1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYÊN ĐỀ XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN BỘ MÔN XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG II

17 2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 194 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ MÔN XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG II CHUYÊN ĐỀ XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU I. Khái niệm xã hội hóa: 1. Khái niệm cá nhân. 2. Những cách hiểu về xã hội hóa. II. Điều kiện và môi trường xã hội hóa III. Đặc trưng của quá trình xã hội hóa IV. Quá trình xã hội hóa V. Xã hội hóa vai trò 1. Khái niệm 2. Thực hiện các vai trò xã hội 3. Xã hội hóa vai trò 4. Sự xã hội hóa vai trò giới tính VI. Kết luận I. KHÁI NIỆM XÃ HỘI HÓA: 1. Khái niệm cá nhân: a. Định nghĩa về con người: Con người là khách thể nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, cho nên, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về con người: Trong triết học: Con người được xã hội truyền lại nền văn hóa xã hội và đã biến mình thành con người xã hội. Durkheim coi xã hội tạo ra bản chất con người, “xã hội là nguyên lý giải thích cá thể”, con người là một tồn tại “giao lưu” chứ không phải là một tồn tại xã hội hành động, quá trình xã hội hóa cá thể là quá trình giao lưu ngôn ngữ, tinh thần giữa người này với người khác để lĩnh hội các “biểu tượng xã hội”, các tập tục, lề thói… tạo ra “hành vi xã hội”. Theo K.Marx: “bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng, tồn tại đối với từng cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Trong tâm lý học: coi con người là một loài có ý thức, có tư duy, trừu tượng, có thể giao tiếp thông qua hệ thống biểu trưng (hệ thống tín hiệu thứ hai) và có những quá trình tâm lý đặc trưng khác với động vật. Con người là sinh vật cao cấp nhất hành tinh, có bản năng sinh tồn duy trì nòi giống. Phân tâm học đã đề cao quá đáng cái bản năng vô thức, dẫn đến phủ nhận ý thức, phủ nhận bản chất xã hội lịch sử của con người. Xã hội học quan niệm con người là đơn vị cơ bản cấu thành xã hội, là một đơn vị nhỏ nhất của hệ thống xã hội, là một sinh vật vô tư duy, sống theo tổ chức xã hội. Khi họ chỉ con người với tư cách là một thành viên của xã hội thì họ dùng thuật ngữ “cá nhân” hay “cá nhân xã hội”; khi các nhà khoa học xem xét con người như một chủ thể hành đồng thì họ dùng thuật ngữ “nhân cách” để biểu thị. Đạo đức học xem nhân cách là hệ thống các phẩm giá cơ bản của con người. Nhân cách được hình thành trong quá trình sống của các cá nhân (nhân cách không thể tự sinh ra mà được hình thành). Trong xã hội học, nhân cách chính là kết quá của quá trình xã hội hóa cá nhân. b. Bản chất con người: Bản chất con người là câu hỏi cho đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi đối với các nhà khoa học. Bản chất của con người là những điểm cơ bản, những đặc tính cố hữu của con người mà nó sẽ thể hiện ra nếu có môi trường thích hợp. Có hai nhận định về bản chất của con người là nhận định tự nhiên và nhận định xã hội: Một số nhà xã hội học cho rằng bản chất của con người mang tính tư nhiên, di truyền, có sẵn từ khi con người mới được sinh ra: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”; “con người là chó sói”. Tất nhiên, ta cũng phải thừa nhận những yếu tố tự nhiên. Di truyền có

Trang 1

Nhận xét:

1 Nội dung thể hiện đúng yếu cầu, tuy nhiên:

2 Lỗi chính tả

3 Sắp xếp lộn xộn, chưa hợp lý (các giai đoạn XH hóa của các nhà KH) Nên sắp xếp: Durkhiem, N Smeler, J Fichter, G Mead, Andreeva, Freud, Piaget?

