệu khách
hàng có thể chứa thông tin lịch sử mua của khách hàng, số lượng và giá cả, địa chỉ liên
lạc quan trọng, các nhà cung cấp cạnh tranh, tình trạng của hợp đồng hiện tại, ước tính
chỉ tiêu trong tương lai, điểm mạnh và điểm yếu trong phục vụ khách hàng so với đối
thủ cạnh tranh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Doanh nghiệp khai thác cơ sở dữ liệu khách hàng theo nhiều cách khác nhau
Chẳng hạn, nhà marketing có thể xác định các nhóm khách hàng tiềm năng trong việc
tạo ra doanh số Bắt đầu từ việc khai thác cơ sở dữ liệu để tìm hiểu chi tiết về khách
hàng, sau đó nhà marketing điều chỉnh dịch vụ cung cấp và cách thức liên lạc để đưa ra
ưu đãi hay những phản hồi đặc biệt đối với khách hàng Cơ sở dữ liệu khách hàng là
công cụ quan trọng để xây dựng mối quan hệ bền vững lâu dài với khách hàng
Như những công cụ marketing khác, cơ sở dữ liệu khách hàng đòi hỏi có sự đầu
tư đặc biệt từ doanh nghiệp, bao gồm: phần cứng máy tính, phần mềm cơ sở dữ liệu,
chương trình phân tích, liên kết truyền thông và đội ngũ chuyên viên giỏi Hệ thống cơ
sở dữ liệu phải thân thiện với người sử dụng và phục vụ cho các bộ phận marketing khác
nhau như quản lý thương hiệu, phát triển sản phẩm mới, quảng cáo và khuyến mãi, gửi
thư trực tiếp, bán hàng qua điện thoại, marketing trên web, bán hàng ngoài thị trường,
thực hiện đơn hàng và dịch vụ khách hàng Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu được quản lý tốt
thường mang lại các mối quan hệ có lợi với khách hàng nhiều hơn là kết quả về doanh
số nhằm trang trải các khoản chi phí này
c Các hình thức của marketing trực tiếp
Các hình thức chủ yếu của marketing trực tiếp bao gồm: bán hàng cá nhân,
marketing bằng thư trực tiếp, marketing bằng catalogue, marketing qua điện thoại,
quảng cáo đáp ứng trực tiếp, ki ốt marketing, marketing trực tiếp kỹ thuật số hiện đại và
marketing trực tuyến Chúng ta đã xem xét kỹ nội dung bán hàng cá nhân trước đó, sau
đây là các hình thức khác của marketing trực tiếp
- Marketing bằng thư trực tiếp: bao gồm gửi thư chào hàng, tờ thông báo, tờ gấp
hoặc các hình thức khác cho từng khách hàng Bằng cách sử dụng những danh sách có
tính chọn lọc cao, nhà marketing trực tiếp gửi hàng triệu thư mỗi năm gồm catalogue,
tờ quảng cáo, hàng mẫu, DVD, Đến nay, gửi thư trực tiếp là phương tiện marketing
trực tiếp lớn nhất Theo báo cáo của DMA (Hiệp hội Marketing trực tiếp - Direct
Marketing Association), các chuyên gia marketing ở Mỹ đã chi 44,4 tỷ đô la Mỹ vào
năm 2010 cho việc gửi thư (bao gồm những thư có kèm catalogue và không kèm
catalogue), chiếm 32% trong tổng chi phí marketing trực tiếp (Philip Kotler và Gary
Armstrong, 2012)
Thư trực tiếp rất thích hợp với truyền thông trực tiếp, một đối một Qua đó, nhà
marketing có thể khai thác thị trường mục tiêu với sự chọn lọc cao, có thể cá nhân hoá,
linh hoạt và đo lường kết quả dễ dàng Mặc dù chi phí tính trên một ngàn người cao hơn
so với các phương tiện truyền thông đại chúng nhưng những người được tiếp cận đều là
khách hàng có triển vọng Thư trực tiếp rất thành công trong việc đẩy mạnh bán sản
phẩm từ sách báo, DVD, bảo hiểm, quà tặng, thực phẩm đặc sản, áo quần và các mặt
hàng tiêu dùng khác cho đến các mặt hàng công nghiệp Thư trực tiếp cũng được các tổ
chức từ thiện sử dụng nhiều để gây quỹ hàng năm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36- Marketing bằng catalogue: những tiến bộ công nghệ cùng với xu hướng
marketing một đối một và cá nhân hoá đã mang lại những thay đổi thú vị trong marketing
