Bài thuyết trình nhóm 7 Chủ đề: “ Phân tầng xã hội trong các loại xã hội khác nhau. Phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay ”. Giáo viên hướng dẫn: Trần Thanh Hương Thành viên nhóm: 1.Nguyễn Đình Nghiệp 2.Nguyễn Thành Nam 3.Lã Bích Ngọc 4.Lê Thị Hồng Nhung 5.Nguyễn Thị Nhung 6.Bùi Thị Nhung 7.Trần Thị Phượng 8.Trần Thị Bích Phượng 9.Hoàng Thị Quyên I. Phân tầng xã hội trong các loại hình xã hội Phân tầng xã hội là một hiện tượng gắn liền với bất bình đẳng xã hội nên nó cũng xuất hiện rất sớm trong lịch sử và thể hiện đa dạng trong các xã hội khác nhau, các nền văn hóa khác nhau và ở các giai đoạn lịch sử khác nhau. Dựa vào tính cơ động xã hội và kiểu xã hội ta có thể nhận rõ sự phân tầng xã hội khác nhau giữa năm hình thái kinh tế xã hội: 1. Nguyên thủy (thực tế trong xã hội này phân tầng dựa chủ yếu vào tầng lớp xuất thân) Do cơ sở kinh tế dựa trên nguyên tắc bình quân đầu người, trong xã hội này sự phân chia về đẳng cấp hay giai cấp chưa xuất hiện. Sự phân công lao động giữa nam và nữ chỉ mang tính phù hợp với khả năng lao động của từng giới, con người còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Đã có sự phân tầng xã hội về giới nhưng chưa thể hiện rõ ràng. Ví dụ?? 2. Chiếm hữu nô lệ Nhà nước chủ nô ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy (sự tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc ...), nó gắn liền với sự xuất hiện chế độ tư hữu sự phân chia XH thành các giai cấp đối kháng (vì ở chế độ cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp). Các nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên xuất hiện khoảng 4000 5000 năm trước công nguyên ở châu Á bắc Phi (Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập ...) Nhà nước chủ nô được coi là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô trong XH. Đây là kiểu xã hội có sự phân chia giai cấp đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người. Nó thể hiện ý chí của giai cấp chủ nô và là kiểu pháp luật bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ sở hữu tuyệt đối về ruộng đất của chủ nô. Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô chính là quan hệ sản xuất được đặc trưng bởi chế độ chiếm hữu tư nhân của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất nô lệ. Trong chế độ này, chủ nô là người sở hữu toàn bộ đất đai, tư liệu sản xuất cả người sản xuất là nô lệ. Do vậy, chủ nô có toàn quyền bóc lột nô lệ. Nô lệ phải hòan toàn phục tùng chủ nô, và trở thành những công cụ biết nói.
Trang 1Nhận xét:
1 Bài làm có dẫn chứng phong phú
2 Trong các xã hội khác nhau cần chỉ rõ những tầng xã hội, những tầng
xã hội đó được nhìn/phân tích theo nhưng căn cứ, tiêu chí nào?
3 Phần phân tầng xã hội tại VN: ngoài phân tầng xã hội về mặt kinh tế (thu nhập, chi tiêu, tài sản) như đã trình bày, còn có thể nhìn phân tầng xã hội theo tiêu chí gì nữa?
4 Thiếu sáng tạo trong sử dụng tài liệu
Bài thuyết trình nhóm 7
Chủ đề: “ Phân tầng xã hội trong các loại xã hội khác nhau.
Phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay ”.
