BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Thành phố Hồ Chí Minh Năm 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHẠM THỊ CẨM LỆ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN TẠI QUẬN[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2022
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
PHẠM THỊ CẨM LỆ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP - TỪ THỰC TIỄN
TẠI QUẬN BÌNH TÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã ngành: 8 38 01 07
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2022
PHẠM THỊ CẨM LỆ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP - TỪ THỰC TIỄN
TẠI QUẬN BÌNH TÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thu Hiền Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên
Phạm Thị Cẩm Lệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị ThuHiền – Khoa Luật – Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, người đã tận tình hướng dẫn,chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian em nghiên cứu khóa luận Và cũng là côluôn tận tâm, đưa ra những phản hồi tỉ mỉ trong thời gian nhanh nhất, định hướngphù hợp cho luận văn
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô của trường Đại học Ngân hàngTPHCM đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện cho em trong quá trình học tập cũng nhưnghiên cứu tại trường Những kiến thức mà chúng em được giảng viên truyền tải sẽ
là hành trang quý báu trong tương lai
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã ở bên để động viên
và là nguồn động lực cổ vũ lớn lao, giúp em kiên trì hoàn thành luận văn này Bằngtất cả sự nỗ lực, dù đã cố gắng hoàn thành luận văn tốt nhất có thể Tuy nhiên sẽkhông tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự thông cảm, sự chỉ bảocủa quý thầy cô và toàn thể các bạn
Học viên
Phạm Thị Cẩm Lệ
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
1 Phần tiếng Việt:
1.1 Tiêu đề: Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp - Từ thực tiễn tại Quận Bình
Tân
1.2 Tóm tắt: Trong quá trình hội nhập sâu rộng, bên cạnh những thành tựu
đạt được về phát triển kinh tế, Việt Nam cũng đang phải đối diện với những vấn đề
xã hội phức tạp, trong đó có tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng Để góp phần
ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm được việc làmtrong trường hợp thất nghiệp, cùng với đó là giảm gánh nặng cho ngân sách nhànước và doanh nghiệp, chính sách và các quy định về bảo hiểm thất nghiệp đã được
ra đời Sau hơn 12 năm thực hiện, nhất là sau khi chính sách bảo hiểm thất nghiệpđược thực hiện theo Luật Việc làm 2013, bảo hiểm thất nghiệp đã đạt được các kếtquả đáng khích lệ, góp phần đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên, việc áp dụng cácquy định về bảo hiểm thất nghiệp trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế Dođó,việc nghiên cứu, đánh giá và tìm ra các biện pháp thích hợp nhằm khắc phục làđiều hết sức cần thiết, để bảo hiểm thất nghiệp phát huy nhiều hơn vai trò và ý nghĩa
vốn có khi nó ra đời Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo hiểm thất
nghiệp - Từ thực tiễn tại Quận Bình Tân” Bằng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu như phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh v.v, Luận văn đã làm rõmột số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp, đánh giá thực tiễn thực thi tại QuậnBình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để từ đó đưa ra được những giải pháp nhằmhoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp trên địabàn
1.3 Từ khóa: Thất nghiệp, Pháp luật Bảo hiểm thất nghiệp, Thực tiễn Quận
Bình Tân
Trang 6SUMMARY OF THE THESIS
2 English:
2.1 Title: Law on unemployment insurance – From the practice in Binh Tan
District
2.2 Abstract: In the process of deep integration, besides the achievements in
economic development, Vietnam is also facing complex social problems, includingincreasing unemployment In order to stabilize living conditions and supportemployees in profesional training and finding jobs in case of unemployment alongwith reducing the burden on the state budget and businesses, policies and regulations
on unemployment insurance was issued After more than 12 years of implementation,especially after the unemployment insurance policy was implemented under the Law
on Employment 2013, unemployment insurance policy has achieved encouragingresults, and has contributed to ensure social security However, the application ofthese regulations still faces many difficulties and limitations Therefore, it isabsolutely necessary to conduct researches, evaluations and finding appropriatemeasures to overcome it, so that unemployment insurance can play more of itsinherent role as when it was first issued Therefore, the author chooses the topic “Law
on unemployment insurance – From the practice in Binh Tan District” Through mainresearch methods such as synthesis, analysis, statistics, comparison, etc., the thesis hasclarified some theoretical issues about unemployment insurance, has evaluated thepractical implementation in Binh Tan District, Ho Chi Minh City From that point ofview, the thesis has came up with solutions to improve the efficiency of lawenforcement on unemployment insurance in the locality
2.3 Keywords: unemployment, unemployment insurance, the practical
implementation in Binh Tan District
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
1 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
2 BXH Bảo hiểm xã hội
3 HĐLV Hợp đồng làm việc
4 HĐLĐ Hợp đồng lao động
5 TCTN Trợ cấp thất nghiệp
6 NSDLĐ Người sử dụng lao động
7 ILO Tổ chức lao động quốc tế
8 ASXH An sinh xã hội
9 NLĐ Người lao động
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 0
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ 1
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 8
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 8
1.1 Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp 8
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp 8
1.1.2 Bản chất của Bảo hiểm thất nghiệp 11
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm thất nghiệp 11
1.1.4 Các yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp15 1.2 Pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp 16
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp 16
1.2.2 Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp 17
1.2.2.1 Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp 17
1.2.2.2 Về điều kiệnhưởng bảohiểm thất nghiệp 21
1.2.2.3 Về các chế độ trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp 25
1.2.2.4 Về quỹ bảo 30 1.2.2.5 Hồ sơ và thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp 33
CHƯƠNG 2 38
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38
2.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 38
2.2 Thực tiễn thực thi pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 40
2.3 Những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp qua thực tiễn áp dụng tại Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 45
Kết chương 2 51
CHƯƠNG 3 52
Trang 9GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 52 3.1 Những yêu cầu và định hướng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 52 3.2 Các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 53 Kết chương 3 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO i
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
1.1 Hướng dẫn thủ tục lãnh bảo hiểm thất nghiệp 332.1 Bản đồ địa lý quận Bình Tân 38
Trang 12Do đó, Bảo hiểm thất nghiệp (sau đây gọi tắt là BHTN) là một trong những giảipháp hàng đầu mà nhà nước ta đề ra nhằm giải quyết tình trạng “tạm thời” thấtnghiệp cho người lao động (sau đó gọi tắt là NLĐ) BHTN được xây dựng trên mụcđích hỗ trợ một phần thu nhập cho NLĐ, giải quyết các nhu cầu cơ bản khi NLĐ bịmất việc Như vậy, BHTN được hiểu một cách đơn giản là một khoản bù đắp tàichính cho NLĐ chịu rủi ro khi bị mất việc làm, Ngoài việc đảm bảo các quyền lợikhi NLĐ tham gia BHTN bị thất nghiệp sẽ được hưởng như các khoản trợ cấp, cáchoạt động tư vấn – giới thiệu – đào tạo,… BHTN còn san sẻ gánh nặng ngân sáchvới Nhà nước.