4 Sauk hi trinh bày xong phải kết luận

BỘ MÔN

XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG II

CHUYÊN ĐỀ

XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN

NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I Khái niệm xã hội hóa:

1 Khái niệm cá nhân.

2 Những cách hiểu về xã hội hóa.

II Điều kiện và môi trường xã hội hóa

III Đặc trưng của quá trình xã hội hóa

IV Quá trình xã hội hóa

V Xã hội hóa vai trò

1 Khái niệm

2 Thực hiện các vai trò xã hội

3 Xã hội hóa vai trò

4 Sự xã hội hóa vai trò giới tính

VI Kết luận

Trang 2

I KHÁI NIỆM XÃ HỘI HÓA:

1 Khái niệm cá nhân:

a Định nghĩa về con người:

Con người là khách thể nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, cho nên, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về con người:

- Trong triết học: Con người được xã hội truyền lại nền văn hóa xã hội

và đã biến mình thành con người xã hội Durkheim coi xã hội tạo ra bản chất con người, “xã hội là nguyên lý giải thích cá thể”, con người là một tồn tại “giao lưu” chứ không phải là một tồn tại xã hội hành động, quá trình xã hội hóa cá thể là quá trình giao lưu ngôn ngữ, tinh thần giữa người này với người khác để lĩnh hội các “biểu tượng xã hội”, các tập tục, lề thói… tạo ra “hành vi xã hội” Theo K.Marx: “bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng, tồn tại đối với từng cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội”

- Trong tâm lý học: coi con người là một loài có ý thức, có tư duy, trừu tượng, có thể giao tiếp thông qua hệ thống biểu trưng (hệ thống tín hiệu thứ hai) và có những quá trình tâm lý đặc trưng khác với động vật Con người

là sinh vật cao cấp nhất hành tinh, có bản năng sinh tồn duy trì nòi giống Phân tâm học đã đề cao quá đáng cái bản năng vô thức, dẫn đến phủ nhận

ý thức, phủ nhận bản chất xã hội lịch sử của con người

- Xã hội học quan niệm con người là đơn vị cơ bản cấu thành xã hội, là một đơn vị nhỏ nhất của hệ thống xã hội, là một sinh vật vô tư duy, sống theo tổ chức xã hội Khi họ chỉ con người với tư cách là một thành viên của xã hội thì họ dùng thuật ngữ “cá nhân” hay “cá nhân xã hội”; khi các nhà khoa học xem xét con người như một chủ thể hành đồng thì họ dùng thuật ngữ “nhân cách” để biểu thị

- Đạo đức học xem nhân cách là hệ thống các phẩm giá cơ bản của con người Nhân cách được hình thành trong quá trình sống của các cá nhân (nhân cách không thể tự sinh ra mà được hình thành) Trong xã hội học, nhân cách chính là kết quá của quá trình xã hội hóa cá nhân

b Bản chất con người:

Trang 3

Bản chất con người là câu hỏi cho đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi đối với các nhà khoa học Bản chất của con người là những điểm cơ bản, những đặc tính cố hữu của con người mà nó sẽ thể hiện ra nếu có môi trường thích hợp Có hai nhận định về bản chất của con người là nhận định

tự nhiên và nhận định xã hội:

- Một số nhà xã hội học cho rằng bản chất của con người mang tính tư nhiên, di truyền, có sẵn từ khi con người mới được sinh ra: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”; “con người là chó sói”

Tất nhiên, ta cũng phải thừa nhận những yếu tố tự nhiên Di truyền có ảnh hưởng ít nhiều đến nhân cách của cá nhân

- Có quan điểm lại tuyệt đối hóa vai trò của xã hội, quan điểm này cho rằng con người chỉ có yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực, hoàn toàn phủ nhận vai trò của các yếu tố tự nhiên trong con người Các đại diện tiêu biểu cho quan điểm này là A Ghelenm H Pletxno, M Selo: “Con người

xã hội là kẻ sáng tạo ra lịch sử, kẻ sáng tạo ra thế giới văn hóa, vật chất của mình và theo nghĩa này cũng sáng tạo ra bản thân nó Chính vì vậy, con người hoàn toàn mang tính xã hội”

- Quan điểm nhị nguyên: kết hợp cả hai yếu tố tự nhiên và xã hội, cho rằng con người có bản chất xã hội nhưng cũng có những tiền đề về mặt tự nhiên Tuy nhiên, họ lại tách rời chúng và cho rằng con người có bản chất lưỡng tính

