NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Đất là một phần của vỏ trái đất, bao gồm lớp phủ lục địa, với đá và khoáng sản nằm bên dưới, và thảm thực bì cùng khí quyển ở trên Nó là lớp mặt tươi xốp có khả năng sản sinh sản phẩm cây trồng, đồng thời là lớp phủ thổ nhưỡng, tạo thành thổ quyển Đất là một vật thể tự nhiên, hình thành từ sự hợp điểm của bốn thể tự nhiên: thạch quyển, khí quyển, sinh quyển và thạch quyển Sự tương tác giữa bốn quyển này và thổ quyển diễn ra thường xuyên và mang tính chất cơ bản.
Theo C Mác, đất đóng vai trò là tư liệu sản xuất cơ bản và quý giá nhất trong nông nghiệp, là điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển bền vững của nhiều thế hệ nhân loại.
Theo các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch tại Việt Nam, đất đai được định nghĩa là phần bề mặt của vỏ trái đất, nơi mà cây cối có khả năng sinh trưởng và phát triển.
Đất đai là không gian có giới hạn, bao gồm khí hậu, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản Theo chiều ngang, đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn và thảm thực vật, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và cuộc sống của con người.
Theo Điều 13 của luật Đất đai 2013, đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng
Trường Đại học Kinh tế Huế
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm đất đai: Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục đia mà bên dưới nó là đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển Đất là lớp mặt tươi xốp của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng, đất là lớp phủ thổ nhưỡng là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của bốn thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, sinh quyển và thạch quyển Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính chất thường xuyên và cơ bản.
Theo C Mác, đất là tư liệu sản xuất cơ bản và quý giá nhất trong nông nghiệp, đóng vai trò thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển bền vững của nhiều thế hệ nhân loại.
Theo các chuyên gia kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch tại Việt Nam, đất đai được định nghĩa là phần bề mặt của trái đất nơi cây cối có thể phát triển.
Đất đai là không gian có giới hạn, bao gồm khí hậu, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản Theo chiều ngang, đất là sự kết hợp của thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn và thảm thực vật Đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người.
Theo Điều 13 của luật Đất đai 2013, đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng
Trường Đại học Kinh tế Huế quản lý các loại đất như rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và các loại đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ Đất canh tác, chiếm vị trí quan trọng trong quỹ đất nông nghiệp, được sử dụng để trồng các loại cây ngắn ngày có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm Đất canh tác bao gồm nhiều loại, trong đó đất trồng lúa (LUA) là loại đất được sử dụng để trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc kết hợp với các mục đích khác, với lúa là chủ yếu Các loại đất trồng lúa bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại và đất trồng lúa nương.
- Đất chuyên trồng lúa nước là ruộng lúa nước cấy trồng từ 2 vụ lúa mỗi năm trở lên kể cả trường hợp luân canh với cây hàng năm khác.
- Đất trồng lúa nước còn lại là ruộng lúa nước không phải chuyên trồng lúa nước.
Đất trồng lúa nương là loại đất được sử dụng để canh tác từ một vụ lúa trở lên, trong khi đó, đất cỏ dùng cho chăn nuôi bao gồm các khu vực trồng cỏ hoặc đồng cỏ, cũng như đồi cỏ tự nhiên đã được cải tạo nhằm phục vụ cho việc chăn nuôi gia súc.
- Đất trồng cỏ: là đất gieo trồng các loại cỏ được chăm sóc, thu hoạch như các loại cây hàng năm.
Đất cỏ tự nhiên có cải tạo là các đồng cỏ và đồi cỏ tự nhiên được cải tạo và khoanh nuôi, phân thành từng thửa để phục vụ chăn nuôi gia súc Trong khi đó, đất trồng cây hàng năm khác bao gồm các loại đất không phải là đất trồng lúa, chủ yếu được sử dụng để trồng màu, hoa, cây thuốc và các loại cây hàng năm khác, bao gồm cả đất nương rẫy.
- Đất bằng trồng cây hàng năm khác: là đất bằng phẳng ở đồng bằng, thung lũng, cao nguyên để trồng cây hàng năm khác.
- Đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác: là đất nương rẫy ở trung du và
Trường Đại học Kinh tế Huế
Diện tích gieo trồng là tổng diện tích mà các loại cây được trồng trong một năm, bao gồm cả các vụ trồng khác nhau trong cùng một năm.
Sản lượng cây trồng là tổng sản phẩm chính thu được từ diện tích gieo trồng trong một vụ hoặc cả năm Đây là chỉ tiêu tổng hợp quan trọng trong ngành trồng trọt và có mối liên hệ chặt chẽ với năng suất cây trồng.