Trong năm 2020 vừa qua, theo số liệu của Cục việc làm tính đến ngày31/12/2020 thì tổng số người nộp hưởng BHTN lên đến 1.123.477 người, tăng32,2% so với cùng kỳ năm 2019[36] Từ số liệu này, chúng ta có thể thấy việc giảiquyết vấn đề việc làm là vô cùng cấp bách và việc hiểu rõ các chính sách về BHTN
là điều hết sức cần thiết Đặc biệt trong tình trạng dịch Covid19 hiện đang tàn phánền kinh tế nước nhà nói riêng và cả thế giới nói chung BHTN đã và đang thựchiện, ngày càng đi vào đời sống của nhân dân, hỗ trợ tích cực cho đời sống củaNLĐ, thực sự là điểm tựa cho NLĐ và người sử dụng lao động (sau đây gọi tắt làNSDLĐ), góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Năm 2006, BHTN lần đầu tiên ở Việt Nam được quy định trong Luật bảo hiểm
xã hội và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 và tiếp tục được hoàn thiện bởiLuật việc làm năm 2013 và một số văn bản liên quan khác Năm 2020, Nghị định61/2020/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là NĐ61) ra đời và có hiệu lực từ ngày 17 tháng 5năm 2020 đã chỉnh sửa, bổ sung một số điều nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểmthất nghiệp hiện nay Nhìn chung, Nghị định 61/2020/NĐ-CP đã cải thiện những hạnchế trước đó của bảo hiểm thất nghiệp như hạ điều kiện nhận kinh phí
Trang 13hỗ trợ, tăng diện xác nhận tham gia BHTN, nâng cao trình độ người lao động, bổsung các trường hợp bất khả kháng được nhận hỗ trợ đào tạo Tuy nhiên, việc ápdụng các quy định mới trong thực tiễn thực hiện còn nhiều vướng mắc so với quyđịnh được ban hành Đó là những bất cập về đối tượng tham gia, điều kiện hưởng,thủ tục thực hiện, các hoạt động hỗ trợ học nghề, tư vấn – giới thiệu việc làm,
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2020, trong tình hình dịch Covid đang diễn biến phức tạp và làm ảnhhưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nước nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống củaNLĐ Tác động tiêu cực của đại dịch Covid19 làm thị trường lao động có nhiều biếnđộng, lực lượng có xu hướng giảm, lao động mất việc ngày càng tăng Tình trạng đạidịch làm các doanh nghiệp phải tạm ngưng hoạt động và dẫn đến việc nhu cầu cầnngười lao động không cao, việc đó đẩy mạnh tình trạng thất nghiệp tăng cao và diễnbiến khó lường
Quận Bình Tân với tổng diện tích là 52km2, hơn 700 ngàn dân cư, là quận códân cư đông đúc, với 30% là dân thường trú và 70% là dân tạm trú, thành phần kinh
tế phức tạp Trong tình hình chung hiện nay, thì việc chịu ảnh hưởng từ đại dịchcovid là không tránh khỏi, không riêng về quận Bình Tân Do đó, tình trạng thấtnghiệp là điều đáng quan ngại Song việc giải quyết chế độ hưởng, điều kiện hưởng
và cách thức hưởng của BHTN vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại
Pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp còn tương đối bất cập,hạn chế nên trong quá trình áp dụng và thực hiện tại quận Bình Tân nói riêng vàThành phố Hồ Chí Minh nói chung vẫn còn nhiều vướng mắc Việc tìm ra các biệnpháp thích hợp nhằm khắc phục tình trạng trên là điều hết sức cần thiết để BHTN cóthể phát huy được vai trò và ý nghĩa vốn có trong thực tiễn Chính vì vậy, tôi lựa
chọn đề tài “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp - từ thực tiễn tại Quận Bình Tân”
làm luận văn thạc sĩ Thông qua luận văn, mong muốn luận văn góp phần làm rõ hơnpháp luật về BHTN ở nước ta hiện nay và thực tiễn thực hiện pháp luật BHTN trênđịa bàn quận Bình Tân Ngoài ra, đề cập đến những điểm mới chỉnh sửa, bổ sungcủa Nghị định 61/2020/NĐ-CP mới được ban hành và có hiệu lực từ ngày15/7/2020 Từ đó, Luận văn sẽ đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thựchiện BHTN tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt trong tình hình
Trang 14tình trạng mất việc đang ngày càng tăng cao do dịch Covid19
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu tổng quát
Luận văn làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng các quy định pháp luật ViệtNam về bảo hiểm thất nghiệp Ngoài ra, Luận văn cũng sẽ làm rõ tình hình thực hiệnpháp luật về bảo hiểm thất nghiệp qua thực tiễn tại Quận Bình Tân để từ đó đưa ranhững giải pháp, tháo gỡ những vướng mắc, giúp hoàn thiện và nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật về BHTN trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Luận văn cần đạt được các mục đích tổng quan sau:
Thứ nhất, Luận văn tập trung làm rõ nội dung các quy định hiện hành của phápluật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp
Thứ hai, Luận văn làm rõ những điểm mới, những thành công cũng như nhữnghạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam về BHTN
Thứ ba, Luận văn làm sáng tỏ thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm thấtnghiệp trên địa bàn quận Bình Tân
Thứ tư, Luận văn đưa ra được những phương hướng và giải pháp nhằm hoànthiện và nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn quận BìnhTân
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào về bảo hiểm thấtnghiệp?
- Có những điểm mới hay hạn chế, bất cập gì không? Có thuận lợi và khókhăn gì khi áp dụng hay không?
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại quận Bình Tândiễn ra như thế nào?
- Thông qua thực tiễn, để việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp ở quận Bình Tânđạt hiệu quả, cần các kiến nghị, đề xuất nào để hoàn thiện pháp luật?
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về
Trang 15BHTN cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về BHTN đối với người lao động trênđịa bàn quận Bình Tân Người lao động được đề cập trong Luận văn là các đối tượngquy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội, cụ thể là người lao động trong các doanhnghiệp hoạt động trên địa bàn quận Bình Tân
Luận văn không nghiên cứu vấn đề giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảohiểm thất nghiệp do nội dung của vấn đề này khá rộng và những giới hạn về dunglượng của một Luận văn Thạc sỹ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Trên địa bàn quận Bình Tân
Phạm vi thời gian: Sau khi Luật Bảo hiểm xã hội 2014 có hiệu lực
Về văn bản pháp luật: Luận văn tập trung nghiên cứu Luật Bảo hiểm xã hội
2014, Luật việc làm 2013, Nghị định 61/2020/NĐ-CP và một số văn bản liên quankhác
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương phápnghiên cứu sau:
- Chương 1 sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích để làm rõ các vấn đềpháp lý như khái niệm, đặc điểm, vai trò, điều kiện,… làm rõ các quy định của phápluật Việt Nam hiện hành của bảo hiểm thất nghiệp
- Chương 2 và chương 3 sử dụng các phương pháp thống kê, phương phápphân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch, quy nạp, để đánh giá tình hình ápdụng pháp luật hiện hành và thực tế thực hiện trên địa bàn quận Bình Tân Từ đó,nêu lên những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyênnhân tồn tại trong quá trình thực hiện các chế độ trợ cấp, quy trình hồ sơ, đối tượng
áp dụng,… nhằm tìm ra phương hướng cải thiện giúp hoàn thiện và nâng cao hiệuquả thực hiện BHTN trên địa bàn quận Bình Tân
6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Luận văn tổng hợp, phân tích để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về BHTN nhưkhái niệm, đặc điểm, vai trò, điều kiện, những yếu tố ảnh hưởng, nguyên tắc,…đồng thời làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm thấtnghiệp
Trang 16Luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm thấtnghiệp trên địa bàn quận Bình Tân So sánh tình hình thực hiện khi áp dụng Nghịđịnh 61/2020/NĐ-CP vào thực tế trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay Từ đó, đềxuất, kiến nghị các định hướng nâng cao tình hình thực hiện bảo hiểm thất nghiệptrên địa bàn quận Bình Tân
7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
* Về ý nghĩa khoa học:
Thông qua những vấn đề được làm rõ ở phần nội dung nghiên cứu, luận văn sẽlàm rõ được các vấn đề pháp lý, đưa ra những phân tích, góc nhìn khoa học, đúngđắn, sâu sắc và nêu lên được các vấn đề thực tiễn về pháp luật bảo hiểm thất nghiệptheo pháp luật Việt Nam Kết quả nghiên cứu cũng góp phần bổ sung vào lý luận vềBHTN, làm phong phú thêm các nền tảng lý luận pháp luật để từ đó làm cơ sở hoànthiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam Thêm vào đó cũng là tiền đềtạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục nghiên cứu các đề tài về bảo hiểm thấtnghiệp Đồng thời, luận văn đã đưa ra được những điểm hạn chế, khó khăn trong quátrình áp dụng thực hiện đề từ đó đề xuất những giải pháp có ý nghĩa, thiết thực, cótính khả thi giúp ích cho việc cải thiện, nâng cao tình hình thực hiện bảo hiểm thấtnghiệp trên địa bàn quận Bình Tân
* Về mặt thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho việcnghiên cứu, giảng dạy và xây dựng hệ thống pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp Ởmột phương diện nào đó, giá trị nghiên cứu có thể giúp NLĐ và NSDLĐ nắm bắtđược các quy trình, thủ tục và các quy định mới về BHTN từ đó thực hiện đúng cácquy định để bảo vệ quyền lợi của bản thân, góp phần cải thiện, nâng cao hiệu quả cơchế thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn quận Bình Tân
8 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Bảo hiểm thất nghiệp ra đời năm 2006 và chịu sự điều chỉnh của Luật việc làm
2013 sau đó được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 28/2015-NĐ-CP Theo đó, ngày29/5/2020 Nghị định 61/2020/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực thi hành từngày 15/7/2020 cùng với một số văn bản liên quan khác nhằm cải thiện tình hìnhthực hiện BHTN hiện nay Bảo hiểm thất nghiệp ra đời nhằm đảm bảo ổn định tình
Trang 17Luận án tiến sĩ luật học “Chế độ BHTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam” (2005) của NCS Lê Thị Hoài Thu đã hệ thống hóa các yêu cầu, nội dung chủ
yếu trong việc xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam.Ngoài ra, tác giả còn so sánh những quy định của các tổ chức lao động ở một sốnước trên thế giới để từ đó có góc nhìn sâu rộng hơn đối với các quy định của phápluật [29]
Luận văn thạc sĩ “Bảo hiểm thất nghiệp trong Luật bảo hiểm xã hội ở Việt
Nam – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Ngô Thu Phương, tác giả đã đề cập đến
các vấn đề lý luận chung về BHTN; nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luậthiện hành về BHTN đồng thời so sánh, đối chiếu với pháp luật BHTN của một sốnước trên thế giới Từ đó tác giả đề xuất, kiến nghị một số phương pháp hoàn thiệnpháp luật BHTN của Việt Nam [26]
Luận văn thạc sĩ “Bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay”
của tác giả Dương Thị Nguyệt Khuê, tác giả đã đề cập đến các vấn đề lý luận chung
về BHTN; những chính sách, quy định pháp luật về BHTN trong hệ thống an sinh xãhội Tác giả còn đề cập đến các vấn đề liên quan thực trạng về BHTN ở Việt Namhiện nay Sau đó chỉ rõ các thành tựu cũng như các khó khăn, vướng mắc, bất cậpkhi thực thi pháp luật về BHTN nhằm hoàn thiện pháp luật BHTN trong thời gian tới[24]
Luận văn thạc sĩ “Bảo hiểm thất nghiệp trong Luật việc làm năm 2013”(2020), tác giả Lê Nguyễn Việt Hà, trong luận văn tác giả đã nghiên cứu làm rõ cácvấn đề lý luận về BHTN, phân tích thực trạng BHTN cũng như đánh giá hiệu quảthực hiện theo pháp luật Luật việc làm 2013 đồng thời chỉ ra các tồn tại và nguyênnhân, từ đó đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện thựctiễn[19]
Bài viết của Ths.Trần Thị Nguyệt Nga và Ths Nguyễn Thu Hiền được đăng
Trang 18trên trang Tạp chí tài chính ngày 16/01/2021 với bài viết “ Thực trạng chính sáchBảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam”, tác giả đã đề cập đến tầm quan trọng của bảohiểm thất nghiệp đối với nền kinh tế, thông qua việc thống kê các số liệu về tìnhtrạng thất nghiệp hiện nay, từ đó tác giả đề cập đến các hạn chế trong việc thực thichính sách BHTN [40]
Ngoài ra, phải kể đến các bài việt được đăng tải trên các tạp chí khoa học pháplý: “Những bất cập trong thi hành pháp luật về BHTN”; “Kết quả 6 năm thực hiệnBHTN theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội”; “Những điểm mới về chính sáchBHTN”…
9 BỐ CỤC DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN
Bố cục dự kiến của luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệutham khảo và nội dung của luận văn Trong đó, nội dung của luận văn bao gồm cácchương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật ViệtNam về bảo hiểm thất nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp qua thực tiễn áp dụngtại Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảohiểm thất nghiệp trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 19CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.1 Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp.
*Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp ra đời lần đầu ở Châu Âu với sự ra đời của quỹ Bảo hiểmthất nghiệp tự nguyện tại Berne (Thụy Sĩ) vào năm 1893 Theo Mai Thị MinhHường (2019, Tr.13), “khi đó không chỉ người sử dụng lao động mà ngay cả ngườilao động có công việc chưa ổn định cũng đóng góp vào quỹ Sau đó, để quy mô củaBảo hiểm thất nghiệp được mở rộng, nhằm tăng mức trợ cấp thất nghiệp nên đã có
sự tham gia đóng góp của chính quyền địa phương và trung ương Năm 1911, Vươngquốc Anh được thông qua đạo luật đầu tiên về Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc và tiếp
đó là một số nước khác ở Châu Âu như: Thụy Điển, Đức… sau hậu quả của cuộctổng khủng hoảng kinh tế toàn cầu (1929-1933) một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ đãban hành các Đạo luật về an sinh xã hội và bảo hiểm thất nghiệp, chẳng hạn như ởHoa Kỳ năm 1935, ở Canada vào năm 1939 Khi chiến tranh thế giới lần thứ II kếtthúc, nhất là khi có Công ước số 102 (1952) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thìnhiều nước trên thế giới đã đưa ra chế độ bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thấtnghiệp”
Cùng với sự phát triển nền kinh tế xã hội và sự quan tâm đến các vấn đề về Bảohiểm thất nghiệp, khái niệm “thất nghiệp” và “người thất nghiệp” đã không còn xa lạđối với người dân Việt Nam Đối với một quốc gia được xếp vào loại dân số trẻ vớinguồn nhân lực dồi dào nhưng lại bị mất cân bằng giữa cung và cầu lao động trên thịtrường lao động, tình trạng cung lao động lớn hơn cầu lao động cả về quy mô và cơcấu cũng như việc phân bổ lao động không đồng đều giữa các ngành, các địa phươngnhư ở nước ta thì sự gia tăng của tình trạng thất nghiệp là không thể tránh khỏi Thấtnghiệp không chỉ đe dọa tới đời sống của NLĐ nói riêng mà còn gây ra những ảnhhưởng tiêu cực đối với quốc gia và toàn xã hội nói chung
Ở Việt Nam, theo quy định tại Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 thì bảo hiểmthất nghiệp được hiểu là “sự đảm bảo, thay thế, bù đắp một phần thu nhập của NLĐ
Trang 20trong trường hợp bị mất việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm, đồng thời có một sốbiện pháp hỗ trợ người lao động để họ nhanh chóng quay lại thị trường lao động”.
Về bản chất, Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu đơn giản là nhận một khoản tiền đảmbảo và bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi người lao động bị mất việcđột ngột Qua nhiều quá trình thực hiện, nhiều đúc kết, thực tiễn diễn ra, Việt Nam
đã có sự đột phá khi mà chuyển toàn bộ chế độ của bảo hiểm thất nghiệp trong LuậtBảo hiểm xã hội 2006 vào quy định trong Luật Việc làm 2013
Khoản 4, Điều 3, Luật Việc làm 2013 đã đưa ra định nghĩa cụ thể về bảo hiểmthất nghiệp như sau:
Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi
bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóngvào quỹ bảo hiểm thất nghiệp [15]
Việc thay đổi khái niệm trên đã thay đổi hoàn toàn quan niệm của bảo hiểmthất nghiệp, từ việc xử lý hậu quả của thất nghiệp nhưng nay lại là chủ động trongviệc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp Việc này không chỉ có thể làm giảm thất nghiệp
mà còn hỗ trợ người lao động tìm được việc làm nhanh chóng Mục đích ban đầu củabảo hiểm thất nghiệp không chỉ là bù đắp thu nhập mà còn giúp người lao động quaylại thị trường lao động, tìm kiếm nguồn thu nhập bằng chính sức lao động của bảnthân thông qua việc thành lập và sử dụng hợp lý quỹ tài chính - được hình thành từchính đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Mức hỗ trợ thu nhậpdựa trên mức đóng góp của người lao động trước khi thất nghiệp và người lao động
sẽ được hỗ trợ tư vấn tìm việc, hỗ trợ học nghề, để giúp người lao động sớm quay
về thị trường lao động ngoài việc nhận được phần hỗ trợ thu nhập Đó là cơ chếchính của chế độ bảo hiểm thất nghiệp
Do đó, Mai Thị Minh Hường (2019, Tr.15) cho rằng: “Bảo hiểm thất nghiệp làquá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung (Quỹ bảo hiểm thất nghiệp) đượchình thành do sự đóng góp của các bên tham gia (NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ củaNhà nước) nhằm hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc làm vàđáp ứng yêu cầu luật định”
* Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp
Từ việc phân tích khái niệm bảo hiểm thất nghiệp chúng ta có thể thấy nó
Trang 21mang một số điểm giống với các chế độ nằm trong bảo hiểm xã hội đồng thời nócũng mang một số đặc điểm đặc thù khác có tính chất tương đồng trong chế độ việclàm.
Đầu tiên, Bảo hiểm thất nghiệp là khoản “thu nhập”, được trợ cấp tạm thời cho
người lao động khi họ gặp rủi ro mất việc, mà trước đó họ có tham gia đóng góp vàoquỹ bảo hiểm thất nghiệp Không chỉ dừng ở việc hỗ trợ thu nhập mà bảo hiểm thấtnghiệp còn giúp thúc đẩy quá trình hòa nhập thị trường lao động cho những ngườilao động thông qua hình thức tự vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo và nâng cao taynghề,… Đó là mục tiêu, là mục đích ra đời của bảo hiểm thất nghiệp
Thứ hai, điểm khác biệt giữa đối tượng tham gia và đối tượng hưởng của bảo
hiểm thất nghiệp Đối với đối tượng tham gia là những người trong độ tuổi lao động,đang tham gia quan hệ lao động Còn đối tượng hưởng lại là những người dù trong
độ tuổi lao động và không còn nằm trong quan hệ lao động do một số nguyên nhânnhư hết hạn hợp đồng, hoàn thành công việc theo ký kết,… trước đó có tham giađóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian quy định và hiện có nhu cầu tìm việc Khácvới bảo hiểm xã hội, đối tượng hưởng là những người đang trong mối quan hệ laođộng như thuộc một số trường hợp như: ốm đau, thai sản,…
Thứ ba, Bảo hiểm thất nghiệp ngoài việc thu – chi nguồn phí theo quy định
nhằm chi trả trợ cấp cho người lao động được hưởng trợ cấp mà còn dùng các biệnpháp tái hòa nhập để người lao động có thể tiếp tục làm việc và có nguồn thu ổnđịnh, sinh hoạt phí hằng ngày được đảm bảo Chính vì vậy, cơ quan chuyên tráchkhông chỉ thực hiện bước nộp đăng ký hưởng trợ cấp mà còn thực hiện công tác,chức năng giới thiệu, tư vấn, đào tạo nghề,…Khác với bảo hiểm xã hội chỉ thực hiệnchức năng thu – chi trợ cấp thuần túy theo quy định
Thứ tư, việc xác định được đối tượng được hưởng trợ cấp thất nghiệp khó hơn
so với các chế độ an sinh khác Việc xác định và xác minh giữa việc người lao động
có việc làm và chưa có việc làm, có thu nhập và chưa có thu nhập trong thực tế là rấtkhó xác mình Vì thực chất việc này đến từ sự tự giác và trách nhiệm của người laođộng và cả cơ quan chuyên trách Do đó, trong thực khó xác định đúng các đối tượngphù hợp để chi trả trợ cấp thất nghiệp
Trang 221.1.2 Bản chất của Bảo hiểm thất nghiệp.