Dù con người có bản chất xã hội với những tiền đề tự nhiên nhưng không đặt chúng trong môi trường xã hội thì cũng không thể có một nhân cách hoàn chỉnh được Ví dụ: Một đứa trẻ có khuyết tật về thần kinh hay giác quan thì đứa trẻ đó khó có thể phát triển nhân cách toàn diện được, dù

có dặt chúng trong mội trường xã hội thì chúng cũng không thể phát triển bình thường như những đứa trẻ lành lặn khác Hay một ví dụ khác về những cặp song sinh cùng trứng, cho thấy dù họ có tiền đề tự nhiên giống nhau, nhưng giữa chúng cũng có những sự khác biệt cơ bản về tâm lý xã hội, giáo dục, Một ví dụ thực tế khác sẽ chứng minh cho chúng ta thấy điều đó: Ở Seattle đã chuyển cho văn phòng phúc lợi xã hội tỉnh giám hộ lâu dài một em bé 6 tuổi Ông ta yêu cầu phải cố gắng làm mọi việc để đứa trẻ được nhận làm con nuôi dù bố mẹ chúng phản đối Trước khi được đưa vào văn phòng phúc lợi em bé gần như không thể nói một cách dễ hiểu, bò hơn là đi và sủa như chó khi mọi người lại gần Khi những người làm công tác xã hội tìm thấy đứa trẻ trong ngôi nhà của cậu ta, thấy cậu bé “bẩn thỉu, ngửi nước đái, răng bị hỏng, mái tóc xơ xác, dễ gãy và nước da xanh xao nhợt nhạt” Điều kiện thảm thương của cậu bé là kết quả sự cô lập gần như

Trang 4

hoàn toàn Từ khi mới sinh, cậu bé đã phải sống một mình trong một căn phòng bẩn thỉu như vậy Bố cậu bé ở trong tù còn mẹ thì rất ít khi ở nhà; thỉnh thoảng chỉ nán lại cho cậu bé ăn Trừ mẹ ra, cậu bé rất ít khi được nhìn thấy người khác và thậm chí, không rõ cậu bé có biết mình là một cậu

bé hay không Sau khi được đưa vào trại tế bần, cậu bé đã nhanh chóng được dạy cách vệ sinh cá nhân và bắt đầu đi và nói

Cuối cùng ta có thể khẳng định rằng, đứa trẻ sống trong môi trường xã hội nào thì sẽ phát triển nhân cách như vậy, đó chính là quá trình xã hội hóa cá nhân

2 Những cách hiểu khác nhau về xã hội hóa:

Khi ra đời, chúng ta phải đương đầu với một thế giới xã hội, ít nhất thể hiện ở những hậu quả đối với hành vi của chúng ta cũng như các thực thể khác mà chúng ta gặp phải Chúng ta như những cá nhân được xã hội cụ thể,

mà trong đó chúng ta đang sống và nhóm xã hội mà chúng ta là những thành viên, nhào nặn

Khái niệm xã hội hóa hiện nay được dùng với hai nội dung chính là: xã hội truyền lại những gì cho mỗi cá nhân trong xã hội và tạo ra nhân cách của

họ ra sao? Cá nhân thể hiện vai trò của mình đối với xã hội và hòa nhập vào

xã hội như thế nào? Hiện nay, có nhiều quan niệm về xã hội hóa khác nhau

do xuất phát từ cách nhìn nhận bản chất con người khác nhau Tuy nhiên, có hai cách hiểu cơ bản sau đây:

- Thứ nhất: không đề cập đến tính chủ động sáng tạo của cá nhân trong quá trình thu nhận kinh nghiệm xã hội

Các cá nhân dường như bị gò vào các chuẩn mực, khuôn mẫu mà không chống đối lại được Nói cách khác, một cá nhân được xã hội mặc cho một “chiếc áo văn hóa” phù hợp với từng nơi, từng thời điểm, giai đoạn của cuộc sống nhưng cá nhân không có quyền tự lựa chọn cho mình

Ví như thuyết X cho rằng hầu hết mọi người đều thích bị chỉ huy nhiều hơn chứ không muốn gánh vác trách nhiệm, muốn an phận là trên hết Với triết lý này, con người bị thúc đẩy bởi tiền bạc, bổng lộc và sự đe dọa trừng phạt Do vậy, ông chủ chủ trương giám sát chặt con người bằng các quy định Còn các nhà triết học cổ phương Đông cho rằng, con người bản chất

là tham lam, độc ác và tàn bạo “nhân chi sơ, tính bản ác”; từ quan niệm đó,

họ cho rằng phải giám sát chặt con người bằng các quy định của xã hội

- Thứ hai: khẳng định tính tích cực sáng tạo, chủ động của cá nhân trong quá trình xã hội hóa:

Trang 5

Cá nhân không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham gia vào quá trình tạo ra các kinh nghiệm xã hội Ví như thuyết Y cho rằng,

về bản chất con người không lười biếng, không đáng ngờ vực Con người

có thể tự định hướng và sáng tạo trong công việc nếu được thúc đẩy hợp

lý Do vậy, ông chủ trương sáng tạo các điều kiện để thúc đẩy tính độc lập

tự chủ và sáng tạo ở con người Còn các nhà triêt học cổ phương Đông cho rằng “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”, tức là con người sinh ra là trong trắng, thánh thiện Con người trong xã hội bộc lộ bản chất tham lam, bạo lực, lười nhác là do xã hội tạo ra nó Chủ trương của họ là lấy giáo dục xã hội làm nền tảng để tạo ra và giữ gìn cái trong trắng, thánh thiện

Có một cách hiểu khác cho rằng con người có cả hai mặt thụ động, lười nhác và tham lam lẫn chủ động, sáng tạo và tích cực Xã hội, một mặt truyền lại cho họ những khuôn mẫu và chuẩn mực trong hành vi, song mặt khác, cũng tạo điều kiện cho họ phát huy được tính chủ động, sáng tạo và tích cực trong công cuộc xây dựng xã hội văn minh lành mạnh

Từ đó, ta có thể thống nhất khái niệm: “Xã hội hóa là quá trình mà qua

đó cá nhân học hỏi, lĩnh hội nền văn hóa như các khuôn mẫu xã hội, quá trình mà nhờ nó, cá nhân đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử phù hợp với vai trò của mình, hòa nhập với xã hội.”

Như vậy, thực chất của quá trình xã hội hóa là tạo ra nhân cách cho mỗi con người trong xã hội

Trang 6

II ĐIỀU KIỆN VÀ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI HÓA:

Điều kiện xã hội hóa bao gồm điều kiện về cá nhân và điều kiện về xã hội Trong đó, cá nhân cần phải đạt đủ điều kiện về trí tuệ (nhận thức) và thể lực thì mới có thể thực hiện được quá trình xã hội hóa

Môi trường xã hội hóa là nơi cá nhân thực hiện thuận lợi các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội Dù bản chất xã hội và tiền đề tự nhiên phù hợp, con người không thể trở thành một nhân cách hoàn thiện nếu không được đặt trong môi trường thích hợp Môi trường xã hội hóa chính là vườn ươm của nhân cách và đây cũng chính là ngả đường mở rộng để các kinh nghiệm xã hội có thể đến với các cá nhân

Có nhiều cách phân loại khác nhau về môi trường xã hội hóa Tuy nhiên,

có bốn môi trường xã hội hóa cơ bản:

- Môi trường đầu tiên và là môi trường quan trọng nhất, đó là gia đình

Gia đình hầu như là nhóm xã hội đầu tiên mà mỗi cá nhân trong mọi

xã hội thường phải phụ thuộc vào, do đó, gia đình là một môi trường xã hội hóa có tầm quan trọng rất lớn

Mỗi con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi đều gắn với một gia đình cụ thể Gia đình là khuôn khổ cần thiết cho sự phát triển của đứa trẻ, làm cho sự trưởng thành sinh học và những mối liên hệ của nó phù hợp với môi trường Trong mỗi gia đình đều có một tiểu văn hóa, tiểu văn hóa này được xây dựng trên nền tảng của văn hóa chung nhưng với đặc thù riêng của từng gia đình Các tiểu văn hóa này được tạo thành bởi nền giáo dục gia đình, truyền thống, lối sống, Các cá nhân sẽ tiếp nhận những đặc điểm của tiểu văn hóa này Những kinh nghiệm sống, các quy tắc ứng xử, các giá trị đầu tiên con người dược nhận chính ta từ các thành viên trong gia đình

Sau khi lớn lên, xây dựng gia đình, những đứa trẻ trước kia lại tạo ra một gia đình mới, một tiểu văn hóa mới có đặc trưng của riêng nó, đó là sự pha trộn giữa văn hóa chung của xã hội, tiểu văn hóa gia đình bố mẹ và sự sáng tạo của chính người tạo dựng văn hóa mới Như vậy, những cặp vợ chồng mới tiếp nhận các giá trị mới, khuôn mẫu mới và thực hiện tiếp quá trình xã hội hóa thế hệ mới