bằng catalogue Tạp chí Catalogue Age định nghĩa rằng catalogue là một bản in, được
đóng lại thành tập, có ít nhất tám trang, bán nhiều loại sản phẩm và cung cấp một cơ chế
đặt hàng trực tiếp Đáng buồn là ngày nay, định nghĩa này đã trở nên lạc hậu
Cùng với sự lên ngôi của internet, catalogue đang có xu hướng được số hoá trên
internet Nhiều nhà marketing đã bổ sung phần catalogue trực tuyến cho hoạt động
truyền thông marketing Catalogue được số hóa giúp doanh nghiệp loại bỏ chi phí in ấn
và chi phí gửi thư Khi không gian không còn bị bó hẹp trong một bản in, catalogue trực
tuyến có thể cung cấp số lượng hàng hoá gần như không giới hạn Cuối cùng, catalogue
trực tuyến cho phép việc kinh doanh diễn ra với tốc độ cao, các sản phẩm và tính năng
đặc biệt có thể được bổ sung vào hay xoá đi nếu cần thiết và giá cả cũng có thể điều
chỉnh ngay lập tức cho phù hợp với nhu cầu
- Marketing qua điện thoại: là việc sử dụng điện thoại để bán trực tiếp cho khách
hàng, gồm khách hàng tiêu dùng và khách hàng tổ chức Bên cạnh đó, nhà marketing
cũng sử dụng các số điện thoại miễn phí qua các công cụ truyền thông hiện đại trên
Google, Blog, Twitter, Facebook và các trang mạng xã hội khác để nhận đơn đặt hàng
từ tivi, quảng cáo in ấn, thư trực tiếp và catalogue
Nếu bán hàng qua điện thoại được hoạch định tốt và hướng đến đối tượng khách
hàng phù hợp thì sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Tuy nhiên, sự bùng nổ
marketing qua điện thoại truyền thống trong những năm qua đã gây bực bội cho người
tiêu dùng - những người hầu như từ chối tất cả “cuộc điện thoại rác” hằng ngày
- Marketing có hồi đáp: có hai hình thức chính là quảng cáo có hồi đáp và kênh
mua bán tại nhà Đối với quảng cáo có hồi đáp, nhà marketing trực tiếp phát những
chương trình quảng cáo trên truyền hình, thường từ 60 đến 120 giây, giới thiệu thuyết
phục về một sản phẩm và cho số điện thoại miễn phí hay một trang web để người mua
đặt hàng Người xem truyền hình cũng thường gặp các chương trình quảng cáo thương
mại dài 30 phút hoặc lâu hơn Kênh mua sắm tại nhà, một hình thức khác của marketing
có hồi đáp là những chương trình truyền hình hoặc các kênh dành riêng để bán hàng hoá
và dịch vụ Người dẫn chương trình đối thoại với người xem bằng điện thoại và rao bán
đủ thứ từ trang sức, đèn, bộ sưu tập búp bê và quần áo cho đến dụng cụ điện tử tiêu
dùng Người xem truyền hình có thể gọi đến số điện thoại miễn phí hay lên mạng để đặt
mua hàng
- Marketing qua ki ốt: là hoạt động marketing được thực hiện thông qua máy bán
hàng tự động được đặt trong cửa hàng, sân bay, khách sạn, khuôn viên trường học và
các địa điểm khác Ngày nay, ki ốt hiện diện khắp nơi, từ khách sạn, thiết bị check - in
ở các hãng hàng không đến những thiết bị tự động trong cửa hàng Ki ốt marketing cho
phép khách hàng mua những mặt hàng không được bán ở cửa hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37Hình 1.5 Các hình thức của marketing trực tiếp
- Marketing trực tiếp kỹ thuật số hiện đại: Ngày nay, nhà marketing ứng dụng
thành tựu công nghệ để tiếp cận và tương tác với người tiêu dùng ở bất cứ đâu, bất cứ
lúc nào và về bất cứ cái gì Một số công nghệ marketing trực tiếp kỹ thuật số hiện đại
và thú vị là marketing bằng điện thoại di động, podcast và truyền hình tương tác
Podcast là việc ghi âm kỹ thuật số một chương trình phát thanh hoặc chương trình
tương tự như vậy, phát trên internet để tải xuống máy nghe nhạc cá nhân Thuật ngữ