Giáo viên hướng dẫn: Trần Thanh Hương
Thành viên nhóm:
1.Nguyễn Đình Nghiệp
2.Nguyễn Thành Nam
3.Lã Bích Ngọc
4.Lê Thị Hồng Nhung
5.Nguyễn Thị Nhung
6.Bùi Thị Nhung 7.Trần Thị Phượng 8.Trần Thị Bích Phượng 9.Hoàng Thị Quyên
Trang 2I Phân tầng xã hội trong các loại hình xã hội
Phân tầng xã hội là một hiện tượng gắn liền với bất bình đẳng xã hội nên
nó cũng xuất hiện rất sớm trong lịch sử và thể hiện đa dạng trong các xã hội khác nhau, các nền văn hóa khác nhau và ở các giai đoạn lịch sử khác nhau Dựa vào tính cơ động xã hội và kiểu xã hội ta có thể nhận rõ sự phân tầng xã hội khác nhau giữa năm hình thái kinh tế - xã hội:
1 Nguyên thủy (thực tế trong xã hội này phân tầng dựa chủ yếu vào tầng lớp xuất thân)
Do cơ sở kinh tế dựa trên nguyên tắc bình quân đầu người, trong xã hội này sự phân chia về đẳng cấp hay giai cấp chưa xuất hiện Sự phân công lao động giữa nam và nữ chỉ mang tính phù hợp với khả năng lao động của từng giới, con người còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Đã có sự phân tầng xã hội về giới nhưng chưa thể hiện rõ ràng Ví dụ??
2 Chiếm hữu nô lệ
Nhà nước chủ nô ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy (sự tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc ), nó gắn liền với sự xuất hiện chế độ tư hữu & sự phân chia XH thành các giai cấp đối kháng (vì ở chế độ cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp) Các nhà nước chiếm hữu nô
lệ đầu tiên xuất hiện khoảng 4000 - 5000 năm trước công nguyên ở châu Á
& bắc Phi (Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập ) Nhà nước chủ nô được
coi là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô trong XH
Đây là kiểu xã hội có sự phân chia giai cấp đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người Nó thể hiện ý chí của giai cấp chủ nô và là kiểu pháp luật bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ sở hữu tuyệt đối về ruộng đất của chủ nô
Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô chính là quan hệ sản xuất được đặc trưng bởi chế độ chiếm hữu tư nhân của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất & nô lệ Trong chế độ này, chủ nô là người sở hữu toàn bộ đất đai, tư
Trang 3liệu sản xuất & cả người sản xuất là nô lệ Do vậy, chủ nô có toàn quyền bóc lột nô lệ Nô lệ phải hòan toàn phục tùng chủ nô, và
trở thành "những công cụ biết nói."
Gắn liền với cơ sở kinh tế nói trên là một xã hội bất bình đẳng Điều này được thể hiện thông qua kết cấu giai cấp của nó: giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ là 2 giai cấp chính Giai cấp chủ nô chiếm số ít trong XH, nhưng lại nắm giữ toàn bộ đất đai, cũng như tư liệu sản xuất Trong khi đó giai cấp
nô lệ chiếm số đông, nhưng phải hoàn toàn phục vụ giai cấp chủ nô Một
XH bất bình đẳng giữa chủ nô & nô lệ như trên dẫn tới mâu thuẫn chính trong xã hội là mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ
Ngoài 2 giai cấp nói trên, trong XH chiếm hữu nô lệ còn tồn tại tầng lớp thợ thủ công, dân tự do, những người lệ thuộc vào nhà vua về kinh tế Những người này tuy ko phải là nô lệ, nhưng họ cũng gần như phải lệ thuộc hoàn toàn vào chủ nô về kinh tế & chính trị
Kết cấu giai cấp nói trên đã làm cho XH chiếm hữu nô lệ gần như nằm trong tay giai cấp chủ nô, phục vụ cho giai cấp chủ nô
Trong hệ thống này, ranh giới giữa các tầng xã hội hết sức rõ rệt và được duy trì một cách nghiêm ngặt địa vị của mỗi người được quy định ngay lúc mới sinh ra bởi nguồn gốc, dòng giõi của cha mẹ mình.Đồng thời,
hệ thống này duy trì việc nội giao và cấm các thành viên thuộc đẳng cấp khác nhau xây dựng hôn nhân với nhau Ví dụ: đó là sự bất bình đẳng giữa hai giai cấp thống trị và bị trị về kinh tế xã hội và địa vị xã hội
Ở kinh tế chính trị: chủ nô không chỉ chủ sở hữu đối với tài sản, tư liệu sản xuất mà quyền sở hữu của họ còn được xác lập đối với nô lệ họ có quyền tham gia vào quản lí bộ máy nhà nước, có quyền bầu cử ứng cử Giai cấp bị trị điển hình là người lao động tự do và giai cấp bị trị Họ không có sở hữu về tư liệu sản xuất, chỉ là những người làm thuê hoặc trở thành tài sản riêng của giai cấp thồng trị Họ hầu như không có một chut đặc quyền đặc lợi nào, họ không có quyền tham gia vào bộ máy nhà nước ngay cả quyền bầu cử ứng cử
Địa vị: giai cấp thống trị là những người có địa vị cao trong xã hội Họ nắm giữ tất cả chức vụ trong bộ máy nhà nước, họ có quyền quyết định tất