Về bản chất, Tác giả Mai Thị Minh Hường nhận định (2019, Tr.21): Bảo hiểmthất nghiệp được thực hiện trên nguyên tắc “lấy số đông bù cho số ít”, người laođộng và người sử dụng lao động chỉ cần đóng một khoản nhỏ thu nhập của mình choquỹ bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ nòng cốt trong hệ thống an sinh xã hội.Đồng thời mang tính chất giống bảo hiểm xã hội nhưng lại không hoàn toàn như bảohiểm xã hội, lại mang tính chất của cơ chế việc làm Do đó, bảo hiểm thất nghiệpcũng mang những tính chất riêng biệt:
Một là, đối tượng áp dụng của bảo hiểm thất nghiệp là những người lao động bịmất việc và mong muốn hòa nhập lại thị trường lao động, nhưng ở bảo hiểm xã hội
là những người đang có việc nhưng thuộc một số trường hợp theo quy định của bảohiểm xã hội được hưởng các chế độ: thai sản, ốm đau hoặc về hưu,
Hai là, ở bảo hiểm xã hội là hỗ trợ phụ cấp, thu nhập cho đối tượng đượchưởng, nhưng ở bảo hiểm thất nghiệp ngoài việc hỗ trợ thu nhập một phần, còn có
hỗ trợ người lao động tìm việc làm, hỗ trợ học nghề Đây là điểm khác nổi bật màngười lao động nhận được khi họ bị thất nghiệp Xét về phía người lao động, họ cóthể tìm việc nhanh chóng hơn và có lại được thu nhập cố định như ban đầu Xét vềphía Nhà nước, việc hỗ trợ này góp phần thúc đẩy quá trình "thôi nhận trợ cấp" củangười lao động, giảm bớt gánh nặng phát sinh chi trợ cấp từ nguồn quỹ thất nghiệp
Về phía doanh nghiệp, người sử dụng lao động không phải chi trả khoản trợ cấp quálớn cho người lao động nếu thực hiện đầy đủ trách nhiệm đóng phí, vì thực tế, tiềntrợ cấp thất nghiệp từ người sử dụng lao động bằng thời gian thực tế làm việc trừ đithời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, do đó, đóng bảo hiểm thất nghiệp càng sớm và
đủ thì khả năng chi trả trợ cấp sau này của người sử dụng lao động càng giảm
Như vậy, bảo hiểm thất nghiệp đem lại nguồn lợi ích hợp lý cho cả ba đốitượng góp phần hình thành nguồn quỹ khi có phát sinh rủi ro xảy ra
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm thất nghiệp.
Bảo hiểm thất nghiệp là một hệ thống tiến bộ và có vai trò rất quan trọng ở tất
cả các quốc gia Cụ thể:
Đối với NLĐ:
Trang 23Nhằm duy trì cuộc sống ở mức cơ bản so với mức sống chung của toàn xã hội,bất kỳ NLĐ nào đều cần tìm cho mình một công việc ổn định, phù hợp với trình độ,khả năng của bản thân, nhất là những công việc càng nhẹ nhàng nhưng có mứclương cao Nếu không may NLĐ gặp rủi ro mất việc thì bảo hiểm thất nghiệp sẽ chịutrách nhiệm trong việc chi trả trợ cấp nhất định so với phần đóng góp trước khi mấtviệc thông qua một khoản tiền nhất định giúp NLĐ ổn định cuộc sống và có thểtránh rơi vào tình trạng không đáp ứng được các nhu cầu sống cơ bản Các khoảntiền trợ cấp tuy không cao nhưng cũng là một nguồn hỗ trợ về mặt tài chính tạm thờinhằm làm đảm bảo một phần nhu cầu trong cuộc sống của NLĐ sau khi bị thấtnghiệp Bên cạnh đó, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ dừng lại ở việc bù đắp thunhập, mà còn giúp NLĐ sớm quay trở lại thị trường lao động và nhanh chóng tìmđược việc làm phù hợp thông qua hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm hay đào tạonghề Đây chính là điểm đặc thù của bảo hiểm thất nghiệp so với các chế độ kháctrong hệ thống an sinh khác, mang bản chất đặc trưng của chế độ việc làm Ngoài ra,NLĐ bị thất nghiệp còn được hưởng nhiều quyền lợi khác từ bảo hiểm thất nghiệpnhư được đóng bảo hiểm y tế trong thời gian bị thất nghiệp hay được bồi dưỡng,nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ Đây là một trong giảipháp hữu hiệu trong việc phòng ngừa từ xa tình trạng thất nghiệp có thể xảy ra.
Đối với người sử dụng lao động:
Khi người sử dụng lao động tham gia và thực hiện đầy đủ trách nhiệm bảohiểm thất nghiệp thì NSDLĐ khi có rủi ro về tài chính doanh nghiệp dẫn đến việcphải giảm lao động hay chấm dứt hợp đồng khi hoàn thành công việc đã ký kết hoặcgiải quyết theo nhu cầu nghỉ việc của người lao động hoặc nhu cầu đến từ doanhnghiệp theo các trường hợp thuộc Điều 46 Bộ Luật Lao động 2019 [17], thì doanhnghiệp không phải chi phần kinh phí quá lớn cho người lao động trong việc chi trảtrợ cấp thôi việc
Theo quy định tại Nghị định 28/2015/NĐ-CP: Nếu người sử dụng thực hiệntrách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ thì việc chi trả trợ cấp thôi việc là mộtcon số không quá lớn đối với người sử dụng lao động, đặc biệt nếu tình trạng doanhnghiệp đang khó khăn Tuy nhiên, từ khi bảo hiểm thất nghiệp ra đời, người
sử dụng lao động đã được phần nào san sẻ nỗi lo chi trợ cấp cho người lao động
Trang 24trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng, tất nhiên nếu người sử dụng lao động cóthực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động Không chỉ san sẻgánh nặng tài chính với người sử dụng lao động thông qua việc chi trả trợ cấp màcòn hỗ trợ người lao động trong việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, từ đó,giúp người lao động đáp ứng được các nhu cầu thực tiễn công việc để họ nắm bắt vàhòa nhập lại môi trường lao động.
*Đối với Nhà nước:
Nhà nước hỗ trợ một phần vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp ngoài việc thể hiện sựquan tâm đến đối tượng người lao động mà còn góp phần giảm gánh nặng tài chính,
ổn định trật tự - xã hội trong trường hợp thất nghiệp tăng nhanh Ngoài ra, việc hìnhthành, tạo cơ chế pháp luật bảo hiểm thất nghiệp nhằm thúc đẩy sự tuần hoàn, lưuthông trong thị trường lao động, tránh tình trạng cầu lớn hơn cung, và sử dụng tối đahiệu suất, chất lượng lao động, đảm bảo tránh lãng phí nguồn nhân lực
áp lực nếu xảy ra việc thất nghiệp thì bảo hiểm thất nghiệp, người lao động sẽ được
“hỗ trợ” bù đắp một phần thu nhập tạm thời theo định mức mà trước khi thất nghiệpngười lao động đã tham gia đóng góp Song song, bảo hiểm thất nghiệp còn giúpngười lao động có thể nhanh chóng tìm được việc làm mới để hòa nhập lại thị trườnglao động, giúp họ sớm cải thiện được đời sống hằng ngày và quay lại nhịp sống nhưban đầu Như vậy, tham gia bảo hiểm thất nghiệp được coi là một hoạt động tích cựcnhằm tránh rủi ro cho bản thân trong tương lai và chia sẻ rủi ro với xã hội
Thứ hai, cân bằng về mặt lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Khi lâm vào trình trạng thất nghiệp, người lao động sẽ có xu hướng cố gắng
Trang 25tìm việc thật nhanh, nhằm ổn định lại tình hình thu nhập trước khi thất nghiệp Do
đó, người lao động đôi khi phải chấp nhận các công việc chưa thực sự phù hợp vớitrình độ chuyên môn của bản thân cũng như khả năng của mình Với khối lượngcông việc, đôi khi phần thu nhập của họ không thực sự xứng đáng, làm việc nặngnhọc, độc hại nhưng thù lao nhận được chưa đủ đảm bảo Việc đó gây ra nhiều thiệtthòi cho chính người lao động và gây lãng phí nguồn nhân lực lao động cho xã hội
mà người được nhiều lợi hơn chính là người sử dụng lao động Thông qua việc thamgia bảo hiểm thất nghiệp, được lao động có thể an tâm tìm kiếm công việc xứng tâm
và tầm với khả năng của bản thân, không phải vội vàng tìm việc “bừa” Các chínhsách của bảo hiểm thất nghiệp giúp hạn chế rủi ro, các mặt tiêu cực của người laođộng khi họ trong thời gian mất việc Mặt khác, đối với người sử dụng lao động, bảohiểm thất nghiệp san sẻ một phần trợ cấp khi người lao động nghỉ việc, các doanhnghiệp khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ không phải chi một khoản trợ cấp quálớn, khi mà có thể doanh nghiệp đang gặp các khó khăn về mặt tài chính
Thứ ba, mang ý nghĩa nhân văn, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước,hạn chế
sự bất công và các vấn đề về tệ nạn xã hội.
Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ giúp người lao động giảm bớt nỗi lo về tàichính khi thất nghiệp mà nó còn là các chính sách an sinh xã hội ở mỗi quốc gia.Người lao động là bộ phận cần được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước người sửdụng lao động, do đó cần có sự can thiệp, điều tiết từ phía Nhà nước Cần có sự cânđối về mức phí đóng của những người tham gia để tránh tình trạng cào bằng, dongười lao động thu nhập cao đóng mức phí cao, thu nhập thấp đóng mức phí thấp,việc cân đối này giúp người lao động đảm bảo được nhu cầu cũng như mức sống chongười lao động Việc đóng góp một phần ngân sách nhà nước vào quỹ bảo hiểm thấtnghiệp thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với chính sách an sinh trên Khôngchỉ san sẻ gánh nặng thu nhập khi mất việc đối với người lao động mà nó còn giảmbớt gánh nặng tài chính của doanh nghiệp khi phải chi trả trợ cấp thôi việc
cho người lao động, Nhà nước cũng giảm bớt gánh nặng khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra Qua đó, người sử dụng lao động vừa thể hiện trách nhiệm của mình đối với sựcống hiến của người lao động khi đóng phí bảo hiểm thất nghiệp cho người lao độnglàm việc cho doanh nghiệp, còn người lao động thì thể hiện được sự trách nhiệm của
Trang 26bản thân đối với cộng đồng khi góp phần chia sẻ rủi ro khi tham gia bảo hiểm thấtnghiệp, còn nhà nước đóng thể hiện chức năng xã hội, chức năng quản lý xã hội.
1.1.4 Các yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể:
Thứ nhất: Về mức đóng phí bảo hiểm thất nghiệp
Định mức phí đóng bảo hiểm thất nghiệp cho từng đối tượng phù hợp là yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi hiểu của pháp luật bảo hiểm thất nghiệp Vì
nó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong việc đóng gópvào nguồn quỹ bảo hiểm thất nghiệp liên quan: Nhà nước, người sử dụng lao động,người lao động
Đối với người lao động: Mức phí đóng phí phù hợp dựa trên tỉ lệ lương củangười lao động, để sau khi trừ phí đóng, người lao động vẫn còn một khoản thu nhập
đủ để trang trải cuộc sống Nếu phần trăm tỉ lệ phí đóng quá cao, người lao động sẽkhó có thể tham gia đóng và từ đó có thể ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi pháp luậtbảo hiểm thất nghiệp vì vốn dĩ nó được hình thành để bảo vệ quyền lợi người laođộng, hỗ trợ người lao động chứ không phải là gây khó khăn cho người lao động.Đối với người sử dụng lao động: việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ giúp họsan sẻ gánh nặng tài chính trong việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động, do
đó mức phí phù hợp cũng là một điều quan tâm của họ Trong trường hợp, nếu mứcphí quá cao thì có thể người sử dụng lao động sẽ không tiếp tục tham gia bảo hiểmthất nghiệp Tuy vậy, vẫn còn nhiều trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặcthực hiện chậm đóng phí bảo hiểm thất nghiệp, Nhà nước cần có cái chế tài nghiêmkhắc hơn cho hành vi này để đảm bảo quyền lợi cho người lao động
Đối với Nhà nước, trích từ ngân sách một phần vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp
có ý nghĩa vô cùng quan trọng thể hiện sự quan tâm nhân đạo đến với đời sống nhândân Việc này sẽ hỗ trợ gánh nặng về mức đóng phí cho người lao động và người sửdụng lao động
Thứ hai: Về quy trình, thủ tục giải quyết quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp
Thủ tục giải quyết hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp phải được đơn giản hóa,đảm bảo đúng người đúng việc và phải kịp thời thì người việc thực thi bảo hiểm thấtnghiệp mới đạt hiệu quả Bởi, thủ tục nhanh chóng, năng suất thì mới tạo được lòng
Trang 27tin cho người tham gia, phải thực sự dễ như việc đóng phí vào quỹ, như việc ngườilao động đã tham gia “đầu tư” vào thì việc sau này họ được hưởng “lợi nhuận” phảinhanh và năng suất thì việc đầu tư mới được tiếp tục và lan rộng Có thể nói, như đãphân tích ở trên, về bản chất bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách an sinh xã hộikết hợp với cơ chế việc làm Do vậy, cần xây dựng, ban hành các quy trình, thủ tụcgiải quyết quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp phải đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
Thứ ba: Về nguồn quỹ bảo hiểm thất nghiệp hình thành từ người lao động và
người sử dụng lao động đóng, một phần kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước vàcác hoạt động đầu tư từ quỹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 57 Luật Việc làm 2013như mua trái phiếu chính phủ/địa phương/công ty; gửi tiết kiệm,…[15]
Thứ tư, Công tác quản lý, điều hành, triển khai và tổ chức chi trả trợ cấp thất nghiệp của các cơ quan chuyên trách.
Công tác quản lý sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp, tuyên truyền và phổ biếnrộng rãi các quy định về pháp luật bảo hiểm thất nghiệp đến với người lao động để
họ biết và hiểu rõ quyền và lợi ích của bản thân khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Từ đó, nâng cao nhận thức của người lao động góp phần nâng cao hiệu quả thực thibảo hiểm thất nghiệp Bên cạnh nó, cần phải thường xuyên giảm sát, kiểm tra côngtác chi trả trợ cấp, hỗ trợ, tư vấn, đào tạo học nghề,… để tránh các trường hợp bỏsót , lạm quyền, hách dịch trong công tác chi trả và hỗ trợ người lao động
1.2 Pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp.
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam ra đời khá muộn vào năm 2009 thông quaLuật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày ngày 29 tháng 6 năm 2006 và là mộtchế độ an sinh trong hệ thống an sinh xã hội thuộc bảo hiểm xã hội Vào thời điểm
đó, bảo hiểm thất nghiệp chưa có ban hành văn bản luật riêng lẻ quy định cụ thể hơn.Trong khi, bảo hiểm thất nghiệp có mặt rất sớm ở nhiều quốc gia, có thể kể đến nướcsớm nhất là Đan Mạch (1907), Canada (1940); Pháp (1958)….[33]
Đến nay 2013, các quy định có liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp được cụ thểhóa ở Luật Việc làm 2013 về các chế độ, chính sách đi kèm khoảng trợ cấp thấtnghiệp được quy định tại Mục 3 của Luật này Có thể nói, Nhà nước đã có sự quan
Trang 28tâm và cũng nhìn nhận được tầm quan trọng của bảo hiểm thất nghiệp đối với nềnkinh tế xã hội, an ninh trật tự cũng như ý nghĩa nhân vân của nó.