Podcast là từ ghép từ từ “broadcasting” (phát thanh) và “iPod” (máy nghe nhạc cầm
tay) Khác biệt với truyền hình truyền thống chỉ truyền một chiều từ đài truyền hình đến
khán giả, truyền hình tương tác cần một đường truyền thông tin từ khán giả tới đài truyền
hình Chẳng hạn, trong kênh truyền hình tương tác iTV, khán giả là người quyết định
nội dung chương trình và tương tác với chương trình chủ yếu thông qua hệ thống tin
nhắn SMS Ngoài ra, iTV còn mở rộng các loại hình tương tác đa dạng khác như cho
phép khán giả tham gia dàn dựng kịch bản, bình chọn nhạc, gửi tặng nhạc
Marketing bằng điện thoại di động, podcast và truyền hình tương tác mang lại
những cơ hội marketing trực tiếp tuyệt vời Tuy nhiên, nhà marketing phải thận trọng
và khôn ngoan khi sử dụng chúng vì khách hàng có thể phản ứng rất dữ dội Lý do là
các công cụ marketing trực tiếp dễ xâm phạm sự riêng tư của họ Vì vậy, nhà marketing
cần chọn lọc khách hàng cẩn thận để mang lại những giá trị đích thực chứ không phải
là xâm nhập vào đời sống riêng tư của khách hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 381.1.5.6 Marketing trực tuyến
Marketing trực tuyến đang là hình thức phát triển nhanh nhất của marketing nói
chung và marketing trực tiếp nói riêng Sự phổ biến của internet ảnh hưởng sâu sắc đến
hành vi tiêu dùng và phản ứng của nhà marketing Phần này giới thiệu sự thay đổi của
hoạt động marketing nhờ vào việc ứng dụng công nghệ
a Marketing và internet
Ngày nay, hoạt động kinh doanh trên thế giới được tiến hành thông qua mạng kỹ
thuật số kết nối mọi người với doanh nghiệp Với lợi thế của mình, internet làm thay đổi
quan niệm của khách hàng về sự thuận tiện, tốc độ, giá cả, thông tin sản phẩm và dịch
vụ Internet cho phép nhà marketing đổi mới cách thức trong việc tạo ra giá trị và xây
dựng mối quan hệ khách hàng
Bên cạnh đó, hầu hết doanh nghiệp hiện nay đều hoạt động trong môi trường kinh
doanh trực tuyến Lợi thế và sự thành công của kinh doanh trực tuyến đã khiến nhiều
nhà kinh doanh truyền thống phải xem xét lại cách thức phục vụ khách hàng Chính vì
vậy, những doanh nghiệp này đã và đang tạo ra các kênh mua bán trực tuyến và thông
tin liên lạc để kết hợp thương mại điện tử với thương mại truyền thống
b Các lĩnh vực của marketing trực tuyến
Marketing trực tuyến B2C (từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng): Doanh nghiệp
bán sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng Ngày nay, người tiêu dùng có thể mua bất
cứ thứ gì qua mạng từ áo quần, giày dép đến vé ca nhạc, tủ lạnh, xe hơi,…
Marketing trực tuyến B2B (từ doanh nghiệp đến doanh nghiệp): Doanh nghiệp
sử dụng marketing trực tuyến để để tiếp cận khách hàng doanh nghiệp mới, phục vụ
khách hàng hiện tại hiệu quả hơn, đạt được năng suất mua hàng và giá cả tốt hơn
Marketing trực tuyến C2C (từ người tiêu dùng đến người tiêu dùng): là việc trao
đổi, giao dịch sản phẩm dịch vụ giữa những người tiêu dùng với nhau Phần lớn
marketing trực tuyến ở dạng C2C
Marketing trực tuyến C2B (từ người tiêu dùng đến doanh nghiệp): Việc trao đổi
trực tuyến mà trong đó người tiêu dùng tìm kiếm người bán, tìm hiểu những thông tin
C2C
(Từ người tiêu dùng đến người tiêu dùng)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39là các doanh nghiệp (Từ doanh nghiệp đến
doanh nghiệp)
(Từ người tiêu dùng đến doanh nghiệp)
d Thiết lập sự hiện diện của marketing trực tuyến
- Tạo ra trang web: đây là việc làm đầu tiên của doanh nghiệp sử dụng kênh
marketing trực tiếp Tuy nhiên, điều quan trọng là phải thiết kế trang web hấp dẫn để lôi