- Nhà trường :

Trang 7

Trường học là cơ quan chủ yếu chịu trách nhiệm hình thành cho trẻ

em các tri thức khoa học và kỹ thuật, các giá trị chuẩn mực văn hóa mà xã hội mong đợi Trong xã hội công nghiệp, nhà trường quan trọng đến mức tuyệt đại đa số trẻ em trước khi trưởng thành, hội nhập vào guồng máy lao động và hoạt động xã hội đều phải được thông qua đào tạo trong trường

Nếu tính cả tuổi nhà trẻ mẫu giáo thì trung bình mỗi cá nhân thường dành

12, 15, 18 và 21 năm học chính thức

- Các nhóm xã hội:

Nhóm xã hội mà mỗi người đang sống và hoạt động cùng với nó, có chức năng cơ bản là thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, nhu cầu giả trí giữa các cá nhân Trong thực tế, quan hệ giữa các cá nhân ảnh hưởng nhiều đến quá trình xã hội hóa

Quan hệ bạn bè là quan hệ bình đẳng, cùng vị thế xã hội nên các cá

nhân thường chia sẻ thái độ, tâm tư và cảm xúc với nhau Tác động cảu nhóm nhiều khi mạnh mẽ tới mức lấn át cả ảnh hưởng của gia đình và nhà trường

Quan hệ đồng nghiệp là quan hệ của những người cùng hoạt động

chung trong một nhóm lao động nào đó Quan hệ này vừa mang tính chất

tổ chức, vừa mang tính chất đồng cảm nghề nghiệp Trong quan hệ này, người ta có thể chia sẻ tình cảm, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và trao gửi kinh nghiệm cho nhau trong hoạt động

Quan hệ đồng sở thích là quan hệ theo một sở thích hoặc quan điểm

nào đó Quan hệ này giúp cho mỗi người tìm được sự hứng thú trong hoạt động và sự đồng cảm trong cuộc sống

- Thông tin đại chúng:

Truyền thông đại chúng là thiết chế sử dụng những phát triển kĩ thuật ngày càng tinh vi của công nghiệp để phục vụ sự giao lưu tư tưởng, những mục đích thông tin, giải trí và thuyết phục tới đông đảo khán thính giả, bằng phương tiện báo chí, truyền hình, truyền thanh, sách, tạp chí, quảng cáo Các sản phẩm của truyền thông đại chúng đã trở thành một phần liên kết với sinh hoạt hàng ngày của đại đa số các thành viên trong xã hội Nó chiếm tỉ lệ đáng kể thời gian rảnh rỗi của mọi người, và cung cấp cho mọi người bức tranh về hiện thực xã hội trong phạm vi to lớn Với mức phổ biến rộng lớn như vậy, ngành truyền thông tạo nên những môi giới xã hội

hóa có tính chất chiến lược Như Golding đã nói: “Ngành truyền thông là

trung tâm trong việc cung cấp những ý tưởng và hình ảnh mà con người sử dụng để giải thích và hiểu một số lớn kinh nghiệm hàng ngày của họ” Đặc

biệt hơn, chúng tiêu biểu cho một số kênh được thiết chế hóa để phân phối

Trang 8

tri thức xã hội và do đó, nó tiêu biểu cho một công cụ mạnh mẽ của kiểm soát xã hội

Vẫn biết những gì truyền tải là những gì được tiếp nhận; nhưng không phải cái gì con người cũng tiếp thu được và hiểu nó một cách đúng đắn Do

đó, những trường hợp bắt chước chúng ta có thể thấy nó diễn ra thường xuyên Ví dụ như, khi một người đàn ông đọc cuốn tiểu thuyết trinh thám của một tác gia nổi tiếng; anh ta đã học cách hành động giống y như cuốn sách đó: giết người, tạo hiện trường giả, qua mặt cảnh sát và dường anh ta nghĩ mình chính là nhân vật bước ra từ cuốn sách đó Đó là những hệ quả tiêu cực của truyền hình đến xã hội hóa mà ta cần phải chọn lọc để tránh truyền tải đến trẻ

Trang 9

III ĐẶC TRƯNG CỦA QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA:

- Quá trình xã hội hóa là quá trình chủ động, vừa có tính chất tự nhiên, vừa có tính chất tự phát