cả những công việc hệ trọng của đất nước và nắm giữ phần tài sản lớn trong
xã hội Còn những người lao động tự do đôi khi không có cả quyền quyết định mạng sống của mình
3 Phong kiến
Trang 4Đây là kiểu xã hội bóc lột thứ hai trong lịch sử Nó được xây dựng trên
cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Đây là xã hội có sự phân tầng xã hội rất đặc trưng và rõ nét
Ở loại hình xã hội này thì sự phân tầng xã hội không chỉ phụ thuộc vào yếu tố kinh tế,chính trị nữa mà còn phụ thuộc vào yếu tố văn hóa Dựa vào
sự khác biệt này ta có sự phân tầng theo đẳng cấp với hệ thống đóng là xã hội ấn độ thời phong kiến chia các cá nhân trong xã hội thành 4 đẳng cấp: tăng lữ, quý tộc, bình dân và nô lệ Tăng lữ là những người có địa vị trong \
xã hội nhưng chỉ mạnh trong việc tổ chức các nghi lễ Quý tộc có quyền hạn cao cả trong kinh tế và chính trị Bình dân là những người lao động tự do
Họ không có quyền lợi nhiều trong chính trị và kinh tế Nô lệ là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội Họ hoàn toàn không có quyền lợi gì
Ở xã hội phong kiến việt nam , xã hội được có 2giai cấp chính là địa chủ
và nông dân Trong đó giai cấp địa chủ có ruộng đất và những quyền lợi nhất định về chính trị Còn nông dân chỉ là người làm thuê cho địa chủ, họ không có ruộng đất, không có quyền tham gia chính trị, bị bần cùng hóa
4 Tư bản chủ nghĩa
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội phát triển cao của xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ thứ 18 Sau cách mạng Pháp cuối thế
kỷ 18 hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ phong kiến, quý tộc Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới
Đặc điểm đặc trưng nhất của chủ nghĩa tư bản là nhìn nhận quyền sở hữu
tư nhân và quyền tự do sản xuất và kinh doanh được xã hội bảo vệ về mặt luật pháp và được coi như một quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không loại trừ hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu toàn dân và đôi khi ở một số nước tại một
số thời điểm tỷ trọng của các hình thức sở hữu này chiếm không nhỏ, nhưng điều cơ bản phân biệt xã hội của chủ nghĩa tư bản với xã hội đối lập với nó
là xã hội cộng sản là trong xã hội tư bản chủ nghĩa quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất là thiêng liêng được xã hội và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền sở hữu phải thông qua giao dịch dân sự được pháp luật và
Trang 5xã hội quy định Còn chủ nghĩa cộng sản loại trừ quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất
Trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa các cá nhân dùng sở hữu tư nhân
để tự do kinh doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông qua cạnh tranh trong các điều kiện của thị trường tự do: mọi sự
phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế Các công ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế
tư nhân là thành phần kinh tế chủ yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Có
thể nói các yếu tố quyền tư hữu, thành phần kinh tế tư nhân, kinh doanh tự
do, cạnh tranh, động lực lợi nhuận, tính tự định hướng tự tổ chức, thị trường lao động, định hướng thị trường, bất bình đẳng trong phân phối của cải là các khái niệm gắn liền với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Và đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về sự phân tầng xã hội ở thời kì này Cả Max và Weber giống nhau ở chỗ, các ông đánh giá những nét kinh
tế chủ yếu của hệ thống phân tầng xã hội trong chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa là quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và những thị trường cho hàng hóa lao động
Weber cho rằng trong xã hội TBCN có những giai cấp sau:
- Giai cấp thượng lưu có tài sản
- Những người có cổ cồn trắng
- Tiểu tư sản
- Giai cấp công nhân lao động chân tay
Và ông cho rằng sự phân tầng xã hội không chỉ đơn giản là vấn đề giai cấp mà còn bị tác động bởi hai nhân tố nữa là vị thế và đảng phái Ông đã đưa ra quan niệm ba chiều về sự phân tầng: giai cấp, vị thế và đảng phái
5 Xã hội chủ nghĩa
Trong xã hội chủ nghĩa có sự phân tầng xã hội nhưng ở mức độ mềm dẻo hơn và không cứng nhắc như trong các loại xã hội tiền chủ nghĩa Chúng ta sẽ đi nghiên cứu sâu về sự phân tầng ở xã hội chủ nghĩa thông qua thực trạng phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay
II Phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay.