Cùng với sự thay đổi và phát triển của các thời kỳ, thông qua Luật Bảo hiểm xãhội năm 2014, Nghị định 28/2015/NĐ-CP tuy không có sự đột phá lớn nhưng thôngqua thực tế phát sinh đã nhìn nhận thấy những hạn chế cũng như bất cập, đây là điềutất yếu khi áp dụng luật vào thực tế Nhìn nhận được những bất cập trong việc ápdụng các quy định, Nhà nước đã ban hành Nghị định 61/2020/NĐ-CP nhằm điềuchỉnh, bổ sung một số điều trong Luật việc làm 2013 cũng như Nghị định28/2015/NĐ-CP Thông qua thực tế áp dụng các quy định mới thay đổi một số điềukiện xác định hưởng trợ cấp và làm rõ hơn quy định với mục đích dễ dàng cho NLĐ,NSDLĐ và cả cơ quan cấp thẩm quyền
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Việt Nam là 60% Trợ cấp thất nghiệp caonhất là ở Đan Mạch tới 90%, Argentina là 50% cho 4 tháng đầu tiên sau đó thấp hơn,tại Bahrain là 60% cho người kiếm việc làm lần đầu tiên, 55% ở Canada, cao nhất làĐan Mạch 90%; tại Pháp là 75% cho thu nhập thấp và 57% cho thu nhập cao, 50%cho người thất nghiệp ở Hàn Quốc và Thái Lan [35] Tùy thuộc vào chính sách củamỗi quốc gia mà bảo hiểm thất nghiệp có hai loại là bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm
tự nguyện Tuy nhiên, bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam là một loại hình bảo hiểmbắt buộc
1.2.2 Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp
1.2.2.1 Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Về đối tượng tham gia vào bảo hiểm thất nghiệp gồm người lao động, người sửdụng lao động và Nhà nước Cụ thể:
Người lao động
Theo khoản 1 Điều 3, Điều 43 Luật Việc làm năm 2013 thì người lao động làcông dân Việt Nam, phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồnglao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; Hợp đồng lao động hoặchợp đồng lao động xác định thời hạn; hợp đồng lao động theo thời vụ hoặc theo mộtcông việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng [15]
Hợp đồng lao động được quy định tại Điều 13 Bộ luật Lao động 2019; Hợp
Trang 29đồng làm việc quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật Viên chức 2010, tức là đối tượngtham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm người lao động và viên chức nhà nước cũngthuộc đối tượng cần tham gia Như vậy, theo quy định này thì chỉ có người lao động
là công dân Việt Nam đủ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên), có khả năng lao động và
có nhu cầu tìm việc, làm việc; thực hiện giao kết các loại hợp đồng, hợp đồng làmviệc theo quy định thì mới thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp Các đốitượng không thuộc đối tượng tham gia bao gồm: người nước ngoài làm việc tại ViệtNam, người hưởng lương hưu, trợ cấp do mất sức lao động, người làm việc giúp việcnhà, người lao động giao kết hợp đồng từ dưới 03 tháng Ngoài ra, còn có người laođộng đang hưởng chế độ thai sản hoặc đau ốm từ 14 ngày trở lên không hưởng tiềnlương tháng tại đơn vị, và hiện đang hưởng chế độ trợ cấp trên từ cơ quan bảo hiểm
xã hội, người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc đãgiao kết được quy định tại Điều 11 Nghị định 28/2015/NĐ-CP[5]
Luật quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 12 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quyđịnh về đối tượng đóng bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: người nghỉ việc từ 14 ngàytrở lên để hưởng chế độ thai sản hoặc đau ốm không hưởng lương tại đơn vị, ngườitạm hoãn hợp đồng lao động/ hợp đồng làm việc đã giao kết hợp đồng [5] Việc này
đã làm hạn chế việc hưởng trợ cấp thất nghiệp của nhiều lao động trong thực tế Do
đó, Điều 1 Nghị định 61/2020/NĐ-CP có điều chỉnh, mở rộng phạm vi xác định đốitượng là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 49 của Luật Việclàm 2013 [8] Việc mở rộng này đã giúp rất nhiều trường hợp được giải quyết đượcnhận chế độ bảo hiểm thất nghiệp, khắc phục những khuyết điểm trước.Vì thế, Nhànước cũng cần quan tâm, cân nhắc đến các đối tượng chưa thuộc đối tượng đượctham gia bảo hiểm thất nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi ngang nhau giữa nhữngngười lao động khác
Người sử dụng lao động
Tại khoản 3, Điều 43 Luật việc làm năm 2013 quy định người sử dụng laođộng tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: “Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệpcông lập, đơn vị vũ trang nhân dân; […] tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sửdụng lao động” [15]
Trước kia, theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội
Trang 30năm 2006 và Điều 3 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP, đối tượng tham gia bảo hiểmthất nghiệp chỉ áp dụng đối các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có sửdụng từ 10 lao động trở lên Thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng dưới 10 laođộng, mà những doanh nghiệp này thường có quy mô nhỏ, không ổn định nên ngườilao động dễ bị thất nghiệp Vì vậy, cùng với việc mở rộng đối tượng tham gia đóngbảo hiểm thất nghiệp, Luật Việc làm năm 2013 cũng đề ra những thay đổi về việctham gia bảo hiểm thất nghiệp của người sử dụng lao động Như vậy, việc xác địnhdoanh nghiệp phải tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp không còn dựa trên cơ sở sốlượng người làm việc trong doanh nghiệp mà tùy thuộc vào thời hạn hợp đồng laođộng/hợp đồng làm việc đã giao kết.
Sự thay đổi đáng kể này không chỉ hỗ trợ, giải quyết những khó khăn chongười lao động khi mất việc mà còn ràng buộc thêm trách nhiệm từ phía người sửdụng lao động Tuy nhiên, vấn đề đặt ra về việc giải quyết cũng như xử lý chế độ trợcấp cho người lao động tại các thời điểm không bắt buộc tham gia bảo hiểm thấtnghiệp cho người lao động tại các doanh nghiệp trước đó còn nhiều vướng mắc.Nguyên nhân đến từ việc chế độ giải quyết trợ cấp thôi việc cho người lao động tạiNghị định 145/2020/NĐ-CP, cụ thể hơn là tại Khoản 3 Điều 8 của Nghị định này có
đề cập đến hướng dẫn về chi trả mức trợ cấp thôi việc, cụ thể: Mức trợ cấp thôi việc
= Thời gian làm việc thực tế - Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp [9] Đặt vấn đề
ở đây, theo Luật BHXH 2006 thì các doanh nghiệp có dưới mười lao động sẽ khôngthuộc trường hợp bắt buộc đóng bảo hiểm thất nghiệp Do đó, vào thời điểm đónhiều doanh nghiệp có thực hiện ký kết hợp đồng lao động nhưng không đồng thời
để người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp Và cho tới Luật BHXH 2015, LuậtViệc Làm 2013 không còn ràng buộc này Luật tạo các chế độ cho người lao động,đồng thời giảm sức ép cho doanh nghiệp trong việc thực hiện chế độ chi trả theoLuật
Nhà nước
Việc nhà nước tham gia hỗ trợ một phần kinh phí đóng góp vào quỹ bảo hiểmthất nghiệp nhằm duy trì nguồn quỹ, sau đó là thể hiện sự quan tâm của Nhà nướcđến người lao động Đồng thời, duy trì sự ổn định, trật tự an toàn xã hội vì nếu tìnhtrạng thất nghiệp bùng nổ mà không tìm được phương hướng giải quyết hay hàng rào
Trang 31bảo hộ từ đầu sẽ gây ra hậu quả nặng nề cho nền kinh tế.
Như vậy, đối tượng và phạm vi áp dụng bảo hiểm thất nghiệp theo quy địnhcủa Luật Việc làm hiện hành đã mở rộng hơn so với quy định của Luật BHXH trướcđây ở đối tượng là người có công việc thời vụ từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.Trước đây theo quy định cũ thì người lao động làm việc theo hợp đồng lao động cóthời hạn từ đủ 6 tháng trở lên mới thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.Việc mở rộng phạm vi tham gia bảo hiểm thất nghiệp đã thể hiện chính sách xã hội
và an sinh của nước ta ngày được chú trọng và phát triển Việc mở rộng phạm vitham gia bảo hiểm thất nghiệp cũng nhằm đảm bảo sự ổn định cho đối tượng làngười có công việc từ 3 tháng đến dưới 12 tháng Đây là đối tượng thường xuyên có
sự thay đổi về công việc nên việc quy định bảo hiểm thất nghiệp cho họ sẽ nhằmđảm bảo tốt hơn đời sống cho họ khi họ chưa tìm kiếm được việc làm mới Phạm viđối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp mặc dù đã mở rộng hơn so với quy địnhtrước trước đây nhưng vẫn còn bó hẹp trong phạm vi những người tham gia hợpđồng lao động và hợp đồng làm việc mà không quy định cho đối tượng không thamgia hợp đồng lao động Việc không áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho đối tượng làngười lao động không tham gia hợp đồng lao động xuất phát từ khó khăn trong việcduy trì và quản lí quỹ bảo hiểm, vấn đề xác định và quản lí đối tượng thất nghiệpcũng như các vấn đề liên quan đến chính sách an sinh xã hội Việc Nhà nước thamgia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp như là một sự đảm bảo tồn tại cho hìnhthức bảo hiểm này Không chỉ thể hiện trách nhiệm trong việc xây dựng chính sách
mà còn thể hiện sự quan tâm nhân đạo của Nhà nước dành cho nhân dân Không chỉở
Việt Nam, mà đa số các nước có chính sách bảo hiểm thất nghiệp đều thực hiện việc
hỗ trợ này đối với nguồn quỹ Tuy nhiên, mỗi quốc gia có chính sách, định mức hỗtrợ khác nhau Dương Thị Nguyệt Khuê (2017,Tr.19) nêu rõ: “Ở Việt Nam người laođộng sẽ đóng góp 1% trên quỹ lương, người sử dụng lao động đóng góp 1% trên quỹtiền lương tháng của những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và Nhà nước sẽ hỗtrợ tối đa 1% quỹ lương tháng bảo hiểm thất nghiệp của những người tham gia bảohiểm thất nghiệp Nhưng ở Nhật Bản thì người lao động chỉ đóng 0,6% còn Chínhphủ là 25% trên tổng mức chi”
Trang 321.2.2.2 Về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Theo quy định tại Điều 49 Luật Việc làm và Điều 11 Nghị định
28/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp,người lao động bị thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ điềukiện sau:
Thứ nhất, người lao động đang đóng bảo hiểm bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp: NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng [15],
[5]
Theo quy định này, điều kiện đầu tiên phải là người lao động có tham gia bảohiểm thất nghiệp và bị thất nghiệp thuộc các trường hợp theo quy định tại Khoản 1Điều 43 Luật Việc làm 2013 [15] Như vậy, các trường hợp không được hưởng trợcấp thất nghiệp khi người lao động chấm dứt hợp đồng/hợp đồng làm việc trái phápluật, bị xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải hay buộc thôi việc theo quy định của phápluật hoặc bị kết án tù giam theo quyết định của tòa án, mất tích hoặc chết theo tuyên
bố của tòa án Để tránh tình trạng người lao động ỷ lại vào các khoản trợ cấp, các hỗtrợ từ bảo hiểm thất nghiệp đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm của người laođộng mà không trân trọng công việc mà mình đang làm
Thứ hai, người thất nghiệp phải tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian theo quy định của pháp luật.