cuốn người tiêu dùng truy cập, xem và quay lại thường xuyên Trang web tương tác với
khách hàng nhằm tạo ra sự gắn kết, giúp cho khách hàng đến gần hơn với việc mua trực
tiếp hoặc đến những kết quả marketing khác
- Đặt quảng cáo và khuyến mãi trực tuyến: khi người tiêu dùng dành nhiều thời
gian hơn để lướt web thì doanh nghiệp cần dành nhiều ngân sách hơn cho quảng cáo và
khuyến mãi trực tuyến Việc đặt quảng cáo trực tuyến bao gồm quảng cáo tìm kiếm liên
quan, quảng cáo hiển thị và những mục rao vặt trực tuyến
- Tạo ra hoặc tham gia vào mạng xã hội trực tuyến: ngày nay, con người có xu
hướng kết nối với nhau qua trang mạng xã hội như Facebook, Twitter hoặc cập nhật
những video trên Youtube Ngày càng nhiều nhà marketing “cưỡi trên cơn sóng mạng
xã hội khổng lồ” Họ có thể tạo ra hoặc tham gia vào cộng đồng mạng xã hội có sẵn
- Thư điện tử: là một công cụ marketing trực tuyến quan trọng và đang trên đà
phát triển Khi sử dụng đúng cách, thư điện tử là công cụ marketing trực tiếp tối ưu vì
chuyển tải được những thông điệp cụ thể, thông điệp có thể cá nhân hóa và xây dựng
được mối liên hệ cao với khách hàng Tuy nhiên, nhà marketing cần xem xét kỹ mặt trái
của thư điện tử là thư rác (spam) Đây là những bức thư mang tính thương mại mà khách
hàng không mong muốn, gây trở ngại cho hộp thư nên khiến nhiều khách hàng thất
vọng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HIỆU QUẢ CỦA KẾ HOẠCH
TRUYỀN THÔNG MARKETING CHO KHÓA HỌC THẠC SĨ
QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ
ĐÀO TẠO KỸ NĂNG KINH DOANH CBS
2.1 Tổng quan doanh nghiệp – Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kỹ năng Kinh
doanh CBS
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về CBS
CBS thuộc sở hữu của CÔNG TY TNHH TMDV ĐẦU TƯ LONG HOÀNG
CBS - Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kỹ năng Kinh Doanh được thành lập vào năm
2015, cung cấp dịch vụ tư vấn, đào tạo, huấn luyện thực chiến và linh hoạt giúp học
viên và doanh nghiệp thích ứng và phát triển trong thế giới V.U.C.A (Volatility: biến
động - Uncertainty: không chắc chắn - Complexity: phức tạp - Ambiguity: mơ hồ)
CBS viết tắt của từ:
C – Creative B – Business S – Solution
CBS có tổng 4 chi nhánh: CBS Hồ Chí Minh, CBS Huế, CBS Đà Nẵng, CBS Cần
Thơ Và văn phòng của CBS tại chi nhánh Hồ Chí Minh toạ lạc địa chỉ: 79, Nguyễn
Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Hiện CBS đang sở hữu 2 website và nhóm nhân sự phụ trách 3 fanpage trên kênh
Facebook và Linkedin gồm:
- Website: massey.edu.vn và e2c.com.vn
- Fanpage Facebook: Thạc sĩ Quản trị Nguồn nhân lực, CBS Solutions,
Lunch&Connect
Sứ mệnh
Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kỹ năng Kinh doanh vừa là cầu nối trang bị cho học viên
nền tảng kiến thức vững chắc, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp trong học viên,… tìm
kiếm các cơ hội học tập và làm việc tại các quốc gia phát triển từ đó giúp học viên phát
triển toàn diện và thành công trong sự nghiệp của mình
Tầm nhìn CBS hướng đến năm 2030
Tầm nhìn của CBS đến năm 2030 là cố gắng phấn đấu để đạt được những mục tiêu sau:
- 7 CAMPUS VN – 50 CAMPUS FRANCHISE
- Cung cấp dịch vụ 50 Đại Học Toàn thế giới trong đó: 10 Đại học TOP
Việt Nam, 40 Đại học toàn cầu
- Hỗ trợ 1 triệu doanh nghiệp
Giá trị cốt lõi
Thấu hiểu được nhu cầu của học viển và xã hội Xây dựng cộng đồng kết nối trẻ, đội
ngũ tiên tiến đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
2.1.2 Sản phẩm và dịch vụ của CBS
Trường Đại học Kinh tế Huế