Trang 6Công cuộc đổi mới gần 2 thập kỷ qua đã làm thay đổi căn bản diện mạo đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN - sản phẩm của đổi mới đã phát huy hiệu quả của nó ở tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định cùng với việc nâng cao mức sống của hầu hết các tầng lớp dân cư Bên cạnh đó, kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh ra không ít những hệ quả xã hội mà chúng ta đang phải tập trung giải quyết Một trong các hệ quả như vậy là sự phân tầng xã hội Nghiên cứu về vấn đề này cho thấy bức tranh tổng thể về sự phân tầng xã hội cũng như các yếu tố
có liên quan
1 Thực trạng:
Phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo đã trở thành những vấn đề nổi cộm mà ai cũng cảm nhận được Nó diễn ra giữa các vùng, miền khác nhau, giữa khu vực thành thị và nông thôn , thậm chí trong nội bộ một giai cấp, trong cùng một nghề nghiệp hay giữa các hộ gia đình Đó là những vấn
đề bức xúc cần có lời giải
a - Phân tầng xã hội về thu nhập
Ở Việt Nam, kinh tế thị trường đã đem lại sự tăng trưởng khá nhanh
và ổn định cho nền kinh tế, với tốc độ GDP tăng từ 6,9% năm 2001 lên 8,3% năm 2007 Mức sống của các tầng lớp dân cư trong những năm vừa qua ở cả thành thị và nông thôn, các vùng miền trên phạm vi cả nước tiếp tục được cải thiện Thu nhập bình quân đầu người một tháng chung cả nước theo giá
cả hiện hành có xu hướng tăng mạnh qua các năm
Trong giai đoạn 2004 - 2006, thu nhập bình quân một người/tháng theo giá hiện hành tăng bình quân 14,6%/năm và giai đoạn 2002 - 2004 tăng 16,6%, cao hơn mức tăng 6%/năm của giai đoạn 1999 - 2001 và mức tăng 8,8%/năm của giai đoạn 1996 - 1999 Như vậy, thu nhập bình quân đầu người tăng khá qua các năm, điều đó thể hiện mức sống được nâng lên, đời sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là tầng lớp nghèo đã được cải thiện và
tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng, miền, khu vực thành thị và nông thôn đều giảm Theo chuẩn nghèo mới của Chính phủ, tính theo giá cả hiện hành năm 2004
là 18,1%, đến năm 2006 giảm xuống còn 15,5% Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực thành thị, nông thôn và các vùng, miền đều có xu hướng giảm hơn so với các năm trước (xem bảng 1)
Bảng 1: Tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước qua các năm
Trang 7Đơn vị tính %
Đông Bắc
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, KSMS 1992 - 1993, ĐTMS 1997 - 1998, ĐTMS 2002, KSMS 2004, KSMS 2006)
Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và những nỗ lực trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm, đời sống các tầng lớp dân cư có nhiều chuyển biến tiến bộ rõ rệt Thu nhập bình quân đầu người của các nhóm dân cư năm 2006 đều tăng khá hơn
so với các năm trước, song nhóm có thu nhập thấp tăng rất chậm so với nhóm có thu nhập khá và giàu Vì vậy, khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư có xu hướng tăng lên và vẫn còn có sự cách biệt khá
xa giữa thành thị - nông thôn, giữa các vùng, miền và giữa các nhóm dân cư giàu - nghèo Chênh lệnh giữa vùng có thu nhập bình quân đầu người cao