Quy định tại Điều 43, Khoản 2 Điều 49 Luật Việc làm 2013, hợp đồng laođộng/ hợp đồng làm việc có xác định thời gian hoặc không xác định mà có thời gianđóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khithất nghiệp; đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi thất nghiệp đốivới hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc một công việc xác định có thời hạn đủ 03tháng đến dưới 36 tháng [15]
Theo quy định, để hưởng được các chế độ trợ cấp thất nghiệp thì người laođộng, người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đóng góp phí vàoquỹ bảo hiểm thất nghiệp với định mức nhất định và trong một khoảng thời gian theoquy định Trong trường hợp người lao động hay người sử dụng lao động không thực
Trang 33hiện đúng và đủ nghĩa vụ nộp phí thì khi có rủi ro xảy ra cả người lao động, người sửdụng lao động đều bị mất quyền lợi: người lao động sẽ chậm nhận được trợ cấp vàcác quyền lợi đi kèm như tư vấn, giới thiệu việc làm,…còn người sử dụng lao động
có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp phí + lãi theo quy định, nặng hơn sẽ bị xử lý
vi phạm hành chính theo Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP [10] sau đó nếu khôngkhắc phục sẽ xử lý hình sự Nhưng trên hết việc này ảnh hưởng nặng đến lợi ích củangười lao động hơn là người sử dụng lao động Ngoài ra, theo Khoản 2 Điều 12 Nghịđịnh 28/2015/NĐ-CP, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp là người laođộng có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làmviệc đã đóng bảo hiểm thất nghiệp và được tổ chức bảo hiểm xã hội xác nhận [5]
“Tháng liền kề” đã làm nhiều người lao động điêu đứng, họ không thể nhận trợ cấpthất nghiệp dù thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp nhiều năm, ví dụ trường hợp củaAnh Nguyễn Mạnh Hùng làm việc tại một đơn vị thuộc Bưu điện thành phố Hà nội
có thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 14 năm 4 tháng (trong đó thời gian đóng bảohiểm thất nghiệp là 8 năm) Khi nghỉ việc anh Hùng cũng làm hồ sơ và thủ tụchưởng trợ cấp thất nghiệp đúng thời gian quy định Tuy nhiên, anh Hùng lại khôngđược nhận trợ cấp thất nghiệp Thông qua rà soát, thì anh Hùng làm việc hết tháng6/2018, do thời điểm tháng 6 có việc gia đình nên anh Hùng đã xin nghỉ phép 10ngày nên phía công ty đã không đóng bảo hiểm thất nghiệp cho anh Hùng tháng này.Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của anh Hùng là ngày 29/5 và chỉ tính bảohiểm thất nghiệp đến hết tháng 5/2018 Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 thì anh Hùng không đủ điều kiện nhận trợ cấp thấtnghiệp với lý do không đáp ứng được
yêu cầu về “tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp liền kề” [37] Nhìn nhận được mặt hạnchế trong điều luật, ngày 29/5/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định 61/2020/NĐ-
CP nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều, trong đó tại Khoản 4 Điều 1 của Nghị định
đã góp phần hoàn thiện, bảo đảm quyền lợi của người lao động Tại đây, Nghị định
có quy định lại về tháng mà người lao động được xác định là đóng bảo hiểm thấtnghiệp thuộc một trong các trường hợp: “a) là tháng chấm dứt hợp đồng laođộng/hợp đồng làm việc; [ ]Và phải được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận “[8].Theo quy định của Luật Việc làm 2013, tùy vào từng loại hợp đồng mà thời
Trang 34hạn đóng bảo hiểm thất nghiệp là đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng hoặc
36 tháng trước khi NLĐ thất nghiệp Tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của NLĐđược tính nếu NSDLĐ và NLĐ đã thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làmviệc và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp Như vậy, so với khoản 1 Điều 15 Nghị định127/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật BHXH về bảo hiểm thất nghiệp, Luậtviệc làm 2013 quy định cùng là NLĐ nhưng phụ thuộc vào loại hợp đồng đã ký kết
mà điều kiện hưởng trợ cấp khác nhau Do đó, cũng là cùng vai trò người lao độngchỉ là loại hợp đồng ký kết khác nhau mà khoảng thời gian được hưởng lại cách quá
xa nhau như vậy Cần có các quy định về thời gian đóng phí sao cho dung hòa giữalợi ích của các đối tượng hưởng trợ cấp khi ký kết các loại hợp đồng khác nhau.Cóthể khoảng cách chỉ là 06 tháng thay vì 12 tháng như quy định
Thứ ba, để hưởng trợ cấp thất nghiệp người thất nghiệp phải nộp hồ sơ tại Trung tâm dịch vụ việc làm ở địa phương nơi NLĐ muốn nhận TCTN.
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 1 Thông tư 04/2013/TT-BLĐTBXH, trongthời gian 03 tháng kể từ khi người lao động bị mất việc hoặc chấm dứt hợp đồng laođộng/hợp đồng làm việc mà chưa tìm được việc, có nhu cầu hưởng trợ cấp thì phảiđăng ký thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm nơi mình làm trước khi thấtnghiệp hoặc tại Trung tâm dịch việc làm khác thì phải có giấy xác nhận về việc chưađăng ký thất nghiệp tại Trung tâm trên [2] Trên thực tế, việc đăng ký thất nghiệp tạo
ra rất nhiều rào cản cho người lao động và cả vấn đề tổ chức chi trả trợ cấp cho các
cơ quan chuyên trách Vì nếu muốn nhận trợ cấp tại Trung tâm dịch vụ việc làmkhác nơi mình đã làm việc thì phải có xác nhận của Trung tâm dịch vụ việc
làm đó thì mới được nhận tại Trung tâm khác do đó sẽ tạo cảm giác rắc rối trong thủtục cho người lao động và khó quản lý cho Trung tâm dịch vụ việc làm Do vậy, khigiải quyết các chế độ của bảo hiểm thất nghiệp sẽ không đạt được hiệu quả tối ưu.Nhìn nhận được khó khăn khi thực tế thực hiện, Luật việc làm năm 2013 và Nghịđịnh 28/2016/NĐ-CP, cũng trong 03 tháng kể từ ngày nhận các thông báo/quyết địnhthôi việc thì người lao động sẽ trực tiếp nộp hồ sơ và bỏ qua khâu đăng ký thấtnghiệp như trước Và sẽ được phép nhận trợ cấp thất nghiệp ở Trung tâm dịch vụviệc làm tại địa phương nơi NLĐ muốn nhận trợ cấp[15],[5] Quy định này giúp choNLĐ thoải mái, dễ dàng và chủ động hơn trong việc tiến hành thủ tục hưởng trợ cấp
Trang 35thất nghiệp.Tuy nhiên, hàng tháng NLĐ thất nghiệp vẫn phải có trách nhiệm khaibáo với trung tâm dịch vụ việc làm nơi họ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về việctìm kiếm việc làm Tại Điểm e Khoản 9 Điều 1 Nghị định 61/2020/NĐ-CP ngày29/5/2020, trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, trong 03 tháng liên tục màngười hưởng trợ cấp không thông báo với trung tâm Dịch vụ việc làm về việc tìmkiếm việc làm thì sẽ bị chấm dứt việc hưởng trợ cấp thất nghiệp [8] Qua đó, côngtác quản lý lao động cũng có được số liệu chính xác về số lượng người thất nghiệp,
để từ đó sẽ có các biện pháp phù hợp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, góp phầncải thiện các chính sách về các vấn đề việc làm và thất nghiệp
Qua đó, cơ quan quản lý nhà nước về lao động cũng có được số liệu chính xác
về số lượng người thất nghiệp, từ đó đề ra biện pháp phù hợp để giải quyết tình trạngthất nghiệp, góp phần hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội của đất nước, trong
đó có chính sách về vấn đề việc làm và thất nghiệp
Thứ tư, NLĐ chưa tìm được việc làm sau 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ
sơ hưởng BHTN tới Trung tâm dịch vụ việc làm Ngày thứ nhất trong 15 ngày nêu
trên là ngày ngay sau ngày NLĐ đăng ký thất nghiệp, tính theo ngày làm việc, tức là
từ ngày thứ hai đến hết ngày thứ sáu hàng tuần Quy định này về thời điểm tínhhưởng BHTN hiện hành còn tạo ra bất cập không phù hợp với thực tiễn, cụ thể:
khoản 3 Điều 15 nghị định số 127/2008/NĐ-CP quy định: “chưa tìm được việc làm
sau 15 ngày, kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động theo quy định”, trong khi đó
khoản 3 Điều 3 Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH lại quy định: “Thời điểm tính
hưởng các chế độ BHTN tính từ ngày thứ 16 và tính theo ngày làm việc kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định” [4] Như vậy, để đảm bảo đúng quy định về thời
điểm NLĐ được hưởng TCTN theo quy định trên thì quyết định TCTN cho NLĐphải được Sở Lao động -Thương binh và Xã hội ký từ trước ngày thứ 16, tức là quy
định về việc “chưa tìm được việc làm sau 15 ngày” như trên là không thể đảm bảo
được trên thực tiễn Để khắc phục điều này, khoản 4 Điều 49 Luật Việc làm năm
2013 quy định: “chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng
BHTN” và “thời điểm hưởng TCTN của NLĐ được tính từ ngày thứ 16 theo ngày làm việc kể từ sau 60 ngày nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp” [15] Theo đó, kể
từ ngày nhận được hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho đến ngày thứ 15 mà người
Trang 36thất nghiệp vẫn chưa tìm được việc mới, cơ quan quản lý về lao động sẽ duyệt hồ sơ
để họ được hưởng quyền lợi bảo hiểm từ ngày thứ 16 Như vậy, quy định mới đã giảiquyết bất cập, không thể thực hiện được trong quy định trước đây, giải tỏa được tâm
lý hoang mang của người thất nghiệp khi làm thủ tục hưởng bảo hiểm, góp phầncủng cố niềm tin cho người thất nghiệp
Bản chất của trợ cấp thất nghiệp là để hỗ trợ cho NLĐ bị thất nghiệp và chưa
có thu nhập nên yếu tố chưa tìm kiếm được việc làm là hết sức quan trọng Trên thực
tế, có nhiều trường hợp tuy có đi làm, có thu nhập nhưng lại vẫn muốn hưởng thêmtiền từ trợ cấp thất nghiệp dẫn đến tình trạng không thất nghiệp nhưng vẫn làm hồ sơ
để được hưởng trợ cấp thất nghiệp Chính vì vậy, BHTN lại không phát huy đúng vaitrò của nó nên cần đưa ra điều kiện về không tìm kiếm được việc làm để làm căn cứxác định có được hưởng trợ cấp thất nghiệp hay không Ngoài ra, cần có các điềukiện ràng buộc từ phía doanh nghiệp sử dụng người lao động, sự liên kết trong hệthống bảo hiểm, vì khi người sử dụng lao động không báo cáo về việc tham gia bảohiểm thất nghiệp cho người lao động lên cơ quan bảo hiểm, dẫn đến tình trạng ngườilao động có việc làm nhưng vẫn hưởng trợ cấp thất nghiệp