Năng suất cây trồng là sản phẩm chính thu được bình quân trên một đơn vị diện tích gieo trồng trong một vụ, thể hiện chỉ tiêu chất lượng tổng hợp của ngành trồng trọt Mức năng suất cao hay thấp có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của lĩnh vực này.
Năng suất 1.2.Đặc điểm chung của hoạt động trồng trọt trong nông nghiệp
Trồng trọt là một lĩnh vực quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, mang theo những đặc điểm chung của ngành này, đồng thời cũng sở hữu những đặc điểm riêng biệt.
Sản xuất nông nghiệp diễn ra trên một diện tích rộng lớn và phức tạp, chịu ảnh hưởng đáng kể từ các điều kiện tự nhiên Hơn nữa, đặc điểm này còn thể hiện tính khu vực rõ rệt trong ngành nông nghiệp.
- Trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt không thể thay thế được.
- Đối tượng của sản xuất là những cơ thể sống như cây trồng, vật nuôi.
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao và sản xuất lâu dài.
1.3 Vị trí, vai trò ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp
Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong nông nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của ngành này Nó không chỉ là nguồn tài nguyên cố định mà còn là đối tượng lao động khi con người khai thác và sử dụng.
Trường Đại học Kinh tế Huế sử dụng các công cụ sản xuất như cày bừa và lên luống để thay đổi hình dạng và trạng thái của đất Những công cụ này không chỉ là tư liệu lao động mà còn giúp con người tác động lên đất thông qua các thuộc tính lý, hóa, sinh học và các yếu tố khác, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng.
- Là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời cũng là sản phẩm của con người.
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều.
Sản xuất kinh doanh nông nghiệp cần liên kết chặt chẽ với vị trí địa lý của đất đai, đồng thời phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng và chất lượng đất tại khu vực đó.
Cơ sở thực tiễn
2.1.Tài nguyên đất trên thế giới
Trái đất có bán kính trung bình khoảng 6371 km và chu vi đường xích đạo là 40.075 km Tổng diện tích đất trên thế giới đạt 14.777 triệu ha, trong đó có 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng Diện tích đất canh tác chiếm 12%, đồng cỏ 24%, đất rừng 32% và đầm lầy cư trú 32% Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, nhưng hiện tại chỉ khai thác được 1.500 triệu ha Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%, trong khi ở các nước đang phát triển chỉ đạt 36% Các loại đất tốt cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, và đất rừng nâu chỉ chiếm 12,6%, trong khi đất kém chất lượng như đất vùng tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, và đất đài nguyên chiếm tới 40,5%.
Diện tích đất nông nghiệp toàn cầu đang thu hẹp do sự gia tăng dân số và ý thức kém của con người về bảo vệ tài nguyên.
2.2.Tài nguyên đất ở Việt Nam
Tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam đạt 33 triệu ha, xếp thứ 58 toàn cầu Trong đó, diện tích đất bồi tụ khoảng 11 triệu ha, còn lại 22 triệu ha là đất phát triển tại chỗ.
Trường Đại học Kinh tế Huế cho biết, đất bằng và đất ít dốc chiếm 39% tổng diện tích, trong khi đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 17% Khoảng 20% diện tích đất cần cải tạo, bao gồm đất cát, đất ngập mặn, phèn và xám bạc màu Tại Việt Nam, dân số đông dẫn đến tỷ lệ đất tự nhiên trên đầu người thấp, chỉ khoảng 0,54ha/người, với diện tích đất trồng trọt chiếm 20% tổng diện tích đất đai tự nhiên.
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Hiện trạng sử dụng đất phản ánh sự phân bố và diện tích của các loại cây trồng cũng như thảm thực vật tự nhiên Đây là kết quả của quá trình sử dụng đất trong quá khứ và hiện tại, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển cho khu vực nghiên cứu trong tương lai.
Bảng 1: Tình hình sử dụng đất huyện Hương Sơn năm 2014
Thứ tự Mục đích sử dụng đất Mã Diện tích
Cơ cấu diện tích so với tổng diện tích tự nhiên (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 110414.78 100.00
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 10548.69 9.55
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm CHN 7136.45 6.46
1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi COC 56.13 0.05
1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác HNK 1999.24 1.81
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 3412.24 3.09
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 87.85 0.08
1.5 Đất nông nghiệp khác NKH 27.63 0.03
2 Đất phi nông nghiệp PNN 7166.97 6.49
3 Đất chưa sử dụng CSD 7859.98 7.12
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hương Sơn)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Theo bảng 2, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 110.414,78 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm ưu thế với 95.387,83 ha, tương đương 86,39% tổng diện tích Đất phi nông nghiệp chỉ chiếm 7.166,97 ha, trong khi đất chưa sử dụng chiếm phần còn lại Đặc biệt, trong diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn lên tới 76,73%.
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện đạt 10.548,69 ha, tương đương 9,55% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, đất canh tác (đất trồng cây hàng năm) chiếm 6,46%, tức 7.136,4 ha Mặc dù diện tích đất trồng cây hàng năm chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng diện tích đất tự nhiên, nhưng nó đóng vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp huyện, cung cấp lương thực và rau màu, đảm bảo an ninh lương thực cho toàn huyện.
Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích tự nhiên của huyện, tuy nhiên, do địa hình chủ yếu là đồi núi, đất dành cho lâm nghiệp là chủ yếu Bên cạnh đó, đất chưa sử dụng cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể.
Vì vậy huyện cần có kế hoạch khai thác triệt để vùng đất chưa sử dụng này.
Trường Đại học Kinh tế Huế
THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CANH TÁC Ở XÃ SƠN MỸ, HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
Đặc điểm cơ bản của xã Sơn Mỹ, huyện Hương Sơn
Sơn Mỹ, xã thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, có tổng diện tích 323,20 ha Xã này nằm cách Thị trấn Phố Châu, huyện lị của Hương Sơn, khoảng 14 km về phía Đông.
Ranh giới chính của xã như sau:
- Phía Đông giáp với xã Sơn Tân
- Phía Tây giáp với Sơn Hà và Sơn Thịnh
- Phía Nam giáp với Sơn Hà và Sơn Trà
- Phía Bắc giáp với Sơn Tân và Sơn Thịnh
Sơn Mỹ ở vị trí nằm giữa các xã Sơn Thịnh, Sơn Hà, Sơn Trà, Sơn Tân. Đường trục chính của xã làđường trục huyện 8B và trục đê Tân Long.
Xã Sơn Mỹ có địa hình chủ yếu là đồng bằng, chiếm gần như toàn bộ diện tích của xã Địa hình bằng phẳng và độ cao đồng đều đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và phát triển xây dựng.
Tổng diện tích theo ranh giới hành chính của xã là 323,2 ha, trong đó hầu hết đã được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Hiện tại, chỉ còn 13,4 ha đất chưa được sử dụng.
- Đất nông nghiệp: 229.94 ha (chiếm 71,14% diện tích tự nhiên)
- Đất phi nông nghiệp: 62,38 ha ( chiếm 24,71% diện tích đất tự nhiên)
- Đất ở dân cư: 17,48 ha ( chiếm 5,41% diện tich đất tự nhiên)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Huyện Hương Sơn và xã Sơn Mỹ đều chịu ảnh hưởng của khí hậu miền Trung với đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Địa hình nơi đây cũng góp phần tạo ra sự phân hóa khí hậu khắc nghiệt, bao gồm mùa hè nóng khô và mùa đông lạnh ẩm, cùng với lượng mưa lớn.
Nhiệt độ trung bình năm là: 23.8°C, được chia làm 2 mùa:
- Mùa nóng từ tháng 5 tới tháng 10 hàng năm Vào thời gian này nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 39,7°C, tập trung chủ yếu vào khoảng tháng 6,7,8.
Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, với nhiệt độ thấp nhất ghi nhận là 7°C, chủ yếu xảy ra vào các tháng 12, 1 và 2 Đặc biệt, có những thời điểm nhiệt độ có thể giảm xuống còn 4-5°C.
Trong một năm, nhiệt độ trung bình cao nhất đạt 27,5°C và thấp nhất là 21,3°C Tháng 1 là tháng có nhiệt độ thấp nhất, trong khi tháng 7 ghi nhận nhiệt độ cao nhất trong năm.
- Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm khoảng 86%
- Độ ẩm tương đối bình quân tháng nằm trong khoảng 85%- 93%
Tháng 6 và tháng 7 là thời điểm độ ẩm không khí thấp nhất, chỉ khoảng 75%, do gió Tây Nam khô nóng hoạt động mạnh Ngược lại, mùa lạnh mang lại độ ẩm không khí cao nhất, đạt từ 90% đến 93%.
- Trung bình cả năm ở xã Sơ Mỹ có 1463h nắng.
- Số giờ nắng trung bình trong các tháng mùa đông: 93h
- Số giờ nắng trung bình trong các tháng mùa hè: 178h
Mùa hè nắng thường gay gắt, ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp.
Trường Đại học Kinh tế Huế
- Lượng bốc hơi trung bình tháng cao nhất là: 131,18mm
- Lượng bốc hơi trung tháng thấp nhất là: 24,97mm
- Lượng bốc hơi trung bình năm là: 66,64mm
Sơn Mỹ là khu vực có lượng mưa lớn, với tổng lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2661 mm Tuy nhiên, lượng mưa không phân bố đồng đều giữa các tháng Tháng có lượng mưa cao nhất ghi nhận 1450 mm, trong khi lượng mưa lớn nhất trong một ngày là 657,2 mm.
Các xã thuộc huyện Hương Sơn nằm trong khu vực miền Trung, thường xuyên chịu ảnh hưởng từ bão Mỗi năm, khu vực này thường đối mặt với 1-2 cơn bão và áp thấp nhiệt đới.
Bão thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm, với lượng mưa trung bình do mỗi cơn bão hoặc áp thấp gây ra dao động từ 200 đến 250mm, và có thể lên tới 500mm trong một số trường hợp.
Tốc độ gió lên tới 40m/s, với gió mạnh nhất thường đến từ hướng Bắc, Tây Bắc và Đông Nam Mưa lớn và gió mạnh gây ra lũ lụt, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống của người dân.
- Gió: Hướng gió chủ đạo Tây Nam, Đông Bắc.
- Gió Tây Nam khô nóng từ tháng 4 đến tháng 8 (hai tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7).
- Gió Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3.
Xã Sơn Mỹ là một trong các xã chịuảnh hưởng lũ lụt lớn nhất của huyện Hương Sơn.
1.2 Thựctrạng phát triển kinh tế xã hội
1.2.1 Hiện trạng về kinh tế
Cơ cấu kinh tế: Tổng thu nhập năm 2010 đạt 22 tỷ đồng, trong đó có các
Trường Đại học Kinh tế Huế
+ Tổng sản lượng lương thực cây có hạt: 1200 tấn
+ Bình quân lương thực đầu người đạt 500kg/người/năm
+ Thu từ sản xuất nông nghiệp đạt 9,46 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng: 43%
+ Thu từ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề đạt 2,01 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng: 9,14 %
+ Thu từ thương mại- dịch vụ đạt 1,95 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng: 8,9 %
+ Thu nhậptừ các nguồn thu khác đạt 8,57 tỷ, chiếm tỉ trọng 38,96%
Thu nhập bình quân đầu người đạt 9,4 triệu đồng/năm, cao hơn mức bình quân chung khu vực nông thôn tỉnh Hà Tĩnh là 9 triệu đồng/năm, tương ứng với 104% Mức tăng trưởng kinh tế trong khu vực này đạt 12%.
+ Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010: 321/869 hộ, chiếm 37,36%
1.2.2 Thực trạng phát triển sản xuất của xã
Tổng diện tích trồng lúa chuyên 2 vụ tại xã là 137,21 ha, với sản lượng vụ Đông Xuân đạt từ 50-55 tạ/ha và vụ Hè Thu từ 30-35 tạ/ha Các xã có sản lượng lúa chủ yếu bao gồm Đồng Trang, Đồng Trong, Chiếng, Đập Mới, Tổng Binh, Báng, Cháy, Lò Gạch, Ruộng Mậu, Cồn Đẹt và Cấm Cang.
Nhà Tìm, Cửa Vĩ, Trọt, Dung, Ngải.
- Trồng rau màu các loại:
Tổng diện tích trồng màu của các năm chiếm 51,31 ha, bao gồm các loại cây trồng chính như: lạc, đậu, ngô, khoai.
Sản lượng cây trồng đạt được ở các vùng đồng như Bãi Hác, Đội Vườn, Cúp, Hồng Thịnh, Bãi Cát, Bãi Lồi, Làng Trung và Đồng Trong là rất ấn tượng, với củ lạc đạt 1,5 tấn/ha, đậu 2 tấn/ha và ngô 4 tấn/ha.
Diện tíchtrồng cây lâu năm chiếm 1 diện tích nhỏ: 36,83 ha.
Trường Đại học Kinh tế Huế
1.2.3 Dân số, lao động và việc làm xã Sơn Mỹ
Tính tới năm 2014 dân số xã Sơn Mỹ là 2330 người với 625 hộ ở 6 xóm.
Có 1435 người trong độ tuổi lao động Tỷ lệ lao động làm việc trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 55% Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 45%.
Xã Sơn Mỹ có diện tích hạn chế và hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao, dẫn đến một tỷ lệ lớn người lao động rời bỏ xã để tìm kiếm việc làm tại các thành phố lớn.
Bảng 2: Tình hình dân số và lao động của xã Sơn Mỹ giai đoạn 2012- 2014
2 Tổng lao động trong độ tuổi lao động.
Lao động nông nghiệp Người 715 716 717 1 1
Lao động phi nông nghiệp
(Nguồn:UBND xã Sơn Mỹ)
1.2.4 Thực trạng các khu dân cư nông thôn
Năm 2011 khi bắt đầu quy hoạch xãđi theo nông thôn mới thì xã có tất cả