1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế

164 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Tác giả Th.s Dư Anh Thơ
Trường học Trường Đại học Kinh tế Huế
Chuyên ngành Kinh tế công cộng
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Chính phủ trong nền kinh tế thị trường (5)
    • 1.1. Quá trình phát triển nhận thức về vai trò của Chính phủ (5)
    • 1.2. Sự thay đổi vai trò Chính phủ trong quá trình phát triển (8)
    • 1.3. Chính phủ và khu vực công cộng (9)
    • 1.4. Các giai đoạn phát triển của khu vực công ở Việt Nam (10)
    • 1.5. Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế (12)
  • 2. Cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế (15)
    • 2.1. Kinh tế học phúc lợi và các tiêu chuẩn về hiệu quả sử dụng nguồn lực (0)
    • 2.2. Định lý cơ bản của Kinh tế học phúc lợi (19)
    • 2.3. Thất bại thị trường - cơ sở để Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế (20)
    • 2.4. Những cơ sở khác cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế (22)
  • 3. Chức năng, nguyên tắc và những hạn chế trong sự can thiệp của Chính phủ vào nền (23)
    • 3.1. Chức năng của Chính phủ (23)
    • 3.2. Nguyên tắc cơ bản cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thị trường (24)
    • 3.3. Những hạn chế của Chính phủ khi can thiệp (24)
  • 4. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu môn học (0)
    • 4.1. Đối tượng nghiên cứu của môn học (25)
    • 4.2. Nội dung nghiên cứu môn học (27)
    • 4.3. Phương pháp luận nghiên cứu (27)
  • CHƯƠNG 2: CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ PHÂN BỔ LẠI NGUỒN LỰC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ (5)
    • 1. Độc quyền (36)
      • 1.1. Độc quyền thường (36)
      • 1.2. Độc quyền tự nhiên (39)
    • 2. Ngoại ứng (41)
      • 2.1. Khái niệm và đặc điểm (0)
      • 2.2. Ngoại ứng tiêu cực (42)
      • 2.3. Ngoại ứng tích cực (47)
    • 3. Hàng hoá công cộng (49)
      • 3.1. Khái niệm và thuộc tính cơ bản của hàng hoá công cộng (49)
      • 3.2. Đường cầu tổng hợp của hàng hóa công cộng và hàng hóa cá nhân (51)
      • 3.3. Cung cấp hàng hoá công cộng (57)
      • 3.4. Cung cấp công cộng hàng hoá cá nhân (61)
    • 4. Thông tin không đối xứng (63)
      • 4.1. Tính phi hiệu quả của thị trường do thông tin không đối xứng (64)
      • 4.2. Nguyên nhân gây ra hiện tượng thông tin không đối xứng (64)
      • 4.3. Mức độ nghiêm trọng của thất bại về thông tin không đối xứng với các loại hàng hoá (66)
      • 4.4. Các giải pháp khắc phục thông tin không đối xứng (66)
  • CHƯƠNG 3: CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ PHÂN PHỐI LẠI THU NHẬP NHẰM ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI (36)
    • 1. Công bằng xã hội trong phân phối thu nhập (76)
      • 1.1. Khái niệm công bằng (76)
      • 1.2. Thước đo mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (77)
      • 1.3. Nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (82)
      • 1.4. Lý do can thiệp của chính phủ nhằm đảm bảo công bằng xã hội (82)
    • 2. Các lý thuyết về phân phối lại thu nhập (83)
      • 2.1. Thuyết vị lợi (84)
      • 2.2. Quan điểm bình quân đồng đều (86)
      • 2.3. Thuyết cực đai thấp nhất (thuyết Rawls) (0)
      • 2.4. Các quan điểm không dựa trên độ thoả dụng cá nhân (88)
    • 3. Quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội (89)
      • 3.1. Quan điểm cho rằng hiệu quả và công bằng có mâu thuẫn (89)
      • 3.2. Quan điểm cho rằng hiệu quả và công bằng không nhất thiết phải có mâu thuẫn. 86 3.3. Quan hệ giữa hiệu quả và công bằng trong thực tế (90)
    • 4. Đói nghèo và giải pháp xoá đói giảm nghèo (91)
      • 4.1. Quan niệm về đói nghèo và thước đo đói nghèo (91)
      • 4.2. Tình hình đói nghèo ở Việt Nam và định hướng chính sách xóa đói giảm nghèo. 92 BÀI TẬP VÀ CÂU HỎI (96)
  • CHƯƠNG 4: CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG KINH TẾ VĨ MÔ TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HOÁ (76)
    • 1. Chính phủ với vai trò ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện nền kinh tế đóng (102)
      • 1.1. Chính sách tài khoá (102)
      • 1.2. Chính sách tiền tệ (104)
      • 1.3. Kết hợp chính sách tài khoá và tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô (105)
    • 2. Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong điều kiện toàn cầu hoá (0)
      • 2.1. Tác động toàn cầu hoá đến sự ổn định của nền kinh tế (109)
      • 2.2. Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện toàn cầu hoá (112)
    • 3. Chính phủ Việt Nam với việc sử dụng chính sách tài khoá, tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện hội nhập (117)
      • 3.1. Thời kỳ từ khi bắt đầu đổi mới đến trước khủng hoảng châu Á (1986 - 1996) (117)
      • 3.2. Thời kỳ sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á đến nay (1998 - nay) (117)
  • CHƯƠNG 5: LỰA CHỌN CÔNG CỘNG (102)
    • 1. Lợi ích của lựa chọn công cộng (120)
      • 1.1. Khái niệm lựa chọn công cộng (120)
      • 1.2. Lợi ích của lựa chọn công cộng (120)
    • 2. Lựa chọn công cộng trong cơ chế biểu quyết trực tiếp (122)
      • 2.1. Các nguyên tắc lựa chọn công cộng (122)
      • 2.2. Các phiên bản của nguyên tắc biểu quyết theo đa số (125)
      • 2.3. Định lý bất khả thi của Arrow (126)
    • 3. Lựa chọn công cộng trong cơ chế biểu quyết đại diện (127)
      • 3.1. Những hạn chế của một chính phủ đại diện (127)
      • 3.2. Những khó khăn trong quản lý cơ quan hành chính Nhà nư ớc (130)
  • CHƯƠNG 6: CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH CAN THIỆP CHỦ YẾU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG (120)
    • 1. Nhóm công cụ chính sách và quy định pháp lý (133)
      • 1.1. Quy định khung (133)
      • 1.2. Các quy định kiểm soát trực tiếp (134)
    • 2. Nhóm công cụ chính sách tạo cơ chế thúc đẩy thị trường (139)
      • 2.1. Tự do hoá thị trường (139)
      • 2.2. Hỗ trợ sự hình thành thị trường (140)
      • 2.3. Mô phỏng thị trường (141)
    • 3. Nhóm công cụ chính sách điều tiết bằng thuế và trợ cấp (142)
      • 3.1. Thuế (142)
      • 3.2. Trợ cấp (147)
    • 4. Nhóm công cụ chính sách sử dụng khu vực kinh tế Nhà nước tham gia cung ứng hàng hoá dịch vụ (151)
      • 4.1. Chính phủ cung ứng trực tiếp (151)
      • 4.2. Chính phủ cung ứng gián tiếp (153)
    • 5. Nhóm công cụ chính sách về bảo hiểm và giảm nhẹ nguy cơ tổn thương (154)
      • 5.1. Bảo hiểm (154)
      • 5.2. Giảm nhẹ nguy cơ tổn thương (155)

Nội dung

Chính phủ trong nền kinh tế thị trường

Quá trình phát triển nhận thức về vai trò của Chính phủ

1.1.1 Khái niệm về Chính phủ:

Tất cả chúng ta đều có mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức nhà nước, được gọi là khu vực công cộng Chính phủ là bộ máy đứng đầu, chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của khu vực này Khái niệm Chính phủ có thể được hiểu khác nhau tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu Trong môn Kinh tế công cộng, chúng ta chỉ tập trung vào vai trò điều tiết kinh tế của Chính phủ.

Chính phủ là tổ chức có nhiệm vụ thực thi quyền lực và điều tiết hành vi của cá nhân trong xã hội, nhằm phục vụ lợi ích chung và tài trợ cho việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ thiết yếu mà xã hội cần.

Nếu để tư nhân xây dựng các hệ thống đường giao thông, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, chất lượng sẽ tốt nhưng chi phí rất lớn Để bù đắp chi phí và có lãi, tư nhân sẽ không đầu tư, buộc Chính phủ phải can thiệp và đầu tư.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2 kiểm soát hành vi của các hãng gây ô nhiễm bằng cách đánh thuế; Chính phủ trợ giá cho các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào vùng sâu, vùng xa

Chính phủ quyết định các vấn đề về chi tiêu và phương tiện hoạt động thông qua lựa chọn tập thể của các cá nhân trong xã hội Quá trình này dẫn đến sự hình thành các thể chế chính trị.