1.2.2.3 Về các chế độ trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp.
*về mức trợ cấp:
Mức trợ cấp thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm số tiền người tham gia được hưởng
từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp được chi trả dựa trên mức thu nhập của người đó trướckhi bị thất nghiệp Khoản trợ cấp nhiều hay ít phụ thuộc vào thời gian tham gia vàmức thu nhập của người tham gia Tuy nhiên, về nguyên tắc trợ cấp thất nghiệp phảithấp hơn thu nhập thực tế của người lao động khi đang làm việc.Theo quy định tạikhoản 1 điều 50 Luật việc làm 2013, mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng được tínhnhư sau:
Mức trợ cấp hàng tháng = Trung bình lương 06 tháng liền kề có đóng BHTNtrước khi thất nghiệp x 60% [15]
Đối với mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động thuộc đối tượng tiềnlương do Nhà nước quy định là tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở và khôngquá 05 lần mức lương tối thiểu vùng đối với các đối tượng thuộc quy định của Bộluật Lao động là những đối tượng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ lương của
Trang 37người sử dụng lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làmviệc Về thời gian hưởng mức trợ cấp được quy định cụ thể tại các Khoản 2,3 Điều
50 của Luật Việc Làm 2013 sẽ được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp,người lao động khi đóng đủ 12 tháng cho đến 36 tháng sẽ nhận được 03 tháng trợcấp thất nghiệp; sau đó cứ đủ 12 tháng thì sẽ được tính để chi trả 01 tháng trợ cấpthất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng Và thời điểm hưởng bảo hiểm thấtnghiệp sẽ được tính từ ngày thứ 16, kế từ ngày nộp đủ hồ sơ nhận trợ cấp thất nghiệptheo khoản 1 Điều 46 của Luật này [15]
Theo Mai Thị Minh Hường (2019, Tr.31):“Quy định về mức và thời gianhưởng TCTN ở Việt Nam là tương đối phù hợp với khuyến nghị của ILO và phápluật các quốc gia trên thế giới Trong Công ước số 102, ILO đã đề xuất mức hưởng
là 45% tổng thu nhập trước đó của người thụ hưởng và thời gian hưởng ít nhất là 13tuần” Việc pháp luật Việt Nam quy định thời gian hưởng, mức hưởng TCTN nhưvậy là hoàn toàn phù hợp và cân đối so với mặt bằng chung quy định của các quốcgia trên thế giới”
Về các chính sách hỗ trợ:
Chế độ hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm
NLĐ có quyền được tạo điều kiện thuận lợi để tìm kiếm việc làm mới Có việclàm, những gánh nặng về kinh tế, tâm lý theo đó cũng mất đi cùng thời gian Điềunày không chỉ giúp cho NTN có điều kiện sống tốt hơn, mà còn góp phần giảm dần
số lượng người thất nghiệp trong xã hội, giảm chi tiêu cho ngân sách Tuy nhiên, để
có việc làm mới, phù hợp không phải dễ do mỗi NTN có một khả năng làm việc,nhu cầu việc làm nhất định và trong xã hội cũng chỉ đáp ứng được việc làm cho một
số đối tượng nhất định Vì thế, để đảm bảo tính khả thi của chính sách, cần có nhữngquy định tạo điều kiện thuận lợi sao cho NTN dễ dàng hơn trong hành trình tìm kiếmviệc làm mới Theo Điều 7, 8 Công ước về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống thấtnghiệp, 1988 (Công ước 168) thì: “Mỗi Nước thành viên sẽ tuyên bố như một quyềnđược ưu tiên về mục tiêu chính sách đã được dự kiến khuyến khích đầy đủ việc lựachọn việc làm tự do và có hiệu quả bằng mọi biện pháp phù hợp, bao gồm cả đảmbảo xã hội Những biện pháp này bao gồm cả dịch vụ việc làm, đào tạo nghề vàhướng nghiệp”[13] Như vậy, theo Công ước, các nước thành viên cần có những
Trang 38biện pháp hữu hiệu để bảo vệ NLĐ tránh khỏi nguy cơ thất nghiệp tùy theo điều kiệntừng nước Đây không chỉ là trách nhiệm quốc gia đối với vấn đề an sinh xã hội màcòn thể hiện quyền được tạo công ăn việc làm của NLĐ Nếu khoản trợ cấp từBHTN là khoản thu bù đắp thu nhập trong thời gian NLĐ mất việc thì giải quyếtviệc làm chính là biện pháp khắc phục tình trạng thất nghiệp Vì vậy, đòi hỏi Nhànước cần có những biện pháp để tạo điều kiện cho người tham gia nhanh chóng tìmđược việc làm như: hướng nghiệp, tư vấn nghề nghiệp, giới thiệu việc làm; hỗ trợkinh phí đào tạo, đào tạo lại cho người tham gia; hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệpnhận người tham gia vào làm việc; hỗ trợ kinh phí cho người tham gia tự tạo việclàm; tổ chức việc làm tạm thời cho người tham gia; thực hiện các hoạt động ngănchặn thất nghiệp như đề xuất chỗ làm thêm trong các doanh nghiệp, giảm giờ làm,đào tạo nâng cao tay nghề, đào tạo lại, nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật và kỷluật lao động.
Về công tác tổ chức giới thiệu việc làm
Khi lao động khi bị thất nghiệp và có tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ được tưvấn, hỗ trợ tìm việc làm miễn phí theo Điều 14 Nghị định 28/2015/NĐ-CP [5].Nguồn kinh phí thực hiện sẽ được Nhà nước giao khoán dựa trên số lượng người nộp
hồ sơ của năm trước liền kề Hồ sơ quyết toán kinh phí sẽ dựa vào thực tế số lượngngười nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp Về mức phí sẽ thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật về phí Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này [5] Trên thực tế, nhằm tạomôi trường tìm việc làm đa dạng, các Trung tâm dịch vụ việc làm thường hay tổchức các hoạt động giới thiệu việc làm tại các cơ quan Bảo hiểm xã hội
thông qua việc tổ chức “ Ngày hội việc làm”, có sự liên kết từ một số doanh nghiệp
có nhu cầu tuyển dụng, như một hình thức cung – cầu nguồn nhân lực Thông quahình thức này, người lao động và người sử dụng lao động có thể trực tiếp trao đổi,phỏng vấn, tiếp cận nhu cầu công việc Đối với người sử dụng lao động: vừa tiếtkiệm được nhiều chi phí (chi phí đăng tin, in ấn thông tin tuyển dụng, chi phí conngười,…) vừa có thể quảng bá được công ty của mình Đối với người lao động: là cơhội tìm kiếm việc làm mới để hòa nhập lại môi trường lao động, tiết kiệm được thờigian tìm kiếm, di chuyển các nới,…Đối với cơ quan bảo hiểm: Đây vừa là hình thức
hỗ trợ giới thiệu việc làm, vừa là hình thức gián tiếp xác nhận việc người lao động có