Trang 8nhất là Đông Nam Bộ, cao gấp 2,9 lần so với vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là vùng Tây Bắc (năm 2002 con số này là 2,5 lần, năm
2004 là 3,1 lần) (xem bảng 2)
Bảng 2: Thu nhập bình quân người/tháng chia theo khu vực, vùng
Đơn vị tính: 1000đ
Đông Bắc
66,7 179,6 268,8 379,9 512,0
Duyên Hải Nam Trung Bộ 71,1 226,9 305,8 414,9 511,0
Đồng bằng sông Cửu Long 105,5 253,3 371,3 471,1 628,0
(Nguồn Tổng cục Thống kê, KSMS 1992-1993, ĐTMS 1997-1998, ĐTMS
2002, KSMS 2004, KSMS 2006)
Bảng 2 cho thấy, phân phối thu nhập bình quân không đồng đều giữa các vùng và khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư có xu hướng tăng lên qua các năm Tuy nhiên, sự khác nhau phản ánh trong thu nhập giữa các nhóm dân cư là thể hiện sự tác động của những điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội đến phân tầng xã hội, phân hóa
Trang 9giàu nghèo Một điều cần lưu ý là, số liệu thu nhập bình quân đầu người do Tổng cục Thống kê thực hiện đã được điều chỉnh theo chênh lệch giá giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, do đó sự khác biệt này phản ánh mức
độ phân tầng xã hội trên thực tế
Theo kết quả khảo sát mức sống của hộ gia đình năm 2006 do Tổng cục Thống kê thực hiện, chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người/tháng giữa nhóm hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất có một khoảng cách lớn So sánh 20% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 20% số hộ có thu nhập thấp nhất thì khoảng cách chêch lệch giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất là 8,4 lần
Theo kết quả điều tra từ năm 1990 đến nay, khoảng cách chênh lệch
về thu nhập bình quân đầu người/tháng giữa nhóm có thu nhập thấp nhất và nhóm có thu nhập cao nhất có xu hướng ngày càng tăng Sự chênh lệch về thu nhập đang diễn ra khá phổ biến ở nước ta, nhưng còn ở mức độ cho phép, chưa trở thành mâu thuẫn về lợi ích và vẫn đang là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, cần phải khuyến khích mọi người tăng thu nhập
và làm giàu dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, nhằm giữ khoảng cách giàu nghèo và phân tầng xã hội về thu nhập trong giới hạn tối ưu, không để trở thành vấn đề xã hội bức xúc
b - Phân tầng xã hội về chi tiêu
Phân tầng xã hội tiếp tục có chuyển biến tích cực thông qua số liệu chi tiêu Mức chi tiêu bình quân đầu người/tháng của cả nước theo giá cả hiện hành có xu hướng tăng lên: năm 1993 là 110.400đ; năm 1996 là 195.300đ; năm 1998 là 246.100đ; năm 2002 là 293.700đ; năm 2004 là 396.800đ và năm 2006 là 511.000đ, trong đó chi tiêu cho đời sống đạt 460.000đ tăng 27,9% so với năm 2004, bình quân mỗi năm tăng 13,5% (giai đoạn 2002
-2004 mỗi năm tăng 15,7%) Năm 2006, chi tiêu cho đời sống chiếm hơn 90% tổng chi tiêu, trong đó tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống trong chi tiêu cho đời sống là một chỉ tiêu tốt để đánh giá mức sống cao hay thấp Tỷ trọng này càng cao thì mức sống càng thấp và ngược lại Việt Nam là một nước nghèo nên tỷ trọng này còn cao, nhưng đã có xu hướng giảm rõ rệt, từ 66% năm