- Quá trình xã hội hóa lá quá trình liên tục diễn ra dần dần, từ từ trong tất cả mọi thời đoạn của cuộc sống con người từ lúc lọt lòng cho đến lúc mất đi

- Xã hội hóa chủ yếu là quá trình chủ thể hóa của các cá nhân đối với giá trị chuẩn mực, khuôn mẫu, hành vi, tác phong, những hành động của cộng đồng xã hội mà người ta sống trong đó

IV QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA:

Thực chất quá trình xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội, học hỏi, tiếp thu nền văn hóa của xã hội như khuôn mẫu, chuẩn mực, từ

đó phát triển nó cho phù hợp với vai trò xã hội

Tuy nhiên, xã hội hóa là quá trình diễn tiến liên tục từ khi sinh ra cho đến khi ta chết đi Con người từ một chỉnh thể sinh học đã học hỏi, được xã hội hóa và trở thành một chỉnh thể con người Để làm được điều này, cần phải trải qua rất nhiều giai đoạn từ:

1 Phát triển sinh học

2 Phát triển nhận thức

3 Cảm nhận ngôn ngữ

4 Sự tương tác và phát triển nhận thức

5 Phát triển cảm xúc

6 Sự xuất hiện cái tôi

7 Sự hình thành cá nhân

8 Văn hóa và cá nhân

9 Sự xã hội hóa khác nhau và vai trò xã hội

Trong điều kiện thời gian và giới hạn cho phép, chúng tôi không thể trình bày hết những điều vừa nêu mà chỉ xin nhấn mạnh một số điểm chính – đó

là sự xã hội hóa khác nhau và vai trò xã hội

Trang 10

V XÃ HỘI HÓA VAI TRÒ :

1 Khái niệm:

Vị trí xã hội: vị trí xã hội của các cá nhân chính là vị trí tương đối của cá

nhan trong cấu trúc xã hội, trong hệ thống quan hệ xã hội Nó được xác định trong sự đối chiếu và so sánh với vị trí xã hội khác Sự tồn tại vị trí xã hội của các cá nhân phụ thuộc chủ yế vào sự tồn tại của các vị trí khác tùy thuộc theo các mối quan hệ Và vì thế, mỗi cá nhân có nhiều vì trí xã hội khác nhau

Vị thế xã hội: vị thế xã hội của mỗi cá nhân chính là địa vị và thứ bậc của

các nhân, trong đó cơ cấu tổ chức xã hội được xã hội thừa nhận ở từng thời

kỳ nhất định Vị thế xã hội thể hiện qua ba đặc trưng cơ bản của nó là quyền lực xã hội, quyền lợi và trách nhiệm

Vai trò xã hội: vai trò xã hội là mô hình hành vi xã hội được xác lập một

cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị trí, vị thế nhất định để thực hiện quyền hạn và trách nhiệm tương ứng với các vị trí, vị thế

đó Như vậy, vai trò xã hội thể hiện những đòi hỏi của xã hội đối với các vị thế xã hội

Kết quả của xã hội hóa là tạo ra nhân cách của mỗi con người trong xã hội Mỗi thế hệ trải qua các giai đoạn nhất định của xã hội hóa mà đạt được khả năng, năng lực hoạt động để thể hiện vai trò của chính mình trong xã hội Trong xã hội hiện đại ngày nay, hoàn thiện nhân cách của con người là

cả một quá trình dài suốt cuộc đời của người ấy Sự hoàn thiện nhân cách đó phụ thuộc vào quá trình giáo dục xã hội Chúng ta thấy rằng, xã hội hóa chuẩn bị cho mọi người những vai trò và ngược lại, những vai trò ấy định hình sự xã hội hóa Theo quan điểm này của Kohn, chúng ta sẽ bắt đầu xem xét chi tiết hơn việc con người hướng về việc thực hiện các vai trò xã hội như thế nào Từ đó, chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ xã hội hóa chuyên biệt – xã hội hóa có liên quan tới các vai trò và những kì vọng về vai trò Chúng ta sẽ gắn kết những vai trò và các quá trình xã hội hóa chuyện biệt với sự phát triển khái niệm cái tôi – sự nhận thức của chúng ta về chính bản thân chúng

ta Và sau đó, chúng ta sẽ ứng dụng những vai trò và quá trình xã hội hóa vào vấn đề được quan tâm nhất trong xã hội hóa hiện nay – vấn đề giới

Ngày đăng: 13/06/2014, 13:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w