Thể chế chính trị là hệ thống nguyên tắc và quy trình được quần chúng chấp nhận, quy định chức năng và quyền hạn của Chính phủ, cũng như cách thức quản lý các khoản chi tiêu của Chính phủ.

Thông qua những thể chế này, nguyện vọng của nhân dân sẽ được phản ánh hoặc đề cập đến trong các quyết định của Chính phủ

Các bộ luật của nhà nước cần được đa số đại biểu thông qua để có thể thực thi trong cuộc sống, với mỗi đại biểu đại diện cho một tỉnh hoặc thành phố.

1.1.2 Các mô hình tổ chức kinh tế và vai trò của Chính phủ:

Chính phủ, với tư cách là thể chế điều hành quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ các khuôn khổ pháp lý, đánh thuế và chi tiêu Tuy nhiên, sự cần thiết của một vai trò tích cực trong điều tiết nền kinh tế quốc dân vẫn là vấn đề gây tranh cãi qua nhiều thế kỷ Các quan điểm khác nhau về vai trò của Chính phủ đã dẫn đến sự hình thành nhiều mô hình tổ chức kinh tế khác nhau Bài viết này sẽ tập trung vào ba mô hình tổ chức kinh tế điển hình.

Mô hình kinh tế thị trường thuần tuý là nền kinh tế nơi mọi hàng hoá và dịch vụ được sản xuất bởi khu vực tư nhân, với các giao dịch diễn ra trên thị trường thông qua sự tương tác giữa cung và cầu Mọi cá nhân có quyền tự do mua bán hàng hoá theo sở thích và khả năng kinh tế của mình, trong khi vai trò của Chính phủ được giữ ở mức tối thiểu.

Mô hình kinh tế thị trường thuần túy, dựa trên quan điểm "bàn tay vô hình" của Adam Smith trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc" (1776), nhấn mạnh rằng vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế là rất hạn chế Các quan hệ trong nền kinh tế được quyết định bởi cá nhân và các doanh nghiệp, trong đó động cơ lợi nhuận thúc đẩy việc cung cấp hàng hóa Sự cạnh tranh đảm bảo rằng chỉ những doanh nghiệp đáp ứng đúng nhu cầu xã hội với chất lượng cao và giá thành hợp lý mới có thể tồn tại.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3 thị trường sẽ dẫn dắt việc sản xuất ra những hàng hóa mà mọi người mong muốn theo cách tốt nhất

Trước khi quan điểm của Adam Smith ra đời, các nhà kinh tế học Pháp đã nhấn mạnh vai trò tích cực của Chính phủ trong việc thúc đẩy ngoại thương và thương mại, thuộc chủ nghĩa trọng thương Đến thế kỷ 19, John Stuart Mill và Nassau Senior, hai nhà kinh tế học người Anh, đã phát triển một lý thuyết mới trong lĩnh vực này.

Thuyết "laissez faire" do Adam Smith đề xuất cho rằng Chính phủ nên để khu vực tư nhân tự do hoạt động mà không can thiệp hay kiểm soát Cạnh tranh trong thị trường sẽ mang lại lợi ích tốt nhất cho xã hội.

Mô hình kinh tế thị trường thuần tuý không thể giải thích các thất bại của thị trường và các cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

20 Đỉnh cao là cuộc Đại suy thoái những năm 30 của thế kỷ XX, trong đó sản lượng của cả khối tư bản chủ nghĩa (TBCN) sụt giảm 1/4, còn hơn 25% lực lượng lao động không có việc làm

Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, được áp dụng ở Liên Xô và các nước XHCN, là một hệ thống mà mọi quyết định về sản xuất và phân phối sản phẩm đều do một cơ quan trung ương của Chính phủ đưa ra Điều này khác biệt hoàn toàn so với mô hình kinh tế thị trường thuần tuý, nơi các lực lượng thị trường tự do quyết định Hệ quả của việc áp đặt giá cả và sản lượng một cách chủ quan đã dẫn đến sự tuỳ tiện, làm giảm động lực phấn đấu và gây ra sự lãng phí tài sản, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả phát triển của đất nước.

Sự thay đổi vai trò Chính phủ trong quá trình phát triển

Trong thời kỳ hiện nay, nhiều quốc gia đang hướng tới việc xây dựng nền kinh tế tự chủ và vững mạnh, với vai trò quan trọng của Chính phủ trong việc định hướng phát triển Qua chức năng kế hoạch hóa và các chính sách bảo hộ, nhiều nước đã phát triển công nghiệp hướng nội nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào nước ngoài Chính phủ có nhiệm vụ phân bổ nguồn lực và xác định các ngành công nghiệp ưu tiên để bảo vệ và phát triển Tuy nhiên, sự phát triển không hiệu quả của nhiều quốc gia theo chiến lược này đã dẫn đến nghi ngờ về vai trò của Chính phủ Ngược lại, một số nước công nghiệp mới đã chuyển sang chiến lược hướng ngoại, tin rằng tự do hóa kinh tế sẽ thúc đẩy tăng trưởng, và đã đạt được những kết quả ấn tượng Điều này đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong quan điểm về vai trò của Chính phủ vào thập kỷ 1980.

Sự can thiệp của Chính phủ vào việc phân bổ nguồn lực đã không mang lại hiệu quả như mong đợi trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng năng lượng.

Vào năm 1979, khủng hoảng nợ đã bùng phát ở nhiều nước châu Mỹ La tinh, dẫn đến việc các nhà kinh tế khuyến nghị thu hẹp sự can thiệp của Chính phủ và cho phép thị trường hoạt động tự do hơn Các chính sách được thực hiện bao gồm giảm định giá đồng bản tệ, tự do hóa lãi suất, thu hẹp khu vực công, giảm điều tiết thị trường, và xóa bỏ can thiệp trực tiếp vào thương mại và đầu tư Trong giai đoạn này, hiệu quả kinh tế được ưu tiên hàng đầu, trong khi công bằng xã hội bị đẩy xuống thứ yếu Sự cắt giảm chi tiêu ngân sách, đặc biệt cho các dịch vụ thiết yếu như giáo dục và y tế, đã dẫn đến phong trào phản đối mạnh mẽ đối với các chính sách này.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Quan điểm về vai trò của Chính phủ đã thay đổi, chuyển sang việc tăng cường thể chế và xây dựng khung pháp lý thuận lợi cho kinh doanh Chính phủ hiện nay tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, đồng thời xây dựng kết cấu hạ tầng và hỗ trợ người nghèo Những yếu tố này được gọi là "quản trị quốc gia" hay "điều hành Nhà nước" Vào thập niên 90, vai trò của Chính phủ chủ yếu là bổ sung cho thị trường và can thiệp vào đời sống kinh tế thông qua các chính sách và quản lý bằng luật pháp.

Chính phủ và khu vực công cộng

Khái niệm Chính phủ thường đi đôi với khu vực công cộng, được hiểu là phần thuộc về Chính phủ Ngược lại, khu vực tư nhân chỉ những lĩnh vực không liên quan đến Chính phủ Sự phân biệt giữa hai khu vực này dựa vào cách phân bổ nguồn lực trong xã hội.

Trong nền kinh tế hỗn hợp hiện nay, sự kết hợp giữa phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường và phi thị trường là rất quan trọng.

Phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường yêu cầu tuân thủ các quy luật thị trường như quy luật khan hiếm, cung - cầu và giá trị, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội Phương thức này hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi ích.

Phân bổ nguồn lực theo cơ chế phi thị trường sử dụng các công cụ can thiệp của Chính phủ như thuế, trợ cấp, mệnh lệnh hành chính và doanh nghiệp Nhà nước nhằm điều tiết cách phân bổ của thị trường.

Khu vực công cộng là bộ phận của nền kinh tế có khả năng phân bổ nguồn lực thông qua cơ chế phi thị trường Khu vực này bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau.

Hệ thống các cơ quan quyền lực của Nhà nước bao gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan hành pháp như Chính phủ, các bộ, viện và Ủy ban nhân dân các cấp, cùng với các cơ quan tư pháp như tòa án và viện kiểm sát.

 Hệ thống quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…

Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội bao gồm đường xá, bến cảng, cầu cống, mạng lưới thông tin đại chúng, hệ thống cung cấp dịch vụ công, trường học, bệnh viện công và các công trình bảo vệ môi trường.

Các lực lượng kinh tế của Chính phủ bao gồm Doanh nghiệp Nhà nước, tập đoàn kinh tế Nhà nước và lực lượng dự trữ quốc gia Điều quan trọng cần lưu ý là khu vực công cộng đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6 gồm cả các doanh nghiệp Nhà nước, mặc dù các doanh nghiệp này ngày càng phải hoạt động theo những nguyên tắc, quy luật của thị trường, những chúng vẫn là công cụ điều tiết kinh tế của Chính phủ, thuộc sở hữu của Chính phủ và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ

Hệ thống an sinh xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các loại trợ cấp xã hội như trợ cấp khẩn cấp, trợ cấp cứu đói và trợ cấp thất nghiệp, nhằm đảm bảo sự hỗ trợ và bảo vệ cho người dân trong các tình huống khó khăn.

Các giai đoạn phát triển của khu vực công ở Việt Nam

1.4.1 Trước năm 1986 Đây là thời kỳ mà cơ chế kế hoạch hoá tập trung từ trung ương đang thống trị ở Việt Nam Trong thời kỳ này khu vực công cộng là khu vực chỉ đạo, chi phối mọi mặt của đời sống xã hội và Chính phủ phủ can thiệp sâu vào đời sống kinh tế Trong nền kinh tế, Chính phủ phát triển kinh tế quốc doanh trên tất cả các lĩnh vực, bao cấp cho kinh tế tập thể, hạn chế kinh tế tư nhân và gia đình, lập kế hoạch sản xuất, thu mua và phân phối sản phẩm chi tiết đến từng người dân Chính phủ quy định giá cho từng loại sản phẩm, sử dụng một phần ngân sách để trợ giá cho các loại sản phẩm vì thế đã giúp cho giá cả ổn định nhưng lại không mang đúng giá trị của sản phẩm Doanh nghiệp Nhà nước giữ vị trí độc quyền cao trong nền kinh tế Khu vực tư nhân nhỏ bé, bị khu vực công cộng chèn ép khó phát triển Thị trường và người tiêu dùng không có tiếng nói đối với doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước Tóm lại, trước năm 1986 thì khu vực tư nhân bị khu vực công cộng chèn ép và thay thế

Sau năm 1986, khu vực công cộng đã trải qua nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VI vào tháng 12 năm 1986, khi Đảng và Nhà nước quyết định chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường Điều này đã dẫn đến sự phân định rõ ràng hơn giữa khu vực công cộng và khu vực tư nhân, với Chính phủ không còn đóng vai trò là lực lượng kinh doanh mà chuyển sang định hướng, tổ chức và điều tiết môi trường kinh tế Khu vực tư nhân được thừa nhận và cùng đồng hành với khu vực công cộng trong phát triển kinh tế Chính phủ đã thúc đẩy nhiều cải cách thể chế để hỗ trợ khu vực tư nhân, bao gồm khoán sản phẩm, phát triển các thành phần kinh tế và mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp Nhà nước Đặc biệt, Chính phủ đã cải tiến hệ thống doanh nghiệp Nhà nước thông qua việc giải thể các doanh nghiệp không hiệu quả.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7 làm ăn thua lỗ, giữ lại các doanh nghiệp chủ chốt nhằm bình ổn thị trường, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước…

Quá trình đổi mới đã làm thay đổi đáng kể vai trò của KVC tại Việt Nam Một chỉ số quan trọng để đánh giá vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế là so sánh quy mô chi tiêu của Chính phủ với GDP.

2000, quy mô chi tiêu của Chính phủ chỉ chiếm 22,6% tổng GDP thì đến năm 2010 chi tiêu của Chính phủ đã tăng lên đến 30,6% tổng GDP của nền kinh tế

Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế đã giúp Việt Nam đạt được nhiều thành tựu phát triển tích cực trong suốt nhiều thập kỷ Từ năm 2001 đến 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7,3%, đưa Việt Nam vào nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.170 đôla, vượt qua ngưỡng các nước đang phát triển có thu nhập thấp Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, với kinh tế vĩ mô ổn định và các cân đối lớn được giữ vững Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, góp phần vào thành công của công cuộc xóa đói giảm nghèo, được quốc tế đánh giá cao Chỉ số phát triển con người đạt 5,75, thuộc nhóm nước trung bình cao trên thế giới, trong khi chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần năm 1999.

Năm 2008, tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam đã tăng từ 67 lên 75 tuổi, trong khi tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 33,8% xuống dưới 18% Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêu Thiên niên kỷ được đề ra cho năm 2015.

Khu vực công cộng tại Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình đổi mới Những hạn chế này thể hiện rõ trên nhiều phương diện khác nhau.

Bộ máy hành chính hiện nay vẫn còn mang tính quan liêu, với hệ thống văn bản quản lý và pháp quy chồng chéo, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế Đội ngũ cán bộ còn yếu kém về phẩm chất, trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm Hơn nữa, bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với người dân, không đáp ứng được các nhu cầu và bức xúc của cộng đồng.

Hệ thống kết cấu hạ tầng đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng Tình trạng mất cân đối trong phát triển kết cấu hạ tầng giữa thành phố và nông thôn, cũng như giữa các vùng miền như miền Bắc, miền Nam và miền Trung vẫn còn nghiêm trọng Nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực này cần được cải thiện để khắc phục những bất cập hiện tại.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8 chủ yếu vẫn từ ngân sách Nhà nước và vốn Hỗ trợ phát trợ phát triển chính thức (ODA) Hiệu quả hoạt động của hệ thống KCHT còn thấp

Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng, bao gồm hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh thấp Tốc độ phát triển chậm, nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào sự bảo hộ của Nhà nước Quy mô doanh nghiệp nhỏ, cơ cấu không hợp lý, công nợ gia tăng, tình trạng lao động thiếu việc làm và trình độ quản lý yếu kém là những yếu điểm cần khắc phục.

Hệ thống an sinh xã hội hiện nay còn nhiều hạn chế, với diện bao phủ và mức hỗ trợ thấp, chưa đủ để giúp đỡ các đối tượng khó khăn Quỹ an sinh xã hội chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và chưa thu hút được nguồn lực từ nhiều phía Sự tham gia vào các hình thức bảo hiểm như bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp còn thấp, không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân Chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhìn chung còn kém, và người dân gặp nhiều khó khăn, phiền hà khi tiếp cận dịch vụ bảo hiểm y tế.

Nguyên nhân của những yếu kém:

Xuất phát điểm của Việt Nam rất thấp với ngân sách Nhà nước quy mô nhỏ và tình trạng mất cân đối kéo dài Do đó, ngân sách chủ yếu chỉ đáp ứng các nhu cầu thiết yếu, chưa đủ điều kiện để đầu tư cho khu vực công cộng.

Bộ máy hành chính đã quen với cách quản lý quan liêu bao cấp, trong khi cải cách hành chính diễn ra chậm hơn so với cải cách kinh tế, dẫn đến việc kìm hãm sự phát triển kinh tế.

Cơ chế thu hút vốn đầu tư vào khu vực công cộng từ các thành phần kinh tế khác vẫn chưa rõ ràng Tâm lý thụ động và sự trông chờ vào Nhà nước và chính quyền cấp trên vẫn còn phổ biến, trong khi thói quen được bảo hộ chưa có dấu hiệu thay đổi.

Tình trạng nghèo đói vẫn còn phổ biến, đặc biệt ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa, nơi mà đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn và sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng Việc thiếu việc làm ở nông thôn và tình trạng thất nghiệp ở các khu vực đô thị đang trở thành vấn đề nghiêm trọng Hệ thống an sinh xã hội gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý, đặc biệt là trong quản lý tài chính và nghiệp vụ, dẫn đến hiệu quả hoạt động chưa đạt yêu cầu.

Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế

KVC và KVTN đóng vai trò khác nhau trong nền kinh tế thị trường, nhưng hoạt động của chúng có tác động lẫn nhau.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9 lại với nhau và cũng liên kết với nhau trong một quá trình kinh tế chung Để hiểu rõ hơn về sự liên kết này, chúng ta hãy cùng xem xét sự có mặt của KVC, hay Chính phủ, trong vòng tuần hoàn kinh tế sẽ làm thay đổi bức tranh kinh tế nói chung như thế nào

Trong nền kinh tế đơn giản mô tả ở Hình 1-(a), có hai đối tác chính là khu vực hộ gia đình và khu vực doanh nghiệp Trong một nền kinh tế thị trường thuần túy, hộ gia đình sở hữu tất cả các nguồn lực sản xuất và quyết định cách sử dụng chúng, chịu ảnh hưởng bởi giá cả thị trường Doanh nghiệp cần mua các nguồn lực này từ hộ gia đình thông qua thị trường các yếu tố sản xuất, như thể hiện qua các đường (1) và (2) trong hình Đường (1) minh họa giao dịch vật chất từ hộ gia đình sang doanh nghiệp, trong khi đường (2) thể hiện giao dịch tiền tệ từ doanh nghiệp trả cho hộ gia đình để mua các nguồn lực sản xuất.

Sau khi doanh nghiệp kết hợp các nguồn lực trong quá trình sản xuất, họ tạo ra hàng hóa và dịch vụ để bán cho hộ gia đình Các giao dịch vật chất và tiền tệ diễn ra theo chiều ngược lại qua thị trường hàng hóa và dịch vụ Nhờ vậy, vòng tuần hoàn của nền kinh tế không có Chính phủ, tiết kiệm và đầu tư đã hoàn tất.

Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng và quản lý nguồn lực lớn, bao gồm việc mua các đầu vào từ hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân, cũng như sở hữu các nguồn lực sản xuất như vốn và đất đai Thông qua các doanh nghiệp công, Chính phủ trực tiếp sản xuất hàng hóa và dịch vụ, đồng thời yêu cầu hộ gia đình và doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế để thanh toán cho các khoản mua sắm Chính phủ có thể yêu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng nguồn lực với giá thấp hơn giá thị trường, nhằm tạo ra hàng hóa và dịch vụ công như quốc phòng, giáo dục và y tế Ngoài ra, nguồn thu từ Chính phủ cũng được sử dụng để cung cấp các khoản chuyển nhượng cho cá nhân và doanh nghiệp, bao gồm bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ nông dân.

Trường Đại học Kinh tế Huế

(a) Vòng tuần hoàn kinh tế khi không có Chính phủ

(a) Vòng tuần hoàn kinh tế khi có Chính phủ

Hình 1: Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế

Thị trường hàng hóa, dịch vụ

Thị trường yếu tố sản xuất

Hộ gia đình Doanh nghiệp

(9) Dịch vụ công, chuyển nhượng

(9) Dịch vụ công, chuyển nhượng (10)Thuế, phí, lệ phí

Thị trường hàng hóa, dịch vụ

Thị trường yếu tố sản xuất

Hộ gia đình Doanh nghiệp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Mức độ giao dịch giữa KVC (Chính phủ) và KVTN có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia Trong các nền kinh tế hỗn hợp, khu vực Chính phủ thường chiếm từ 25 đến 50% GDP Ngược lại, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các cung trên và dưới sẽ không tồn tại, vì mọi giao dịch đều do Chính phủ kiểm soát thay vì thị trường.

Việc Chính phủ tham gia vào vòng tuần hoàn kinh tế đã làm phức tạp hóa các giao dịch Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường Câu hỏi đặt ra là tại sao cần có sự can thiệp của Chính phủ và thời điểm nào là cần thiết cho sự can thiệp đó.

Cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế

Định lý cơ bản của Kinh tế học phúc lợi

2.2.1 Nội dung định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi

Kinh tế học Phúc lợi là một nhánh của lý thuyết kinh tế, tập trung vào sự quan tâm của xã hội đối với các trạng thái kinh tế khác nhau.

Định lý cơ bản của Kinh tế học phúc lợi cho biết rằng trong một nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, nơi mà các nhà sản xuất và người tiêu dùng chấp nhận giá cả, thì dưới những điều kiện nhất định, nền kinh tế sẽ tự động đạt được phân bổ nguồn lực hiệu quả Pareto.

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, mọi cá nhân đều đối mặt với mức giá giống nhau và không thể tác động đến giá cả Các nhà sản xuất tối ưu hóa chi phí bằng cách để đường đẳng lượng tiếp xúc với đường đẳng phí, với độ dốc của đường đẳng lượng (MRTSLK) bằng độ dốc đường đẳng phí (PL/PK) Khi giá lao động (PL) và giá vốn (PK) không thay đổi, điều này dẫn đến điều kiện hiệu quả sản xuất được thỏa mãn Đồng thời, cá nhân cũng tìm cách tối đa hóa lợi ích tiêu dùng bằng cách làm cho đường bàng quan tiếp xúc với đường ngân sách, tức là độ dốc của đường bàng quan (MRSXY) bằng độ dốc của đường ngân sách (PX/PY).

PX, PY không đổi nên MRS A XY = MRS B XY = PX/PY hay điều kiện hiệu quả phân phối được thoả mãn

Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, các hãng tối đa hóa lợi nhuận bằng cách sản xuất tại điểm mà chi phí biên bằng giá, tức là $MC_X = P_X$ và $MC_Y = P_Y$ Khi thay thế các kết quả này vào điều kiện thứ ba của hiệu quả Pareto, chúng ta có thể xác định được mức độ tối ưu trong sản xuất.

MRS A XY = MRS B XY = P X /P Y = MC X /MC Y = MRT XY

Hay điều kiện hỗn hợp được thoả mãn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Khi các cá nhân theo đuổi động cơ tối đa hóa lợi ích, phân bổ nguồn lực sẽ đạt hiệu quả Hiệu quả Pareto yêu cầu tỷ số giá giữa các hàng hóa phải tương ứng với tỷ suất chi phí biên của chúng, điều này được đảm bảo trong thị trường cạnh tranh Định lý cơ bản của Kinh tế học phúc lợi thực chất phản ánh luận điểm về "bàn tay vô hình" của A Smith.

2.2.2 Hạn chế của tiêu chuẩn Pareto và Định lý cơ bản của Kinh tế học phúc lợi

Tiêu chuẩn Pareto và Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi là những chỉ dẫn quan trọng cho việc phân bổ nguồn lực hiệu quả, nhưng chúng cũng bộc lộ bốn hạn chế chủ yếu.

Thứ nhất, Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi chỉ đúng trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo

Hiệu quả là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá sự phân bổ nguồn lực, nhưng không phải là tiêu chí duy nhất để xác định liệu sự phân bổ đó có tốt hay xấu.

Thứ ba, tiêu chuẩn Pareto chỉ đưa ra một dấu hiệu tốt về hiệu quả phân bổ nguồn lực trong điều kiện nền kinh tế ổn định

Thứ tư, Định lý cơ bản của kinh tế học Phúc lợi được nghiên cứu trong bối cảnh một nền kinh tế đóng

Các lý do trên đã tạo nên cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế, đó là:

 Chính phủ can thiệp để khắc phục thất bại thị trường, nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực

 Chính phủ can thiệp để phân phối lại thu nhập và nguồn lực, nhằm đảm bảo công bằng xã hội

Chính phủ cần can thiệp để duy trì sự ổn định của kinh tế vĩ mô, từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các thành phần trong nền kinh tế quốc dân.

 Chính phủ đại diện cho quyền lợi quốc gia trên trường quốc tế.

Thất bại thị trường - cơ sở để Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế

Thất bại của thị trường xảy ra khi thị trường cạnh tranh không thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ đạt yêu cầu mong muốn của xã hội.

Những trường hợp thất bại thị trường chủ yếu:

Khi thị trường chỉ có một hoặc một số ít hãng thống trị, dễ xảy ra hiện tượng độc quyền và chi phối thị trường Các công ty nắm quyền lực độc quyền có khả năng tạo ra lợi nhuận siêu ngạch bằng cách tăng giá mà không lo ngại về sự cạnh tranh từ các đối thủ.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17 mới gia nhập thị trường Do đó cần phải có sự can thiệp của Chính phủ nhằm kiểm soát thị trường một cách chặt chẽ để đảm bảo rằng các rào cản đối với sự gia nhập thị trường không trở thành những phương tiện khuyến khích quyền lực độc quyền

2.3.2 Ngoại ứng Đây là trường hợp xảy ra khi tác động của một giao dịch trên thị trường gây ảnh hưởng đến một đối tượng thứ ba ngoài người bán và người mua, nhưng tác động đó không được tính đến Trong những trường hợp như vậy, cân bằng thị trường sẽ không đạt hiệu quả xã hội, vì lợi ích biên hoặc chi phí biên của tư nhân không nhất quán với lợi ích hoặc chi phí biên mà xã hội chấp nhận Để giúp cho các hoạt động của thị trường đạt mức tối ưu xã hội thì Chính phủ phải can thiệp để buộc các bên tham gia giao dịch thị trường phải tính đến tác động mà mình gây ra cho đối tượng thứ ba

Thị trường không thể cung cấp nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cho xã hội do khó khăn trong việc chia nhỏ chúng thành đơn vị tiêu dùng Những hàng hóa này, được gọi là hàng hóa công cộng (HHCC), mang lại lợi ích chung cho tất cả mọi người Đặc điểm nổi bật của HHCC là tính không cạnh tranh, cho phép nhiều người cùng thụ hưởng mà không làm giảm lợi ích của người tiêu dùng hiện tại Quốc phòng là một ví dụ điển hình, vì sự biến động dân số không ảnh hưởng đến an ninh mà công dân đang được hưởng Thêm vào đó, HHCC cũng không có tính loại trừ, nghĩa là rất khó để ngăn cản những người không trả tiền từ việc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ này; ví dụ, ngay cả khi một người không đóng góp ngân sách quốc phòng, họ vẫn được bảo vệ miễn là hệ thống quốc phòng hoạt động.

Nếu không có sự hỗ trợ từ Chính phủ, doanh nghiệp tư nhân sẽ không thể cung cấp hàng hóa công cộng do doanh thu không đủ bù đắp chi phí.

2.3.4 Thông tin không đối xứng

Người tiêu dùng và nhà sản xuất thường yêu cầu sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường do thiếu thông tin về mua sắm và sản xuất Trong một số trường hợp, một bên tham gia thị trường có thông tin đầy đủ về các đặc tính sản phẩm hơn bên kia, dẫn đến hiện tượng thông tin không đối xứng.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trong thị trường y tế, bác sĩ thường nắm giữ nhiều thông tin về sản phẩm hơn bệnh nhân Ngược lại, trong thị trường bảo hiểm, khách hàng lại hiểu rõ hơn về xác suất rủi ro so với các công ty bảo hiểm.

Khó khăn trong việc thu thập thông tin có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của thị trường, dẫn đến việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả Điều này tạo cơ hội cho bên nắm giữ thông tin đầy đủ hơn lợi dụng để thu lợi, gây thiệt thòi cho bên còn lại Do đó, sự can thiệp của Chính phủ là cần thiết để bổ sung thông tin cho thị trường và kiểm soát hành vi của những bên có lợi thế thông tin, nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả của thị trường.

Sự vận hành chu kỳ của nền kinh tế đã dẫn đến lạm phát và thất nghiệp trở thành vấn đề kinh niên trong nền kinh tế thị trường, gây ra nhiều tổn thất cho xã hội Chính phủ đã chủ động áp dụng các chính sách tài khoá và tiền tệ nhằm ổn định nền kinh tế và hướng tới tình trạng toàn dụng nhân công.

Những cơ sở khác cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế

Các nguyên nhân gây ra thất bại của thị trường cho thấy thị trường có thể dẫn đến những kết cục không hiệu quả Ngoài ra, ngay cả khi nền kinh tế hoạt động hiệu quả, Chính phủ vẫn cần can thiệp vì hai lý do: mất công bằng xã hội và sự phân loại hàng hóa khuyến dụng - phi khuyến dụng.

2.4.1 Mất công bằng xã hội

Thị trường cạnh tranh và hiệu quả Pareto chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế mà không nói lên điều gì về phân phối thu nhập Thực tế, thị trường cạnh tranh có thể dẫn đến sự phân phối không công bằng, khiến một số nhóm người nghèo phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn nguồn lực cần thiết cho cuộc sống Do đó, chính phủ có trách nhiệm phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương như người già, người nghèo, trẻ em và người tàn tật Chính phủ thực hiện điều này thông qua các chương trình trợ cấp trực tiếp và các dự án phát triển hạ tầng như xây dựng điện, đường xá, trường học và trạm xá.

2.4.2 Hàng hoá khuyến dụng, phi khuyến dụng

Hàng hóa khuyến dụng là những sản phẩm và dịch vụ mang lại lợi ích cho cả cá nhân và xã hội Tuy nhiên, do cá nhân không tự nguyện tiêu dùng, Chính phủ buộc phải can thiệp để đảm bảo việc sử dụng chúng.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Hàng hoá phi khuyến dụng là những sản phẩm và dịch vụ có thể gây hại cho cá nhân và xã hội, nhưng người tiêu dùng không dễ dàng từ bỏ Để bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, Chính phủ Việt Nam đã áp dụng các biện pháp hạn chế đối với rượu và thuốc lá, trong khi đó cờ bạc, ma túy và vũ khí là những mặt hàng bị nghiêm cấm hoàn toàn.

Chức năng, nguyên tắc và những hạn chế trong sự can thiệp của Chính phủ vào nền

Chức năng của Chính phủ

3.1.1 Phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

Chính phủ tập trung vào việc phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế theo mong muốn của xã hội Để đạt được điều này, Chính phủ cung cấp hàng hóa công cộng và điều tiết đầu tư vào các ngành và vùng theo quy hoạch, đồng thời khắc phục các thất bại của thị trường như độc quyền, ngoại ứng và thông tin không đối xứng.

3.1.2 Phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội

Mặc dù thị trường có thể hoạt động hiệu quả, nhưng nó vẫn dẫn đến sự phân phối thu nhập không công bằng trong xã hội Do đó, chính phủ cần can thiệp để phân phối lại thu nhập một cách công bằng hơn Việc này thường được thực hiện thông qua các chính sách thuế và chi tiêu, và đôi khi thông qua các mệnh lệnh hành chính trực tiếp.

3.1.3 Ổn định kinh tế vĩ mô

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kinh tế, Chính phủ có trách nhiệm ngăn chặn tái diễn suy thoái hoặc khủng hoảng như những năm 1930 Để thực hiện điều này, Chính phủ sử dụng các công cụ như chính sách tài khóa, tiền tệ, thu nhập và giám sát chặt chẽ thị trường tài chính Đồng thời, Chính phủ cũng tập trung vào việc hoạch định các chính sách thúc đẩy tăng trưởng, nhằm ổn định và phát triển thị trường, tránh những thất bại do thị trường gây ra.

3.1.4 Đại diện cho quốc gia trên trường quốc tế

Trong những năm gần đây, thương mại và tài chính quốc tế đã trở nên rất quan trọng Chính phủ đại diện cho quyền lợi quốc gia tại các diễn đàn quốc tế và đàm phán các hiệp định có lợi cho các quốc gia khác Các lĩnh vực thường xuất hiện trên các diễn đàn kinh tế quốc tế hiện nay bao gồm

Trường Đại học Kinh tế Huế

- Tự do hóa thương mại và đầu tư

-Các chương trình hỗ trợ quốc tế

-Phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô giữa các quốc gia

- Bảo vệ môi trường thế giới.

Nguyên tắc cơ bản cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thị trường

Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng sự can thiệp của Chính phủ cần hướng tới mục tiêu cuối cùng và dài hạn là hỗ trợ, tạo điều kiện cho thị trường hoạt động hiệu quả hơn.

Khu vực công trong nền kinh tế thị trường cần đóng vai trò là chất xúc tác cho sự phát triển của khu vực tư nhân, nhằm mang lại lợi ích cho toàn xã hội Chính phủ cần tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, đồng thời thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh theo quy định của pháp luật Điều này sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định kinh tế, an ninh chính trị và trật tự, cũng như công bằng xã hội.

Chính phủ cần ưu tiên áp dụng các biện pháp can thiệp vào thị trường mà không gây méo mó, nhằm đảm bảo sự tương hợp với thị trường.

Trong thực tế, việc tìm kiếm phương pháp can thiệp không gây méo mó thị trường là rất khó khăn Do đó, khi áp dụng nguyên tắc này, cần lựa chọn hình thức can thiệp sao cho ít ảnh hưởng đến sự cân bằng của thị trường nhất.

Những hạn chế của Chính phủ khi can thiệp

3.3.1 Hạn chế do thiếu thông tin

Để một chính sách can thiệp trở nên hiệu quả, việc nắm vững thông tin thị trường là rất quan trọng Tuy nhiên, Chính phủ thường gặp phải tình trạng thiếu thông tin, dẫn đến những can thiệp không chính xác và thiếu tính thực tiễn Điều này có thể gây ra những tác động tiêu cực đến xã hội.

Khi Chính phủ quyết định trợ cấp cho người nghèo, việc thiếu thông tin đầy đủ về tình trạng nghèo đói và nhu cầu cụ thể ở từng địa phương có thể dẫn đến việc trợ cấp không đúng đối tượng Điều này không chỉ lãng phí ngân sách quốc gia mà còn có thể làm gia tăng sự phân hóa thu nhập trong xã hội.

3.3.2 Hạn chế do thiếu khả năng kiểm soát phản ứng của cá nhân

Chính phủ thường gặp khó khăn trong việc dự đoán cách mà cá nhân sẽ phản ứng trước các thay đổi chính sách Khi có sự thay đổi, phản ứng của người dân có thể không như mong đợi, dẫn đến những hệ quả không lường trước được.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu môn học

Đối tượng nghiên cứu của môn học

Kinh tế học nghiên cứu sự khan hiếm của nguồn lực và cách mà xã hội lựa chọn phân bổ và sử dụng các nguồn lực này Nó trả lời bốn câu hỏi chính liên quan đến việc quản lý và tối ưu hóa nguồn lực khan hiếm.

- Sản xuất như thế nào?

- Các quyết định kinh tế được đưa ra như thế nào?

Kinh tế công cộng phân tích hành vi của khu vực công và Chính phủ trong việc can thiệp vào nền kinh tế thị trường, nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh tế học từ góc độ lợi ích xã hội.

Hầu hết hàng hóa và dịch vụ trên thị trường được cung cấp bởi khu vực tư nhân, dựa trên tín hiệu giá cả phản ánh quan hệ cung cầu Khi giá tăng, điều này cho thấy người mua sẵn sàng chi trả cao hơn để sở hữu hàng hóa, từ đó tạo ra động lực cho các nhà sản xuất.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22 nhà sản xuất tư nhân tăng lượng cung ứng cho thị trường, và qua đó sẽ nhận được mức lợi nhuận cao hơn Điều ngược lại sẽ đúng khi giá giảm

Có nhiều loại hàng hóa và dịch vụ, như hàng hóa công cộng (HHCC), không có thị trường rõ ràng, dẫn đến việc khu vực tư nhân không tham gia cung cấp Tuy nhiên, xã hội cần các dịch vụ thiết yếu như đường xá, sân bay, hải cảng và y tế Do đó, Chính phủ phải xem xét việc cung cấp những hàng hóa và dịch vụ này dựa trên lợi ích và chi phí xã hội biên.

4.1.2 Sản xuất như thế nào?

Để thu hút sự tham gia của tư nhân trong việc khai thác và thu lợi nhuận, cần thiết lập các cơ chế và chính sách đặc biệt như miễn giảm thuế, trợ cấp một phần, và hợp tác giữa Nhà nước và nhân dân Chính phủ có thể áp dụng hình thức BOT (sản xuất, khai thác, chuyển giao) để thu hút đầu tư tư nhân, đặc biệt hiệu quả với những hàng hoá mà tư nhân có khả năng sinh lợi từ dịch vụ Qua đó, Chính phủ vẫn có thể đạt được hàng hoá mong muốn, đồng thời đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư và giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia.

Ký hợp đồng với khu vực tư nhân để sản xuất theo đơn đặt hàng của Chính phủ sử dụng ngân sách Nhà nước, nhưng sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nếu hàng hóa được sản xuất bởi tư nhân có năng lực vượt trội so với doanh nghiệp Nhà nước.

Chính phủ nên trực tiếp sản xuất thông qua doanh nghiệp Nhà nước khi khu vực công cộng thể hiện ưu thế hơn so với khu vực tư nhân.

Trong khu vực tư nhân, các công ty thường không chú trọng đến công bằng xã hội vì nó không trực tiếp gia tăng lợi nhuận Vì vậy, trách nhiệm đảm bảo công bằng xã hội thuộc về Chính phủ, và do đó, công bằng luôn được ưu tiên trong nhiều chính sách của Chính phủ.

4.1.4 Các quyết định kinh tế được đưa ra như thế nào?

Trong khu vực tư nhân, các quyết định thường mang tính cá nhân hoặc tập thể nhỏ nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Ngược lại, trong khu vực công cộng, quyết định được đưa ra bởi chủ sở hữu xã hội, tức là người dân, hoặc các đại diện được bầu chọn, như các nhà chính trị điều hành Chính phủ Sự khác biệt giữa hai khu vực này nằm ở tính chất tập thể của quyết định trong khu vực công cộng.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23 những quyết định này rất cao Các nhóm người do Chính phủ đại diện lại rất khác nhau về quyền lợi, mục đích theo đuổi Do đó, quyết định của khu vực công là một quá trình lựa chọn công cộng rất phức tạp, thường xuyên có xung đột về lợi ích, đòi hỏi phải có cơ chế điều hoà.

Nội dung nghiên cứu môn học

Kinh tế công cộng tập trung vào ba khía cạnh chính sau:

Khu vực công cộng tham gia vào nhiều hoạt động kinh tế quan trọng, và việc tổ chức các hoạt động này cần được phân tích kỹ lưỡng Môn học sẽ tập trung vào việc đánh giá các hình thức can thiệp của Chính phủ và xem xét tính hợp lý của những can thiệp này trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.

Việc dự đoán tác động của chính sách Chính phủ là cần thiết vì nó ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong xã hội Điều này giúp hiểu rõ phản ứng của các thành viên xã hội trước sự thay đổi trong môi trường pháp luật.

Đánh giá các phương án chính sách yêu cầu hiểu rõ tác động của chúng và thiết lập các tiêu chuẩn đánh giá Trước tiên, cần xác định mục tiêu của chính sách, sau đó đánh giá mức độ đạt được mục tiêu của từng phương án đề xuất Ngoài ra, cần xem xét các tác động phụ mà mỗi phương án có thể gây ra.

CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ PHÂN BỔ LẠI NGUỒN LỰC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ

Độc quyền

1.1.Độc quyền thường Độc quyền thường là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm không có loại hàng hoá nào thay thế gần gũi Tuy nhiên, trên thực tế thì không có độc quyền thường, vì hàng hoá nói chung ít nhiều có sản phẩm thay thế

1.1.1 Nguyên nhân xuất hiện độc quyền

Độc quyền xuất hiện do quá trình cạnh tranh khốc liệt, nơi những doanh nghiệp kém hiệu quả và có quyết định sai lầm sẽ bị các đối thủ mạnh hơn thôn tính và chiếm lĩnh thị phần Trong cuộc đua này, nếu một doanh nghiệp vượt trội hơn và giành vị trí thống trị, hiện tượng độc quyền sẽ xảy ra.

- Do được Chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường Nhiều hãng trở thành độc quyền nhờ Chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào nào đó

Trường Đại học Kinh tế Huế

Chính phủ thường thiết lập cơ chế độc quyền Nhà nước cho các ngành chủ đạo của quốc gia, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và quản lý hiệu quả.

Chế độ bản quyền bảo vệ quyền lợi của nhà phát minh và khuyến khích họ đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, từ đó nâng cao năng suất lao động và đời sống tinh thần của xã hội Tuy nhiên, các quy định này cũng tạo ra một vị thế độc quyền lớn cho người sở hữu bản quyền, mặc dù vị thế này không phải là vĩnh cửu.

Việc sở hữu nguồn lực đặc biệt mang lại cho người nắm giữ vị thế độc quyền trên thị trường Khả năng này không chỉ giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh mà còn củng cố sự khác biệt trong hoạt động kinh doanh.

Nam Phi sở hữu những mỏ kim cương lớn nhất thế giới, mang lại cho quốc gia này lợi thế độc quyền trong việc khai thác và bán kim cương, điều mà các quốc gia khác không thể đạt được.

Sự giảm giá thành khi mở rộng sản xuất trong ngành có lợi tức tăng dần theo quy mô dẫn đến việc nhiều hãng cùng cung cấp dịch vụ trở nên không hiệu quả Các hãng đã có mặt trên thị trường có khả năng liên tục giảm giá khi mở rộng sản xuất, tạo ra rào cản ngăn cản sự xâm nhập của các hãng mới Tình huống này được gọi là độc quyền tự nhiên.

Ví dụ: Các ngành cung cấp điện, nước, ngành đường sắt…

1.1.2 Tổn thất phúc lợi do độc quyền thường gây ra

Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận trong độc quyền là hãng sẽ sản xuất tại điểm MR

Trong thị trường độc quyền, mức giá được xác định tại điểm MC thay vì P = MC như trong thị trường cạnh tranh Điều này cho phép các nhà độc quyền bán sản phẩm với mức giá cao hơn và sản lượng thấp hơn so với thị trường cạnh tranh, từ đó thu lợi nhuận siêu ngạch.

Thị trường độc quyền cho một sản phẩm, như mô tả trong Hình 8, cho thấy rằng khi không có sự can thiệp từ nhà nước, hàng độc quyền sẽ sản xuất tại mức Q0 và bán với giá P, thu lợi nhuận siêu ngạch tương ứng với diện tích PEE0P0 Tuy nhiên, mức sản lượng này không đạt hiệu quả tối ưu, vì tại Q0, giá trị biên (MB) vẫn lớn hơn chi phí biên (MC).

Đường cầu thể hiện mức giá tối đa mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho một đơn vị hàng hóa bổ sung Đây là số tiền tối đa mà họ chấp nhận chi trả mà không cảm thấy thiệt hại Theo định nghĩa về lợi ích biên, giá trị này cũng chính là lợi ích biên (MB) từ việc tiêu dùng hàng hóa.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34 hóa tạo ra Vì thế, đường cầu cũng chính là đường lợi ích xã hội biên (MSB) Vậy, điểm sản xuất hiệu quả phải là Q0, tại đó MB = MC Đây cũng chính là mức sản lượng sẽ được sản xuất nếu thị trường này là cạnh tranh hoàn hảo

Thặng dư sản xuất S(PEE0F) S(P1E1F)

Thặng dư tiêu dùng S(SEP) S(SE1P1)

Lợi ích xã hội S(SFE0E) S(SE1F)

Tổn thất do độc quyền S(EE0E1)

Nếu doanh nghiệp độc quyền chọn sản xuất tại mức sản lượng $Q_0$, xã hội sẽ chịu tổn thất một mức lợi ích ròng tương ứng với diện tích tam giác $EE_0E_1$.

1.1.3 Các giải pháp can thiệp của Chính phủ

Mục tiêu của can thiệp Chính phủ nhằm chống độc quyền là tăng sản lượng từ Q0 lên Q1 và giảm giá từ P xuống P1, qua đó xóa bỏ tổn thất phúc lợi xã hội.

Để đối phó với nguy cơ hành vi độc quyền trên thị trường, việc ban hành luật pháp và chính sách chống độc quyền là rất cần thiết Các chính sách này nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35 định (như cấm các hãng cấu kết để cùng nâng giá), hoặc hạn chế một số cơ cấu thị trường nhất định Biện pháp này thường được sử dụng ở những nước có thị trường phát triển, nhằm điều tiết những hãng lớn, chiếm một thị phần rất lớn

Ngoại ứng

2.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm

Ngoại ứng xảy ra khi hành động của một cá nhân hoặc doanh nghiệp tác động trực tiếp đến phúc lợi của đối tượng khác, nhưng những tác động này không được thể hiện qua giá cả thị trường.

Trường Đại học Kinh tế Huế

- Ngoại ứng tiêu cực: là những chi phí được áp đặt lên một đối tượng thứ ba

(ngoài người mua và người bán trên thị trường), nhưng chi phí đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường

Một ví dụ điển hình về ngoại ứng tiêu cực là ô nhiễm môi trường do hoạt động của nhà máy Khi nhà máy xả thải ra sông, nó không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cư dân sống ven sông mà còn làm giảm lợi nhuận từ hoạt động đánh cá Tuy nhiên, nhà máy không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại này, dẫn đến việc họ không tính toán các tổn thất vào giá thành sản phẩm.

Ngoại ứng tích cực là những lợi ích mà bên thứ ba nhận được, không chỉ từ người bán và người mua, mà còn không được thể hiện trong giá cả thị trường.

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin mang lại lợi nhuận lớn cho các công ty máy tính, đồng thời tạo ra sự tiện lợi cho người dùng Hơn nữa, nó còn cải thiện năng suất lao động và góp phần vào những cuộc cách mạng trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội.

2.1.3 Đặc điểm của ngoại ứng

- Ngoại ứng có thể do cả hoạt động sản xuất lẫn tiêu dùng gây ra

- Trong ngoại ứng, việc ai là người gây tác hại (hay mang lại lợi ích) cho ai nhiều khi chỉ mang tính tương đối

- Sự phân biệt giữa tính chất tích cực và tiêu cực của ngoại ứng chỉ là tương đối

Tất cả ngoại ứng đều phi hiệu quả từ góc độ xã hội, vì chi phí và lợi ích mà thị trường xác định không tương ứng với những gì xã hội chấp nhận Điều này dẫn đến việc sản lượng tối ưu trên thị trường không phù hợp với sản lượng tối ưu về mặt xã hội.

2.2.1 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực

Một nhà máy sản xuất bột giấy và một hợp tác xã (HTX) đánh cá cùng sử dụng chung một cái hồ, trong đó nhà máy xả thải vào hồ, gây chết cá và ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt của HTX Để đạt hiệu quả tối ưu trên thị trường, doanh nghiệp sản xuất ở mức sản lượng Q0 với giá P0, tại điểm cân bằng A (MPC = MB) Tuy nhiên, mức sản lượng tối ưu về xã hội lại chưa được xác định.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39 hội là Q * ứng với mức giá là P * , điểm cân bằng là B (MSC = MB) Vì vậy tại mức Q0 sẽ gây tổn thất cho xã hội một lượng bằng diện tích hình ABC

Hình 10: Ngoại ứng tiêu cực

MPC: chi chí biên của nhà máy

MEC: chi phí mà nhà máy gây thiệt hại cho HTX

MSC: chi phí biên của xã hội

MB: lợi ích biên của nhà máy

Q0: sản lượng tối ưu về thị trường (MB = MPC)

Q * : sản lượng tối ưu về xã hội (MB = MSC)

Như vậy khi ngoại ứng tiêu cực xảy ra thị trường có xu hướng sản xuất nhiều hơn so với mức hiệu quả tối ưu pareto (Q * < Q0)

Chúng ta có thể xác định mức tổn thất phúc lợi xã hội bằng công thức:

Tổn thất phỳc lợi xó hội = S∆ABC = ẵ ∆Q x (MSC(Q0) – MPC(Q0))

2.2.2 Giải pháp khắc phục ngoại ứng tiêu cực

Trường Đại học Kinh tế Huế

Giải pháp của Chính phủ nhằm giảm sản xuất của doanh nghiệp, qua đó giảm thiểu các tác động tiêu cực đến sản lượng tối ưu xã hội, với mục tiêu hạ mức sản lượng từ Q0 xuống Q* Điều này sẽ góp phần giảm bớt tổn thất xã hội.

Thuế Pigou là một loại thuế áp dụng cho mỗi đơn vị sản phẩm mà các doanh nghiệp gây ô nhiễm, nhằm điều chỉnh mức giá bằng chi phí ngoại ứng biên tại mức sản lượng tối ưu cho xã hội.

Hình 11: Đánh thuế đối với ngoại ứng tiêu cực

Hình 11 thể hiện các đường chi phí và lợi ích từ hình 10, trong đó MEC tại mức sản lượng tối ưu xã hội là đoạn aQ* hay đoạn AE Khi áp dụng thuế, đường MPC của nhà máy sẽ dịch chuyển song song lên thành đường MPC + t Để tối đa hóa lợi nhuận, nhà máy sẽ sản xuất tại điểm Q*, nơi MB = MPC + t, phù hợp với mong muốn của xã hội Chính phủ sẽ thu được doanh thu thuế bằng thuế t nhân với sản lượng Q*, tương ứng với diện tích tô đậm trong Hình 11.

Chính phủ sẽ sử dụng thuế này để bồi thường cho bên chịu tác động ngoại ứng

Trường Đại học Kinh tế Huế

- Không khuyến khích nhà sản xuất giảm sản lượng sẽ dẫn đến tăng giá và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

- Khó xác định chính xác mức thuế suất

Trong bối cảnh số lượng người gây ô nhiễm không thay đổi, việc trả tiền cho họ để giảm thiểu ô nhiễm có thể tạo ra hiệu quả sản lượng Mặc dù phương pháp này ban đầu có vẻ lạ lẫm, nhưng nó thực chất tương tự như việc áp dụng thuế.

Hình 12: Trợ cấp đối với ngoại ứng tiêu cực

Khi nhà máy ngừng sản xuất một đơn vị sản lượng, Chính phủ sẽ trợ cấp cho họ một khoản bằng MEC tại Q* Nhà máy sẽ xem xét lợi ích biên ròng từ việc sản xuất thêm một đơn vị so với mức trợ cấp nhận được nếu không sản xuất Nếu mức trợ cấp lớn hơn lợi ích biên ròng, nhà máy nên ngừng sản xuất Lợi ích biên ròng của nhà máy được xác định bởi khoảng cách giữa hai đường MB và MPC Như hình 12 cho thấy, từ Q* đến Q0, lợi ích biên ròng của nhà máy thấp hơn mức trợ cấp, do đó nhà máy sẽ ngừng sản xuất các đơn vị này.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Khi sản lượng đạt mức Q0 trở xuống, lợi ích biên ròng cao hơn khiến chính sách trợ cấp trở nên kém hấp dẫn đối với nhà máy, dẫn đến việc ngừng sản xuất tại Q0 Để tài trợ cho các khoản trợ cấp, Chính phủ sẽ phải tăng thuế, điều này có thể gây ra sự phi hiệu quả ở các lĩnh vực khác trong nền kinh tế Tuy nhiên, mức độ phi hiệu quả từ thuế có thể không nhỏ hơn so với những vấn đề do ngoại ứng gây ra Dù vậy, giải pháp này vẫn được áp dụng trong thực tiễn, như chương trình định canh định cư nhằm hạn chế nạn phá rừng.

Chính phủ sẽ bán giấy phép cho phép các nhà sản xuất được xả một lượng phế thải

Z* đại diện cho lượng phế thải sản xuất tại Q* Các công ty sẽ tham gia đấu giá để mua giấy phép này, và công ty nào đưa ra giá cao nhất sẽ nhận được giấy phép Giá của các giấy phép này sẽ đạt mức cân bằng thị trường, đảm bảo lượng ô nhiễm tương ứng với mức mà Chính phủ mong muốn Mức giá cân bằng cho các giấy phép xả thải được gọi là phí xả thải.

Chính phủ có thể cấp giấy phép xả thải miễn phí cho các công ty, đồng thời cho phép các công ty trao đổi và mua bán các giấy phép này với nhau.

* Kiểm soát trực tiếp bằng mức chuẩn thải

Chính phủ yêu cầu mỗi hàng gây ô nhiễm chỉ được gây ô nhiễm ở một mức nhất định gọi là mức chuẩn thải, nếu không sẽ bị buộc đóng cửa

Cách làm này thường không có hiệu quả khi có nhiều hãng cùng gây ô nhiễm, nhưng mỗi hãng có khả năng giảm ô nhiễm với các chi phí khác nhau

* Quy định quyền sở hữu tài sản

Hàng hoá công cộng

3.1 Khái niệm và thuộc tính cơ bản của hàng hoá công cộng

3.1.1.Khái niệm hàng hoá công cộng và hàng hoá cá nhân

Hàng hoá công cộng là những sản phẩm và dịch vụ mà mỗi đơn vị sản xuất ra có thể được xã hội sử dụng chung Việc tiêu dùng của một cá nhân không ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của người khác.

Ví dụ: An ninh quốc phòng, chiếu sáng công cộng, công viên, truyền hình…

Hàng hoá cá nhân là những sản phẩm được định giá và bán trên thị trường, ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng của từng cá nhân Sự tiêu dùng của một người có thể tác động đến hành vi tiêu dùng của người khác.

Ví dụ: Bánh mỳ, sách vở, máy tính…

3.1.2 Thuộc tính cơ bản của hàng hoá công cộng

Hàng hóa công cộng không cạnh tranh trong tiêu dùng, vì việc thêm người sử dụng không làm giảm lợi ích của những người tiêu dùng hiện tại Sự gia tăng số lượng người tiêu dùng không làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến chi phí biên phục vụ thêm người tiêu dùng bằng 0 (MC = 0) Do đó, việc định giá cho hàng hóa công cộng là không khả thi và vô nghĩa.

Các chương trình truyền thanh và truyền hình không cạnh tranh trong tiêu dùng, cho phép nhiều người cùng theo dõi cùng một lúc mà không ảnh hưởng đến trải nghiệm của nhau Việc một người mở hoặc tắt đài vô tuyến không làm giảm mức độ tiêu dùng của người khác.

Hàng hoá công cộng không thể loại trừ trong tiêu dùng, dẫn đến việc rất khó khăn và tốn kém để ngăn chặn những cá nhân không trả tiền cho việc sử dụng Hệ quả là, nhiều người có xu hướng gia tăng nhu cầu sử dụng hàng hoá công cộng mà không chi trả, tạo ra vấn đề "kẻ ăn không".

An ninh quốc phòng là một loại hàng hóa dịch vụ mà mọi người đều được hưởng lợi, ngay cả khi họ không đóng thuế để duy trì bộ máy quốc phòng Dù có bị xử lý pháp lý, họ vẫn nhận được những lợi ích từ an ninh quốc phòng.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 46 phát sóng thì bất kể ai có phương tiện thu thanh đều có thể thưởng thức các chương trình này, cho dù họ không trả đồng nào cho đài phát thanh

3.1.3 Phân loại hàng hoá công cộng

Hàng hoá công cộng thuần tuý là loại hàng hoá sở hữu đầy đủ cả hai thuộc tính của hàng hoá công cộng Khi một lượng hàng hoá công cộng nhất định được cung cấp cho một cá nhân, nó sẽ ngay lập tức có thể được tiêu dùng bởi tất cả các cá nhân khác trong cộng đồng.

Ví dụ: Phát thanh truyền hình, đèn hải đăng, quốc phòng…

Vì hàng hóa công cộng thuần túy không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, chi phí biên để phục vụ thêm một người sử dụng dịch vụ là 0 Ví dụ, chi phí biên để cung cấp một ngọn đèn hải đăng là P đồng Khi ngọn đèn đã được xây dựng và bật sáng, chi phí phục vụ cho một hoặc nhiều con tàu di chuyển trên vùng biển đó đều giống nhau.

Chi phí biên để sản xuất hàng hóa công cộng (HHCC) vẫn lớn hơn 0, tương tự như các loại hàng hóa khác, vì việc sản xuất thêm HHCC yêu cầu sử dụng thêm nguồn lực xã hội Việc xây dựng một ngọn đèn hải đăng mới sẽ tốn thêm P đồng, và chi phí biên cho việc xây dựng đèn được thể hiện trong hình 14-b.

* Hàng hoá công cộng không thuần tuý: là loại hàng hoá chỉ có một trong hai thuộc tính của HHCC và có ở những mức độ khác nhau

Ví dụ: Truyền hình cáp, các trận bóng đá…

Chi phí biên để phục vụ thêm một người sử dụng một lượng hàng hoá công cộng thuần tuý

Chi phí biên để sản xuất hàng hoá công cộng thuần tuý

Số người sử dụng Đơn vị hàng hoá công cộng thuần tuý

Hình 14: Chi phí biên sản xuất và tiêu dùng HHCC thuần tuý

Trường Đại học Kinh tế Huế

Tùy thuộc vào mức độ tạo ra ngoại ứng trong sản xuất hoặc tiêu dùng hàng hóa, cũng như khả năng thiết lập cơ chế mua bán quyền sử dụng hàng hóa, hàng hóa có thể được chia thành hai loại không thuần túy.

Hàng hoá công cộng có thể tắc nghẽn khi việc sử dụng gia tăng bởi nhiều người, dẫn đến tình trạng ùn tắc và làm giảm lợi ích cho người tiêu dùng trước đó.

Chi phí biên phục vụ cho những người tiêu dùng tăng thêm sẽ không còn bằng 0 mà bắt đầu tăng dần sau một giới hạn nhất định, như thể hiện trong hình.

15 Điểm giới hạn đó được gọi là điểm tắc nghẽn

Trong hình 15, điểm Q * là điểm tắc nghẽn Nếu như số người tiêu dùng nhỏ hơn

Điểm cân bằng Q* không tạo ra tình trạng tắc nghẽn, cho phép hàng hóa công cộng đáp ứng đầy đủ nhu cầu Ngược lại, khi số lượng người tiêu dùng vượt quá Q*, một số hàng hóa công cộng sẽ không đủ để thỏa mãn nhu cầu, dẫn đến sự cạnh tranh giữa các cá nhân tiêu dùng.

Ví dụ: Những con đường dẫn vào trung tâm thành phố trong giờ cao điểm

Hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá, hay còn gọi là hàng hóa công cộng có thể loại trừ, là những sản phẩm mà lợi ích mà chúng mang lại có thể được định giá.

Ví dụ: Những cây cầu, con đường có trạm thu phí, công viên thu vé vào cửa …

CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ PHÂN PHỐI LẠI THU NHẬP NHẰM ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI

CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG KINH TẾ VĨ MÔ TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HOÁ

LỰA CHỌN CÔNG CỘNG

CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH CAN THIỆP CHỦ YẾU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Ngày đăng: 28/08/2023, 20:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Phạm Văn Vận – TS. Vũ Cương, 2012, Giáo trình Kinh tế Công cộng, NXB Thống Kê Khác
2. TS. Vũ Cương, 2012, Kinh tế và tài chính công, NXB Thống Kê Khác
3. PGS.TS. Vũ Kim Dũng – PGS.TS. Nguyễn Văn Công, 2012, Giáo trình Kinh tế học (tập I), NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
4. PGS.TS. Vũ Kim Dũng – PGS.TS. Nguyễn Văn Công, 2012, Giáo trình Kinh tế học (tập II), NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
5. Th.S Nguyễn Hữu Xuân, 2008, Bài giảng Kinh tế Công cộng Khác
6. Th.S Trần Thị Giang, 2009, Bài giảng Kinh tế Công cộng Khác
7. Josept E. Stiglitz, 1995, Kinh tế học Công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật Khác
8. PGS.TS Phạm Văn Minh, 2007, Kinh tế vi mô 2, NXB Lao Động Khác
9. T.S Đinh Phi Hổ, 2000, Kinh tế Phát triển, NXB Thống kê Thành Phố Hồ Chí Minh Khác
10. PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường, NXB Thống kê Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 1 Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế (Trang 14)
Hình 5: Các phương án đạt hiệu quả sản xuất xây dựng từ phương án Z 0 - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 5 Các phương án đạt hiệu quả sản xuất xây dựng từ phương án Z 0 (Trang 32)
Hình 8: Độc quyền thường - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 8 Độc quyền thường (Trang 38)
Hình 10: Ngoại ứng tiêu cực - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 10 Ngoại ứng tiêu cực (Trang 43)
Hình 12: Trợ cấp đối với ngoại ứng tiêu cực - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 12 Trợ cấp đối với ngoại ứng tiêu cực (Trang 45)
Hình 16: Xây dựng đường cầu cá nhân HHCC - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 16 Xây dựng đường cầu cá nhân HHCC (Trang 53)
Hình 22: Định suất đồng đều - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 22 Định suất đồng đều (Trang 63)
Hình 24: Đường Lorenz - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 24 Đường Lorenz (Trang 77)
Hình 27: Đường bàng quan xã hội theo thuyết vị lợi - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 27 Đường bàng quan xã hội theo thuyết vị lợi (Trang 85)
Hình 35: Đường LM - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 35 Đường LM (Trang 107)
Hình 37: Sử dụng chính sách quản lý cầu để đưa - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 37 Sử dụng chính sách quản lý cầu để đưa (Trang 109)
Hình 39: Tác động của chính sách tài khoá - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 39 Tác động của chính sách tài khoá (Trang 114)
Hình 47: Tác động của giá trần - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 47 Tác động của giá trần (Trang 135)
Hình 50. Tác động của thuế bên cung - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 50. Tác động của thuế bên cung (Trang 143)
Hình 53. Tác động của trợ cấp bên cung - Bài giảng kinh tế công cộng đại học kinh tế huế
Hình 53. Tác động của trợ cấp bên cung (Trang 148)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w