1993 xuống còn 63% năm 1999; 57% năm 2002; 53,5% năm 2004 và 52,8% năm 2006 Tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống ở thành thị là 48,2% trong khi ở nông thôn là 56,2%; nhóm các hộ giàu nhất là 45,8% và nhóm các hộ nghèo nhất là 65,2%
Trang 10Năm 2006, chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người/tháng khu vực thành thị đạt 738.000đ gấp 2,06 lần so với khu vực nông thôn là 359.000đ Vùng có mức chi tiêu đời sống cao nhất là Đông Nam Bộ (740.000đ) gấp 2,5 lần vùng có mức chi tiêu đời sống thấp nhất là Tây Bắc (296.300đ) Nếu
so sánh mức chi tiêu cho đời sống giữa 20% hộ có mức chi tiêu cao nhất với 20% hộ có mức chi tiêu thấp nhất thì hệ số chênh lệch có xu hướng tăng qua các năm: năm 1999 là 4,2 lần; năm 2002 là 4,45 lần; năm 2004 là 4,45 lần và năm 2006 là 4,54 lần
Khoảng cách chênh lệch về mức sống và phân hóa giàu nghèo còn được thể hiện qua số liệu chi tiêu cho đời sống gia đình Mức chi tiêu những hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ngoài ăn uống của nhóm hộ giàu nhất gấp 7,1 lần so với nhóm hộ nghèo nhất, trong đó chi về nhà ở, điện nước, vệ sinh gấp 8,8 lần; chi thiết bị và đồ dùng gia đình gấp 7,2 lần; chi y tế, chăm sóc sức khỏe gấp 3,9 lần; chi đi lại và bưu điện gấp 12,1 lần; chi giáo dục gấp 5,2 lần; chi cho các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí gấp 69,8 lần Những
hộ thuộc nhóm giàu nhất có điều kiện nhà ở, phương tiện đi lại, đồ dùng trong sinh hoạt tốt hơn, có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội chất lượng cao và có mức hưởng thụ văn hóa tinh thần, mức sống cao hơn so với nhóm hộ nghèo Điều đó cho thấy, sự chênh lệch về mức chi tiêu giữa các nhóm đang có xu hướng tăng lên Sự tăng mạnh của nó sẽ làm cho khoảng cách phát triển không đồng đều giữa các vùng, giữa khu vực thành thị và nông thôn doãng ra, chênh lệch về mức sống ngày càng tăng
Chi tiêu cho đời sống giữa hộ giàu nhất và hộ nghèo nhất có sự chênh lệch rất lớn Khi còn nghèo, người dân thường dành phần lớn chi tiêu của hộ
để bảo đảm nhu cầu ăn uống Song, khi mức sống được cải thiện thì chi tiêu cho nhu cầu ăn uống của người dân tăng về số tuyệt đối, nhưng tỷ trọng trong chi tiêu chung sẽ giảm do các hộ gia đình đã có khả năng để chi nhiều hơn cho các nhu cầu khác, như: may mặc, nhà ở, đi lại, mua sắm đồ dùng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa, du lịch Các gia đình thuộc nhóm hộ trung bình, hộ khá và hộ giàu nhất chi tiêu nhiều hơn cho các nhu cầu ngoài
ăn uống, như chi mua sắm thiết bị và đồ dùng gia đình từ 3,9% năm 1999 tăng lên 8,1% năm 2002; 9,1% năm 2004 và 9,2% năm 2006; chi y tế và chăm sóc sức khỏe tăng từ 4,6% năm 1999 lên 5,6% năm 2002; 7% năm
2004 và 6,4% năm 2006; chi giáo dục tăng từ 4,6% năm 1999 lên 6,1% năm 2002; 6,3% năm 2004 và 6,4 năm 2006; chi đi lại và bưu điện tăng từ 6,6% năm 1999 lên 10% năm 2002; 11% năm 2004 và 11,9% năm 2006 Tuy nhiên, mức chi này vẫn có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo